Tải bản đầy đủ (.doc) (73 trang)

Luận văn tốt nghiệp : Tổ chức công tác kế toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty May 40

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (302.28 KB, 73 trang )

Lời mở đầu
Trong cơ chế thị trường hiện nay, hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận. Một trong các biện pháp để
tăng lợi nhuận là tìm mọi cách để cắt giảm chi phí sản xuất ở mức có thể chấp
nhận được. Là một bộ phận cấu thành chi phí sản xuất doanh nghiệp, chi phí
nhân công có vị trí rất quan trọng, không chỉ là cơ sở để xác định giá thành
sản phẩm mà còn là căn cứ để xác định các khoản nộp về BHXH, BHYT và
KPCĐ.
Có thể nói, tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động.
Do đó, tiền lương phải đảm bảo bù đắp sức lao động mà họ đã bỏ ra nhằm tái
sản xuất sức lao động, đáp ứng được nhu cầu cần thiết trong cuộc sống của
họ. Vì vậy, đối với mỗi doanh nghiệp, lựa chọn hình thức trả lương nào cho
phù hợp, nhằm thoả mãn lợi ích người lao động thực sự là đòn bẩy kinh tế,
khuyến khích tăng năng xuất lao động và có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tuỳ
theo đặc điểm của mỗi doanh nghiệp mà tổ chức hạch toán tiền lương cho hợp
lý, đảm bảo tính khoa học và tuân thủ đúng những quy định của kế toán tiền
lương, thực hiện đúng đắn chế độ tiền lương và quyền lợi cho người lao động,
đặc biệt là phải đảm bảo tính đúng, tính đủ chi phí tiền lương và các khoản
trích nộp theo lương cho người lao động trong doanh nghiệp.
Xét trong mối quan hệ với giá thành sản phẩm, tiền lương là một bộ
phận quan trọng của chi phí sản xuất. Vì vậy, việc thanh toán, phân bổ hợp lý
tiền lương vào giá thành sản phẩm, tính đủ và thanh toán kịp thời tiền lương
cho mọi người lao động sẽ góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất, hạ giá
thành sản phẩm, tăng năng xuất lao động, tăng tích luỹ và cải thiện đời sống
người lao động. Tiền lương là một trong những “đòn bẩy kinh tế”quan trọng.
Xã hội không ngừng phát triển nhu cầu của con người không ngừng tăng lên
đòi hỏi chính sách tiền lương cũng phải có những đổi mới cho phù hợp. Đây
là vấn đề Nhà nước luôn luôn quan tâm, bởi nó liên quan trực tiếp đến quyền
lợi của người lao động, đến sự phân phối thu nhập trong xã hội.

Vũ Thị Thanh Nga



1

Lớp K39/21.08


Gắn chặt với tiền lương là các khoản trích nộp theo lương gồm BHXH,
BHYT, KPCĐ nó có liên quan đến mọi người lao động trong doanh nghiệp.
Công ty May 40 với nhiệm vụ bảo toàn và phát triển nguồn vốn do Ngân sách
Nhà nước cấp cũng như nguồn vốn chủ quản, đồng thời hoạt động có hiệu
quả, nâng cao chất lượng đời sống cho người lao động và hoàn thành nghĩa vụ
đóng góp với Nhà nước nên việc tổ chức công tác kế toán tiền lương phù hợp,
hạch toán đúng đủ và thanh toán kịp thời có một ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế
xã hội cũng như về mặt chính trị.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, với sự giúp đỡ của các
cán bộ phòng Tài chính – Kế toán của Công ty , cùng với sự hướng dẫn chu
đáo của thầy giáo hướng ....., em đã lựa chọn đề tài “Tổ chức công tác kế
toán lao động tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty May
40”.
*Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung tổ chức công tác kế toán lao động tiền
lương và các khoản trích theo lương ở các doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán lao động tiền lương và các
khoản trích theo lương tại Công ty May 40
- Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán lao động, tiền lương và các
khoản trích theo lương tại Công ty May 40

Vũ Thị Thanh Nga

2


Lớp K39/21.08


Chương I
Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán lao động tiền lương và các
khoản trích theo lương ở các doanh nghiệp
1. 1. SỰ CẦN THIẾT TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

1. 1. 1. Vai trò và yêu cầu quản lý lao động
* Vai trò của lao động:
Trong lịch sử phát triển của loài người, chúng ta biết rằng bất kỳ một quá
trình sản xuất nào cũng là sự kết hợp của 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao
động và tư liệu lao động. Trong đó sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực
của con người được kết hợp lại trong quá trình lao động, tạo nên một yếu tố
sản xuất mặc dù trừu tượng nhưng lại có ý nghĩa quyết định đối với mọi quá
trình xã hội.
Tiêu dùng sức lao động là lao động. Lao động chính là hoạt động có mục
đích, có ý thức của con người nhằm tác động biến đổi các vật tự nhiên thành
những vật phẩm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của con người. Trong mọi xã hội,
việc sáng tạo ra của cải vật chất đều không tách rời lao động, lao động là điều
kiện đầu tiên cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là yếu
tố cơ bản tác dụng quyết định trong quá trình sản xuất. Để quá trình tái tạo
sản xuất nói chung và quá trình sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp nói
riêng được diễn ra liên tục thì một vấn đề thiết yếu là tái sản xuất sức lao
động. Vì vậy khi họ tham gia lao động sản xuất ở các doanh nghiệp thì đòi hỏi
các doanh nghiệp phải trả thù lao lao động cho họ. Trong nền kinh tế hàng
hoá, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị gọi là tiền lương.
Như vậy, tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí lao động sống cần

thiết mà doanh nghiệp cần phải trả cho người lao động theo số lượng và chất
lượng lao động mà họ đã đóng góp cho doanh nghiệp.
Vũ Thị Thanh Nga

