ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------
-----------
LÝ TÀI SƠN
Tên đề tài:
TÌM HIỂU CÔNG TÁC TỔ CHỨC CỦA CHỦ TRANG TRẠI
TRẦN VĂN NHÂM TẠI XÃ TIÊN HỘI – HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng
Chuyên ngành
: Phát triển nông thôn
Khoa
: Kinh tế & PTNT
Khóa học
: 2013 – 2017
Thái Nguyên – 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------
-----------
LÝ TÀI SƠN
Tên đề tài:
TÌM HIỂU CÔNG TÁC TỔ CHỨC CỦA CHỦ TRANG TRẠI
TRẦN VĂN NHÂM TẠI XÃ TIÊN HỘI – HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Định hướng đề tài
Chuyên ngành
: Chính quy
: Hướng ứng dụng
: Phát triển nông thôn
Lớp
Khoa
: K45 – PTNT N01
: Kinh tế & PTNT
Khóa học
: 2013 – 2017
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Quốc Huy
Cán bộ cơ sở
: Chủ trang trại Trần Văn Nhâm
Thái Nguyên – 2016
i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn "Tìm hiểu công tác tổ
chức của chủ trang trại Trần Văn Nhâm tại xã Tiên Hội huyện Đại Từ tỉnh
Thái Nguyên" em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ các cơ quan, các tổ
chức và các cá nhân. Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các tập
thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện nghiên
cứu luận văn này.
Trước hết em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, cùng các thầy
cô giáo, những người đã trang bị kiến thức cho em trong quá trình học tập.
Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất,em xin trân trọng cảm ơn
Thầy giáo, Thạc sĩ Nguyễn Quốc Huy đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn khoa
học và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn này.
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn UBND xã Tiên Hội, Hợp tác xã Tiên
Trường III, các cá nhân là chủ các Trang trại, các tổ chức đoàn thể trên địa
bàn xóm Tiên Trường đã giúp đỡ, cung cấp thông tin, số liệu cho em. Em
cũng xin chân thành cảm ơn gia đình ông Trần Văn Nhâm xóm Tiên Trường
I, Xã Tiên Hội - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện và tận tình
giúp đỡ em suốt quá trình thực tập tại gia đình.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, và đề tài mang tính mới, luận văn của
em chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, em rất mong nhận
được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Lý Tài Sơn
ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
AFTA
ASEAN Free Trade Area
APEC
Asia-Pacific Economic Cooperation
ASEAN
Association of Southeast Asian Nations
BNN
Bộ nông nghiệp
CP
Chính phủ
HQKT
Hiệu quả kinh tế
HTX
Hợp tác xã
KTTT
Kinh tế trang trại
PTNT
Phát triển nông thôn
QĐ
Quyết định
TCTK
Tổng cục thống kê
TPP
Trans-Pacific Partnership Agreement
TTLT
Thông tư liên tịch
UBNN
ủy ban nhân dân
WTO
World Trade Organization
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Lịch làm việc của trang trại ........................................................... 36
Bảng 3.2 Chi phí cây trồng 1 năm ................................................................ 37
Bảng 3.3 Chi phí đầu tư trang thiết bị của trang trại ..................................... 37
Bảng 3.4 Chi phí sản xuất của trang trại trong 1 năm ................................... 38
Bảng 3.5 Doanh thu của trang trại năm 2015 ................................................ 39
Bảng 3.6 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế ................................................. 40
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Sơ đồ 3.1 Bộ máy tổ chức của trang trại Trần Văn Nhâm............................. 30
Sơ đồ 3.2 Sơ đồ trang trại Trần Văn Nhâm................................................... 31
Sơ đồ 3.3 Kênh tiêu thụ sản phẩm của trang trại........................................... 40
v
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ...................................................................................... 1
1.1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập .................................................. 1
1.2. Mục tiêu cụ thể ........................................................................................ 2
1.2.1. Mục tiêu cần đạt được .......................................................................... 2
1.2.2. Về chuyên môn..................................................................................... 3
1.2.3. Về thái độ ............................................................................................. 3
1.2.4. Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc ...................................................... 3
1.3. Nội dung và phương pháp thực hiện ........................................................ 4
1.3.1. Nội dung thực tập ................................................................................. 4
1.3.2. Phương pháp thực hiện ......................................................................... 4
