Tải bản đầy đủ (.docx) (36 trang)

Tìm hiểu về nhân tố ánh sáng sinh thái học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 36 trang )

Mục lục

LỜI MỞ ĐẦU
Sinh thái học tuy mới ra đời cách đây hơn một thập kỉ nhưng là một trong những lĩnh vực có
những đóng góp to lớn cho nền văn minh nhân loại, đặc biệt trong việc quản lý và bảo vệ môi
trường cho sự phát triển một xã hội bền vững.
Ngày nay, Sinh thái học là lĩnh vực khoa học được chú trong và quan tâm hàng đầu. Sinh thái
học là một chủ điểm kiến thức quan trọng trong nội dung chương trình Sinh học ở bậc THCS THPT, cũng như trong việc đào tạo những cử nhân Sinh học tại giảng đường của các trường Đại
học,…
Chúng tôi là những sinh viên đang theo học chương trình cử nhân Sinh học chất lượng cao tại
một trong những môi trường học tập tốt nhất - khoa Sinh học trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Tìm hiểu về chuyên ngành Sinh thái học, chúng tôi thấy rằng đó là một nôi dung kiến thức hay
và bất tận về thế giới thiên nhiên, mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người hay các vấn đề về
môi trường, dân số,…Điều đó thôi thúc chúng tôi mong muốn tìm hiểu những kiến thức chuyên
sâu về cả lý thuyết và thực nhiệm – điều mà trước đây chúng tôi chưa từng được trải nhiệm khi
học Sinh thái học tại trường phổ thông. Và nhóm sinh viên lớp K66TN chúng tôi lựa chọn đề tài
“ Nghiên cứu và giảng dạy về ánh hưởng của ánh sáng trong chương trình Sinh thái học”để
nghiên cứu, tìm hiểu một cách cặn kẽ, tích hợp góc nhìn của nhiều lĩnh vực Sinh học, Vật lý, Hóa
học,…Bởi ánh sáng là một nhân tố sinh thái cơ bản có tác động rất lớn tới đời sống sinh vật,
cũng như các quá trình diễn ra trong quần xã sinh vật hay hệ sinh thái,…
Với bài tiểu luận này, chúng tôi hy vọng sẽ là một tư liệu hay và có ích cho các thầy, các cô, các
em học sinh và các bạn cử nhân theo chuyên ngành Sinh học. Trong quá trình soạn thảo khó có
thể tránh khỏi những sai xót, chúng tôi mong muốn nhận được những lời góp ý để bổ sung, chỉnh
sửa. Mọi ý kiến đóng góp vui lòng liên hệ trực tiếp tới email:
Cuối cùng, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS Nguyễn Lân Hùng Sơn.
“Chúng em cảm ơn thầy rất nhiều vì những bài giảng rất hay, sự chỉ bảo tận tình và nhiệt
huyết của thầy. Chúng em cũng cảm ơn thầy đã tạo điều kiện để chúng em có cơ hội hoàn thành
một bài tiểu luận nghiên cứu này. Chúng em xin kính chúc thầy cùng gia đình mạnh khỏe và
hạnh phúc.”
Nhóm tác giả


1
Nhóm 1 – K66TN - Biology


1. VAI TRÒ CỦA ÁNH SÁNG
1.1: Tìm hiểu về nhân tố ánh sáng:
- Ánh sáng cũng như nhiệt độ, độ ẩm… vừa là nhân tố điều chỉnh vừa là nhân tố
giới hạn đối với đời sống sinh vật, đặc biệt là thực vật. Thực vật cần ánh sáng như
động vật cần thức ăn, cho nên ánh sáng được coi là “nguồn sống” của thực vật
(Tilman, 1982).
- Bức xạ Mặt trời là một “dãy nguồn” liên tục, gồm một phổ rộng các dải sóng, từ
cực ngắn (tần số cao) đến các tia có bước sóng rất dài (tần số thấp)
Khi truyền trong không gian dưới dạng sóng, các bước sóng của ánh sáng là
khoảng cách giữa các đỉnh của hai sóng. Các tia có bước sóng càng ngắn thì chứa
càng nhiều năng lượng. Dựa vào bước sóng, chia quang phổ của bức xạ điện từ
theo thứ tự tăng dần của bước sóng:
+ Tia Gama: là tia có bước sóng ngắn nhất, những tia này rất mạnh có thể đâm
thủng được bất kì vật gì. Theo nghiên cứu cho thấy nó có thể đâm thủng được 3m
bê tông. Tia này được phát ra từ những nơi nóng nhất của vũ trụ như siêu sao mới,
sao neutron, pulsa và lỗ đen truyền qua không gian của khoảng không vũ trụ đến
bề mặt trái đất. Dựa vào đặc tính có mức năng lượng cao mà đã có một số ứng
dụng để điều trị bệnh tật và ung thư.
+ Tia X: có khả năng xuyên qua nhiều vật liệu như các mô mềm của động vật.
Tính đâm xuyên của tia này được ứng dụng rộng rãi trong y học để nghiên cứu cấu
trúc cơ thể sinh vật, điển hình là ứng dụng của tia X vào chụp X quang trong bệnh
viện.
+ Ánh sáng tử ngoại: Tên khác là UV. Mặc dù mức năng lượng thấp nhưng đủ
để giết tế bào và phá hủy mô. Nguồn năng lượng bức xạ tử ngoại từ mặt trời đến
trái đất được giữ lại phần lớn bởi tầng ozon, chỉ một phần nhỏ đi tới bề mặt trái
đất. Tuy nhiên một lượng nhỏ ánh sáng có năng lượng tương đối cao này ( tia UV)

có thể xúc tiến tạo vitamin D, sạm da, cới liều lượng nhiều có thể gây hỏng võng
mạc và ung thư da. Bức xạ tia tử ngoại được ứng dụng nhiều trong quan trắc thiên
văn, xử lý nước và thực phẩm, tác nhân diệt khuẩn,…

2
Nhóm 1 – K66TN - Biology


+ Ánh sáng nhìn thấy: Phổ ánh sáng nhìn thấy chia thành các vùng màu dựa trên
tính chất vật lý. Dựa vào độ dài của bước sóng có thể chia như sau:

Hình 1: Quang phổ ánh sáng

Màu đỏ: 622 – 780 nm
Màu cam: 597 -622 nm
Màu vàng: 577 – 597 nm

Màu lục: 492 – 577 nm
Màu lam: 455 – 492 nm
Màu tím: 455 nm trở xuống

Ánh sáng nhìn thấy là cơ sở cho sự sống trên Trái đất. Tuy nhiên, quang hợp của
thực vật chỉ xuất hiện ở phổ ánh sáng mà mắt người có thể nhìn thấy được với các
bước sóng từ 3800 đến 7100 A (thường 4000 – 7000 A). Ánh sáng này được gọi là
“bức xạ quang hợp tích cực” và chiếm 44% tổng bức xạ Mặt trời chiếu xuống Trái
Đất. Trong tự nhiên, một số sắc tố của vi khuẩn (gọi là bacterioclorophin) có đỉnh
hấp thụ ánh sáng ở bước sóng 8000, 8500 và 8700 – 8900 A. Do vậy, nguồn sống
hay năng lượng được sử dụng trong quang hợp cũng bị giới hạn.
3
Nhóm 1 – K66TN - Biology