3

Lớp K39/21.08


Ngoài tiền lương, người lao động còn được hưởng các khoản trợ cấp thuộc
phúc lợi xã hội, trong đó có trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh
phí công đoàn mà theo chế độ tài chính hiện hành các doanh nghiệp phải tính
vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Cùng với tiền lương, các khoản bảo hiểm và kinh phí nói trên hợp thành
khoản chi phí về lao động sống trong tổng chi phí của doanh nghiệp. Khoản
chi phí này là một trong các yếu tố cơ bản cấu thành nên giá trị sản phẩm do
doanh nghiệp sản xuất ra. Sử dụng hợp lý sức lao động là cũng chính là tiết
kiệm lao động sống, do đó góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng doanh
lợi cho doanh nghiệp và là điều kiện để cải thiện nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho công nhân viên và người lao động trong doanh nghiệp.
Lao động còn là nguồn gốc của giá trị thặng dư. Sức lao động với tính cách
là một loại hàng hoá đặc biệt, trong quá trình lao động không chỉ chuyển hết
giá trị bản thân vào sản phẩm mà còn tạo được lượng giá trị dôi ra so với giá
trị sức lao động đã bỏ ra - đó chính là giá trị thặng dư, biểu hiện lợi nhuận của
doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phần giá trị này
chính là cơ sở để doanh nghiệp tái sản xuất theo cả chiều rộng lẫn cả chiều
sâu, là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp.
Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao sẽ là nhân tố quyết định
sự tồn tại không chỉ của bản thân doanh nghiệp mà của cả nền kinh tế đất
nước, đặc biệt trong điều kiện sản xuất vật chất ngày càng tiến bộ hơn.

• Yêu cầu quản lý lao động:
Quản lý lao động tiền lương là một nội dung quan trọng trong công tác
quản lý sản xuất kinh doanh, nó là nhân tố giúp cho doanh nghiệp hoàn thành
vượt mức kế hoạch sản xuất của mình. Quản lý tốt lao động là cơ sở cho việc
tính toán và xác định chi phí lao động. Tính đúng thời gian lao động và thanh
toán đầy đủ kịp thơì tiền lương cho người lao động sẽ kích thích người lao
động quan tâm đến thời gian, kết quả và chất lượng của lao động.
Thực chất, yêu cầu quản lý lao động chính là yêu cầu quản lý về số lượng,
chất lượng lao động:
Vũ Thị Thanh Nga

4

Lớp K39/21.08


- Về số lượng: phải có số công nhân viên thích đáng với cơ cấu hợp lý, tỷ
lệ lao động gián tiếp vừa phải để dành phần chủ yếu cho lao động trực
tiếp.
- Về chất lượng: cần chú ý bậc thợ bình quân của từng loại thợ và số
lượng thợ bậc cao.
Với khoản chi phí về lao động sống, yêu câu đặt ra là quản lý chi phí này
như thế nào để một mặt tăng mức thu nhập cho người lao động nhằm khuyến
khích tinh thần tích cực lao động, làm nhân tố thúc đẩy năng suất lao động.
Mặt khác, doanh nghiệp phải hạ thấp chi phí để giảm già thành, tăng lợi
nhuận. Việc tăng lương phải phù hợp với việc tăng sản lượng sản phẩm sản
xuất ra nhằm tránh tình trạng đội già thành sản phẩm lên cao.
1. 1. 2 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương
Tổ chức tốt hạch toán lao động và tiền lương, một mặt giúp cho công tác
quản lý lao động của doanh nghiệp vào nề nếp, tạo cơ sở cho việc tính toán

lương theo đúng phân phối theo lao động. Mặt khác, giúp cho doanh nghiệp
quản lý tốt quỹ tiền lương, đảm bảo việc trả tiền lương và trợ cấp bảo hiểm xã
hội theo đúng chế độ kích thích người lao động hoàn thành nhiệm vụ được
giao, đồng thời tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá thành
sản phẩm được chính xác. Do đó kế toán tiền lương và các khoản trích theo
lương ở doanh nghiệp phải thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Tổ chức hạch toán đúng thời gian, số lượng, chất lượng và kết quả lao
động của người lao động, tính đúng và thanh toán kịp thời tiền lương và các
khoản khác cho người lao động.
- Tính toán phân bổ chính xác chi phí tiền lương và các khoản trích
theo lương như BHXH, BHYT, KPCĐ cho các đối tượng sử dụng liên quan.
- Định kỳ tiến hành phân tích tình hình sử dụng lao động, tình hình quản
lý và chi tiêu quỹ lương. Cung cấp các thông tin cần thiết cho các bộ phận liên
quan.

Vũ Thị Thanh Nga

5

Lớp K39/21.08


1. 2. HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG, QUỸ LƯƠNG VÀ CÁC QUỸ BHXH, BHYT,
KPCĐ

1. 2. 1. Các hình thức trả tiền lương trong doanh nghiệp
Hiện nay trong chế độ lao động tiền lương có quan điểm chỉ đạo lâu dài
là thực hiện đúng quyền hạn, quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp và người
lao động, thực hiện sự bình đẳng giữa hai bên, tôn trọng quyền được làm việc
và thôi việc của người lao động. Trong các doanh nghiệp ngày nay tổ chức

tiền lương phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc trả lương theo số lượng và chất lượng lao động: nguyên
tắc này nhằm khắc phục chủ nghĩa bình quân trong phân phối, mặt khác tạo
cho ngưòi lao động ý thức với kết quả lao động của mình.
Số lượng và chất lượng lao động được thể hiện một cách tổng hợp ở kết
quả sản xuất thông qua số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra hoặc
khối lượng công việc được thực hiện.
- Nguyên tắc đảm bảo tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng
cao mức sống, tiền lương phải đảm bảo cho người hưởng lương tái sản xuất
được sức lao động của bản thân và gia đình. Có như vậy tiền lương mới thực sự
là động lực thúc đẩy lao động nhiệt tình, tăng năng suất lao động từ đó tạo ra
năng lực sản xuất mới, tạo ra vật chất to lớn cho xã hội. Vì vậy công tác tổ
chức tiền lương cần chú ý đến việc tăng tiền lương thực tế cho người lao động
không ngừng tăng lên.
- Gắn với hiệu quả sản xuất kinh doanh và phù hợp với điều kiện kinh
tế của đất nước trong từng thời kỳ. Nếu chính sách tiền lương không giải
quyết đúng đắn thì không những ảnh hưởng xấu đến sản xuất, đến tình hình
phát triển kinh tế xã hội mà còn trở thành vấn đề không có lợi.
Để phân biệt và quy định mức độ phức tạp của công việc làm cơ sở tính
lương và trả lương cho công nhân viên thì trong các doanh nghiệp hiện nay
được nhà nước quy định về tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, thang lương và mức
lương. Đó là cách trả lương theo chất lượng lao động. Còn việc trả lương theo
số lượng lao động thực hiện bằng cách sử dụng các hình thức tiền lương. Việc
Vũ Thị Thanh Nga

