Tải bản đầy đủ (.doc) (11 trang)

Xây dựng không khí lớp học thân thiện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hạnh kiểm cho học sinh lớp 5.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (144.97 KB, 11 trang )

Đề tài: Xây dựng không khí lớp học thân thiện, góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục hạnh kiểm cho học sinh lớp 5.

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài.
1.1, Cơ sở lí luận:
Tâm lí nhân cách của mỗi con người chủ yếu được hình thành qua hoạt động, lao
động và học tập. Ở lứa tuổi tiểu học, học sinh chưa định hình một thực thể nhân
cách trọn vẹn mà đang từng bước phát triển, hoàn thiện dần tính cách của mình.
Mỗi hành vi, lời nói đều có thể góp phần tác động vào quá trình tạo lập tính cách
con người. Ngày xưa ông cha ta đã khẳng định: “Nhân chi sơ, tính bổn thiện. Tính
tương cận, tập tương viễn”, “Giáo chi đạo, quý dĩ chuyên”. Vậy, bản chất con
người vốn là “thiện” nhưng cần phải giáo dục mới thành tính tốt, trong việc giáo
dục cần phải “chuyên cần” thì mới có kết quả.
Con người tiếp nhận sự giáo dục cần phải có sự thích ứng tự nhiên, nghĩa là sự
thích nghi của lứa tuổi. Sự phát triển tâm lí của mỗi con người cũng giống như sự
tiến hóa của nhân loại, nó có từng giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn đó, giáo dục chỉ
có thể tác động vào theo một chiều hướng nhất định, đó là chiều hướng tích cực
mới có thể đem lại hiệu quả cao nhất. Nói cụ thể hơn là phải giáo dục học sinh
bằng tình cảm phù hợp với đặc điểm lứa tuổi thì mới có thể tạo ra “những tâm hồn
trong sáng” cho các em.
Mục tiêu của giáo dục hạnh kiểm ở trường tiểu học là xây dựng những tính cách
ban đầu phù hợp để có thể phát triển đi lên cho các cấp học trên. Để đạt được mục
tiêu đó, người giáo viên cần tạo ra sự hứng thú, xúc cảm cho học sinh; giúp các em
chủ động xây dựng nhân cách cho mình. Một trong những biện pháp giúp học sinh
tự giác hoàn thiện nhân cách là tạo ra sự “thân thiện” trong quá trình giáo dục, giúp
các em thực sự tin tưởng vào môi trường học tập, thực sự cảm thấy “mỗi ngày đến
trường là một ngày vui”.
2.1, Cơ sở thực tiễn:
Hưởng ứng cuộc vận động xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực của
Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mỗi lớp học cần tự xây dựng cho mình một môi trường


học tập - rèn luyện gần gũi và thân thiện. Mỗi thành viên trong lớp học cần có tình
cảm đối với lớp mình, thực sự coi lớp học là “tổ ấm tình thương”, là “gia đình thứ
hai” của mình. Các em luôn tự hào và có ý thức xây dựng tập thể của mình thêm
vững mạnh.
Một hiện tượng phổ biến của bộ phận học sinh tiểu học vùng nông thôn hiện nay
là tình trạng ngại đến lớp. Lí do chủ yếu là chương trình học tập quá tải đối với khả
năng nhận thức của các em, song một lí do không kém phần quan trọng đó là sự
thiếu thân thiện trong giao tiếp của môi trường học tập. Học sinh đến lớp với mục
tiêu tiếp thu kiến thức kiểu “tiền đếm, gạo đong” chứ không phải vì “tình thầy,
Trang 2


nghĩa bạn” dẫn tới thiếu hứng thú trong học tập – rèn luyện. Vì vậy, các em đến
trường với tinh thần bắt buộc và đối phó.
Trong dạy học – giáo dục ngày nay, khoảng cách giữa thầy và trò có sự thay đổi,
người thầy đóng vai trò là người tổ chức hoạt động học tập – rèn luyện cho học
sinh, vì vậy mối quan hệ giữa thầy và trò trở nên bình đẳng và khách quan. Nhưng
mối quan hệ này cũng làm cho vị trí của người thầy không còn là “thần tượng độc
tôn” trong cách nhìn của học sinh như trước nữa. Đó cũng là một trong những
nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục hạnh kiểm cho học sinh ở bậc
tiểu học nói riêng, bậc học phổ thông nói chung.
Nghiên cứu vấn đề giáo dục hạnh kiểm cho học sinh và đưa ra giải pháp để xây
dựng môi trường lớp học thân thiện đã được nhiều tài liệu đề cập đến, song đó là
những tài liệu mang tính hàn lâm. Việc áp dụng vào thực tiễn từng lớp học là sự
cần thiết nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Trước những lí do trên, chúng tôi
mạnh dạn trình bày đề tài: “Xây dựng không khí lớp học thân thiện, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục hạnh kiểm cho học sinh lớp 5” nhằm khắc phục
một số hạn chế trong cách giáo dục hạnh kiểm cho học sinh hiện nay, góp phần vào
việc nâng cao chất lượng dạy học – giáo dục ở trường tiểu học.
Đây là một một vấn đề mới mẽ, hết sức nhạy cảm, bức thiết, phù hợp với xu thế

