Tải bản đầy đủ (.pdf) (78 trang)

CƠ cấu QUẢN lý TRONG DOANH NGHIỆP NHÀ nước ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (503.53 KB, 78 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ MAI DUNG

CƠ CẤU QUẢN LÝ TRONG
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.38.50

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. LÊ HỒNG HẠNH

HÀ NỘI - 2005


LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn thầy giáo PGS. TS. Lê Hồng Hạnh,
người đã gợi mở những ý tưởng khoa học và hướng dẫn tận tình, công phu
cho tác giả trong quá trình nghiên cứu.
Tác giả cũng chân thành cảm ơn sâu sắc các thầy cô giáo Khoa Sau đại học,
Trường Đại học Luật Hà Nội về sự hỗ trợ và giúp đỡ để tác giả hoàn thành
luận văn này.


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT



DNNN

Doanh nghiệp nhà nước

CTNN

Công ty nhà nước

HĐQT

Hội đồng quản trị

TGĐ

Tổng giám đốc

TCT

Tổng công ty


MC LC
M U ............................................................ Error! Bookmark not defined.
1. Tính cấp thiết của đề tài. ........................................................................... 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài. ...................................................................... 4
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài. ........................................................................ 5
4. Phương pháp nghiên cứu. .......................................................................... 5
5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu. ................................................. 6


5.1. Mục đích: ........................................................................................... 6
5.2. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài. ................................................ 6
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn. ........................................... 6
7. Cơ cấu của luận văn................................................................................... 7
Chng 1: Nhng vn lý lun v c cu qun lý trong doanh nghip Nh
nc .................................................................................................................. 8

1.1. Quản lí và vai trò của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. ................................................................................................ 8

1.1.1. Khái niệm quản lý ........................................................................... 8
1.1.2. Vai trò của quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. ..................................................................................................... 10
1.2. Công ty nhà nước trong các loại hình doanh nghiệp nhà nước. ........... 13

1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước. .............................................. 13
1.2.2. Các loại doanh nghiệp nhà nước ................................................... 14
1.2.3. Công ty nhà nước Loại doanh nghiệp nhà nước truyền thống. . 18
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng và đặc thù của hệ thống quản lí vi mô của
công ty nhà nước. ........................................................................................ 23

1.3.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lí vi mô của công ty
nhà nước. ................................................................................................ 23
1.3.2. Đặc thù quản lí vi mô của CTNN. ................................................ 30
Chng 2: c cu qun lý trong cụng ty nh nc theo phỏp lut hin hnh ... 34

2.1. Các bộ phận cấu thành hệ thống quản lý trong công ty nhà nước ....... 34

2.1.1. Hội đồng quản trị. ......................................................................... 34



2.1.2. Ban kiểm soát ................................................................................ 38
2.1.3. Tổng giám đốc............................................................................... 39
2.1.4. Giám đốc trong công ty nhà nước không có Hội đồng quản trị. ... 43
2.1.5. Bộ máy điều hành chức năng. ....................................................... 47
2.2. Thực trạng mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống
quản lý trong công ty nhà nước. .................................................................. 47
Chng 3: Mt s gii phỏp hon thin c cu qun lý trong cụng ty nh nc

......................................................................................................................... 57
3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện cơ cấu quản lý trong công ty
nhà nước ...................................................................................................... 57

3.1.1. Quản lí vi mô với hiệu quả và vai trò của công ty nhà nước. ........ 57
3.1.2. Quản lí vi mô và việc nâng cao tính cạnh tranh của công ty
nhà nước. ................................................................................................ 60
3.1.3. Quản lí vi mô với việc nâng cao vai trò của người lao động
đối với hoạt động của công ty nhà nước.................................................. 63
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện cơ cấu quản lí trong công ty nhà nước.... 65

3.2.1. Tự do hoá cơ chế quản lý trong công ty nhà nước. ....................... 65
3.2.2. Giảm thiểu nhân viên quản lý gián tiếp. ....................................... 67
3.2.3. Phi hành chính hoá quan hệ giữa đại diện chủ sở hữu nhà
nước với các chức danh quản lí trong công ty nhà nước. ....................... 67
KT LUN ........................................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MC TI LIU THAM KHO ............................................................ 72


3


M U
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Việt Nam, DNNN chiếm vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân, cả trong cơ chế quản lí tập trung bao cấp cũng như trong cơ chế
thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa hiện nay. Vai trò chủ đạo của kinh
tế nhà nước với bộ phận nòng cốt là DNNN đã được khẳng định từ các Đại
hội VI, VII, VIII và đặc biệt đến Đại hội XI của Đảng, một lần nữa ta
khẳng định lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, trong đó DNNN giữ những
vị trí then chốt. Quan điểm của Đảng được thể chế hoá trong Điều 19, Hiến
pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), đó là "kinh tế nhà nước được củng cố và
phát triển, nhất là trong các ngành và lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế quốc dân.
Với vai trò và sứ mệnh của DNNN trong sự phát triển kinh tế, xã hội
của đất nước nên DNNN đã và đang nhận được sự quan tâm đặc biệt và sự
đầu tư to lớn của Đảng, Nhà nước và toàn thể xã hội. Thể hiện ở tỷ trọng
các nguồn lực mà DNNN chiếm giữ. Mặc dù được quan tâm và đầu tư lớn
như vậy, nhưng hiệu quả hoạt động của một bộ phận không nhỏ DNNN là
thấp. Điều này đã xảy ra từ những năm 60, 70 thế kỷ XX và tình trạng này
đã kéo dài trong nhiều năm. Để khắc phục tình trạng yếu kém của DNNN
làm hạn chế đến vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Đảng và Nhà nước ta
đã thực hiện nhiều cuộc cải cách với nhiều hình thức khác nhau khác nhau
như: cổ phần hoá những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ
100% vốn; sáp nhập, giải thể, phá sản những doanh nghiệp hoạt động
không có hiệu quả; giao, bán, khoán, kinh doanh, cho thuê các doanh
nghiệp qui mô nhỏ, không cổ phần hoá được mà Nhà nước không cần nắm
giữ; thực hiện chế độ công ty trách nhiệm hữu hạn đối với doanh nghiệp
Nhà nước giữ 100% vốn. Cho đến nay, trải qua nhiều giai đoạn đổi mới cơ