6

Lớp K39/21.08



kết hợp đúng đắn giữa chế độ trả lương cấp bậc với các hình thức tiền lương
tạo điều kiện quán triệt đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao động.
Chính sách tiền lương là một chính sách linh động, uyển chuyển phù
hợp với hoàn cảnh xã hội, với khả năng của từng công ty - xí nghiệp. Chúng
ta không thể và không nên áp dụng công thức lương một cách máy móc có
tính chất đồng nhất cho mọi đơn vị. Có công ty áp dụng chế độ khoán sản
phẩm thì năng suất lao động cao, giá thành hạ. Nhưng công ty khác lại thất
bại nếu áp dụng chế độ trả lương này, mà phải áp dụng chế độ trả lương theo
giờ cộng với thưởng… Do vậy, việc trả lương rất đa dạng, nhiều công ty phối
hợp nhiều phương pháp trả lương cho phù hợp với khung cảnh kinh doanh
của mình. Thường thì một công ty, xí nghiệp áp dụng các hình thức trả lương
sau:
1. 2. 1. 1. Trả lương theo thời gian
Đây là hình thức trả lương căn cứ vào thời gian làm việc, cấp bậc kỹ
thuật và thang lương để tính cho từng người lao động. Hình thức này chủ yếu
chỉ áp dụng cho lao động gián tiếp, còn lao động trực tiếp chỉ áp dụng với bộ
phận không áp dụng được định mức sản phẩm.
Hình thức trả lương này được áp dụng với viên chức nhà nước thuộc
khu vực hành chính sự nghiệp, những người hoạt động trong lĩnh vực quản lý,
chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Với
công nhân sản xuất chỉ áp dụng cho những người làm công việc không thể
định mức được sản phẩm lao động chính xác, hoặc do tính chất của sản xuất
nếu trả lương sản phẩm sẽ không đạt chất lượng. Chẳng hạn công việc sửa
chữa, công việc sản xuất hay pha chế thuốc chữa bệnh ….
Tiền lương thời gian phải trả =Thời gian làm việc * Đơn giá tiền lương
thời gian (áp dụng đối với từng bậc lương)
Như vậy, trả lương theo thời gian là dựa vào độ dài thời gian làm việc,
trình độ chuyên môn kỹ thuật và mức độ phức tạp của công việc.
+Ư điểm: Dễ tính, dễ trả lương


Vũ Thị Thanh Nga

7

Lớp K39/21.08


+ Nhược điểm: Mang tính bình quân cao, không đánh giá được kết quả
lao động của mỗi người.
Hình thức trả lương theo thời gian bao gồm các hình thức cụ thể sau:
*Hình thức trả lương theo thời gian lao động giản đơn:
Chế độ trả lương theo thời gian lao động giản đơn quy định mức tiền
lương lao động của mỗi người lao động được hưởng phụ thuộc vào mức
lương cấp bậc, chức vụ hay cấp hàm và thời gian làm việc thực tế của họ.
Hình thức trả lương này bao gồm:
- Lương tháng: là tiền lương trả cho người lao động theo tháng, theo
bậc lương đã sắp xếp. Người lao động hưởng lương tháng sẽ nhận tiền lương
theo cấp bậc và khoản tiền phụ cấp nếu có áp dụng để trả lương cho nhân viên
làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế và các nhân viên thuộc các
ngành hoạt động không có tính chất sản xuất:
Lương tháng =Lương cấp bậc công việc * Các khoản phụ cấp
(mức lương theo bảng lương <nếu có> Nhà nước)
- Lương ngày: là tiền lương tính trả cho người lao động theo mức lương
ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng.
Lương tháng
Lương ngày =
Số ngày làm việc theo chế độ trong tháng
Mức lương ngày dùng để trả theo chế độ với người lao động theo hợp đồng
thời hạn từ một tháng trở lên, thường thì cơ quan hợp đồng lao động hay
doanh nghiệp tổ chức chấm công theo ngày và trả gộp 15 ngày một lần cùng

kỳ với người hưởng lương tháng. Lương ngày áp dụng cho những công việc
có thể chấm công ngày, nó khuyến khích người lao động đi làm đều.
Đối với người lao động làm việc công nhật hoặc làm công việc có tính
chất tạm thời theo thời vụ, làm công việc có tính chất thời hạn dưới ba tháng
thì có thể gộp số ngày để trả một lần, cũng có thể trả ngay sau mỗi ngày làm
việc nhưng phải tính thêm cho họ khoản BHXH, ít nhất 15% vào tiền lương
để người lao động tự do về vấn đề bảo hiểm.
Vũ Thị Thanh Nga