hiện tại của giáo dục với bối cảnh hện đại hóa, tình trạng hạnh kiểm của học sinh
đang sa sút nghiêm trọng. Nếu đề tài này được nghiên cứu một cách nghiêm túc và
ứng dụng kịp thời, thì có thể giải quyết cơ bản tình trạng ngại tiếp xúc với môi
trường học tập và thái độ đối với thầy (cô) của một bộ phận học sinh.
2. Mục đích nghiên cứu.
Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hạnh kiểm cho học sinh lớp 5, phát triển
kĩ năng giao tiếp phù hợp và linh hoạt hơn. Xây dựng mối quan hệ thầy – trò thân
mật, gần gũi. Qua đó, hình thành ý thức tự học, tự rèn luyện ở học sinh, tạo ra tình
đoàn kết trong tập thể lớp học, góp phần xây dựng “trường học thân thiện, học sinh
tích cực”.
Đưa ra hệ thống các giải pháp xây dựng không khí lớp học thân thiện, giúp
học sinh hoạt động học tập và vui chơi thân mật, cởi mở để phát triển tâm lí và
hình thành nhân cách, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập – rèn luyện lên lớp
trên và bước vào đời.
3. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Đề tài kết hợp nhiều phương pháp:
- Phương pháp phân tích tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu.
- Phương pháp phân loại thống kê.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm ...
***
Trang 3


B. NỘI DUNG
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Về giáo viên:
Thái độ trong giao tiếp với học sinh có vai trò quan trọng trong việc gây hứng thú
học tập và tạo ra sự gần gũi thân mật giữa thầy - trò. Người giáo viên có thái độ

giao tiếp tốt là thể hiện sự tôn trọng đối với học sinh, giúp học sinh có niềm tin đối
với thầy. Thực tế hiện nay, khi giao tiếp với học sinh, hầu hết giáo viên thường thể
hiện bằng hình thức phân biệt thứ bậc hoặc thiên về dạy dỗ. Hình thức này có phần
cứng nhắc thiếu sự thân mật khiến cho học sinh e ngại không giám hòa mình vào
không khí trò chuyện. Vì vậy các cuộc giao tiếp chỉ diễn ra một chiều, còn chiều
phản hồi chỉ mang tính chất trả lời câu hỏi. Qua việc thu thập thông tin từ nhiều
đồng nghiệp tôi thấy 90% giáo viên thực hiện giao tiếp với học trò theo hướng này.
Trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên thường răn đe, dọa nạt học sinh khiến
các em thiếu tự tin hoặc tin rằng khả năng của mình kém, từ đó sinh ra tâm lí chấp
nhận, ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách của các em. Mặt khác, tâm lí
này làm cho học sinh rụt rè, tự ti ảnh hưởng tới quá trình học tập, làm cho môi
trường học tập trở nên nặng nề, căng thẳng. Để học sinh phát triển toàn diện cả về
tâm lí nhân cách và trí tuệ, người giáo viên cần chú trọng tạo ra không khí thân
thiện trong lớp học, có như vậy mới có thể đào tạo ra thế hệ con người phù hợp với
xu thế thời đại, hòa vào nhịp phát triển của thế giới nhân loại.
2. Về học sinh.
Học sinh hiện nay nói chung đã có sự gần gũi với giáo viên, song một bộ phận
không nhỏ vẫn còn tỏ ra sợ sệt khi tiếp xúc với thầy cô. Điều này thể hiện như
không giám trò chuyện với thầy cô, không giám hỏi bài mặc dù chưa hiểu bài, trả
lời lí nhí khi được giáo viên hỏi... Qua việc tiếp cận với nhiều học sinh tôi thấy rất
nhiều em không phải không có nhu cầu giao tiếp hay thiếu kĩ năng giao tiếp, mà
các em thiếu tự tin trong giao tiếp. Để giúp học sinh có đủ tự tin hòa mình vào
không khí học tập và rèn luyện thì phải tạo ra sự cởi mở, vui vẻ cho lớp học.
Ở bậc học tiểu học, học sinh lớp 5 là lớn nhất cả về thể lực và nhận thức, trí tuệ.
Ở độ tuổi này, các em bắt đầu phát triển năng lực tư duy có ý thức. Vì vậy, các em
cần có môi trường lành mạnh để hoạt động và thể hiện mình, nơi các em tiếp xúc
thường xuyên và tốt nhất là môi trường học tập. Khi học hết chương trình lớp 5 các
em có thể thâm nhập vào với xã hội và học lên lớp trên, để phát triển được thì phải
có một khả năng giao tiếp tốt. Việc xây dựng môi trường học tập thân thiện là tạo
ra cơ hội hình thành nhân cách và phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh, giúp