4


chế quản lí và sắp xếp lại, hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng
vốn của các DNNN thuộc sở hữu 100% vốn nhà nước (nay gọi là CTNN)
chưa cao, chưa tương xứng với các nguồn lực của Nhà nước. Theo số liệu
báo cáo của Bộ Tài chính, đến 31/12/2004 trong tổng số gần 4000 CTNN
thì số lượng thua lỗ, hoà vốn khoảng 800 đơn vị, chiếm 20%. Những yếu
kém, tồn tại ấy đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là khi đất nước đang
đứng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Tại
sao CTNN lại kém hiệu quả như thế? Có rất nhiều báo cáo, phân tích, đánh
giá về vấn đề này và đều chỉ ra rất nhiều nguyên nhân. Một trong các
nguyên nhân đó là do mức độ chưa hoàn thiện của cơ chế quản lý nhà nước
đối với doanh nghiệp cũng như cơ chế quản lý trong bản thân doanh nghiệp
cồng kềnh và thiếu hiệu quả. Nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên hệ mật
thiết giữa quản lí tốt và hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp.
Xuất phát từ vị trí then chốt của DNNN trong nền kinh tế quốc dân
và vai trò quan trọng của hệ thống quản lý trong DNNN, tác giả chọn đề tài
"Cơ cấu quản lý trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam" cho luận văn
tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Tổ chức và hoạt động của CTNN luôn là vấn đề được nhiều nhà khoa
học quan tâm. Đã có nhiều công trình cấp quốc gia, các đề tài khoa học đề
cập đến các khía cạnh liên quan đến tổ chức và hoạt động của CTNN. Các
cơ quan nhà nước có chức năng liên quan đến quản lý CTNN cũng có
những công trình nghiên cứu, khảo sát, theo dõi thường xuyên hoạt động
của CTNN không tách rời với cơ cấu quản lý trong CTNN. Các cuộc hội
thảo chuyên đề, công trình, bài viết về hoạt động, tổ chức quản lý CTNN
như: Hội thảo về mô hình tổ chức quản lý theo hướng xoá bỏ Bộ và cấp
hành chính chủ quản; các chuyên đề như: DNNN và cải cách DNNN, tính
chủ đạo của DNNN trong nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay. Mỗi



5

chuyên đề, công trình, bài viết đều đi sâu vào một vấn đề, một khía cạnh về
DNNN. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về "cơ
cấu quản lý trong DNNN ở Việt Nam" một cách hệ thống từ góc độ pháp
lý, tức là thông qua những qui định cụ thể của pháp luật về DNNN. Trong
số các luận văn thạc sỹ của Trường Đại học Luật Hà nội cũng chưa có luận
án nào đề cập đến vấn đề này mà chỉ có một số luận án đề cập đến địa vị
pháp lý của DNNN hoặc đề cập đến hướng hoàn thiện Luật DNNN năm
1995.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về cơ cấu quản
lý, luận văn đã tập trung phân tích các qui định của pháp luật hiện hành về
quản lý trong công ty nhà nước, một loại hình doanh nghiệp được coi là
truyền thống trong pháp luật về doanh nghiệp nhà nước trước đây. Luận
văn cố gắng làm rõ những quy định của pháp luật dẫn đến sự hạn chế, sự
thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ trong các qui định hiện hành về cơ chế thực
thi quyền lực trong hoạt động của cơ cấu quản lý nội bộ trong CTNN ở
Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ giới hạn ở những qui định liên
quan tới cơ cấu quản lý trong CTNN ở Việt Nam, tức là các qui định về tổ
chức quản lý, về mối quan hệ nội bộ giữa các bộ phận cấu thành của
CTNN.. Do khuôn khổ của Luận văn thạc sỹ, các vấn đề về quản lý vĩ mô,
về mối quan hệ với chủ sở hữu chỉ được đề cập ở mức độ cần thiết khi
nghiên cứu các vấn đề về quản lý nội bộ của CTNN.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà
nước và pháp luật, sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,

thống kê để đưa ra những đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện các qui
định của pháp luật Việt Nam về "cơ cấu quản lý trong DNNN ở Việt Nam".


6

5. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu.

5.1. Mục đích:
Mục đích của luận văn là giới thiệu các loại hình DNNN theo pháp
luật hiện hành và nghiên cứu các vấn đề lí luận về cơ cấu quản lý trong
CTNN ở Việt Nam; tiến hành phân tích toàn diện thực trạng cơ cấu quản lý
trong CTNN ở Việt Nam theo qui định của pháp luật hiện hành, từ đó rút ra
những nhận xét và đánh giá thực tiễn vận hành hệ thống quản lý trong
CTNN. Trên cơ sở đó, Luận văn đưa ra phương hướng hoàn thiện làm cơ sở
cho việc hoàn thiện hệ thống quản lí trong CTNN.

5.2. Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài.
Việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, xem xét dưới góc độ lý luận về cơ cấu quản lý trong
CTNN ở Việt Nam.

Thứ hai, đánh giá thực trạng pháp luật về cơ cấu quản lý trong
CTNN qua việc nghiên cứu những kết quả hoạt động và những vướng mắc
trên thực tế của một số CTNN.

Thứ ba, đưa ra yêu cầu và các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ cấu
quản lý trong CTNN ở Việt Nam.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn.