8

Lớp K39/21.08


- Lương giờ: áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp trong thời
gian làm việc không hưởng lương theo sản phẩm.
Lương giờ =
*Hình thức trả lương theo thời gian có thưởng:
Thực chất là sự kết hợp trả lương theo thời gian giản đơn và tiền
thưởng thường xuyên từ quỹ lương (vì đảm bảo giờ công, ngày công …).
Hình thức này áp dụng cho những lao động phụ làm những công việc phụ
hoặc những lao động chính làm việc ở nơi có trình độ cơ khí và tự động hoá
cao.
Tiền lương = tiền lương theo thời gian + tiền thưởng lao động giản đơn
- Ưu điểm: phản ánh được trình độ thành thạo,thời gian làm việc thực
tế và hiệu quả công việc của người lao động, khuyến khích người lao động có
trách nhiệm với công việc.
- Nhược điểm: chưa đảm bảo phân phối theo lao động.
1. 2. 1. 2. Hình thức trả lương theo sản phẩm
Là hình thức tiền lương tính theo số lượng, chất lượng sản phẩm, công

việc đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu chất lượng và đơn giá tiền lương tính cho
một đơn vị sản phẩm, công việc đó. Tiền lương sản phẩm phải tính bằng số
lượng hoặc khối lượng công việc, sản phẩm hoàn thành đủ tiêu chuẩn chất
lượng nhân với đơn giá tiền lương sản phẩm.
Đây là hình thức trả lương cơ bản mà hiện nay các đơn vị áp dụng chủ
yếu trongkhu vực sản xuất vật chất. Hình thức trả lương này phù hợp với
nguyên tắc phân phối lao động, gắn thu nhập của người lao động với kết quả
lao động, khuyến khích người lao động hăng say lao động. Hình thức này tỏ
ra có hiệu quả hơn so với việc trả lương theo thời gian, do đó xu hướng hiện
nay mở rộng trả lương theo hình thức này.
Việc xác định tiền lương sản phẩm phải dựa trên cơ sở các tài liệu về
hạch toán kết quả lao động (phiếu xác nhận lao động hoặc công việc hoàn
thành ….) và đơn giá tiền lương sản phẩm mà doanh nghiệp áp dụng đối với
từng loại công việc hoặc sản phẩm.
Vũ Thị Thanh Nga

9

Lớp K39/21.08


Hình thức trả lương theo sản phẩm còn tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể ở
từng doanh nghiệp mà vận dụng theo hình thức cụ thể sau:
*Tiền lương sản phẩm trực tiếp (trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá
nhân):
Hình thức này áp dụng cho những công nhân trực tiếp sản xuất trong
điều kiện quy trình lao động của họ mang tính độc lập tương đối, có thể định
mức kiểm tra và nghiệm thu sản phẩm một cách riêng biệt. Đơn giá tiền lương
của cách trả lương này là cố định và tính theo công thức:
DG= = L*TĐM

Trong đó: DG: đơn giá tiền lương
L : lương cấp bậc công nhân
QĐM: mức sản lượng định mức
TĐM: thời gian định mức
Tiền lương của công nhân được xác định theo công thức:
Tiền lương phải trả =Đơn giá tiền lương * Số lượng sản phẩm hoàn thành
Cho công nhân viên trên một đơn vị sản phẩm (mức sản phẩm thực tế)
- Ưu điểm: Đánh giá đúng đắn sức lao động đã hao phí, người lao động
làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, điều đó khuyến khích người lao động làm
việc hăng say hơn, họ quan tâm nhiều hơn đến chất lượng sản phẩm làm ra.
- Nhược điểm: Công nhân ít quan tâm đến việc tiết kiệm nguyên vật
liệu, coi nhẹ việc tiết kiệm chi phí sản xuất, ít quan tâm đến việc bảo quản
máy móc, thiết bị nếu thiếu những quy định chặt chẽ, tinh thần tương trợ lẫn
nhau trong quá trình sản xuất kém, hay có tình trạng giấu nghề, giấu kinh
nghiệm.
* Tiền lương sản phẩm tập thể (trả lương theo sản phẩm nhóm lao
động):
Đối với những công việc do tập thể người lao động cùng thực hiện thì tiền
lương sản phẩm tập thể sau khi được xác định theo công thức trên, cần được tính
chia cho từng người lao động trong tập thể theo phương pháp chia lương thích

Vũ Thị Thanh Nga

10

Lớp K39/21.08


hợp. Doanh nghiệp có thể thực hiện chia lương sản phẩm tập thể theo các phương
pháp sau:

- Phương pháp chia lương sản phẩm tập thể theo hệ số lương cấp bậc
của người lao động và thời gian làm việc thực tế của từng người:
Theo phương pháp này, căn cứ vào thời gian làm việc thực tế và hệ số
lương cấp bậc của từng người để tính chia lương sản phẩm tập thể cho từng
ngưòi theo công thức:
Li=

Trong đó:

Li: Tiền lương sản phẩm của lao động i
Ti: Thời gian làm việc thực tế của lao động i
Hi: Hệ số cấp bậc lương của lao động i
Lt: Tổng tiền lương sản phẩm tập thể

n: Số lượng lao động của tập thể
- Phương pháp chia lương sản phẩm tập thể theo mức lương cấp bậc và
thời gian làm việc thực tế của từng người:
Theo phương pháp này, căn cứ vào thời gian làm việc thực tế và mức
lương cấp bậc của từng người để tính chia lương sản phẩm tập thể cho từng
người theo công thức:
Li =

Trong đó: Li: Tiền lương sản phẩm của lao động i
Ti: Thời gian làm việc thực tế của lao động
i
Hi: Hệ số cấp bậc lương của lao động i
Lt: Tổng tiền lương sản phẩm tập thể
n: Số lượng lao động của tập thể
Mi: Mức lương cấp bậc của lao động i
- Phương pháp chia lương sản phẩm tập thể theo hệ số lương cấp bậc


hoặc theo mức lương cấp bậc và thời gian làm việc thực tế của từng công
nhân kết hợp vời bình công chấm điểm:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp cấp bậc kỹ thuật của từng
công nhân không phù hợp với cấp bậc công việc được giao. Theo phương
pháp này, tiền lương sản phẩm tập thể được chia làm 2 phần:
Vũ Thị Thanh Nga