các em có bản lĩnh để vào đời và học lên lớp trên thuận lợi hơn.
Nhìn chung khi tiếp xúc với học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 5 nói riêng
tôi thấy thường có một khoảng trống nhất định xuất hiện, học sinh co lại rụt rè.
Hạn chế nhất của các em là vốn ngôn ngữ còn thiếu thốn, mất bình tĩnh nên tỏ ra
không mặn mà, thân mật.
Trang 4


II. NHỮNG GIẢI PHÁP XÂY DỰNG KHÔNG KHÍ LỚP HỌC THÂN THIỆN
1. Cơ sở để xây dựng giải pháp.
Căn cứ vào đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học về ngôn ngữ, chú ý, trí nhớ, ý
chí, tình cảm dẫn tới phát triển nhận thức, tình cảm. Từ đó có thể vận dụng khả
năng nhận thức và nhu cầu tình cảm để giúp các em thêm yêu môi trường học tập.
Trong quá trình lên lớp hàng ngày với những tình huống từ đơn giản đến phức
tạp, mỗi tình huống cần có những cách ứng xử khéo léo. Từ những cách ứng xử đó
có thể rút ra những giải pháp chung nhất, ứng dụng cho những tình huống phù hợp.
Tuy nhiên, mỗi con người có một đặc điểm cấu trúc tâm lí khác nhau nên cùng một
hiện tượng có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Song hệ thống các
giải pháp được đề cập là những phương pháp giải quyết những vấn đề chung nhất
với kết quả tối ưu nhất.
2. Các giải pháp:
1.2; Sử dụng lời nói thân thiện.
Lời nói là phương tiện chủ yếu của người giáo viên. Vì vậy, người giáo viên phải
trau chuốt, mài dũa công cụ của mình để sử dụng đạt hiệu quả cao nhất. Người
thầy phải giữ gìn lời nói như nhân phẩm của mình. Khi giao tiếp với học sinh,
người thầy phải sử dụng ngôn ngữ sao cho các em dễ hiểu nhất, giàu hình ảnh và
đạt giá trị biểu cảm cao.
Ngoài giá trị nội dung của ngôn ngữ, người giáo viên còn phải diễn đạt nó bằng
âm điệu phù hợp. Bởi vì cùng một từ ngữ, nếu chúng ta nói với những âm điệu
khác nhau thì người nghe sẽ hiểu theo những ý khác nhau. Chẳng hạn: khi giáo

viên bước vào lớp, học sinh sẽ đứng dậy chào, câu nói để các em ngồi vào vị trí có
thể là “Ngồi xuống!”, cũng có thể là “Tất cả ngồi vào vị trí” hoặc là “Thầy mời các
em ngồi xuống”... nhưng cách nói đầy đủ là “Thầy mời các em ngồi xuống” cộng
với thái độ nhẹ nhàng sẽ tạo ra xúc cảm tâm lí, giúp các em thoải mái và tự tin để
bắt đầu tiết học...
2.2; Sử dụng ánh mắt và cử chỉ trìu mến.
“Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”, ánh mắt sẽ nói lên thái độ của mỗi con người.
Với giáo viên, ánh mắt cũng góp sức làm nên thành công trong quá trình dạy học.
Người thầy phải nhìn học sinh bằng ánh mắt trìu mến thì mới tạo được hứng thú,
cảm xúc cho các em học tập. Khi tiếp xúc học sinh, giáo viên không nên nhìn theo
kiểu “xoi mói”, “chằng chằng”, “đăm đăm” mà nên nhìn thẳng kết hợp với nét mặt
thể hiện niềm tin vào các em. Điều đó sẽ làm cho các em không có cảm giác lo sợ,
đem đến cho các em tinh thần thoải mái trong suốt quá trình học tập.
Thái độ của mỗi người ngoài việc thể hiện qua ánh mắt còn thể hiện qua hành
động, cử chỉ. Với người giáo viên, mỗi cử chỉ đều tác động đến tinh thần của học
sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học. Ở độ tuổi này, tư duy trừu tượng chưa phát triển
vì vậy học sinh thiên về tư duy hình ảnh. Kiểu tư duy này chịu ảnh hưởng chủ yếu
là hành động, nếu cử chỉ của thầy mạnh mẽ sẽ làm cho học sinh lo sợ và ngược lại
Trang 5