1.4. Thời gian và địa điểm thực tập ................................................................ 7
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................. 8
2.1. Về cơ sở lý luận....................................................................................... 8
2.1.1. Các định nghĩa và đặc trưng của trang trại ............................................ 8
2.1.2. Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập ......................... 13
2.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 13
2.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên thế giới............................ 13
2.2.2. Kinh tế trang trại tại Việt Nam và một số địa phương ......................... 15
2.2.3. Bài học kinh nghiệm từ các trang trại khác ......................................... 19
PHẦN 3. KẾT QUẢ THỰC TẬP .............................................................. 20
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn thực tập ....................... 20
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Tiên Hội ............................. 20
3.1.3. Quá trình hình thành và phát triển của HTX Tiên Trường III.............. 22
3.1.4 Lịch sử hình thành của trang trại ông Trần Văn Nhâm ........................ 23
3.1.5. Những thành tựu đã đạt được của trang trại ........................................ 27
vi
3.1.6. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hình thành và phát triển
của trang trại ................................................................................................ 27
3.2. Kết quả thực tập .................................................................................... 29
3.2.1. Nội dung thực tập và những công việc cụ thể tại trang trại ................. 29
3.2.2. Tóm tắt kết quả thực tập ..................................................................... 36
3.2.3. Bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tế .................................................. 42
3.2.4. Đề xuất giải pháp ................................................................................ 42
PHẦN 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................... 48
4.1. Kết luận ................................................................................................. 48
4.2. Kiến nghị ............................................................................................... 49
4.2.1. Đối với nhà nước ................................................................................ 49
4.2.2. Đối với trang trại ................................................................................ 50
4.2.3. Đối với chính quyền địa phương......................................................... 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 51
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Sự cần thiết thực hiện nội dung thực tập
Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta,
sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô ngày càng
lớn và mang tính thâm canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tất
yếu khách quan. Sự phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp to lớn
khối lượng nông sản được sản xuất, đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước,
mặt khác nó còn đóng vai trò cơ bản trong tiến trình hội nhập với kinh tế quốc
tế, với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng trưởng tích cực
và ổn định, thì sự đóng góp của các trang trại là rất lớn, không những đem lại
lợi nhuận cho trang trại, mà còn cải thiện đáng kể thu nhập của những người
lao động trong các trang trại. Việt Nam tham gia hiệp định và tổ chức thương
mại lớn nhấ thành tinh như: Hiệp định thương mại TPP, tổ chức thương mại
WTO đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế nước ta nói chung,
ngành nông nghiệp nói riêng.
Thách thức lớn nhất mà nông nghiệp của Việt Nam sẽ phải đối mặt, đó
là mở cửa để cho hàng hoá nông sản của các nước, trong tổ chức WTO được
lưu thông mà chúng ta không thể áp đặt mãi thuế nhập khẩu với thuế suất cao
để bảo hộ hàng trong nước. Do đó, hàng hoá nông sản của ta sẽ bị cạnh tranh
khốc liệt, những sản phẩm sản xuất theo kiểu truyền thống theo mô hình tự
cung, tự cấp chắc chắn không thể cạnh tranh nổi với nông sản ngoại nhập, cho
nên giải pháp nào cho sản xuất hàng hoá nông sản Việt Nam?
Sự phát triển của trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong
dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở
các vùng trung du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao
động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hoá,
2
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, tạo ra sự
cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, nhằm phát triển một nền nông nghiệp
bền vững. Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm
dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng.