+ Bức xạ hồng ngoại: Thường được viết tắt là IR. Bức xạ hồng ngoại nằm trong
dải sóng từ 700 nm đến 1 nm. Bức xạ của tia hồng ngoại có liên quan đến vùng
nhiệt,vì vậy cơ thể động vật nhất là động vật đẳng nhiệt không phát ra ánh sáng
nhìn thấy mà phát ra tia hồng ngoại yếu và có thể cảm nhận, ghi lại dưới dạng
nhiệt. Trong tự nhiên, khoảng một nửa năng lượng điện từ của ánh sáng Mặt Trời
phát ra trong vùng hồng ngoại, ví dụ bóng đèn dây tóc volfram phát sáng không
hiệu quả do phát ra nhiều sóng hồng ngoại.
+ Sóng vi ba: nằm trong dải sóng từ 1 nm đến 30 cm, được sử dụng phổ biến
trong công nghệ của là vi sóng
+ Sóng vô tuyến: Gồm các bước sóng từ 30cm đến hàng ngàn km. Vùng ánh
sáng này chứa rất ít năng lượng. sóng vô tuyến có nhiều ứng dụng trong truyền
thông được điều biên, công nghiệp, y học, chụp ảnh cộng hưởng từ,…
- Năng lượng bức xạ Mặt Trời chiếu xuống bề mặt Trái Đất không đều, phụ thuộc
vào hàng loạt yếu tố
- Trong môi trường nước, ánh sáng chiếu qua bị thay đổi rất lớn về thành phần các
bước sóng, cường độ chiếu sáng và cường độ dài của ngày
Theo độ sâu, trong môi trường nước cực sạch cường độ bức xạ của tia đỏ giảm đến
1% ở độ sâu 4m, trong khi đó tao lam chỉ giảm 70% tại độ sâu 70m. Ánh sáng tím
và đỏ ở 2 cực của khoảng sáng nhìn thấy mất đi nhanh hơn so với các tia nằm giữa
chúng
- Nguồn năng lượng phát ra từ mặt trời được truyền xuống trái đất thông qua ánh
sáng, và chúng được sinh vật sử dụng dưới các hình thức khác nhau
- Dựa vào năng lượng do ánh sáng mặt trời cung cấp, con người đã nghiên cứu
được 2 quy luật lớn là về dòng vật chất và dòng năng lượng
1.2: Vai trò và ý nghĩa của nhân tố ánh sáng
- Năng lượng ánh sáng mặt trời đã tạo ra sự mở đầu cho một loạt các chuỗi trong tự
nhiên, nó được coi là yếu tố bắt đầu của hệ sinh thái.
Ánh sáng là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với thực vật. Nhờ có ánh sáng thực

vật có khả năng quang hợp để tổng hợp các hợp chất vô cơ thành hợp chất hữu cơ
và khí oxi.
4
Nhóm 1 – K66TN - Biology


Ánh sáng tạo ra được 2 dòng lớn trong hệ sinh thái là dòng năng lượng và dòng
vật chất. Dòng vật chất của hệ sinh thái là một dòng khép kín, bắt đầu từ các chất
vô cơ đến hữu cơ và kết thúc cũng là các chất vô cơ dưới các dạng khác nhau.
Dòng năng lượng tồn tại trong hệ sinh thái được lưu chuyển thông qua các chuỗi
và lưới thức ăn của sinh vật, truyền từ sinh vật bậc thấp đến bậc cao. Sinh vật ở
mỗi bậc sau không thể hấp thụ toàn bộ năng lượn từ bậc dinh dưỡng trước truyền
lên, chỉ hấp thụ khoảng 10%, vì vậy mà dòng năng lượng là một hệ hở
Quá trình quang hợp của thực vật là nguồn cung cấp oxy làm thay đổi thành phần
của khí quyển, tạo nên tầng ozon để chặn lại các tia cực tím của bức xạ mặt trời
chiếu xuống trái đất gây hại cho sinh vật. Lượng oxy này có ý nghĩa quan trọng
trong giải thích cho hiện tượng tiến hóa vì sao sinh vật lại bắt đầu từ dưới nước
trước tiên. Ta có thể giải thích như sau: Ánh sáng mặt trời có những tia rất có hại
cho sinh vật, làm biến đổi gen, gây đột biến… bề mặt nước như một bức màn giúp
giữ lại những tia có ảnh hưởng đến đời sống sinh vật này và chỉ cho những dải ánh
sáng nhìn thấy đi qua. Vì vậy mà cơ thể sinh vật khi sống trong nước an toàn hơn,
đó là bước đầu tiên của tiến hóa. Dần dần khi các sinh vật bắt đầu tiến cạn, chính
nhờ tầng ozon mà nguồn cung cấp làm thay đổi thành phần của khí quển là từ quá
trình quang hợp của thực vật. Lớp ozon đã giúp giữ lại các tia uv, chỉ có một lượng
rất nhỏ đi qua, giúp cho cơ thể sinh vật trên bề mặt trái đất không bị tiếp xúc nhiều
với những tia độc hại gây ảnh hưởng đến cơ thể.
Ngoài ra, lượng oxy được tạo ra từ việc sử dụng năng lượng của thực vật có vai
trò quan trọng trong việc chuyển đổi năng lượng từ môi trường bên ngoài vào môi
trường bên trong cơ thể sinh vật. Năng lượng ánh sáng Mặt trời được tích lũy dưới
dạng các hợp chất hữu cơ, tồn tại trong các liên kết hóa học liên kết C-C, C-O, …

Vì vậy để có năng lượng cung cấp cho các hoạt động sống bên trong cơ thể, cần
phải bẻ gãy các dạng liên kết hóa học này để giải phóng năng lượng, các quá trình
này gọi là quá trình oxy hóa khử, vì vậy sinh vật cần lấy oxy để oxy hóa các chất
này
Tuy nhiên, ngoài thực vật ra còn có một lượng rất ít các sinh vật có khả năng
quang hợp chuyển đổi các chất vô cơ thành hữu cơ
- Ánh sáng tạo ra năng lượng để sưởi ấm cho bề mặt tế bào. Xét các cấp độ từ thấp
đến cao
5
Nhóm 1 – K66TN - Biology