Giá trị của luận văn thể hiện ở chỗ đây là luận văn thạc sĩ luật học
đầu tiên nghiên cứu sâu và có hệ thống về cơ cấu quản lý trong CTNN ở
Việt Nam. Luận văn dự kiến sẽ có những đóng góp sau:
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá tương đối toàn diện, đầy đủ và có hệ
thống những yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu quản lý trong CTNN, Luận văn
đã làm rõ đặc thù của quản lý vi mô trong CTNN.
- Luận văn phân tích, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của
những qui định của pháp luật hiện hành về cơ cấu quản lý trong CTNN
trong sự so sánh với qui định của pháp luật trước đó về vấn đề này, cùng
với những đánh giá về thực trạng vận hành bộ máy quản lý trong CTNN.


7

- Luận văn đưa ra một số quan điểm lý luận về kiến nghị về xây
dựng và hoàn thiện những qui định của pháp luật về cơ cấu quản lý CTNN.
7. Cơ cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cơ cấu quản lý trong CTNN.
Chương 2: Thực trạng hệ thống quản lí trong CTNN.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện cơ cấu quản lý trong CTNN
ở Việt Nam.
Luận văn là kết quả của quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn,
tổng kết nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu về vấn đề này từ đó đưa
ra quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, do trình độ chuyên môn cũng như
kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, luận văn chắc chắn sẽ có những thiếu
sót nhất định, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy
cô, các nhà nghiên cứu cũng như các bạn đồng nghiệp.



8

CHNG 1
NHNG VN Lí LUN V C CU QUN Lí
TRONG DOANH NGHIP NH NC

1.1. Quản lí và vai trò của nó trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.

1.1.1. Khái niệm quản lý
Quản lý trong doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu định nghĩa
khác nhau, song vẫn có điểm thống nhất chung đó là hệ thống các thiết chế
và phương pháp nhằm tổ chức doanh nghiệp một cách có hiệu quả, vì lợi
ích cổ đông và xã hội. Hệ thống quản lý phân định rõ quyền hạn và nghĩa
vụ giữa các thành viên, cơ quan trong doanh nghiệp như các cổ đông,
HĐQT, ban giám đốc và các bên khác có quyền và lợi ích liên quan.
Theo tổ chức hợp tác và phát triển (OECD), quản lý và điều hành
doanh nghiệp là hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lí. Cơ chế này xác
định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa các cổ đông, HĐQT, các
chức danh quản lí, và những người có lợi ích liên quan, qui định trình tự
ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này doanh nghiệp tạo ra
một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám
sát việc thực hiện các mục tiêu đó [39, tr7-11].
Theo ngân hàng thế giới (WB), quản trị doanh nghiệp là một hệ
thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các doanh
nghiệp. Nó cho phép doanh nghiệp có thể thu hút các nguồn tài chính và
nhân lực, hoạt động có hiệu quả và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài
giữa các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người liên
quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của một hệ thống quản trị doanh
nghiệp là: tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá

trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lí, bảo đảm thực thi quyền của


9

tất cả cổ đông; các thành viên trong HĐQT có thể hoàn toàn độc lập thông
qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người
quản lí, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản
lí và trong việc miễn nhiệm người quản lí khi cần thiết [12, tr363] .
Theo Ngân hàng Phát triển châu á (ADB), quản trị doanh nghiệp bao
gồm hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các
chức danh quản lý, các chủ nợ, chính phủ và những người có liên quan
khác cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các qui chế trên.
Như vậy, quản trị doanh nghiệp trước hết bao gồm các thiết chế điều
chỉnh mối quan hệ giữa các chủ sở hữu với nhau và giữa họ với bộ máy
điều hành trong doanh nghiệp qui mô lớn mà sở hữu và điều hành bắt đầu
có sự tách rời. Trong CTNN, cụ thể mối quan hệ đó là giữa cơ quan chủ
quản - HĐQT và Giám đốc.
Với sự phân tích trên cho phép chúng ta phân biệt quản lí nhà nước
về kinh tế với quản trị kinh doanh trong doanh nghiệp trên các mặt sau:

Một là, Về chủ thể quản lý Nhà nước về kinh tế là việc của Nhà
nước, còn quản trị kinh doanh là việc của bộ máy quản lí nội bộ doanh
nghiệp.

Hai là, về phạm vi quản lí, Nhà nước quản lý toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, quản lí cả các nhà quản trị, còn các nhà quản trị thì quản lí
doanh nghiệp của mình.

Ba là, về mục tiêu, chủ thể quản lý Nhà nước theo đuổi lợi ích toàn

dân, lợi ích cộng đồng, trong đó, lợi ích kinh tế gắn liền hữu cơ với các loại
lợi ích khác. Chủ thể quản trị kinh doanh theo đuổi lợi ích của riêng mình,
cơ bản là lợi ích kinh tế. Với CTNN, nhà quản trị trong doanh nghiệp thực
hiện mục tiêu do Nhà nước giao.

Bốn là, về phương thức, phương pháp quản lí, Nhà nước áp dụng
tổng hợp các phương thức, phương pháp quản lí, trong phương thức đặc
trưng của quản lí nhà nước là cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước. Trong


10

khi đó, nhà quản trị chủ yếu áp dụng phương thức kích thích và thuyết
phục, được thực hiện trên cơ sở thoả thuận dân sự.

1.1.2. Vai trò của quản lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Quản lí có vai trò quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất
bại trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một hệ thống
quản lí, điều hành doanh nghiệp tốt sẽ đảm bảo lợi ích cho chủ sở hữu và
tất cả các bên có quyền lợi liên quan, tạo môi trường minh bạch và thuận
lợi cho đầu tư, kinh doanh. Hệ thống quản lí điều hành doanh nghiệp tốt
đem lại những lợi ích như: làm tăng hiệu quả vốn đầu tư, làm tăng lợi
nhuận của cổ đông; làm giá của công ty cao hơn và đem lại lợi ích cho
quốc gia và nền kinh tế [37]. Ngược lại, hệ thống quản lý, điều hành doanh
nghiệp kém sẽ mang lại những hậu quả không nhỏ cho nền kinh tế và
người lao động.