Không có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại với quy mô
đất đai lớn như ở vùng đồng bằng Sông Hồng hay vùng đồng bằng phía nam,
nhưng Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc là nơi có nhiều điều kiện ưu đãi
về điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu, đặc biệt là vùng có truyền thống nông
nghiệp lâu đời, trình độ thâm canh của người dân tương đối cao. Huyện Đại Từ
là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên trong những năm qua sản xuất
lâm nghiệp của huyện đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng. Nhưng để ngành
nông nghiệp của huyện đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kì mới thì
phải hợp lý hóa, hiệu quả sản xuất nông nghiệp nhằm khi thác một cách triệt để
tài năng về đất đai cũng như khả năng lao động của con người vùng miền này
và mô hình kinh tế trang trại là phù hợp hơn cả. Những năm qua kinh tế trang
trại của huyện đã có nhiều thành tích đáng khích lệ, nhưng thật sựu vẫn chưa
tương xứng với tiềm năng của nó. Câu hỏi đặt ra là: Làm sao để mô hình được
áp dụng đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất? Trả lời cho câu hỏi này là
mục đích của đề tài: “Tìm hiểu công tác tổ chức của chủ trang trại Trần
Văn Nhâm tại xã Tiên Hội - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu cụ thể
1.2.1. Mục tiêu cần đạt được
Tìm hiểu công tác tổ chức của trang trại, phân tích cách thức sản xuất,
thị trường, hiệu quả kinh tế của trang trại qua đó nắm rõ cách thức tổ chức, sản
xuất của trang trại. Để từ đó định hướng đưa ra các giải pháp đẩy mạnh phát
triển hiệu quả sản xuất, tăng giá trị kinh tế cả các sản phẩm của trang trại.
3
1.2.2. Về chuyên môn
- Tìm hiểu được công tác tổ chức quản lý trang trại của chủ trang trại.
- Phân tích được những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức trong
phát triển KTTT để từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp.
- Nắm được các hoạt động sản xuất của trang trại và vai trò của chủ
trang trại trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Đánh giá được hiệu quả kinh tế của trang trại.
1.2.3. Về thái độ
- Thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy định của trang trại trong thời
gian thực tập về thời gian, trang phục, giao tiếp...
- Chủ động sẵn sàng trong công việc, hỗ trợ chủ trang trại trong sản
xuất tại trang trại.
1.2.4. Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc
1.2.4.1 Kỹ năng sống
- Tự tin trong công việc, giao tiếp tốt, sống hòa đồng thân thiện với
người dân tại cơ sở thực tập.
- Tạo cho sinh viên tác phong nhanh nhẹn, chịu được áp lực cho công
việc, có kinh nghiệm sống, có thể tự lập sau khi ra trường.
- Biết lắng nghe, học hỏi, rút ra bài học từ những lời phê bình của
người khác.
- Tạo mối quan hệ hòa nhã, thân thiện với mọi người.
1.2.4.2 Kỹ năng làm việc
- Chủ động trong công việc, sẵn sàng giúp đỡ người khác trong công việc.
- Học được cách sắp xếp, bố trí công việc trong học tập, nghiên cứu,
làm việc một cách khoa học.
4
1.3. Nội dung và phương pháp thực hiện
1.3.1. Nội dung thực tập
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên tại cơ sở thực tập.
- Tìm hiều quá trình hình thành, tổ chức trang trại.
- Tham gia vào quá trình chăm sóc cây trồng, sản xuất tại trang trại.
- Đánh giá hiệu quả, năng suất bình quân năm của trang trại.
- Một số giả pháp nhằm phát triển trang trại ông Trần Văn Nhâm.
1.3.2. Phương pháp thực hiện
1.3.2.1. Phương pháp thu thập thông tin
a. Thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp là: Thu thập những số liệu, thông tin liên
quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài đã được công bố
chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như lấy số liệu từ các ban
ngành của huyện, xã, các báo cáo tổng kết liên quan đến trang trại, thu thập số
liệu qua sách báo, tạp chí, nghị định, quyết định,...
- Trong phạm vi đề tài em thu thập các thông tin, số liệu đã được công
bố liên quan đến nội dung thực tập tại UBND xã Tiên Hội, xóm Tiên Trường
I và tại trang trại ông Trần Văn Nhâm.
+ Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Tiên Hội, xóm Tiên
Trường I.