11

Lớp K39/21.08


+ Phần tiền lương phù hợp với lương cấp bậc được chia cho từng người
theo hệ số lương cấp bậc hoặc mức lương cấp bậc và thời gian làm việc thực
tế của từng người.
+ Phần tiền lương sản phẩm còn lại được phân chia theo kiểu bình công
chấm điểm.
* Tiền lương sản phẩm cá nhân gián tiếp:
Hình thức này áp dụng để trả lương cho lao động gián tiếp ở các bộ
phận sản xuất (công nhân phụ) mà công việc của họ ảnh hưởng nhiều tới công
việc của công nhân chính (người hưởng lương theo sản phẩm) như công nhân
sửa chữa, công nhân điện …
Tiền lương phải trả
cho công nhân phụ

=

Mức tiền lương công
nhân chính


x

Mức độ hoàn thành sản phẩm tiêu
chuẩn của công nhân

- Ưu điểm: Cách trả lương này khuyến khích công nhân phụ phục vụ
tốt hơn cho công nhân chính, tạo điều kiện cho công nhân chính nâng cao
năng suất lao động.
- Nhược điểm: Do phụ thuộc vào kết quả của công nhân chính, việc trả
lương như vậy chưa được chính xác, chưa thật sự đảm bảo hao phí lao động
mà công nhân phụ bỏ ra, dẫn đến tình trạng người lao động có trình độ như
nhau nhưng hưởng những mức lương rất khác nhau.
*Tiền lương sản phẩm luỹ tiến:
Theo cách trả lương này, thì tiền lương phải trả cho ngưòi lao động bao
gồm 2 phần:
- Phần 1: Tiền lương hoàn thành định mức được giao (tiền lương sản
phẩm trực tiếp)
- Phần2: Căn cứ vào mức độ hoàn thành một định mức lao động để tính
thêm một số tiền lương theo tỷ lệ luỹ tiến. Tỷ lệ hoàn thành vượt định mức
càng cao thì suất luỹ tiến càng nhiều.
Hình thức trả lương này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp cần
hoàn thành gấp một số công việc trong khoảng thời gian nhất định (ví dụ để
kịp giao sản phẩm cho khách hàng theo hợp đồng). Thực chất đây là cách trả
lương theo sản phẩm kết hợp với hình thức tiền thưởng (hoặc đơn giá tiền
Vũ Thị Thanh Nga

12

Lớp K39/21.08



lương luỹ tiến) theo một tỷ lệ nhất định đối với định mức lao động một cách
chính xác.
Với cách trả lương này, tốc độ tăng tiền lương vượt tốc độ tăng sản
phẩm. Nó có tác động kích thích công nhân tích cực làm việc, tăng năng suất
lao động, phấn đấu vượt định mức được giao, nhưng người lao động ít quan
tâm đến máy móc, không tiết kiệm nguyên vật liệu. Mặt khác các doanh
nghiệp cần chú ý không nên áp dụng rộng rãi hình thức trả lương này vì tốc
độ tăng tiền lương của công nhân tăng nhanh hơn tốc độ tăng của năng suất
lao động, thời gian trả lương không nên quá ngắn để tránh tình trạng công
nhân nhận lương luỹ tiến nhưng không đạt định mức tháng.
* Tiền lương sản phẩm có thưởng, có phạt:
Thực chất, hình thức trả lương này là sự hoàn thiện hơn của hình thức trả
lương sản phẩm trực tiếp. Theo hình thức này, ngoài tiền lương được lĩnh theo
đơn giá sản phẩm trực tiếp, người công nhân còn được hưởng thêm một khoản
tiền thưởng nhất định căn cứ vào trình độ hoàn thành các chỉ tiêu thưởng. Ngoài
ra trong trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, lãng phí vật tư,
không đảm bảo đủ ngày công, định mức quy định …thì có thể phải chịu tiền
phạt vào thu nhập của họ bằng tiền lương theo sản phẩm trực tiếp trừ đi khoản
tiền phạt.
*Tiền lương khoán:
Hình thức trả lương khoán được áp dụng trong trường hợp sản phẩm
hay công việc khó giao chi tiết, mà phải giao cả khối lượng công việc, hay
nhiều việc tổng hợp phải làm trong một thời gian nhất định với yêu cầu chất
lượng nhất định. Trả lương khoán có thể tạm ứng lương theo phần khối lượng
đã hoàn thành trong từng đợt và thanh toán lương sau khi đã hoàn thành toàn
bộ khối lượng công việc được hợp đồng giao khoán. Đơn giá khoán xác định
theo đơn vị hoặc cũng có thể trọn gói cho cả khối lượng công việc hay công
trình.

Yêu cầu của chế độ trả lương này là đơn giá phải tính toán chặt chẽ và
phải có hợp đồng giao khoán. Nội dung hợp đồng giao khoán phải rõ ràng công
Vũ Thị Thanh Nga

13

Lớp K39/21.08


việc, khối lượng giao khoán, điều kiện lao động định mức,đơn giá, tổng số tiền
lương khoán …Nếu tập thể nhận khoán thì chia lương như hình thức trả lương
tập thể.
- Ưu điểm: Theo hình thức này, công nhân biết trước được khối lượng
tiền lương mà họ sẽ được nhận sau khi hoàn thành công việc và thời gian
hoàn thành công việc được giao. Do đó, họ chủ động trong việc sắp xếp, tiến
hành công việc của mình,từ đó tranh thủ thời gian hoàn thành công việc được
giao. Còn đối với người giao khoán thì yên tâm về khối lượng công việc hoàn
thành.
- Nhược điểm: Để đảm bảo thời gian hoàn thành dễ gây ra hiện tượng
làm bừa, làm ẩu, không đảm bảo chất lượng.
Tóm lại, việc trả lương cho người lao động không chỉ căn cứ vào thang
lương, bậc lương, các định mức tiêu chuẩn mà còn phải lựa chọn hình thức
tiền lương thích hợp với điều kiện cụ thể của ngành và doanh nghiệp. Có như
vậy mới phát huy được tác dụng của tiền lương, vừa phản ánh lao động hao
phí trong quá trình sản xuất vừa làm đòn bẩy kích thích người lao động nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong thực tế nhiều doanh nghiệp mức lương được trả cao hơn do còn
có một loại phụ cấp thêm vào và chế độ hình thức trả lương cũng khá đa dạng.
Đi sâu vào tìm hiểu ta thấy có các loại phụ cấp,loại thưởng sau:
1.2.1.3. Các chế độ trả lương phụ, thưởng, trợ cấp áp dụng tại doanh

nghiệp
*Chế độ trả lương khi nghỉ phép, ngừng việc, làm ra sản phẩm hỏng,
sản phẩm xấu:
- Lương nghỉ phép:
Theo chế độ hiện hành khi người lao động nghỉ phép thì được hưởng
100%tiền lương theo cấp bậc. Tiền lương nghỉ phép là tiền lương phụ của
người lao động. Hiện nay, một năm một người lao động được nghỉ phép 12
ngày, nếu làm việc 5 năm liên tục thì tính thêm 1 ngày vào thời gian nghỉ
phép, từ 30 năm trở lên chỉ được nghỉ thêm 6 ngày.
Vũ Thị Thanh Nga