1.1.2.1. Hệ thống quản lí điều hành tốt làm tăng hiệu quả vốn đầu tư.
Kết quả cuộc khảo sát năm 2001 của công ty Credit Lyonnais

Security Asia (CLSA) [38] cho thấy tại 100 thị trường chứng khoán lớn
nhất của các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ suất
doanh lợi trung bình trên vốn đầu tư vào khoảng 23,5% trong năm 2000.
Trong đó, 1/4 các công ty dẫn đầu về hệ thống quản lí, điều hành tốt có tỷ
suất doanh lợi trên vốn đầu tư khoảng 33,8%, bên cạnh đó, các công ty
thuộc nhóm 1/2 các công ty có hệ thống quản lí, điều hành kém có giá trị
doanh lợi trên vốn đầu tư chỉ khoảng 16%.
Còn đối với CTNN của Việt Nam, do quản lí điều hành kém đã dẫn
đến tình trạng kém hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh của đơn vị kinh tế
này kéo dài trong nhiều năm. Theo báo cáo tổng kiểm kê tài sản và xác
định lại giá trị tài sản DNNN thì thực trạng của chúng như sau: Tổng giá trị

tài sản của DNNN theo sổ sách kế toán là 517.654 tỷ đồng, số nợ phải thu
là 187.091 tỷ đồng chiếm 35,5% giá trị tài sản doanh nghiệp, gấp 1,43 lần


11

vốn kinh doanh; hàng hoá tồn kho là 45.688 tỷ đồng, trong đó hàng ứ đọng,
mất phẩm chất không dùng đến là 1.600 tỷ đồng; doanh nghiệp có một
đồng vốn thì phải vay hoặc chiếm dụng 1,2 đồng cho kinh doanh, hệ số vốn
vay và vốn chiếm dụng so với vốn sở hữu là 1,8 lần; tổng số nợ phải trả là
353.410 tỷ đồng, bằng 2,3 lần vốn nhà nước cấp, gấp 2 lần nợ phải thu
trong đó nợ quá hạn phải trả là 10.171 tỷ [24].
1.1.2.2. Hệ thống quản lí điều hành doanh nghiệp tốt sẽ giảm thiểu
rủi ro.
Hệ thống quản lí, điều hành tốt sẽ tạo điều kiện cho Nhà nước,
HĐQT có khả năng đề phòng và kiểm soát các rủi ro trong kinh doanh một
cách tốt hơn. Những giám đốc, tổng giám đốc có năng lực, được lựa chọn
một cách kỹ lưỡng sẽ có khả năng tiên liệu rủi ro, đa dạng hoá rủi ro và vì

thế sẵn sàng chấp nhận các cơ hội kinh doanh. Rủi ro là mặt trái của thành
công trong kinh doanh. Mức độ rủi ro cao đồng nghĩa với khả năng lợi
nhuận lớn và thất bại lớn. Những phân tích kinh tế, tài chính, pháp lý được
thực hiện bởi các cơ quan chức năng của doanh nghiệp sẽ giúp tiên liệu và
định lượng được rủi ro, xác định được mức độ thành công so với thất bại
khi rủi ro xảy ra. Những tính toán, phân tích như thế sẽ giúp doanh nghiệp
thành công. Điều này đồng nghĩa với sự cần thiết phải có một bộ máy chức
năng hoạt động có hiệu quả trong doanh nghiệp.

1.1.2.3. Hệ thống quản lí, điều hành tốt tạo cơ hội nhiều hơn cho
doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn.
Các nhà cung cấp vốn dựa ngày càng nhiều vào hoạt động quản trị
các doanh nghiệp mà họ đầu tư hoặc cho vay để đưa ra yêu cầu về trách
nhiệm giải trình và nghĩa vụ thực tế của doanh nghiệp đối với các nhà đầu
tư và những người cho vay. Nghiên cứu do công ty McKinsey tiến hành
cho kết quả sau: 82% các nhà đầu tư tại Châu á đánh giá cao yếu tố quản
lí, điều hành công ty; ngược lại, 60% các nhà đầu tư có tổ chức sẽ tránh
đầu tư vào các công ty mà hệ thống quản lý, điều hành yếu kém; và 78%


12

các nhà đầu tư sẵn sàng trả giá cao cho cổ phiếu của những công ty có hệ
thống quản lí điều hành tốt [40].
Ngoài các lợi ích trên, hệ thống quản lí, điều hành doanh nghiệp tốt
còn đóng một vai trò không nhỏ đối với quốc gia và nền kinh tế đó là góp
phần làm tăng tính cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ, làm lành mạnh thị
trường vốn, tài chính, khuyến khích các hoạt động đầu tư.