+ Số liệu thống kê của UBND xã thu thập ở trên báo, trên internet liên
quan tới mô hình phát triển kinh tế trang trại.
b. Thu thập số liệu sơ cấp
* Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Phương pháp PRA: PRA là một loạt các biện pháp tiếp cận và phương
pháp khuyến khích lôi cuốn người dân tham gia cùng chia sẻ thảo luận, phân
tích kiến thức của họ về đời sống, điều kiện nông thôn để họ lập kế hoạch
5
thảo luận cũng như thực hiện và giám sát, đánh giá. Đề tài này đã sử dụng
các công cụ PRA sau:
- Phỏng vấn trực tiếp: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối với chủ trang
trại Trần Văn Nhâm và hộ gia đình để tìm hiểu về quá trình triển khai, thực
hiện mô hình kinh tế trang trại nói chung, trạng trại cây ăn quả nói riêng. Tìm
hiểu những thuận lợi, khó khăn và xu hướng thực hiện trong tương lai. Tìm
hiểu vai trò của người dân trong thực hiện các công việc.
- Quan sát trực tiếp: Quan sát một cách có hệ thống các sự việc, sự vật,
sự kiện với các mối quan hệ và trong một bối cảnh tồn tại của nó. Quan sát
trực tiếp cũng là một phương cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của
người dân địa phương. Trong quá trình nghiên cứu đề tài em sử dụng phương
pháp quan sát trực tiếp thực trạng công tác tổ chức của chủ trang trại Trần
Văn Nhâm.
1.3.2.2. Phương pháp phân tích số liệu
a. Phương pháp thống kê: Được coi là chủ đạo để nghiên cứu các mối
quan hệ giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra, qua đó đánh giá so sánh và rút ra
những kết luận, nhằm đưa ra các giải pháp có tính khoa học cũng như thực tế
trong việc phát triển kinh tế trang trại.
b. Phương pháp chuyên khảo: dùng để thu thập và lựa chọn các thông
tin, tài liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
Thông qua việc nghiên cứu để lựa chọn, kế thừa những gì tiến bộ vận dụng
vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả sản xuất của trang trại.
1.3.2.3. Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh
Phương pháp này đòi hỏi người quản lý trang trại phải ghi chép tỷ mỷ,
thường xuyên, liên tục suốt trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm biết
được các yếu tố đầu vào, đầu ra từ đó biết được thu nhập của trang trại trong
một kỳ sản xuất kinh doanh, thông qua kết quả đó rút ra các kết luận nhằm
định hướng cho kỳ tới.
6
* Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
Hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại như: giá
trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, cụ thể là:
+ Giá trị sản xuất (Gross Output): Là giá trị bằng tiền của sản phẩm sản
xuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trại để lại để tiêu dùng và giá trị bán ra
thị trường sau một chu kỳ sản xuất thường là một năm. Được tính bằng sản
lượng của từng sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm. Chỉ tiêu này được tính
như sau:
GO = ∑ Pi.Qi
Trong đó: GO : giá trị sản xuất
Pi : giá trị sản phẩm hàng hóa thứ i
Qi : lượng sản phẩm thứ i
+ Chi phí trung gian (Intermediate Cost): Là toàn bộ các khoản chi phí
vật chất bao gồm các khoản chi nguyên vật liệu, giống, chi phí dịch vụ thuê
ngoài. Chỉ tiêu này được tính như sau:
IC = ∑ Cij
Trong đó: IC : là chi phí trung gian
Cij : là chi phí thứ i cho sản phẩm thứ j
+ Giá trị gia tăng (Value Added): Là giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ cho các ngành sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này được xác định theo công
thức sau:
VA = GO – IC
Trong đó: VA: Giá trị gia tăng
GO : Giá trị sản xuất
IC : Chi phí trung gian
* Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất
+ GO/IC
7
+ VA/IC
* Phương pháp trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp
đường thẳng:
+ Công thức:
1.4. Thời gian và địa điểm thực tập
- Thời gian: Từ ngày 15 tháng 8 năm 2016 đến ngày 23 tháng 12 năm
2016.
- Địa điểm: Tại trang trại gia đình ông Trần Văn Nhâm xóm Tiên
Trường I - xã Tiên Hội - huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên.
8
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Về cơ sở lý luận
2.1.1. Các định nghĩa và đặc trưng của trang trại
2.1.1.1. Định nghĩa về trang trại và kinh tế trang trại
a. Định nghĩa về trang trại
Trang trại nói chung là cơ sở sản xuất nông nghiệp, ở đây nói về trang
trại trong nền kinh tế thị trường thời kỳ công nghiệp hoá, với các khái niệm cụ
thể sau:
- Trang trại là tổ chức sản xuất cơ sở của nền nông nghiệp sản xuất
hàng hoá trong thời kỳ công nghiệp hoá.