cử chỉ của thầy dịu dàng, trìu mến sẽ làm cho học sinh yên tâm. Chẳng hạn; khi
bước vào lớp, nếu thầy bước đi hùng hổ với vẻ bực dọc, đặt cặp sách đánh phịch
xuống bàn... thì học sinh sẽ im thin thít, ánh mắt toát lên sự tò mò sợ sệt. Hành
động đó sẽ tác động đến tinh thần của các em, làm cho các em lo âu cả tiết học và
chắc chắn tiết học có kết quả tồi. Vậy cử chỉ của thầy góp phần không nhỏ đến chất
lượng học tập – rèn luyện của học sinh, tạo ra không khí thân thiện cho lớp học,
giúp quá trình học tập – rèn luyện diễn ra nhẹ nhàng, tự nhiên.
3.2; Khuyến khích, động viên kịp thời.
Động viên, khuyến khích là việc làm không thể thiếu trong giáo dục, đặc biệt là

giáo dục tiểu học. Khi học sinh làm được việc tốt thì phải khen ngợi ngay để động
viên. Một lời động viên khuyến khích có hiệu quả giáo dục gấp nhiều lần so với
những lời chỉ trích. Đặc biệt với những học sinh cá biệt thì lời động viên như là
liều thuốc tinh thần giúp các em thay đổi hành vi theo hướng tiến bộ. Chẳng hạn:
một học sinh có tính hay cắp vặt, khi học sinh đó nhặt được đồ vật gì mà nhiều bạn
thấy thì giáo viên khuyên em trả lại cho bạn, rồi sau đó tuyên dương tinh thần
“nhặt được của rơi, trả người đánh mất” và thưởng hoa điểm mười. Việc làm này
sẽ làm cho em học sinh đó cảm động và dần dần thay đổi thói quen. Vậy, động
viên, khuyến khích kịp thời giúp học sinh rèn luyện nhân cách.
Động viên, khuyến khích kịp thời không những làm cho học sinh thay đổi tâm
tính mà còn là động cơ thúc đẩy quá trình học tập của các em. Trong học tập, sự
“cần cù” có phần bù đắp cho sự thiếu thông minh. Nếu động viên, khuyến khích
kịp thời sẽ giúp học sinh ham thích và dẫn tới chăm chỉ học tập, từ đó giúp các em
thành công hơn trong học tập. Chẳng hạn, một học sinh có lực học yếu khi làm
được một bài toán mức cơ bản thì giáo viên ghi điểm 10 và tuyên dương sự tiến bộ
của em đó. Việc làm này sẽ giúp học sinh tự tin hơn, tạo ra sự phấn khích cho học
sinh thích thú học tập, từ đó các em sẽ tự giác học tập và tạo lập quá trình tự giáo
dục. Những phẩm chất tốt của một con người chỉ hình thành dễ dàng khi người đó
tự mình rèn luyện nó, đó là mục đích cao nhất của giáo dục.
4.2; Thưởng, phạt công bằng.
Thưởng, phạt là việc làm xảy ra thường xuyên trong quá trình dạy học – giáo dục.
Khi học sinh làm được việc tốt thì thầy thưởng, còn khi học sinh vi phạm kĩ luật thì
cần phải trách phạt. Nhưng thưởng, phạt phải công bằng thì mới có hiệu quả giáo
dục. Chẳng hạn; một học sinh A chăm chỉ làm trực nhật thì được thưởng hoa điểm
mười và tuyên dương trước lớp, còn học sinh B lười làm trược nhật thì buộc phải
viết bản tự kiểm điểm rồi đọc trước lớp. Dù một hành vi nhỏ cũng phải thưởng,
phạt thật công bằng thì mới giúp học sinh yên tâm học tập và rèn luyện. Ngược lại,
nếu bỏ qua bất cử một hành vi tốt hay chưa tốt đều có thể làm mất niềm tin của các
em, làm cho các em có cảm giác bất bình và ảnh hưởng đến tinh thần của các em.
Trong dạy học, việc thưởng, phạt công bằng sẽ giúp học sinh biết quan tâm đến