14

Lớp K39/21.08


Tìên lương nghỉ phép được chia vào chi phí hàng tháng. Nếu doanh
nghiệp không bố trí cho người lao động nghỉ phép ổn định, đều đặn giữa các
tháng trong năm thì doanh nghiệp phải trích trước tiền lương nghỉ phép để
đảm bảo chi phí ổn định giữa các tháng trong năm.
Tỷ lệ trích trước tiền
lương nghỉ phép của
người lao động

Tổng số tiền lương nghỉ phép theo kế hoạch năm của
=

công nhân sản xuất trực tiếp
x 100%
Tổng số tiền lương cơ bản kế hoạch năm của công nhân

trực tiếp sản xuất

Mức trích trước tiền
lương phép kế hoạch

Tiền lương cơ bản thực tế phải trả cho
=

công nhân trực tiếp trong tháng

x

Tỷ lệ trích trước

Nếu người lao động vì lý do gì đấy mà không nghỉ phép được thì được
thanh toán 100% lương cấp bậc theo số ngày nghỉ còn lại mà người đó chưa
nghỉ.
- Chế độ trả lương khi ngừng việc:
Áp dụng cho người lao động làm việc thường xuyên buộc phải ngừng
làm việc, có thể do nguyên nhân chủ quan hay khách quan thì người lao động
vẫn được hưởng lương. Tuy nhiên, tiền lương nhận được nhỏ hơn mức thông
thường. Cụ thể từng trường hợp có mức lương được quy định như sau:
+ 70% lương khi không làm việc.
+ ít nhất 80% lương nếu phải làm công việc khác có mức lương thấp
hơn.
+ 100% lương nếu ngừng việc do sản xuất hay chế thử.
Cách tính lương này được thống nhất cho tất cả mọi lao động theo %
trên mức lương cấp bậc công việc kể cả phụ cấp.
- Chế độ trả lương khi làm ra sản phẩm hỏng, sản phẩm xấu:
Áp dụng với trường hợp người lao động làm ra sản phẩm hỏng, xấu quá

tỷ lệ quy định.
Cách tính: với mỗi trường hợp, ngưòi lao động được hưởng:
+ 0% tiền lương nếu làm ra sản phẩm hỏng, xấu quá quy định.
+ 70% tiền lương nếu làm ra sản phẩm xấu
Vũ Thị Thanh Nga

15

Lớp K39/21.08


+ 100% tiền lương nếu là chế thử, sản xuất thử.
+ Nếu sửa lại hàng xấu thì người lao động được hưởng lương theo sản
phẩm nhưng không được hưởng lương cho thời gian sửa sản phẩm.
*Chế độ phụ cấp lương:
Theo điều IV – nghị định 26CP ngày 23/5/1993 quy định có 7 loại phụ
cấp sau:
- Phụ cấp khu vực: áp dụng với những nơi xa xôi, hẻo lánh, có nhiều
khó khăn và khí hậu xấu. Phụ cấp gồm 7 mức: 0,1; 0,2 ; 0,3 ; 0,4 ; 0,5 ; 0,7 ;
và 1,0 so với mức lương tối thiểu.
- Phụ cấp độc hại nguy hiểm: áp dụng đối với nghề hoặc công việc có
điều kiện lao động độc hại nguy hiểm chưa được xác định trong mức lương.
Phụ cấp gồm 4 mức: 0,1 ; 0,2 ; 0,3 ; và 0,4 so với mức lương tối thiểu.
- Phụ cấp trách nhiệm: áp dụng đối với một số nghề hoặc công việc
đòi hỏi trách nhiệm cao, hoặc phải kiêm nhiệm công tác quản lý không thuộc
chức
vụ lãnh đạo. Phụ cấp gồm 3 mức: o,1 ; 0. 2 ; 0,3 so với mức lương tối thiểu.
- Phụ cấp làm thêm: áp dụng đối với công nhân viên chức làm việc từ
22h 00 đến 6h00 sáng. Phụ cấp gồm 2 mức:
+ 30% tiền lương cấp bậc hoặc chức vụ đối với công việc không

thường xuyên làm việc vào ban đêm.
+ 40% tiền lương cấp bậc hoặc chức vụ đối với công việc thường
xuyên làm việc theo ca (chế độ làm việc 3 ca) hoặc chuyên làm việc ban đêm.
- Phụ cấp thu hút: áp dụng đối với công nhân viên chức đến làm việc ở
những vùng kinh tế mới, cơ sở kinh tế và hải đảo xa đất liền, có điều kiện sinh
hoạt khó khăn do chưa có cơ sở hạ tầng. Phụ cấp gồm 4 mức: 20%; 30%;
50%; và 70% mức lương cấp bậc hoặc chức vụ. Thời gian hưởng từ 1 đến 3
năm .
- Phụ cấp đắt đỏ: áp dụng đối với những nơi có chỉ số gia sinh hoạt
(lương thực, thực phẩm, dịch vụ) cao hơn chỉ số giá sinh hoạt bình quân