- Trang trại là đơn vị sản xuất nông nghiệp độc lập tự chủ, là chủ thể
pháp lý có t cách pháp nhân trong các quan hệ kinh tế xã hội.
- Trang trại có cơ sở vật chất kỹ thuật để đảm bảo sản xuất nông
nghiệp, có tổ chức lao động sản xuất kinh doanh, có quản lý kiểu doanh
nghiệp (hạch toán kinh tế).
- Trang trại là tổ chức sản xuất nông nghiệp có vị trí trung tâm thu hút
các hoạt động kinh tế của các tổ chức sản xuất tliệu sản xuất, các hoạt động
dịch vụ và các tổ chức chế biến tiêu thụ nông sản.
- Trang trại là loại hình sán xuất đa dạng và linh hoạt về tổ chức hoạt
động sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp.
- Trang trại có các hình thức sở hữu tư liệu sản xuất và phương thức
quản lý khác nhau.
- Trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến nhất trong nông
nghiệp ở tất cả các nước, thường do các chủ gia đình làm chủ và quản lý sản
xuất kinh doanh của trang trại, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu và có thể
sử dụng lao động thuê ngoài, sở hữu một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất
9
(ruộng đất, công cụ sản xuất, vốn …) cũng có thể đi thuê ngoài một phần hoặc
toàn bộ tư liệu sản xuất trên.
- Trang trại tư bản tư nhân là loại hình trang trai nông nghiệp ít phổ
biến ở các nước, đến nay số lượng không nhiều thường là các trang trại tư bản
tư nhân, công ty cổ phần, sản xuất kinh doanh trên cơ sở sử dụng lao động
làm thuê kể cả lao động sản xuất và lao động quản lý.
- Trang trại thường có các qui mô khác nhau (nhỏ, vừa và lớn) song
song tồn tại lâu dài với sự thay đổi về cơ cấu tỷ lệ và qui mô trung
bình…Trang trại thường có các cơ cấu sản xuất khác nhau với cơ cấu thu
nhập khác nhau, trong và ngoài nông nghiệp, với phương thức quản lý kinh
doanh khác nhau (chuyên môn hoá, đa dạng hoá sản phẩm) với trình độ năng
lực sản xuất khác nhau.
Tóm lại: Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông - lâm
- ngư nghiệp, có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc
quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập. Sản xuất đợc tiến hành
trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất đợc tập trung tơng đối lớn, với
cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ
và luôn gắn với thị trường.[1]
b. Định nghĩa về kinh tế trang trại
Là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn,
chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản
xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn
sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản.
Kinh tế trang trại là một đơn vị sản xuất kinh doanh cơ sở trực tiếp sản
xuất trồng trọt trên đồng ruộng và chăn nuôi trang chuồng trại với quy mô
lớn, trình độ sản xuất và quản lý tiến bộ…Là hình thức tổ chức sản xuất cơ sở
trong nông, lâm nghiệp và thuỷ sản với mục đích chính là sản xuất ra hàng
10
hoá để cung ứng ra thị trường. Là loại hình sản xuất hàng hoá với tỷ trọng
hàng hoá chiếm từ 70% đến 80% trở lên, đáp ứng phần lớn hàng hoá ra thị
trường không chỉ ở trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài.[1][8]
2.1.1.2 Đặc trưng của trang trại và kinh tế trang trại
Chủ trang trại là chủ thể kinh tế cá thể (bao gồm kinh tế gia đình và
kinh tế tiểu chủ) nắm một phần quyền sở hữu và toàn bộ quyền sử dụng đối
với ruộng đất, tư liệu sản xuất, vốn và sản phẩm làm ra.
- Trang trại là một đơn vị kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp.
- Mục đích chủ yếu của trang trại là kinh doanh nông sản phẩm hàng
hoá theo nhu cầu thị trường.
- Trong trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốn được
tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá.
- Lao động trong các trang trại chủ yếu là dựa trên các thành viên trong
hộ, ngoài ra có thuê mướn lao động.[3]
Kinh tế trang trại có nhiều loại hình khác nhau trong đó trang trại gia
đình là phổ biến, có những đặc trưng là rất linh hoạt trong tổ chức hoạt động
vì có thể dung nạp các trình độ sản xuất khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn
hoá sản xuất nông nghiệp.