+ Phân tử: sự sống là khả năng tồn tại các nhóm protein, các protein trong tự
nhiên chủ yếu là các enzym, hoạt động tối ưu ở nhiệt độ 10- 35 độ c , nếu như
xuống quá thấp chúng có thể bị đóng băng và bị biến tính
+ Tế bào: nhiệt độ mà ánh sáng cung cấp cho trái đất giúp cho tế bào không bị
đóng băng bởi vì thành phần chủ yếu của tế bào là nước, nó sẽ bị đóng băng nếu
như nhiệt độ quá thấp, tế bào sẽ bị phá hủy
- Ngoài ra, ánh sáng mặt trời giúp sinh vật tổng hợp tiền vitamin D. Ví dụ như ở
chim, có hiện tượng rỉa lông, trong dịch của phai câu có những chất béo, chúng rỉa
lông để bôi lên lông, ánh sáng mặt trời sẽ chuyển các chất béo này thành tiền
vitamin D và chim sẽ mút trở lại qua đường tiêu hóa giúp cho quá trình tạo xương,
mà canxi đối với chim là một yếu tố vô cùng quan trọng, với tập tính bay lượn bộ
xương chim đòi hổi phải vừa nhẹ, xốp và chắc nên đòi hỏi phải có nhiều canxi. Với
con người, ở dưới da có sắc tố meelanin cũng giúp tạo ra tiền vitamin,…
2. TÁC ĐỘNG CỦA NHÂN TỐ ÁNH SÁNG TỚI ĐỜI SỐNG SINH V ẬT.
2.1: Ảnh hưởng của ánh sáng tới các loài thực vật.
Ánh sáng là nhân tố sinh thái cơ bản và có ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống của thực
vật từ khi hạt nảy mầm, sinh trưởng và phát triển cho đến khi cây ra hoa, kết quả.
Ánh sáng có ảnh hưởng nhất định đến hình thái, cấu tạo, cũng như sự phân bố các

loài cây trong quần xã.
2.1.1: Sự phân tầng trong không gian quần xã của các loài thực vật:
Sự phân tầng trong không gian quần xã bắt nguồn từ nhu cầu khác nhau về các
điều kiện sống mà đặc biệt là nhu cầu về nhân tố ánh sáng. Nhu cầu ánh sáng của
các loài cây không giống nhau, dựa vào đó phân chia thực vật thành ba nhóm cây
thích nhi với các điều kiện chiếu sáng khác nhau:
+) Nhóm các cây ưa sáng (heliophytes): bao gồm những cây sống nơi quang đãng
ở thảo nguyên, savan, rừng thưa, núi cao và hầu hết các cây công nghiệp,… Các
loài cây này thích nghi với điều kiện cường độ ánh sáng mạnh, thời gian chiếu sáng
dài và phân bố ở tầng trên, tầng vượt tán. Ví dụ: các loài thuộc chi Bạch đàn
(Eucalyptus), chi Thông (Pitus), xà cừ (Khaya senegalensis),…

6
Nhóm 1 – K66TN - Biology


+)Nhóm các cây ưa bóng (sciophytes): bao gồm những cây không có khả năng
chịu được cường độ ánh sáng mạnh và phân bố ở những nơi ít ánh sáng và ánh
sáng tán xạ chiếm chủ yếu như ở dưới tán rừng, trong các hang động,…. Ví dụ: cây
dọc (Garcinia tonkinensis), lim (Erythrophloeum fordii), và nhiều loài thuộc họ
Gừng, họ Cà phê,…
+) Nhóm cây chịu bóng: bao gồm các loài cây sống dưới ánh sáng vừa phải. Nhóm
cây chịu bóng được coi là nhóm trung gian giữa hai nhóm trên. Ví dụ: các cây dầu
rái (Dipterocarpus alatus), ràng ràng (Ormosia pinnata),…
Cây ưa sáng
Đòi hỏi ánh sáng mạnh
Sống ở tầng trên
Phiến lá dày, màu xanh nhạt
Mô giậu phát triển
Lá xếp nghiêng


Cây ưa bóng
Không có khả năng chịu được ánh sáng mạnh
Sống dưới tán
Phiến lá mỏng, màu xanh thẫm
Mô giậu kém phát triển
Lá xếp ngang

Bảng : Những điểm khác biệt giữa thực vật ưa sáng và ưa bóng
Chính sự phân tầng trong không gian quần xã này, giúp các loài giảm cạnh tranh và
tận dụng tối ưu nguồn sống của môi trường.
Trong tự nhiên vẫn tồn tại nhiều loài thực vật có khả năng thích nghi cao với điều
kiện chiếu sáng, cây ưa sáng vẫn phát triển trong bóng râm và ngược lại cây chịu
bóng vẫn không bị tổn thương ngoài sáng. Tuy nhiên có thể nhận xét chung: cây
tiên phong thường là cây ưa sáng và cây mọc sau khi đã có cây tiên phong là cây
chịu bóng. Ngoài ra, sự đòi hỏi về độ chiếu sáng còn phụ thuộc vào lứa tuổi, khi
còn nhỏ phần lớn các cây là cây chịu bóng, sau 2 – 3 năm tuổi chuyển dần thành
cây ưa sáng.

7
Nhóm 1 – K66TN - Biology


Cây xà cừ (ưa sáng)

Cây vạn niên thanh (ưa bóng)

Cây dầu rái (chịu bóng)
Hình 2: Ví dụ các nhóm cây
2.1.2: Ảnh hưởng tới hình thái và giải phẫu:

Lá là cơ quan trực tiếp tiếp nhận, hấp thụ ánh sáng nên lá cây cũng có thay đổi lớn
về hình thái, cấu tạo, giải phẫu khi cường độ ánh sáng thay đổi. Lá cây dưới tán
8
Nhóm 1 – K66TN - Biology


thường mọc nằm ngang, và có sự sắp xếp xen kẽ nhau để có thể nhận được nhiều
ánh sáng tán xạ. Trái lại, các cây ưa sáng có lá mọc nghiêng tránh những tia nắng
chiếu thẳng góc vào bề mặt lá. Ngoài ra, các loài cây ưa sáng thường có màu xanh
nhạt, phiến lá nhỏ, dày, cứng, có tầng cutin dày, mô giậu phát triển và có nhiều gân
lá. Giải phẫu lá cây ưa sáng sẽ thấy các tế bào mô giậu có hình dài, xếp xít nhau và
xếp sâu vào phần thịt lá. Trong khi đó, lá cây ưa bóng thường có màu xanh đậm,
phiến lá rộng, mô giậu kém phát triển,…