bạn bè, thông cảm và trợ giúp lẫn nhau cùng tiến bộ, từ đó xây dựng được khối
đoàn kết vững mạnh cho tập thể.
Trang 6


Nếu việc thưởng, phạt thiếu công bằng sẽ làm cho học sinh tự phát sinh ra tính
ích kỉ, chây lười, so đo, nạnh hẹ dẫn tới mất hòa khí trong tập thể. Một tập thể
muốn vững mạnh phải là một tập thể đoàn kết, nguồn gốc của việc mất đoàn kết
chính là do thưởng phạt thiếu công bằng. Bác Hồ nói: “Trong một nước, thưởng
phạt phải công bằng, nghiêm minh thì mới có hòa bình”. Thưởng, phạt công bằng
sẽ tạo ra sự thân thiện trong lớp học, giúp học sinh có niềm tin vào tập thể của
mình mà tích cực hoạt động, rèn luyện.
5.2; Trách phạt nhẹ nhàng.
Khi học sinh phạm lỗi thì giáo viên trách phạt là việc làm cần thiết. Nhưng trách
phạt phải có tính nâng đỡ thì mới đúng vai trò, tinh thần của giáo dục. Tôi có
phương châm trách phạt thể hiện bằng bài thơ sau:
KHI THẦY BẮT LỖI
Thầy chưa bao giờ bắt lỗi
Ngày ngày khi thầy bắt lỗi
Cho dù em phạm lỗi nào:
Nêu ra hình phạt nặng nề
hành vi hãy còn ngờ nghệch,
Em tin rằng mình có lỗi
hay là nhận thức chưa cao.
Ngại nhìn, sợ bạn cười chê.
Thầy không bao giờ đánh mắng
Dù em học tập chưa ngoan
Vẫn còn chơi trò ngỗ nghịch
Dạy em, thầy chẳng cầu toàn.


Những lời thầy ghi nhận xét
Chỉ là nhắc nhở em thôi
Thầy không muốn em thất vọng
Tin cho năng lực mình tồi.

Học trò xưa nay vẫn thế
Nhưng là tuổi mộng thần tiên
Dù nay em chưa tròn lễ
Rồi mai em sẽ ngoan hiền.

Ngày nào trưởng thành em hiểu
Thầy nào bắt lỗi em đâu
Chỉ là “dơ cao đánh khẽ”
Dắt em những bước đi đầu.

Việc trách phạt nhẹ nhàng sẽ giúp học sinh nhận ra lỗi của mình nhưng không làm
cho học sinh bi quan, mặc cảm trước bạn bè, giúp các em cảm thấy môi trường
hoạt động của mình thân thương và hình thành ý thức trách nhiệm. Từ đó các em
sẽ tự giác xây dựng tình đoàn kết, thân thiện để học tập, vui chơi. Tôi xin đơn cử
một ví dụ sau: Em Trần Thị Hằng có đặc tính thiếu hòa đồng, hay gây gỗ với bạn
bè, có hôm trong giờ ra chơi tự dưng đẩy bạn ngã lại còn đánh bạn. Khi vào học, cả
lớp bức xúc thưa thầy, em Hằng cũng đứng lên phân minh. Trước hết tôi gọi một
đại diện đã chứng kiến, trình bày đầu đuôi sự việc. Sau đó tôi yêu cầu Hằng trả lời
sự việc bạn đã trình bày là đúng hay sai, nếu đúng thì Hằng phải xin lỗi bạn và
nhận lỗi trước các bạn, nếu sai thì phải chứng minh việc mình làm là đúng. Cuối
cùng Hằng đã nhận lỗi và hứa không tái phạm. Từ đó Hằng trở nên hòa đồng và
vui vẻ cùng các bạn học tập và vui chơi.
6.2; Tạo tiếng cười sau mỗi tiết học.
“Tiếng cười là liều thuốc bổ”. Tiếng cười trong dạy học – giáo dục sẽ làm tan đi
không khí căng thẳng vì tư duy khoa học. Không những thế, tiếng cười còn tạo ra