1.1.2.4. Tác động của hệ thống quản lí, điều hành kém.

Quản lí điều hành doanh nghiệp kém khiến cho doanh nghiệp thua lỗ
hoặc đe doạ bị phá sản, thì hậu quả trước mắt có thể thấy ngay được là
nguy cơ mất việc làm của những người lao động trong doanh nghiệp. Sự
khó khăn sẽ đè nặng lên người lao động và gia đình của họ. Thực tế ở nước
ta cho thấy các doanh nghiệp như công ty Dâu tằm Bảo Lộc, công ty Dệt
Nam Định, TCTy Than Việt Nam, TCTy Cà phê Việt nam, TCTy giầy da
Việt nam .. .. chỉ là vài ví dụ trong vô số những yếu kém về quản trị doanh
nghiệp ở nước ta. Hơn nữa, quản trị doanh nghiệp yếu kém là cơ hội tốt cho
tình trạng tham nhũng, buôn lậu tồn tại. Các vụ Epco, Minh Phụng, Lã Thị
Kim Oanh.. các vụ án hoàn thuế giá trị gia tăng là những minh chứng điển
hình. Hậu quả về kinh tế, chính trị, xã hội mà chúng gây ra lớn hơn rất
nhiều so với những gì chúng ta thấy trên các con số.
Như vậy, quản lý có vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của DNNN nói chung trong đó có CTNN. ở tầm vi mô, vai trò
của quản lý thể hiện rõ nét hơn vì hoạt động sản xuất kinh doanh của
CTNN chịu sự quản lí trực tiếp của bộ máy quản lí nội bộ của doanh
nghiệp. Mọi qui định của quản lí nhà nước về CTNN đều được thực hiện
thông qua cơ quan quản lí nội bộ. Việc nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng
và đặc thù của hệ thống quản lí vi mô của CTNN sẽ giúp chúng ta hiểu sâu
sắc hơn về vấn đề này.


13

1.2. Công ty nhà nước trong các loại hình doanh nghiệp nhà nước.

1.2.1. Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước.
Luật DNNN năm 2003 định nghĩa DNNN như sau: DNNN là tổ

chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, hoặc có cổ phần, vốn

góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn" [5].
Định nghĩa này của Luật DNNN năm 2003 chứa đựng nhiều điểm
mới phản ánh những thay đổi khá cơ bản trong nhận thức của các nhà lập
pháp và hoạch định chính sách của nước ta đối với thành phần kinh tế nhà
nước cũng như các thành phần kinh tế khác. Khái niệm DNNN trong Điều
1 và các qui định khác của Luật DNNN năm 2003 chứa đựng một số điểm
cơ bản sau đây:

Thứ nhất, việc xác định DNNN không hoàn toàn dựa vào tiêu chí sở
hữu như trước đây. Trước đây, chỉ những DNNN do Nhà nước thành lập và
đầu tư vốn, hoàn toàn do nhà nước quản lí thì mới được coi là DNNN.
Trong số đó, tiêu chí sở hữu là tiêu chí cơ bản nhất và quyết định nhất của
DNNN.

Thứ hai, thừa nhận sự tồn tại bình đẳng của các hình thức sở hữu
trong một DNNN. Điều này có nghĩa là có những loại DNNN trong đó các
hình thức sở hữu khác nhau hoàn toàn bình đẳng với nhau trên nguyên tắc
của nền dân chủ cổ phần. Nhà nước, các nhà đầu tư, các doanh nhân nếu
góp nhiều vốn thì có nhiều khả năng chi phối DNNN.

Thứ ba, thừa nhận khả năng chuyển đổi DNNN thành doanh nghiệp
thông thường thông qua cơ chế chuyển nhượng, mua bán cổ phần. Một
doanh nghiệp do Nhà nước nắm cổ phần chi phối có thể không còn là
DNNN nữa nếu như trong quá trình tồn tại, do sự vận động của cổ phần
giữa các cổ đông với nhau, Nhà nước không còn nắm giữ được đủ số lượng
cổ phần để đảm bảo được quyền chi phối.

Thứ tư, Luật DNNN năm 2003 đã đa dạng hoá các DNNN trên tiêu
chí quyền chi phối. Khác với trước đây, DNNN chỉ tồn tại dưới dạng



14

DNNN độc lập hoặc TCTy nhà nước thì hiện nay DNNN có thể tồn tại dưới
nhiều dạng khác nhau.
Chính sự đa dạng về hình thức tồn tại của DNNN sẽ làm sinh động
thành phần kinh tế công, làm cho nó thích ứng hơn với nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Sẽ là có ích khi chúng ta tìm hiểu các loại hình
DNNN theo qui định của pháp luật hiện hành.

1.2.2. Các loại doanh nghiệp nhà nước
1.2.2.1. Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên
Việt Nam, loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu
xuất hiện và tồn tại trước năm 1999 đó là doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài do một số tổ chức hay cá nhân người nước ngoài hoặc một cá nhân
người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư thành lập theo Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam. Đối với đầu tư trong nước, loại hình công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ được đặt ra đối với pháp nhân. Tuy
nhiên thực tế kinh doanh ở Việt Nam đã tồn tại nhiều công ty trách nhiệm
hữu hạn trong đó thực chất chỉ có một thành viên, ngoài ra các thành viên
khác chỉ là danh nghĩa chỉ nhằm mục đích chủ yếu là hợp thức hoá việc
thành lập công ty. Thực chất công ty có một chủ sở hữu duy nhất. Như vậy
công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ vẫn tồn tại và hoạt động trên thực tế
cho dù có được pháp luật thừa nhận hay không.
Xuất phát từ thực tế đó và để thể chế hoá chủ trương của Nghị quyết
Trung ương lần thứ 4 khoá VIII chuyển các doanh nghiệp kinh doanh

sang hoạt động theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ
phần; bổ sung hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có một sáng lập

viên để áp dụng đối với doanh nghiệp kinh doanh 100% vốn nhà nước.
Quan điểm này một lần nữa được khẳng định tại Nghị quyết Trung
ương lần thứ 3 khoá IX "thực hiện chế độ công ty trách nhiệm hữu hạn đối
với DNNN giữ 100% vốn". Thể chế hoá chủ trương của Nghị quyết Trung
ương lần 3 khoá IX, Luật DNNN năm 2003 đã thừa nhận loại hình công ty


15

trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên và định nghĩa loại hình
doanh nghiệp nhà nước này tại Điều 3 Khoản 3 như sau: "Công ty trách

nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên là công ty trách nhiệm hữu hạn do
Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt
động theo qui định của luật doanh nghiệp".
Như vậy, công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên có
bản chất giống công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên qui định trong
Luật Doanh nghiệp năm 1999. Điểm khác biệt cơ bản là chủ sở hữu của
công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước này chính là Nhà nước, còn các đặc
điểm khác giống như công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ được quy định
trong Luật Doanh nghiệp năm 1999.
Theo báo cáo của Ban Đổi mới và Phát triển DNNN, đến cuối năm
2004 cả nước mới chuyển được 55 DNNN sang mô hình công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên.