Hình 3: So sánh giải phẫu lát cắt ngang lá trong điều kiện ánh sáng khác nhau.
(Theo Giáo trình Sinh thái học và môi trường, Trần Kiên – Mai Sỹ Tuấn)
Nhiều loài cây có tính hướng sáng, cây cong về phía có ánh sáng. Hiện tượng này
thấy rõ ở các cây mọc ven rừng, dọc đường phố có nhà cao hoặc bên cửa sổ.
Các cây mọc trong rừng thường có đặc điểm thân cao, thẳng, cành chỉ tập trung ở
phần ngọn, các cành phía dưới héo và rụng sớm. Hiện tượng đó được gọi là tự tỉa
cành tự nhiên. Nguyên nhân là do các cành phía dưới không được cung cấp đủ ánh
sáng nên quang hợp kém, tạo được ít chất hữu cơ, lượng chất hữu cơ tích lũy
không đủ bù lượng tiêu hao do hô hấp nên cành khô héo dần rồi rụng.
2.1.3: Ảnh hưởng tới hoạt động sinh lí c ủa thực v ật:
Ánh sáng ảnh hưởng đến nhiều hoạt động sinh lý của các loài thực vật như quá
trình thoát hơi nước, vận chuyển các chất trong cây, hô hấp và đặc biệt là quá trình
9
Nhóm 1 – K66TN - Biology



quang hợp thông qua ba phương diện: cường độ, thời gian chiếu sáng và quang phổ
ánh sáng.
Cường độ ánh sáng và quang phổ ánh sáng ảnh hưởng rất lớn tới khả năng quang
hợp của các nhóm thực vật C3 , C4 , CAM. Thực vật C3 gồm từ các loài rêu cho đến
các loài cây gỗ lớn mọc trong rừng, phân bố hầu khắp mọi nơi trên Trái Đất. Nhóm
thực vật C4 bao gồm một số loài thực vật sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
như mía, rau dền, ngô, cao lương, kê,…Các loài thực vật CAM gồm những loài
mọng nước sống ở các vùng hoang mạc khô hạn như cây xương rồng, dứa, thanh
long,…
a, Cường độ ánh sáng:
Quá trình quang hợp ở các loài thực vật có thể xảy ra dưới tác động của ánh sáng
với cường độ rất yếu như ánh sáng đèn dầu hỏa hay ánh trăng. Tuy nhiên ở điều
kiện cường độ ánh sáng quá thấp, quang hợp xảy ra rất yếu không bù lại được
lượng chất hữu cơ bị tiêu hao trong hô hấp. Cường độ ánh sáng ảnh hưởng lớn tới
năng suất cây trồng.
-Cường độ ánh sáng mà tại đó lượng CO2 được hấp thụ trong quang hợp bằng
lượng CO2 thải ra trong hô hấp, được gọi là điểm bù ánh sáng. Trị số điểm bù ánh
sáng là không giống nhau không chỉ ở cây ưa bóng và cây ưa sáng mà còn ở các lá
thuộc các tầng khác nhau của cùng một cây. Trị số đó cũng phụ thuộc vào lượng
CO2 trong không khí. Cây ưa bóng có điểm bù ánh sáng thấp hơn cây ưa sáng.
- Khi tăng cường độ ánh sáng lên cao hơn điểm bù ánh sáng thì cường độ quang
hợp tăng hầu như tỷ lệ thuận với cường độ ánh sáng cho đên khi đạt tới điểm bão
hòa ánh sáng. Điểm bão hòa ánh sáng là trị số ánh sáng mà từ đó cường độ quang
hợp không tăng thêm dù cho cường độ ánh sáng tiếp tục tăng.

10
Nhóm 1 – K66TN - Biology


Hình 4: Tác động của cường độ ánh sáng tới quá trình quang hợp

Các loài thực vật C4 có các đặc điểm ưu việt hơn thực vật C3: cường độ quang hợp
cao hơn, điểm bù CO2 thấp hơn, điểm bão hòa ánh sáng cao hơn, nhu cầu thoát hơi
nước thấp hơn. Đó là phản ứng thích nghi sinh lí đối với cường độ ánh sáng mạnh.
Trong tự nhiên, cường độ quang hợp không phụ thuộc đơn lẻ vào cường độ chiếu
sáng mà chịu sự tương tác của cường độ ánh sáng và nồng độ CO2 (hình ). Nhìn
vào hình 4.29 ta thấy ở các nồng độ CO2 thấp (0,01%;0,04%) trị số cường độ quang
hợp vẫn rất thấp (< 5mg CO2/dm2.giờ) mặc dù cường độ chiếu sáng cao đến
18.000lux. Nhưng khi nồng độ CO2 tăng lên đến 0,16%, cường độ quang hợp tại
cường độ ánh sáng 6000lux đã vượt cao hẳn cường độ quang hợp tại cường độ ánh
sáng 18.000lux nhưng nồng độ CO2 thấp chỉ ở 0,04%.

Hình 5: Ảnh hưởng của cường độ ánh
sáng đến quang hợp khi nồng độ CO2
tăng.
( Trích Sinh lý học Thực vật , tác giả
Nguyễn Như Khanh – Cao Phi Bằng).
11
Nhóm 1 – K66TN - Biology


b, Thời gian chiếu sáng:
Liên quan với độ dài chiếu sáng, thực vật còn được chia thành nhóm cây ngày dài
và cây ngày ngắn. Cây ngày dài là cây ra hoa kết trái cần pha sáng nhiều hơn pha
tối, còn ngược lại, cây ngày ngắn đòi hỏi độ dài chiếu sáng khi ra hoa kết trái ngắn
hơn. Những loài thuộc ngành Tảo đỏ (Rhodophyta) sống ở thềm lục địa không chỉ
thích nghi với cường độ chiếu sáng rất thấp mà cả độ dài chiếu sáng cũng rất ngắn
do chúng có nhóm sắc tố quang hợp bổ sung (phycoerythrin), hấp thụ được nguồn
năng lượng rất thấp của bức xạ mặt trời.
- Thời gian chiếu sáng trong một ngày càng dài thì các cây vùng ôn đới (cây ngày
dài) phát triển nhanh, ra hoa sớm, ngược lại phần lớn cây nhiệt đới (cây ngắn ngày)

nếu kéo dài thời gian chiếu sáng trong ngày thì làm cây ra hoa muộn.
- Thời gian chiếu sáng điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và chuyển pha
sinh sản của nhiều loài thực vật. Ví dụ: Cây mía và cây thanh long là hai loài chịu
ảnh hưởng của yếu tố quang kì khác nhau. Cây mía sẽ trổ hoa khi gặp điều kiện
quang kì ngày ngắn (mùa đông). Ngược lại, cây thanh long lại trổ hoa khi quang kì
ngày dài (mùa hè). Điều này có nghĩa là, khi trồng mía vào mùa đông muốn giảm,
làm chậm sự ra hoa ( vì khi ra hoa, cây mía sẽ giảm lượng đường) thì người dần
thường thắp đèn vào ban đêm cho thời gian chiếu sáng dài, và ở Cuba thì có bắn
pháo sáng trên diện rộng. Cây thanh long sẽ không ra hoa vào mùa đông nên muối
trồng thanh long trái vụ, ta phải thắp sáng vào ban đêm để kéo dài thời gian chiếu
sáng.
c, Phổ ánh sáng (quang phổ):
Các tía sáng có độ dài bước song khác nhau ảnh hưởng không giống nhau đến
cường độ quang hợp. Quang hợp chỉ xảy ra tại miền ánh sáng xanh tím và miền
ánh sáng đỏ.
Trong đó, các tia sáng xanh tím kích thích sự tổng hợp các axit amin, protein. Các
tia sáng đỏ xúc tiến quá trình hình thành cacbohidrat.
Trong môi trường nước, thành phần ánh sáng biến động nhiều theo độ sâu. Thành
phần ánh sáng theo độ sâu có ảnh hưởng tới sự phân bố động, thực vật trong môi