Vũ Thị Thanh Nga

16

Lớp K39/21.08


chung của cả nước từ 10% trở lên. Phụ cấp gồm 5 mức: 0,1; 0,15; 0,2; 0,25 và
0,3 so với mức lương tối thiểu.
- Phụ cấp lưu động: áp dụng đối với một số nghề hoặc công việc phải
thường xuyên thay đổi địa điểm làm việc và nơi ở. Phụ cấp gồm 3 mức: 0,2;
0,4; và 0,6 so với mức lương tối thiểu.
*Chế độ trả lương khi làm thêm:
Theo điều V – nghị định 26CP ngày 23/5/1993 quy định: khi làm thêm
ngoài giờ tiêu chuẩn quy định thì giờ làm thêm được trả bằng 150% tiền
lương giờ tiêu chuẩn nếu làm thêm vào ngày thường và được trả bằng 200%
tiền lương giờ tiêu chuẩn nếu làm thêm vào ngày nghỉ tuần hoặc ngày lễ.
*Chế độ tiền thưởng:
Chúng ta đều biết, tiền thưởng thực chất là khoản tiền lương nhằm quán

triệt đầy đủ hơn nguyên tắc phân phối theo lao động. Vì vậy đây là khoản thu
nhập thêm nhằm khuyến khích ngưòi lao động trong sản xuất kinh doanh cho
nên các doanh nghiệp phải xây dựng một quy chế tiền thưởng sao cho phù
hợp với đơn vị mình. Chế độ tiền thưởng hiện hành gồm 2 loại: thưởng
thường xuyên và thưởng định kỳ.
- Thưởng thường xuyên gồm:
+ Thưởng tiết kiệm vật tư.
+ Thưởng do nâng cao chất lượng sản phẩm.
+ Thưởng do tăng năng suất lao động.
- Thưởng định kỳ:
+ Thưởng thi đua vào dịp cuối năm.
+ Thưởng sáng kiến, thưởng chế tạo sản phẩm mới.
+ Thưởng điển hình.
+ Thưởng nhân dịp lễ tết.
Việc áp dụng chế độ tiền thưởng một cách đúng đắn và hợp lý là điều
rất cần thiết để đảm bảo vai trò đòn bẩy kinh tế của tiền thưởng và tiết kiệm
chi phí. Vì vậy chế độ tiền thưởng cần phải tôn trọng các nguyên tắc sau:

Vũ Thị Thanh Nga

17

Lớp K39/21.08


+ Phải xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu, tầm quan trọng của sản xuất hay
công việc mà áp dụng hình thức hay chế độ thưởng thích hợp.
+ Phải đảm bảo quan hệ giữa chỉ tiêu chất lượng và số lượng.
+ Tiền thưởng không vượt quá số tiền làm lợi.
1. 2. 2. Quỹ lương

Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền lương của doanh
nghiệp dùng để trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và
sử dụng. Quỹ này bao gồm các khoản sau:
- Tiền lương tính theo thời gian, tiền công tính theo sản phẩm và tiền
lương khoán.
- Tiền lương trả cho người lao động khi làm ra sản phẩm hỏng trong quy
định.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
nguyên nhân khách quan (mưa, bão, lũ lụt, thiếu nguyên vật liệu), trong thời
gian được điều động công tác làm nghĩa vụ theo chế độ quy định, thời gian
nghỉ phép, thời gian đi học.
- Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ.
- Các khoản tiền lương có tính chất thường xuyên.
Khi lập kế hoạch về quỹ lương, doanh nghiệp còn phải tính các khoản:
trợ cấp, BHXH cho công nhân viên khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động…
Tuy nhiên cần lưu ý là quỹ lương không bao gồm các khoản tiền thưởng
không thường xuyên như: phát minh, sáng chế, các khoản trợ cấp không
thường xuyên như: trợ cấp khó khăn đột xuất, công tác phí, học bổng hoặc
sinh hoạt phí của học sinh, sinh viên, bảo hộ lao động.
Về phương diện hạch toán, tiền lương cho công nhân viên trong doanh
nghiệp sản xuất được chia làm 2 loại: tiền lương chính và tiền lương phụ.
+ Tiền lương chính là tiền lương phải trả cho công nhân viên trong thời
gian công nhân viên thực hiện nhiệm vụ chính của họ, nghĩa là thời gian có
tiêu hao thực sự sức lao động bao gồm: tiền lương trả theo cấp bậc và các

Vũ Thị Thanh Nga

18

Lớp K39/21.08



khoản phụ cấp kèm theo (phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp làm
đêm, làm thêm giờ …).
+ Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho công nhân viên trong thời gian
thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ và thời gian công viên
được nghỉ theo đúng chế độ (nghỉ phép, nghỉ lễ, đi học, đi họp, nghỉ vì ngừng
sản xuất …). Ngoài ra tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất sản phẩm
hỏng trong phạm vi chế độ quy định được xếp vào lương phụ.
Việc phân chia lương thành lương chính và lương phụ có ý nghĩa quan
trọng đối với công tác kế toán và phân tích tiền lương trong giá thành sản
xuất. Tiền lương của công nhân sản xuất gắn liền với quá trình làm ra sản
phẩm và được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm.
Tiền lương phụ của công nhân sản xuất không gắn liền với từng loại sản phẩm
theo một tiêu chuẩn phân bổ nhất định.
Quản lý chi tiêu quỹ tiền lương phải nằm trong mối quan hệ với việc
thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị nhằm vừa chi tiêu tiết
kiệm hợp lý quỹ tiền lương, vừa đảm bảo hoàn thành và hoàn thành vượt mức
kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp.
1. 2. 3. Quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn
Ngoài tiền lương trả cho người lao động theo chế độ hiện hành doanh
nghiệp còn phải nộp các quỹ như: quỹ bảo hiểm xã hội, nhằm đảm bảo vật
chất góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi họ gặp rủi ro, còn quỹ
bảo hiểm y tế nhằm tài trợ cho việc phòng và chăm sóc sức khỏe cho người
lao động. Lập nguồn kinh phí công đoàn để chăm lo bảo vệ quyền lợi cho
người lao động.
*Quỹ bảo hiểm xã hội:
Trong cuộc sống hàng ngày, con người không tránh khỏi rủi ro về kinh
tế, về tinh thần. Chính vì nhu cầu này mà nảy sinh nhiều cơ chế bảo hiểm.
Quỹ bảo hiểm xã hội cũng ra đời trên cơ sở đó. Quỹ bảo hiểm xã hội được

thiết lập nhằm tạo ra nguồn vốn tài trợ cho người lao động trong những
trường hợp:
Vũ Thị Thanh Nga