Trang 7


hưng phấn để kích thích suy nghĩ. Những người thông minh thường có tính hài
hước, chính sự hài hước lại tác động vào não để kích thích tư duy. Vì vậy, khi
giảng giải về khoa học, người giáo viên cần vận dụng tính hài hước để thu hút sự
chú ý của học sinh, làm tăng tính hấp dẫn của vấn đề cần truyền đạt, giúp quá trình
hình thành kiến thức diễn ra tự nhiên và nhẹ nhàng, đem đến kết quả cao.
Sau mỗi tiết học, để giảm bớt sự căng thẳng và tạo hứng thú cho tiết học sau,
giáo viên nên tạo ra tiếng cười cho lớp học. Có nhiều cách tạo tiếng cười; bản thân
tôi thường gây cười bằng những mẫu chuyện vui có nội dung tương tự bài vừa
được học. Chẳng hạn, kết thúc tiết địa lí, bài “Châu Mĩ (phần 1)” tôi kể cho học
sinh nghe mẫu chuyện vui “Ai tìm ra châu mĩ” có nội dung: Tiết địa lí hôm ấy, sau
khi giới thiệu bài, cô giáo yêu cầu: “Em hãy chỉ vị trí châu Mĩ trên bản đồ thế
giới”. Một số bạn lên bảng chỉ nhưng không đúng. Thấy thế, Tý xung phong và lên
chỉ đúng. Sau đó, cô giáo hỏi: “Ai là người đầu tiên tìm ra vùng đất châu Mĩ?” Tý
liền xung phong trả lời: “Thưa cô em đã tìm ra châu mĩ”. Cô giáo ngạc nhiên hỏi:
“Sao em nói thế?” - Vì nhiều bạn lên tìm nhưng không đúng, đến lượt em tìm mới
đúng mà !!!. Hay sau tiết khoa học, bài “Sự sinh sản của động vật”, tôi kể mẫu
chuyện vui “Lí lẽ” như sau: Hai đứa bé đang đọc cuốn sách "Cuộc sống của các
loài vật". Đột nhiên cả hai nhảy ra khỏi ghế và chạy đến gặp bà nội:
- Bà nội, bà nội ơi, bà có thể sinh em bé được không ạ?
- Ồ các cháu yêu dấu, dĩ nhiên là bây giờ thì bà không thể sinh con được nữa rồi!
Nghe xong, cậu anh đắc ý quay sang nói với em:
- Thấy chưa, anh đã bảo với em bà là giống đực mà!!! ...v.v..
Tôi nhận thấy việc làm này không những làm giảm đi sự mệt mỏi cho các em mà
còn giúp các em ghi nhớ nội dung bài học một cách dễ dàng. Bên cạnh đó, không
khí lớp học trở nên đầm ấm và thân thiện hơn, có hứng thú để bắt đầu tiết học sau.
7.2; Xây dựng giờ sinh hoạt thân thiện.
Mỗi tuần thường có một tiết sinh hoạt lớp, tiết học này thực sự bổ ích nếu người

giáo viên biết cách vân dụng hợp lí. Thông thường trong tiết sinh hoạt lớp có các
nội dung: nhận xét đánh giá kết quả học tập – rèn luyện trong tuần vừa qua, phổ
biến kế hoạch hoạt động của tuần tới, nhắc nhở và khắc phục tồn tại đã mắc phải...
Để làm tăng sự thân thiện cho tiết sinh hoạt, giáo viên nên tổ chức cho học sinh
trao đổi về tâm tư nguyện vọng của mỗi người, giao lưu văn nghệ... thường xuyên
thay đổi nội dung và hình thức cho tiết sinh hoạt luôn mới mẻ.
3. Khả năng ứng dụng của đề tài.
Đề tài có thể ứng dụng vào việc giáo dục hạnh kiểm cho học sinh ở cấp tiểu học
nói chung và đối tượng học sinh lớp 5 nói riêng. Lớp 5 là lớp học cuối cấp ở bậc
học tiểu học, ở lớp học này các em đã hình thành ý thức cá nhân, khả năng khái
quát hóa phát triển, bắt đầu biết khái quát hóa lý luận. Vì vậy đề tài ứng dụng phù
hợp cho việc giáo dục hạnh kiểm cho học sinh lớp 5, góp phần phát triển ý thức
cho học sinh, làm tiền đề cho các em bước ra cuộc đời và học lên lớp trên.