12
Nhóm 1 – K66TN - Biology


trường nước. Theo chiều từ trên mặt nước xuống đáy sâu, phân bố tảo: tảo lục 
tảo nâu  tảo đỏ.
Thành phần ánh sáng cũng biến động theo thời gian của ngày. Vào buổi sáng sớm
và buổi chiều, ánh sáng chứa nhiều tia đỏ hơn. Vào buổi trưa, các tia sáng có bước
song ngắn (tia xanh, tia tím) tăng lên.
Dưới tán rừng rậm, chủ yếu là ánh sáng khuếch tán, các tia đỏ giảm rõ rệt, cây mọc

dưới tán rừng thường chứa lượng diệp lục b cao giúp hấp thụ được các tia sáng có
bước sóng ngắn hơn.
2.2. Ánh hưởng của ánh sáng đối với động vật
2.2.1: Ánh sáng đối với khả năng định hướng của động vật
Ánh sáng rất cần thiết cho đời sống động vật. Các loài động vật khác nhau cần
thành phần quang phổ, cường độ và thời gian chiếu sáng khác nhau. Tùy theo sự
đáp ứng đối với yếu tố ánh sáng mà người ta chia động vật thành hai nhóm :
- Nhóm động vật ưa sáng là những loài động vật chịu được giới hạn rộng về độ dài
sáng, cường độ và thời gian chiếu sáng. Nhóm này bao gồm các động vật hoạt
động vào ban ngày, thường có cơ quan tiếp nhận ánh sáng. Ở động vật bậc thấp cơ
quan này là các tế bào cảm quang, phân bố khắp cơ thể, còn ở động vật bậc cao
chúng tập trung thành cơ quan thị giác. Thị giác rất phát triển ở một số nhóm động
vật như côn trùng, chân đầu, động vật có xương sống, nhất là ở chim và thú. Do
vậy, động vật thường có màu sắc, đôi khi rất sặc sỡ (côn trùng) và được xem như
những tín hiệu sinh học.

Hình 6: Đại diện nhóm động vật ưa sáng

13
Nhóm 1 – K66TN - Biology


- Nhóm động vật ưa tối bao gồm những loài động vật chỉ có chịu được giới hạn
hẹp về độ dài sáng. Nhóm này bao gồm các động vật hoạt động vào ban đêm, sống
trong hang động, trong đất hay ở đáy biển sâu. Nhóm động vật này có màu sắc
không phát triển và thân thường có màu xỉn đen. Những loài động vật ở dưới biển,
nơi thiếu ánh sáng, cơ quan thị giác có khuynh hướng mở to hoặc còn đính trên các
cuống thịt, xoay quanh bốn phía để mở rộng tầm nhìn, còn ở những vùng không có
ánh sáng, cơ quan thị giác tiêu giảm hoàn toàn, nhường cho sự phát triển cơ quan
xúc giác và cơ quan phát sáng.


Hình 7: Đại diện nhóm động vật ưa tối
14
Nhóm 1 – K66TN - Biology


? Vì sao các loài động vật biết khi nào đi kiếm ăn, khi nào cần tìm chỗ nghỉ ngơi
và phân chia thành hai nhóm động vật như vậy
Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng các nhịp điệu sống hàng ngày của
động vật được quy định và kiểm soát bởi hệ thống “đồng hồ sinh học”, nó kiểm
soát hoạt động của tất cả các cơ quan trong cơ thể để điều chỉnh các quá trình trao
đổi chất, nhiệt độ cơ thể v..v thông qua sự tiếp nhận kích thích từ ánh sáng.
* Ở một số loài động vật có khả năng tiếp nhận những tia sáng khác nhau của
quang phổ ánh sáng mặt trời mà mắt người không tiếp thu được:
Một số loài động vật thâm mềm dưới nước sâu có thể tiếp thu tia hồng ngoại. Ong
và một số loài chim có thể phân biệt được mặt phẳng phân cực ánh sáng mà con
người hoàn toàn không nhận biết, ngoài ra chúng còn có thể nhìn thấy được quang
phổ vùng sóng ngắn trong đó có cả tia tử ngoại nhưng không nhận biết được tia
sáng màu đỏ (có độ dài sóng lớn). Ong chính nhờ tiếp thu được mặt phẳng phân
cực ánh sáng nên xác định được vị trí của mình mà định hướng được địa phương
thậm chí cả khi Mặt Trời bị mây che lấp.
* Nhiều loài động vật định hướng nhờ thị giác trong thời gian di cư. Đặc biệt nhất
là chim, những loài chim trú đông bay vượt qua hàng ngàn kilômét đến nơi có khí
hậu ấm hơn nhưng không bị chệch hướng.
2.2.2: Ánh sáng đối với sự sinh trưởng ,phát triển và sinh sản c ủa đ ộng
vật
* Ánh sáng đối với sự sinh trưởng và phát triển của đ ộng v ật:
Ánh sáng có tác dụng tổng hợp vitamin D cho các loài động vật có xương sống
nhằm tránh còi xương, gãy xương. Ánh sáng mặt trời còn giúp tiêu diệt các sinh
vật kí sinh trên các động vật thông qua hoạt động phơi nắng

+Đối với các loài động vật biến nhiệt như cá, lưỡng cư và bò sát,... việc phơi mình
dưới ánh sáng mặt giúp chúng tăng cường được nhiệt độ cơ thể đảm bảo cho các
hoạt động sống. Những động vật đó thường chậm chạp vào sáng sớm khi chưa có
đủ lượng nhiệt cần thiết cho cơ thể, chúng mất một thời gian để hấp thu ánh sáng
mặt trời. Điều đó đồng nghĩa rằng ở vùng nhiệt đới và vào mùa có nhiệt độ cao,
các động vật biến nhiệt sẽ hoạt động mạnh hơn; còn vào mùa lạnh và ở những
15
Nhóm 1 – K66TN - Biology


vùng có nhiệt độ thấp, các loài động vật này sẽ không phong phú và hạn chết hoạt
động(có thể ngủ đông)