- Trang trại là một cơ sở sản xuất - kinh doanh hàng hóa trong nông,
lâm, ngư nghiệp.
- Có nguồn gốc hình thành và phát triển từ kinh tế nông hộ nhưng ở vào
giai đoạn có trình độ tổ chức quản lý sản xuất hàng hóa cao hơn.
- Khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế ở địa phương (đất đai,
vốn, lao động, ứng dụng khoa học công nghệ).
- Hoạt động sản xuất - kinh doanh luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường.
- Nguồn gốc sở hữu của trang trại là thành phần kinh tế tư nhân là chủ
yếu, song do sự tác động của kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế nên
nó ngày càng mở rộng ra nhiều hình thức sở hữu, từ một thành phần kinh tế
đến nhiều thành phần kinh tế.[3]
11
2.1.1.3. Những tiêu chí xác định hộ là trang trại
Tuỳ theo từng vùng, từng khu vực mà có các mức, cách nhìn nhận khác
nhau. Để phân biệt giữa KTTT và kinh tế hộ nông dân cần dựa trên những căn
cứ về trang trại.
Ngày 13 tháng 4 năm 2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban
hành Thông tư số27/2011/TT-BNNPTNT Quy định về tiêu chí và thủ tục cấp
giấy chứng nhận kinh tế trang trại[6]. Về tiêu chí xác định kinh tế trang trại.
Điều 5 quy định như sau:
Cá nhân, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau:
1. Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt
a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:
- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộvà Đồng bằng Sông Cửu Long.
- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại.
b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm.
2. Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000
triệu đồng/năm trở lên.
3. Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha
và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên.
Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng
trở lên.
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên.
4. Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông
hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế:
a. Đối với trang trại trồng trọt
- Trang trại trồng cây hàng năm:
12
+ Từ 2 ha trởlên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung.
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên.
- Trang trại trồng cây lâu năm:
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung.
+ Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên.
+ Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên.
- Trang trại lâm nghiệp:
+ Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước.
b. Đối với trang trại chăn nuôi
- Chăn nuôi đại gia súc: Trâu, bò.
+ Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên.
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên.
- Chăn nuôi tiểu gia súc: Lợn, dê.
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối
với dê, cừu từ 100 con trở lên.
+ Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn
sữa) dê thịt từ 200 con trở lên.
- Chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt, ngan, ngỗng, có thường xuyên 2000 con
trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi).
c. Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
- Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng đối
với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên).
d. Đối với các loại sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có
tính chất đặc thù thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hoá (tiêu chí 1).
2.1.1.5 Khái niệm hợp tác xã
Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế nhưng không hoạt động với vai trò
chủ yếu là phát triển kinh tế mà là tạo công ăn việc làm cho người lao động
13
góp phần ổn định chính trị - xã hội. Do vậy mà mô hình hợp tác xã càng trở
nên được ưu tiên khuyển khích phát triển ở Việt Nam.[5]
-Theo Luật Hợp tác xã 2012 thì khái niệm này đã được thay đổi như
sau: "Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp
nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn
nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu
cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và
dân chủ trong quản lý hợp tác xã.
Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách
pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ
lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung
của hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và
dân chủ trong quản lý Liên hiệp hợp tác xã".[5]
2.1.2. Các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung thực tập
- Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP Ngày 02 tháng 02 năm 2000 của
Chính Phủ về kinh tế trang trại.
-
Luật Hợp tác xã năm 2012.
- Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK Ngày 23 tháng 6
năm 2000 của Liên bộ NN & PTNT – Tổng cục thống kê hướng dẫn tiêu chí
để xác định kinh tế trang trại.
- Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Thực trạng phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
Ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức sản xuất giữ vị trí xung kích
trong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lực
lượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao. Thực tiễn đã chứng
14
minh rằng kinh tế trang trại có vai trò quan trọng ở các nước đang phát triển
(Hàn Quốc, Đài Loan,…) và đang tiếp tục phát huy tác dụng ở những nước có
nền kinh tế phát triển cao (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản,…). Kinh tế trang trại gia
đình đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong quá trình phát triển nông nghiệp thế
giới, thúc đẩy ngành sản xuất nông sản hàng hoá và đưa nền nông nghiệp tiến
lên hiện đại.[2]
Kinh tế trang trại phát triển mạnh ở thời kỳ các nước tiến hành công
nghiệp hoá sau đó, khi công nghiệp phát triển thì số lượng trang trại có xu
hướng giảm dần và quy mô trang trại có xu hướng tăng lên.
Ở những vùng đất mới như châu Mỹ, châu Úc thì quy mô trang trại là
rất lớn. Như ở Mỹ mỗi trang trại có diện tích bình quân từ 180-200 ha, ở
Canađa là 400 – 450 ha, ở Úc là 500 ha, thậm chí hàng nghìn ha… Họ gọi là
trang trại nhưng thực chất đó là những đồn điền được Nhà nước khuyến
khích, bảo vệ bằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh.[2]
Ở châu Á, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm luôn là một cản
trở đối với phát triển kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường. Do vậy, kinh tế
trang trại cũng xuất hiện muộn hơn và quy mô nhỏ hơn ở châu Âu, châu
Mỹ, nhiều nghiên cứu cho thấy quy mô trang trại nhỏ ở châu Á chiếm từ
60-70% về số lượng, canh tác 30% diện tích và sản xuất 35% tổng sản
phẩm nông nghiệp.[2]
Ở Nhật Bản, trang trại gia đình có vai trò quan trọng trong ngành nông
nghiệp, bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội. Nhật Bản có xu hướng
mở rộng quy mô trang trại lên từ 10-20 ha, nhưng vẫn chưa thực hiện được.
Năm 1970 Nhật Bản có 5.342 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 1,1
ha/trang trại, đến 1993 còn 3.691 nghìn trang trại với diện tích bình quân là
1.38 ha/trang trại.[2]
15
Một số nước khác thuộc Châu Á như: Inđônêsia, Malaixia…đang trong
quá trình công nghiệp hoá nên luôn có sự biến động về số lượng và diện tích
bình quân của trang trại.
Hiện nay các quốc gia có số lượng vật nuôi lớn của thế giới như sau:
Về số lượng đàn bò nhiều nhất là Brazin 204,5 triệu con, nhì Ấn Độ
172,4 triệu, thứ ba Hoa kỳ 94,5 triệu, thứ tư là Trung Quốc 92,1 triệu, thứ
năm Ethiopia và thứ sáu Argentina có trên 50 triệu con bò.[2]
Chăn nuôi trâu số một là Ấn Độ 106,6 triệu con (chiếm trên 58% tổng số
trâu của thế giới), thứ hai Pakistan 29,9 triệu trâu, thứ ba Trung Quốc 23,7 triệu
con, bốn Nepan 4,6 triệu con, thứ năm Egypt 3,5 triệu, thứ sáu Philippine 3,3
triệu con và Việt Nam đứng thứ 7 thế giới đạt 2,8 triệu con trâu.[2]
2.2.2. Kinh tế trang trại tại Việt Nam và một số địa phương
2.2.2.1 Khái quát nền kinh tế trang trại tại Việt Nam
Khu vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu hộ nông dân,
chủ yếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, giá trị sản xuất thấp và có nhiều
rủi ro. Tuy nhiên trong số đó có số hộ nông dân tổ chức phát triển sản xuất
với quy mô lớn hơn theo hướng sản xuất tập trung, áp dụng khoa học công
nghệ và mang lại giá trị kinh tế cao, ít rủi ro hơn. Đây chính là các hộ gia
đình, cá nhân phát triển theo hướng kinh tế trang trại. Trong thực tiễn sản
xuất, các mô hình kinh tế trang trại làm ăn có hiệu quả, đã đóng góp quan
trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp của đất nước. Do đó Đảng và
Nhà nước có chủ trương khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế trang
trại trong trong thời gian tới.
Theo báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng
29.500 trang trại. Trong đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%),
10.974 trang trại chăn nuôi (chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm
1,46%), 5.268 trang trại thủy sản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp
16
(chiếm 13,66%). Số lượng trang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011.