1.2.2.2. Công ty cổ phần nhà nước
Khái niệm công ty cổ phần nhà nước lần đầu tiên xuất hiện trong văn
bản luật DNNN năm 2003. Trước đó, luật DNNN năm 1995 cùng các văn
bản pháp luật về DNNN không qui định về loại hình DNNN này.
Theo qui định tại Khoản 2 Điều 3 Luật DNNN năm 2003 thì công


ty cổ phần nhà nước là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các CTNN
hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn được tổ chức và hoạt động
theo qui định của Luật Doanh nghiệp.
Như vậy, công ty cổ phần nhà nước thực chất là công ty cổ phần theo
quy định của Luật Doanh nghiệp năm 1999, điểm khác biệt cơ bản của loại
hình công ty cổ phần này là cổ đông của công ty chỉ có thể là những CTNN
hoặc tổ chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn, điều này có nghĩa là chủ sở
hữu của công ty chỉ có thể là Nhà nước, các nhà đầu tư thuộc các thành
phần kinh tế tư nhân không được tham gia vào công ty cổ phần loại này.
Nói cách khác, đây là công ty cổ phần thuần tuý sở hữu nhà nước.


16

Sự ra đời của loại hình DNNN này với mục đích nâng cao tính tự
chịu trách nhiệm của DNNN trong hoạt động sản xuất kinh doanh, xoá bỏ
các loại bảo hộ và bao cấp bất hợp lí dành cho DNNN như khoanh nợ, giãn
nợ, xoá nợ, bù lỗ, cấp tín dụng ưu đãi tràn lan đối với hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp nhà nước, để xoá bỏ đặc quyền và độc quyền kinh doanh
của DNNN phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.

1.2.2.3. Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở lên.
Khoản 4 Điều 3 Luật DNNN năm 2003 qui định về công ty trách
nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở lên như sau:

Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở lên là
công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty
nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ
chức được nhà nước uỷ quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt đông theo qui

định của Luật doanh nghiệp.
Như vậy công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước hai thành viên trở
lên thực chất là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên qui định
trong Luật Doanh nghiệp. Điểm khác biệt cơ bản là loại hình công ty trách
nhiệm hữu hạn này là các thành viên góp vốn chỉ có thể là các CTNN và tổ
chức được Nhà nước uỷ quyền góp vốn. Điều này có nghĩa là chủ sở hữu
công ty là Nhà nước, thành phần kinh tế tư nhân không được tham gia góp
vốn vào loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn này. Nói cách khác, đây là
công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên thuần tuý sở hữu nhà nước.

1.2.2.4. Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước
Khoản 5 Điều 3 Luật DNNN năm 2003 định nghĩa về doanh nghiệp
có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước như sau:

Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh
nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều
lệ, Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó.


17

Đây là loại hình DNNN lần đầu tiên được thừa nhận và qui định
trong Luật DNNN năm 2003. Trước đó, doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp
chi phối của nhà nước không được thừa nhận là DNNN. Theo Luật DNNN
năm 1995 và các văn bản pháp luật trước đây, DNNN được coi là tổ chức
kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn 100%, do Nhà nước quản lí, cách tiếp cận
DNNN này thuần tuý dựa trên tiêu chí sở hữu nên pháp luật nước ta giai
đoạn đó chỉ có một loại hình DNNN mặc dù có những biến dạng nhất định
là DNNN độc lập, TCTy nhà nước, DNNN là thành viên có tư cách pháp
nhân của TCTy nhà nước và DNNN phụ thuộc của TCTy nhà nước. Tuy

nhiên xét ở bản chất pháp lý thì chỉ có DNNN độc lập, DNNN là thành
viên có tư cách pháp nhân của TCTy mới là chủ thể thực sự của các quan
hệ pháp luật.
Luật DNNN năm 2003 tiếp cận DNNN từ tiêu chí quyền chi phối.
Chính vì vậy, hình thức pháp lí của DNNN trở lên đa dạng hơn, công ty có
cổ phần, vốn góp chi phối là một loại hình DNNN được tiếp cận dựa trên
tiêu chí này. Loại hình DNNN này bao gồm công ty cổ phần hay công ty
trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có cổ phần, vốn góp chi phối
của nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn loại này có
vốn đa sở hữu trong đó cổ phần, vốn góp của nhà nước chiếm trên 50% vốn
điều lệ của công ty. Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó.
Trong thực tế, công ty cổ phần có cổ phần chi phối của Nhà nước
tồn tại từ trước khi Luật DNNN năm 2003 ra đời. Sự ra đời của công ty cổ
phần có cổ phần chi phối của Nhà nước gắn liền với quá trình cổ phần hoá
DNNN. Trong nhiều trường hợp kết quả của cổ phần hoá là sự xuất hiện
của công ty cổ phần với cổ phần của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ
của công ty.
Quyết định số 155/2004/QĐ-TTg ngày 24/8/2004 của Thủ tướng
Chính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại CTNN và công ty
thành viên hạch toán độc lập thuộc TCTy nhà nước qui định những công ty


18

có vốn nhà nước từ 20 tỷ đồng trở lên, mức thu nộp ngân sách nhà nước
bình quân 3 năm liền kề từ 2 tỷ đồng trở lên khi cổ phần hoá, nhà nước
nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần. Nhà nước đương nhiên giữ quyền chi
phối đối với công ty cổ phần này.