Hìn
h 8: Thằn lằn bóng đuôi dài đang phơi nắng
+Ánh sáng đối với động vật hằng nhiệt: Mặc dù có khả năng ổn định thân nhiệt
nhưng các loài động vật này vẫn cần ánh sáng để phát triển đầy đủ. Các nghiên cứu
đã chỉ ra rằng động vật sẽ kém mọc lông,bị các bệnh về da, hung hăng,... khi thiếu
ánh sáng mặt trời.
*Ánh sáng ảnh hưởng đến sự sinh sản của động vật:
Ánh sáng sau khi kích thích cơ quan thị giác đã thông qua trung khu thần kinh gây
nên hoạt động nội tiết ở tuyến não thùy làm ảnh hưởng đến sự phát dục ở động vật.
Cùng một loài động vật, quần thể sống ở những vùng có ít ánh sáng mặt trời hơn
thường có tuổi sinh sản muộn hơn quần thể phân bố tại vùng có nhiều ánh sáng
mặt trời. Nếu động vật sống trong môi trường thường xuyên thiếu ánh sáng thì sẽ
bước vào tuổi sinh sản muộn hơn các cá thể cùng loài khác. Động vật thường có
16
Nhóm 1 – K66TN - Biology



mùa sinh sản vào quãng thời gian có thời gian chiếu sáng nhiều, cường độ lớn, như
các loài chim ở nước ta hay sinh sản vào mùa hè.
2.2.3: Sự thích ứng của động vật với ánh sáng
* Về màu sắc:
Các loài động vật hoạt động ở vùng có nhiều ánh sáng thường có màu sắc rực rỡ,
sáng. Đối với động vật ăn cỏ là để lẩn tránh kẻ thù còn động vật ăn thịt là giúp phù
hợp với việc săn mồi. Dưới sự chiếu sáng của mặt trời thì mỗi thảm thực vật sẽ
phản xạ lại màu khác nhau. Các loài tắc kè, kì nhông là bậc thầy về ngụy trang;
chúng có thể hòa lẫn vào môi trường xung quanh. Đặc biệt là có loài tắc kè có thể
thay đổi màu sắc của da.
Sau một thời gian nghiên cứu, các nhà khoa học đến từ Thụy Sĩ đã phát hiện ra
rằng, những tinh thể nano nằm trên lớp da dày chính là cơ chế giúp tắc kè thay đổi
màu sắc tài tình khi ở ngoài tự nhiên.

Hình 9a: Tắc kè khi gặp mối nguy hiểm
Họ đã phát hiện trên lớp da của tắc kè có những tinh thể nano phản ánh sáng và
những túi sắc tố vàng. Những tinh thể này có kích cỡ siêu nhỉ và hình dạng rất
17
Nhóm 1 – K66TN - Biology


khác nhau. Để đỏi màu da, tắc kè chỉ cần thay đổi cấu trúc sắp xếp của lớp tế bào
phía ngoài bằng cách thả lỏng hoặc làm căng lớp da. Khi lớp da ở tình trạng thả
lỏng, các tinh thể nano sẽ tiến lại gần nhau và làm lớp da chỉ phản chiếu ánh sáng
có bước sóng xanh dương. Màu sắc này khi kết hợp với các túi sắc tố vàng trên da
sẽ tạo ra màu xanh lá, giúp tắc kè có thể hòa lẫn vào thiên nhiên một cách dễ
dàng.Nhưng khi làn da bị kích động, khoảng cách giữa các tinh thể sẽ gia tăng,
khiến các tế bào phản chiếu bước sóng dài hơn như vàng, cam, đỏ…

Hình 9b: Tắc kè nguy trạng giống màu của lá cây

+ Với các loài côn trùng, màu sắc của từng loài sẽ đặc trưng cho từng môi trường
sống. Ví dụ như bọ ngựa có màu xanh giống với lá hay bọ que giống cành cây khô

18
Nhóm 1 – K66TN - Biology


Hình 10: Ngụy trang của các loài côn trùng
*Cấu tạo của mắt:
+ Mắt là cơ quan tiếp nhận ánh sáng trực tiếp của động vật nên có sự thích nghi rõ
ràng ở từng loài động vật để phù hợp. Các loài động vật kiếm ăn vào ban đêm sẽ có
thị giác tốt hơn gấp nhiều lần so với các loài hoạt động vào ban ngày. Trong khi đó
một số loài điển hình như dơi mặc dù kiếm ăn vào ban đêm nhưng thị giác của
chúng lại rất kém phát triể mà chúng phát triển thính giác. Khi đi kiếm mồi chúng
phát ra các sóng âm, vật cản sẽ phản ánh lại với các mức dao động khác nhau, nhờ
vào đó mà chúng biết được thức ăn ở vị trí nào.
+ Còn với các loài động vật thường xuyên sống trong môi trường không có ánh
sáng (dưới đáy biển, hang sâu) thì thị giác hoàn toàn tiêu giảm, việc tìm kiếm thức
ăn nhờ vào các cơ quan khác.
3. Ô NHIỄM ÁNH SÁNG
3.1: Khái niệm
Ô nhiễm ánh sáng (light pollution, photopollution), được định nghĩa là việc lạm
dụng ánh sáng nhân tạo (anthropogenic light) quá mức cần thiết so với khả năng
chịu đựng ánh sáng của con người và môi trường. Không kém gì ô nhiễm không
khí, nguồn nước, tiếng ồn..., ô nhiễm ánh sáng thật sự đang ở mức báo động và là
vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện đại vì những nguy cơ tiềm ẩn, tác động âm
thầm đến sức khỏe của chúng ta. Không chỉ vậy điều này có thể làm che mờ ánh
sáng của các ngôi sao, ảnh hưởng đến việc quan sát thiên văn, lãng phí năng lượng
và làm rối loạn các hệ sinh thái.
19