Tuy nhiên các địa phương mới chỉ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho
6.247 trang trại.[8]
Các trang trại phân bố nhiều ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long
(6.911 trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sản xuất thủy sản và trái cây; Đông
Nam Bộ (6.115 trang trại, chiếm 21%) chủ yếu là chăn nuôi; Bắc Trung Bộ và
duyên hải miền Trung (5.693 trang trại, chiếm 20%) chủ yếu kinh doanh tổng
hợp; Đồng bằng Sông Hồng (5.775 trang trại, chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn
nuôi; Trung du và miền núi phía Bắc (2.063 trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là
chăn nuôi và lâm nghiệp.[8]
Quy mô diện tích đất bình quân của các trang trại hiện nay về trồng trọt
là 12 ha/trang trại; chăn nuôi là 2 ha/trang trại; tổng hợp là 8 ha/trang trại; lâm
nghiệp là 33 ha/trang trại; thủy sản là 6 ha/trang trại. Trong quá trình tổ chức
sản xuất cho thấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng đất nên quy mô
diện tích lớn, đặc biệt có trang trại có tới trên 100 ha[8]. Nhiều trang trại đã
áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch,
công nghệ cao, nên tạo ra năng suất và chất lượng cao và hiệu quả kinh tế.
Theo báo cáo của các địa phương, thu nhập bình quân của trang trại đạt 2 tỷ
đồng/năm, đã tạo thêm công ăn việc làm cho lao động ở địa phương, mỗi
trang trại bình quân giải quyết được khoảng 8 lao động, có nhiều trang trại thu
hút được hàng trăm lao động.
Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên
tiến của kinh tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần
có chính sách phát triển.
2.2.2.2. Một số kết quả và kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số
địa phương của Việt Nam.
Với những hiệu quả trước mắt thu được từ mô hình kinh tế trang trại
trên các vùng đất nước thì ta có thể thấy rõ được vai trò kinh tế trang trại
trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
17
Nhiều tỉnh nhiều địa phương trên đất nước ta đã áp dụng và mở rộng
mô hình kinh tế trang trại:
a. Kinh tế trang trại ở Vĩnh Phúc
Năm 2011, cả nước có 135.437 trang trại, trong đó tập trung ở hai vùng
chính là Đồng bằng Sông Cửu long và Đồng bằng Sông Hồng. Riêng tỉnh
Vĩnh Phúc có 1.327 trang trại (Năm 2013 chỉ có 105 trang trại). Về cơ cấu
loại hình chủ yếu là trang trại tổng hợp, chiếm 53,4% tổng trang trại toàn tỉnh,
sau đó đến trang trại chăn nuôi chiếm 30,1%.[7]
Hiện nay, trang trại gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất 77,5%, người chủ
trang trại hầu hết là nông dân đang sống ở nông thôn, họ là người trực tiếp
điều hành và tham gia sản xuất trong trang trại của mình. Trang trại liên
doanh chiếm tỷ lệ tương đối lớn (10%), tiếp theo là các loại hình trang trại cá
nhân (7,5%), các loại hình trang trại nhà nước và trang trại đi thuê để sản xuất
chiếm khoảng 2,5% cho mỗi loại.[7]
Theo địa bàn quản lý, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh, Yên Lạc và Tam
Dương là địa phương có tỷ lệ trang trại nhiều nhất (14,17%), Lập Thạch, Vĩnh
Yên (13,33%).[7]
Số liệu khảo sát cho thấy rằng hiện nay các trang trại mới chỉ tập trung
đến khâu sản xuất ra sản phẩm, chưa chú ý nhiều đến khâu phân phối sản
phẩm hiệu quả. Chỉ có 14,17% trang trại có đăng ký kinh doanh, 7,5% trang
trại chưa có cửa hàng tiêu thụ sản phẩm, còn lại hầu hết các trang trại đều
không chủ động được đầu ra cho sản phẩm.[7]
Có thể thấy rằng, kinh tế trang trại ở Vĩnh Phúc hiện phát triển khá
nhanh, đa dạng về loại hình. Tuy nhiên sự phát triển của các trang trại còn
mang tính tự phát do quy hoạch phát triển kinh tế trang trại còn chậm và chất
lượng chưa cao.
c. Tỉnh Thái Nguyên