Trang 8


Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho phụ huynh học sinh trong quá trình giáo
dục và kèm cặp con em học tập.
Rèn luyện kĩ năng giao tiếp và hoạt động tập thể, giúp rèn luyện kĩ năng sống cho
học sinh. Đây là mục đích cao nhất của việc giáo dục hạnh kiểm cho học sinh trong
nhà trường. Từ rèn luyện trong nhà trường để trang bị kĩ năng sống trong cuộc đời
cho học sinh. Đây cũng là dụng ý mà đề tài muốn hướng tới.
***

C. KẾT LUẬN
1. Kết quả ứng dụng.
Ứng dụng đề tài vào công tác chủ nhiệm lớp, tôi thấy có kết quả rõ rệt. Lớp học
trở nên thân thiện thể hiện ở những điểm sau:
- Học sinh thích đi học: ở học kì I có 14 lượt học sinh nghỉ học, trong đó có 4 lượt

không phép; ở học kì II chỉ có 4 lượt nghỉ học có phép cho 14 tuần đầu học kì. Có
những em chưa khỏi hẳn bệnh vẫn đòi người nhà chở đến lớp như: Trần Thị Minh,
Nguyễn Thị Loan, Nguyễn Thị Diễm....
- Xếp thứ về công tác đội của lớp tôi chủ nhiệm năm học 2010 – 2011 tốt hơn
năm học 2009 – 2010. Năm học 2009 – 2010 lớp 5B chỉ có 10 tuần xếp thứ nhất cả
năm học, nhưng năm học 2010 – 2011 lớp 5C có 18 tuần xếp thứ nhất trong 31
tuần đã học.
- Số học sinh vi phạm kĩ luật ít, không có học sinh tái phạm. Trong 31 tuần đã học,
lớp 5C chỉ có 1 trường hợp phạm kĩ luật là em Nguyễn Văn Mạnh đi học sớm, chui
cửa sổ vào lớp để lấy dụng cụ vệ sinh. Thời gian đầu năm học, hai em: Hoàng
Mạnh Hùng và Nguyễn Văn Niệm là hai học sinh có tiếng nghịch ngộ, hay trêu
chọc bạn, hay nói chuyện riêng. Sau khi áp dụng các giải pháp, các em đã tiến bộ
rõ rệt, các em có ý thức đoàn kết và chấm dứt nói chuyện trong giờ học.
- Học sinh mạnh dạn hơn trong việc hỏi bài hoặc trò chuyện với giáo viên. Trong
các tiết học, nếu có điều chưa hiểu thì nhiều học sinh hỏi thầy, mối quan hệ giữa
học sinh với thầy và bạn trở nên gần gũi, thân thiện. Các em Chu Thị Hoàng, Lê
Thị Oanh, Trần Đình Linh... thời gian đầu năm học không hề xung phong phát
biểu, khi được hỏi thì trả lời rất nhỏ. Sau khi áp dụng giải pháp thì các em tự tin
phát biểu, trình bày rõ ràng và tương đối đúng kiến thức.
- Cải thiện chất lượng hạnh kiểm của lớp một cách rõ rệt:
Thời gian