Nhóm 1 – K66TN - Biology


Ô nhiễm ánh sáng là một phần tác động của nền văn minh công nghiệp. Nó bắt đầu
từ những nguồn như ánh sáng ở mặt tiền của các toà nhà cũng như bên trong các
toà nhà, đèn quảng cáo, các cơ sở công nghiệp, văn phòng, nhà máy, đường phố và
các trung tâm thể thao. Điều này đặc biệt nghiêm trọng ở các khu vực công nghiệp
cao, tập trung dân cư đông đúc của Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, nhưng ngay cả với
những lượng ánh sáng nhỏ cũng có thể gây ra một số vấn đề và cần được chú ý.
3.2: Phân loại ô nhiễm ánh sáng
Ô nhiễm ánh sáng là một thuật ngữ rộng, ám chỉ những vấn đề gây ra bở việc sử
dụng ánh sáng nhân tạo không hiệu quả, gây khó chịu. Các loại ô nhiễm ánh sáng
gồm có: ánh sáng xâm nhập (light trepass), lạm dụng ánh sáng (over-illumination),
ánh sáng chói (glare), ánh sáng lộn xộn (clutter) và ánh sáng chiếm dụng bầu trời
(sky glow).
Ánh sáng xâm nhập:
Điều này xảy ra khi những ánh sáng xâm nhập vào địa phận của một người khác
mà người đó không hề mong muốn, ví dụ như chiếu đèn qua hàng rào nhà hàng
xóm, hậu quả có thể là ánh sáng mạnh chiếu qua cửa sổ gây mất ngủ hoặc hạn chế
tầm nhìn trong đêm. Ánh sáng xâm nhập đặc biệt gây khó chịu cho các nhà thiên
văn nghiệp dư, những người mà khả năng quan sát bầu trời đêm từ nhà mình rất dễ
bị ảnh hưởng bởi bất cứ luồng sáng nào gần đó. Hầu hết các trung tâm quan sát
thiên văn chính được bao bọc trong những khu vực được cách ngăn chặt chẽ khỏi
các luồng sáng. Một số thành phố của Mỹ đã đề ra những tiêu chuẩn chính xác cho
việc chiếu sáng ngoài trời để bảo vệ các đài quan sát như vậy.
Lạm dụng ánh sáng:
Đây là việc sử dụng quá mức ánh sáng. Đặc biệt ở Mỹ, lạm dụng ánh sáng là
nguyên nhân của việc khoảng 2 triệu thùng dầu bị lãng phí mỗi ngày, điều này
được tính toán dựa trên mức tiêu dùng bình quân 50 triệu thùng dầu một ngày của
người Mỹ(Nước Mỹ có đến 60% nguồn cung cấp năng lượng từ khí thiên nhiên,

thủy điện và các nguồn không phải là dầu khác. Đơn vị thùng dầu được sử dụng ở
đây chỉ là cách đơn giản để mô tả mức sử dụng năng lượng từ tất cả các nguồn)

20
Nhóm 1 – K66TN - Biology


.
Hình 11: Lãng phí ánh sáng nhân tạo
3.3: Nguyên nhân của lạm dụng ánh sáng:
+ Không sử dụng chế độ hẹn giờ, bộ phận cảm biến hay các hình thức khác để tắt
ánh sáng khi không cần thiết.
+ Những thiết kế không phù hợp, đặc biệt là không gian làm việc, khiến phải sử
dụng ánh sáng nhiều hơn mức cần thiết.
+ Chọn không đúng các loại đồ đạc, đèn điện khiến ánh sáng không tập trung vào
khu vực cần thiết.
+ Lắp đặt máy móc không phù hợp, dẫn đến phải sử dụng nhiều năng lượng hơn
mức cần thiết cho việc chiếu sáng.
+ Sự hướng dẫn chưa đầy đủ các các nhà quản lý và những người ở trong các toà
nhà về việc sử dụng hệ thống chiếu sáng một cách hiệu quả.
+ Duy trì ánh sáng không hợp lý dẫn đến tăng lượng ánh sáng phung phí và chi phí
năng lượng.
21
Nhóm 1 – K66TN - Biology


Hầu hết những vấn đề này có thể nhanh chóng được khắc phục bằng những công
nghệ sẵn có và ít tốn kém. Tuy nhiên sự ì ạch trong điều chỉnh thiết kế ánh sáng và
hoạt động của những người chủ đã gây cản trở cho việc nhanh chóng giải quyết
những vấn đề này. Ý thức của công chúng là điều quan trọng nhất cần có để các

nước công nghiệp nhận ra sự tiết kiếm lớn có thể có từ việc giảm sự lạm dụng ánh
sáng.
Ánh sáng chói:
Đây là hậu quả của sự đối lập giữa vùng sáng và vùng tối trong tầm nhìn. Ánh sáng
chói chiếu thẳng vào mắt người đi đường và lái xe có thể gây mất tầm nhìn trong
đêm đến tận 1 giờ sau đó.
Điều này còn khiến cho mắt người cảm thấy khó khăn trong việc nhận dạng những
sự khác biệt trong ánh sáng. Ánh sáng chói là vấn đề đặc biệt nghiêm trong đối với
an toàn giao thông, vì điều này xảy ra bất ngờ có thể khiến người đi đường và lái
xe rất dễ gặp tai nạn. Ánh sáng chói có thể chia theo các cách khác nhau. Theo
cách phân chia của Bob Mizon, cộng tác viên của Cuộc vận động vì bầu trời đêm
của tổ chức thiên văn Anh Quốc (British Astronomical Association’s Campaign for
Dark Skies) thì gồm có những loại sau:
+ Ánh sáng chói mờ (blinding glare): các tác động do nhìn thẳng vào mặt trời,
khiến cho mắt tạm thời bị mù để lại hậu quả lâu dài với thị giác.
+ Ánh sáng chói gây hạn chế tầm nhìn (disability glare): các tác động tương tự như
bị mù tạm thời do đèn pha ô tô chiếu vào.
+ Ánh sáng chói gây khó chịu(Discomfort glare): loại này thường không gây tình
huống nguy hiểm lắm mà chỉ khiến người ta cảm thấy khó chịu, nhưng cũng có thể
gây mệt mỏi nếu phải chịu đựng lâu.
+ Ánh sáng lộn xộn: ám chỉ nhiều luồng sáng quá mức cùng lúc. Các luồng sáng
có thể gây lộn xộn, mất tập trung và có thể dẫn tới tai nạn. Loại này đặc biệt xảy ra
trên các đường phố mà hệ thống đèn thiết kế kém hoặc là có quá nhiều đèn quảng
cáo.
+ Ánh sáng chiếm dụng bầu trời: điều này thường xảy ra ở các khu vực đông dân
cư. Ánh sáng từ quá nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả những nơi lạm dụng ánh
22
Nhóm 1 – K66TN - Biology



sáng, được phản chiếu lên bầu trời đêm. Điều này đặc biệt tác động đến các nhà
thiên văn trong việc quan sát sao.