1.2.3. Công ty nhà nước Loại doanh nghiệp nhà nước truyền

thống.
1.2.3.1. Khái niệm công ty nhà nước.
Khái niệm CTNN được quy định trong Khoản 1, Điều 3 Luật DNNN
năm 2003 như sau CTNN là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ

vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định
của Luật này. CTNN được tổ chức dưới hình thức CTNN độc lập, TCTy
nhà nước.
Loại doanh nghiệp này tương ứng với DNNN độc lập và TCTy theo
luật DNNN năm 1995. Về cơ bản, loại DNNN này chỉ có sự thay đổi về tên
gọi, còn bản chất pháp lý của chúng thì giống DNNN được định nghĩa
trong Luật DNNN năm 1995. Sở dĩ loại CTNN này còn được duy trì vì
trong bất kỳ quốc gia nào, nhất là trong điều kiện kinh tế thị truờng định
hướng xã hội chủ nghĩa như ở nước ta, Nhà nước vẫn cần duy trì những
DNNN thuần tuý, tức là những DNNN mà Nhà nước cần nắm giữ 100%
vốn (hay gọi là CTNN).
Do CTNN có bản chất pháp lý giống DNNN được định nghĩa trong
Luật DNNN năm 1995, nên CTNN mang đầy đủ đặc điểm của loại hình
DNNN này, bao gồm những đặc điểm sau:

Thứ nhất, CTNN do Nhà nước đầu tư thành lập và quản lý. Điều này
có nghĩa là xuất phát từ tiêu chí sở hữu tuyệt đối, tiêu chí thành lập và quản
lý để xác định CTNN, CTNN được coi hoàn toàn thuộc sở hữu Nhà nước.
CTNN do Nhà nước đầu tư vốn và thành lập, khác với doanh nghiệp khác
như doanh nghiệp tư nhân, các công ty tư nhân do các nhà đầu tư thành lập
nên và được nhà nước công nhận thông qua việc cho phép đăng ký kinh


19


doanh. CTNN do nhà nước trực tiếp quản lý. Điều này có nghĩa là các chế
độ, thể lệ quản lý trong nội bộ công ty, mối quan hệ giữa những người lao
động và ban giám đốc trong CTNN không đơn thuần chỉ là quan hệ giữa
Nhà nước với chủ thể pháp luật mà còn là quan hệ giữa chủ sở hữu với
người được giao quản lý tài sản. Điều này khác với ở doanh nghiệp tư nhân
hoặc công ty thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Những người quản lý
CTNN không phải là chủ sở hữu mà chỉ là người đại diện cho CTNN, do
Nhà nước- chủ sở hữu cử ra.

Thứ hai, CTNN có tư cách pháp nhân. Pháp luật hiện hành về CTNN
cũng như pháp luật trước đây đều xác định DNNN trong đó có CTNN có tư
cách pháp nhân. Đây là khía cạnh pháp lý quan trọng thể hiện tư cách chủ
thể của CTNN trong tất cả các quan hệ pháp lý. Tư cách pháp nhân đã
tạo ra cho CTNN tính độc lập để thực hiện các mục tiêu đặt ra. Bên cạnh
đó, tư cách pháp nhân xác định tính chất hữu hạn của CTNN trong quan hệ
với chủ thể khác. CTNN phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản một cách đầy
đủ, không giới hạn trước chủ nợ, những đối tác của mình. CTNN phải thực
hiện mọi nghĩa vụ đã cam kết. "Tư cách pháp nhân" của CTNN khẳng định
giới hạn trách nhiệm của CTNN đối với Nhà nước. Điều này có nghĩa là
CTNN không chịu trách nhiệm đôí với nghĩa vụ của bất cứ tổ chức nhà
nước nào cam kết trước các chủ nợ, các đối tác khác. Ngược lại, Nhà nước
cũng không phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ mà CTNN đã cam
kết. Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động của CTNN trong phạm vi
vốn Nhà nước đầu tư vào CTNN.
CTNN bao gồm CTNN độc lập và TCTy nhà nước.

1.2.3.2 Công ty nhà nước độc lập
CTNN độc lập thực chất là DNNN độc lập theo qui định trong Luật
DNNN năm 1995. CTNN độc lập được hiểu là tính độc lập trong hoạt động
của công ty và công ty không thuộc một TCTy nào.



20

Trước khi có Luật DNNN năm 2003 ra đời, việc xác định qui mô
của DNNN(CTNN) độc lập căn cứ vào 4 tiêu thức : vốn ít nhất là 15 tỷ
đồng trở lên; số lượng lao động ít nhất từ 500 người trở lên; số doanh thu ít
nhất từ 20 tỷ đồng trở lên; nộp ngân sách nhà nước tính mốc là 5 tỷ đồng
[11]. Mỗi tiêu thức được phân ra mức khác nhau và được tính điểm tương
ứng với các mức đó, sau đó tính tổng điểm theo tất cả các tiêu chí cộng lại.
Các doanh nghiệp có tổng điểm tính cho tất cả các tiêu thức cộng lại đạt
giá trị 100 điểm được coi là DNNN(CTNN) độc lập có quy mô lớn và phải
tổ chức HĐQT trong tổ chức quản lý nội bộ. Còn các DNNN(CTNN)
không đạt được quy mô trên đều coi là DNNN(CTNN) có quy mô nhỏ hoặc
vừa. Mô hình quản lý được tổ chức không có HĐQT.
Căn cứ theo tinh thần của các Nghị quyết Trung ương 3 và Trung
ương 9 Khoá IX của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành quyết định 155/2004/QĐ-TTg ngày 24/8/2004 quy định
tiêu chí phân loại CTNN thay thế cho quy định trước đây. Theo quyết định
này, CTNN độc lập được thành lập như sau: (i) Những công ty hoạt động
trong một số lĩnh vực quan trọng; (ii) Những công ty bảo đảm nhu cầu thiết
yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa; (iii) Những công ty đáp
ứng đủ các điều kiện sau: vốn Nhà nước từ 30 tỷ đồng trở lên; mức thu nộp
ngân sách bình quân 3 năm liền kề từ 3 tỷ đồng trở lên; đi đầu trong ứng
dụng công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao; góp phần quan trọng ổn định
kinh tế vĩ mô và hoạt động trong những ngành, lĩnh vực mà nhà nước quy
định. Những CTNN có qui mô lớn giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác
phải tổ chức HĐQT trong quản lý nội bộ của công ty. Những công ty này
là Công ty mẹ trong tổ hợp Công ty mẹ - Công ty con.