Sĩ số

Đạt

Chưa đạt

Số lượng


Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

Đầu năm học 2010-2011

26

23

88,5%

3

11,5%

Cuối năm học 2010-2011

26

26

100%

0

0


2. Những kết luận.
Trang 9


Đề tài về việc xây dựng không khí lớp học thân thiện đáp ứng tính cấp thiết yêu
cầu của nghành giáo dục, góp phần hưởng ứng phong trào xây dựng trường học
thân thiện – học sinh tích cực của Bộ giáo dục và đào tạo đề ra.
Đề tài đã xác định được phạm vi và những giải pháp cơ bản để xây dựng không
khí lớp học thân thiện góp phần nâng cao chất lượng giáo dục hạnh kiểm cho học
sinh. Đề tài không thiên về lí giải cách thức mà chỉ đề cập các giải pháp cụ thể và
phạm vi ứng dụng. Giáo viên có thể căn cứ vào các giải pháp để điều chỉnh
phương pháp giáo dục học sinh lớp mình một cách phù hợp.
Nội dung của đề tài được trình bày khoa học, dễ hiểu; các luận điểm, luận cứ và
thông số có tính chính xác. Hệ thống lí thuyết đúng đắn, có sức thuyết phục.
Những kết quả được lấy từ thực tế, chính xác để chứng minh vấn đề, đáp ứng được
quan điểm dạy học – giáo dục tích cực đang đặc biệt chú trọng hiện nay.
Đề tài được áp dụng có hiệu quả trong quá trình giáo dục học sinh của giáo viên.
Nó đáp ứng một phần của việc đổi mới phương pháp giáo dục trong nhà trường
phổ thông hiện nay. Đặc biệt đề tài chú trọng phát huy vai trò tích cực, chủ động
của người học, đề cập tính tự giác của người học trong dạy học – giáo dục. Tính tự
giác của người học không những là một yếu tố tạo ra hiệu quả của quá trình học
tập và rèn luyện mà còn là mục tiêu của dạy học – giáo dục. Giúp học sinh có khả
năng phát triển tư duy, rèn luyện kĩ năng sống để đáp ứng nhu cầu phát triển xã
hội, hòa nhịp cùng sự phát triển của thế giới hiện đại.
3. Những đề xuất.
Bên cạnh việc rèn luyên kĩ năng giao tiếp và xây dựng tình đoàn kết cộng đồng
cho học sinh, chúng ta cần đổi mới phương pháp giáo dục nhằm tạo điều kiện cho
các em bộc lộ năng lực của mình, qua đó có thể tìm ra những hạn chế của các em
và sửa đổi bổ sung kịp thời. Giáo viên không nên chỉ chú trọng vào việc truyền thụ
kiến thức mang tính áp đặt mà phải căn cứ vào nhu cầu của học sinh để kích thích

tinh thần tự học hỏi và sửa đổi của các em.
Muốn học sinh tiến bộ, một trong những việc hết sức cần thiết là giáo viên phải
chuyên cần trong giáo dục, phải nhắc nhở ngay nếu các em vi phạm lỗi cho dù là
rất nhỏ. Người giáo viên không thể cẩu thả trong việc giáo dục nhân cách cho học
sinh. Song người thầy phải có tính độ lượng, sẵn sàng tha thứ lỗi lầm cho học sinh,
mở ra cơ hội sữa chữa nếu các em có lỗi lầm.
Trên đây là kết quả tìm tòi, suy nghĩ, học hỏi và quá trình thể hiện của tôi thực sự
đã mang lại hiệu quả đáng kể trong giáo dục học sinh mang tính cá nhân tôi. Mặc
dầu đề tài này mới chỉ được tôi áp dụng vào việc dạy học – giáo dục học sinh lớp
5C Trường Tiểu học Tân Thành, nhưng cũng đã gặt hái những thành công đáng kể.
Trước khi tiến hành làm đề tài này, tôi đã trực tiếp trao đổi với một só đồng nghiệp
và đã nhận được những phản hồi tốt đẹp. Tuy nhiên, chúng ta thường quen với
những phương pháp giáo dục có tính chủ quan nên mới tiếp cận ban đầu với đề tài
còn có nhiều chỗ chưa hẳn đã tìm được tiếng nói chung. Với tinh thần cầu thị, ý
thức nghề nghiệp, tôi mong muốn các quý thầy cô giáo, đồng nghiệp và hội đồng
Trang 10


khoa học trường, nghành góp ý để đề tài tiếp tục được hoàn thiện và tính ứng dụng
thiết thực hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Tân Thành, ngày 18 tháng 4 năm 2011
Tác giả:

§Ëu §øc
Minh

Trang 11



TT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23

MỤC LỤC:
Đề mục
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu

3. Phương pháp nghiên cứu
B. NỘI DUNG
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1. Về giáo viên
2. Về học sinh
II. NHỮNG GIẢI PHÁP XÂY DỰNG KHÔNG KHÍ LỚP HỌC
THÂN THIỆN
1. Cơ sở để xây dựng giải pháp
2. Các giải pháp
2.1; Sử dụng lời nói thân thiện.
2.2; Sử dụng ánh mắt và cử chỉ trìu mến.
3.2; Khuyến khích, động viên kịp thời.
4.2; Thưởng, phạt công bằng.
5.2; Trách phạt nhẹ nhàng.
6.2; Tạo tiếng cười sau mỗi tiết học.
7.2; Xây dựng giờ sinh hoạt thân thiện.
3. Khả năng ứng dụng của đề tài.
C. KẾT LUẬN
1. Kết quả ứng dụng.
2. Những kết luận.
3. Những đề xuất.

Trang
2
2
3
3
4
4
4

4
5
5
5
5
5
6
6
7
8
8
9
9
9
10
10

Trang 12



×