Hình 12: Ô nhiễm ánh sáng ảnh hưởng đến việc quan sát thiên văn
3.4: Tác động của ô nhiễm ánh sáng
Lãng phí năng lượng:
Việc chiếu sáng chiếm đến ¼ năng lượng tiêu dùng của cả thế giới. Các nghiên
các nghiên cứu cũng chỉ ra là thông thường có đến 50% đến 90% ánh sáng ở các
toà nhà là không cần thiết. Trong khi hiện tại nhiều nước đang ra sức tìm các biện
pháp để giảm thiểu sử dụng năng lượng sau khi ký Nghị định thư Kyoto, thì việc
tăng cường tính hiệu quả của việc sử dụng ánh sáng là một biện pháp đem lại kết
quả cao trong thời gian nhanh chóng.
Ảnh hưởng tới việc quan sát thiên văn:
Hầu hết người dân thành phố không thể thấy các ngôi sao trên bầu trời đêm, ngoại
trừ mặt trăng và một số ngôi sao sáng. Điều này làm hạn chế hiểu biết của họ tới
không gian, thiên văn học và khoa học nói chung. Các nhà thiên văn học nghiệp dư
thì làm việc rất khó khăn. Ô nhiễm ánh sáng còn từng buộc một số đài quan sát
thiên văn phải di chuyển địa điểm như Đài Thiên Văn Hoàng Gia, Greenwich và
cản trở việc quan sát ở các địa điểm khác.
Theo tạp chí khoa học Science Advances thuộc Hội Liên hiệp khoa học tiến bộ Mỹ,
ô nhiễm ánh sáng đã và đang là nguyên nhân hàng đầu khiến người dân Mỹ và
23
Nhóm 1 – K66TN - Biology


Châu Âu dường như không thấy được bầu trời đêm. Có khoảng 1/3 nhân loại bao
gồm 60% người dân Châu Âu và gần 80% dân số Bắc Mỹ không thể quan sát thấy
dải ngân hà khi về đêm.
Theo các nhà khoa học, năng lượng phát sinh từ việc chiếu sáng ban đêm do nhu
cầu sử dụng ánh sáng nhân tạo quá mức của con người đều làm tăng khí CO2 và

các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác, góp phần làm Trái đất chúng ta ấm dần
lên.
Tác động tới sức khoẻ và tâm lý con người:
Các tác động có thể là hiện tượng đau đầu, mệt mỏi, căng thẳng, suy giảm chức
năng sinh dục và tăng cảm giác lo âu. Có tài liệu còn cho rằng có sự liên quan giữa
ô nhiễm ánh sáng và nguy cơ bị ung thư vú!
Theo nghiên cứu, ô nhiễm ánh sáng từ các bóng đèn màu sắc sặc sỡ (còn gọi là ô
nhiễm ánh sáng màu) không những tạo ra bất lợi đối với mắt mà còn gây rối loạn
cho thần kinh, khiến cho con người dễ xuất hiện các triệu chứng choáng váng
chóng mặt, khó chịu trong người, buồn nôn, mất ngủ, mất tập trung, cơ thể mệt
mỏi, cáu gắt thường xuyên, buồn phiền... Theo nghiên cứu, nếu như bị các tia tử
ngoại sinh ra bởi các bóng đèn ánh sáng màu trong sân khấu chiếu xạ trong thời
gian dài sẽ xuất hiện các triệu chứng chảy máu mũi, rụng răng, đục thủy tinh thể,
thậm chí dẫn tới bệnh máu trắng và các bệnh nguy hiểm khác.
Đặc biệt là vấn đề về mắt, các nguồn sáng có cường độ cao sẽ ảnh hưởng đến mắt
do tác động nhiệt, xảy ra khi nhiệt độ hấp thụ tăng cao hơn nhiệt độ phân tán
(thường là 10 độ C) khi đó năng lượng ánh sáng được chuyển thành nhiệt năng,
gây đông protein trong tế bào. . Nếu thời gian và cường độ tác động đến các tế bào
trong võng mạc vượt qua ngưỡng phục hồi sẽ gây các tổn thương ảnh hưởng đến
thị lực của bệnh nhân.
Một nghiên cứu của Đại học Haifa, Israel kết luận rằng: phụ nữ sống ở những vùng
đô thị nhiều ánh sáng nhân tạo có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao hơn 73% so với
phụ nữ ở những nơi tận dụng chiếu sáng tự nhiên.
Ánh sáng nhân tạo phát ra từ mọi nguồn sáng đều phá hoại giấc ngủ, làm suy
nhược cơ thể và gây ra các bệnh về tim mạch... Nhưng kẻ phá hoại lớn nhất là ánh
sáng xanh phát ra từ tivi, máy tính và điện thoại thông minh. Và trẻ em là đối
tượng dễ chịu các tác động xấu của ánh sáng xanh đến mắt, đặc biệt trong thời đại
24
Nhóm 1 – K66TN - Biology



công nghệ như hiện nay các bài tập, game, mạng xã hội đều cần đến máy tính và
các thiết bị điện tử.
Bên cạnh đó, WHO còn cảnh báo người sống trong môi trường bị ô nhiễm ánh
sáng sẽ khiến nhịp sinh học của cơ thể bị rối loạn, dẫn đến tăng khả năng ung thư căn bệnh mà Việt Nam đang trong tốp đầu thế giới về số người mắc bệnh. Đặc biệt
đối với phụ nữ, ô nhiễm ánh sáng cũng ảnh hưởng đến nhan sắc như mắt thâm
quầng, da sần sùi…
Gây rối loạn các hệ sinh thái:
Thiên nhiên vốn thích nghi với ánh sáng và bóng tối tự nhiên. Ô nhiễm ánh sáng
có thể làm rối loạn thói quen sinh hoạt của các sinh vật. Các nghiên cứu cho thấy
một số ví dụ cụ thể về hậu quả gây ra bởi ô nhiễm ánh sáng như: ánh sáng đêm làm
giảm khả năng nhìn đường của bướm đêm và các côn trùng hoạt động về đêm
khác. Các loài hoa nở về đêm, dựa vào các loài này để thụ phấn, cũng vì thế mà bị
ảnh hưởng. Các loài chim di cư có thể bị mất phương hướng bởi ánh sáng của các
toà nhà cao chọc trời. Hoặc là các loài ếch và kỳ nhông hoạt động về đêm cũng bị
ảnh hưởng. Thông thường khi không có ánh sáng, chúng thức giấc, đi tìm bạn tình
và sinh đẻ. Nhưng ánh sáng thường xuyên do ô nhiễm ánh sáng làm cho hoạt động
của chúng suy giảm...
Gây mất an toàn:
Điều này khá phổ biến với những người đi đường ban đêm. “Tổ Chức Bầu Trời
Đêm Quốc Tế” (International Dark-Sky Association) còn cho rằng, chẳng có cơ sở
khoa học nào của việc ánh sáng có thể làm giảm tội phạm. Thậm chí ánh sáng nhân
tạo tồi còn có thể tạo ra sự đối lập lớn giữa ánh sáng và bóng tối, khiến tội phạm dễ
dàng ẩn nấp hơn.
3.5: Các biện pháp giảm ô nhiễm ánh sáng
Giảm ô nhiễm ánh sáng bao gồm nhiều hình thức như giảm ánh sáng chiếm dụng
bầu trời, giảm ánh sáng chói, giảm ánh sáng xâm nhập, và giảm ánh sáng lộn xộn.
Phương pháp tốt nhất là phương pháp phải phù hợp với loại ô nhiễm nào. Các biện
pháp có thể áp dụng:
+ Sử dụng nguồn sáng vừa đủ với yêu cầu

+ Tắt đèn khi không cần thiết hoặc sử dụng chế độ hẹn giờ
25
Nhóm 1 – K66TN - Biology


×