1.2.3.3 Tổng công ty nhà nước
Từ lâu, DNNN đã thực hiện các liên kết kinh tế nhằm tạo ra những
tổ chức kinh tế mạnh, phát huy một cách tổng hợp năng lực và ưu thế của
mỗi thành viên tham gia liên kết. Trong nền kinh tế thị trường định hướng


21

XHCN, nhu cầu liên kết kinh tế càng có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo
ra những tập đoàn có khả năng cạnh tranh. ở nước ta, các liên kết kinh tế
theo mô hình TCTy nhà nước xuất hiện vào năm 1994 theo các quyết định
số 91/TTg và 90/TTg ngày 7/3/1994. Hai loại TCTy nhà nước ra đời là
TCTy 90 và TCTy 91 với sự khác nhau về mức vốn pháp định và số lượng
thành viên. Với TCTy 91 thì mức vốn pháp định là 1.000 tỷ đồng trở lên và
có số lượng thành viên tối thiểu là 7. TCTy 91 có thể kinh doanh đa ngành
nhưng nhất thiết phải có định hướng ngành chủ đạo. Mỗi TCTy 91 được tổ
chức công ty tài chính để huy động vốn, điều hoà vốn để phục vụ cho yêu
cầu phát triển của nội bộ TCTy. Đối với TCTy 91, Thủ tướng Chính phủ ký
quyết định thành lập, bổ nhiệm HĐQT. Với TCTy 90 thì vốn pháp định là
trên 500 tỷ đồng, đối với một số TCTy trong những ngành đặc thù thì mức
vốn có thể thấp hơn nhưng không thấp hơn 100 tỷ đồng.
Hơn 10 năm qua, hoạt động của các TCTy 90 và 91 đã có những
đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc dân. Các TCTy đã và đang tiếp
tục chi phối những ngành, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Hoạt
động sản xuất kinh doanh của nhiều TCTy khá ổn định, đạt tỷ suất lợi
nhuận cao. Trong năm 2003, tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên vốn đầu tư
của các TCTy 91 đạt 14,2%, cao hơn 3,45% so với toàn khu vực DNNN.
Một số TCTy đã vươn lên làm tổng thầu trong các công trình công nghiệp
lớn, có 14/18 TCTy 91 và 42/74 TCTy 90 có khả năng phát triển và hội

nhập kinh tế quốc tế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động của TCTy nhà nước
vẫn còn có những hạn chế. Đó là, nhiều TCTy 90 còn gặp khó khăn về tài
chính, qui mô còn khiêm tốn, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp.
Bình quân vốn của TCTy 90 là 274 tỷ đồng bằng 58,4% yêu cầu, đặc biệt
có 8 TCTy có vốn nhà nước dưới 100 tỷ đồng. Năm 2003 các TCTy 91 có
doanh thu bằng 96,8% năm 2002, nộp ngân sách bằng 83,6% [25]. Mục
tiêu của các TCTy là xoá bỏ chế độ chủ quản. Thế nhưng, trong thực tế chế


22

độ chủ quản vẫn tồn tại, vẫn can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh của CTNN và bản thân TCTy. Thêm vào đó, bản thân cơ chế quản lý
trong nội bộ của TCTy, mối quan hệ giữa TCTy với cơ quan chủ quản chủ
yếu mang nặng tính hành chính. Trước thực tế này đòi hỏi đổi mới cơ chế
quản lý ở các TCTy 90 và 91 theo hướng phát triển tập đoàn kinh doanh
theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 3 và Trung ương 9 Khoá IX.
Quan điểm này đã được thể chế hoá trong Luật DNNN năm 2003.
TCTy nhà nước được định nghĩa trong Điều 46 luật DNNN năm
2003 như sau: TCTy nhà nước là hình thức liên kết kinh tế trên cơ sở tự

đầu tư, góp vốn giữa các CTNN, giữa CTNN với các doanh nghiệp khác
được hình thành trên cơ sở tổ chức và liên kết các đơn vị thành viên có mối
quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các
dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính nhằm tăng cường khả năng kinh doanh và thực hiện lợi ích
của các đơn vị thành viên và toàn TCTy.
Theo Điều 47 Luật DNNN năm 2003 thì TCTy nhà nước bao gồm:
(i) TCTy do nhà nước quyết định đầu tư và thành lập; (ii) TCTy do các
công ty tự đầu tư và thành lập là hình thức liên kết thông qua đầu tư, góp

vốn của CTNN có quy mô lớn do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ với
các doanh nghiệp khác, trong đó CTNN giữ quyền chi phối doanh nghiệp
khác; (iii) TCTy Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước được thành lập để
thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty trách nhiệm
hữu hạn nhà nước một thành viên; thực hiện chức năng đầu tư và kinh
doanh vốn nhà nước và quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với cổ phần,
vốn góp của nhà nước tại các doanh nghiệp đã chuyển đổi sở hữu hoặc hình
thức pháp lý từ các CTNN độc lập.
Thực hiện tinh thần của Nghị quyết Trung ương lần thứ ba khoá IX
của Ban chấp hành Trung ương Đảng, đó là: TCTy 100% vốn nhà nước
phải có HĐQT, Luật DNNN năm 2003 qui định các loại hình CTNN có


×