19

Lớp K39/21.08


+ Trợ cấp thai sản cho người lao động nữ có thai, sinh con. Trợ cấp
bằng 75% lương
+ Trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp do người lao động bị
tai nạn lao động tiền trợ cấp bằng 100% tiền lương trong quá trình điều trị,
ngoài ra còn được hưởng chế độ khác…
+ Trợ cấp chế độ hưu trí…
+ Chi chế độ tử tuất cho nhân thân người lao động trong trường hợp
người lao động bị chết.
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp (chức vụ, khu
vực...) của công nhân viên chức thực tế phát sinh trong tháng theo chế độ hiện
hành, tỷ lệ trích bảo hiểm xã hội là 20%, cụ thể:
+ 15% cho đơn vị hoặc chủ sử dụng lao động nộp và được tính vào chi
phí kinh doanh.
+ 5% còn lại do người lao động đóng góp và được trừ vào lương tháng.
Quỹ BHXH do cơ quan BHXH quản lý thống nhất theo chế độ tài
chính của nhà nước, hạch toán độc lập và được nhà nước bảo hộ. Hàng tháng
doanh nghiệp phải nộp toàn bộ các khoản BHXH đã trích cho cơ quan quản lý
quỹ. Nếu ở doanh nghiệp xảy ra trường hợp người lao động ốm đau, thai
sản…được hưởng trợ cấp BHXH thì doanh nghiệp sẽ tiến hành chi BHXH
cho người lao động thay cơ quan BHXH. Sau đó, doanh nghiệp sẽ nộp toàn

bộ các chứng từ gốc hợp lệ có liên quan cho cơ quan này xét duyệt và thanh
toán cho đơn vị.
*Quỹ bảo hiểm y tế:
Bảo hiểm y tế thực chất là trợ cấp về y tế cho người tham gia bảo hiểm
nhằm giúp họ một phần nào đó trang trải tiền khám chữa bệnh, tiền vịên phí,
tiền thuốc thang. Mục đích chính của BHYT là tạo một mạng lưới bảo vệ sức
khoẻ cho toàn cộng đồng.
Quỹ BHYT được hình thành từ sự đóng góp của người tham gia bảo
hiểm và một phần hỗ trợ của nhà nước. Quỹ này được hình thành bằng cách
Vũ Thị Thanh Nga

20

Lớp K39/21.08


trích theo tỷ lệ quy định của chế độ tài chính hiện hành trên tổng số tiền lương
cơ bản của CNVtrong tháng. Hiện nay, tỷ lệ này là 3% tổng quỹ lương cơ bản
của doanh nghiệp, trong đó 2% doanh nghiệp được tính vào chi phí sản xuất
kinh doanh trong kỳ, 1% còn lại tính trừ vào thu nhập của người lao động.
Quỹ BHYT được nộp toàn bộ cho cơ quan chuyên môn chuyên trách
(dưới hình thức mua thẻ bảo hiểm y tế cho người lao động) để thanh toán các
khoản tiền khám chữa bệnh, viện phí, thuốc thang…cho người lao động trong
thời gian ốm đau, sinh đẻ…
*Kinh phí công đoàn:
Công đoàn là một tổ chức của đoàn thể đại diện cho người lao động. Công
đoàn là tổ chức được lập nên đại diện cho người lao động đứng lên đấu tranh bảo
vệ quyền lợi cho người lao động. Nhưng bên cạnh đó thì công đoàn cũng là người
trực tiếp hướng dẫn và điều chỉnh thái độ của người lao động với công việc…
Quỹ này hình thành do việc trích lập và tính vào chi phí sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp hàng tháng theo một tỷ lệ quy định trên tổng số tiền
lương thực tế phải trả cho công nhân viên trong kỳ nhằm tạo ra nguồn kinh
phí cho hoạt động công đoàn của đơn vị. Theo chế độ tài chính hiện hành, tỷ
lệ trích nộp kinh phí công đoàn của doanh nghiệp là 2% tiền lương thực tế của
công nhân viên trong tháng. Trong đó, doanh nghiệp được phép giữ lại 1% để
chi tiêu cho hoạt động công đoàn cơ sở, 1% còn lại phải nộp lên cơ quan quản
lý công đoàn cấp trên.
Tiền lương phải trả cho người lao động cùng các khoản trích BHYT,
BHXH, KPCĐ hợp thành chi phí nhân công trong tổng chi phí sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Do vậy, các doanh nghiệp cần thiết phải tính đúng,
tính đủ tiền lương và các khoản trích theo lương nói trên và có biện pháp quản
lý, sử dụng khoa học để có thể giảm chi phí nhân công, giảm giá thành sản
phẩm mà không ảnh hưởng đến chất lượng sản xuất.

Vũ Thị Thanh Nga

21

Lớp K39/21.08


1. 3. THANH TOÁN LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG, TÍNH LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN
PHẢI TRẢ CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1. 3. 1. Phân loại lao động
Để tạo điều kiện cho việc quản lý, huy động sử dụng vốn hợp lý thì cần
thiết phải phân loại công nhân viên của doanh nghiệp. Tuỳ thuộc vào từng loại
hình doanh nghiệp cụ thể thuộc các ngành sản xuất khác nhau. Căn cứ vào việc
tổ chức quản lý, sử dụng và trả lương, lực lượng lao động trong doanh nghiệp
được chia làm 2 loại: công nhân viên trong danh sách và công nhân viên ngoài

danh sách.
*Công nhân viên trong danh sách: Là những người được đăng ký trong
danh sách lao động của doanh nghiệp do doanh nghiệp quản lý và trả lương.
Theo quy định hiện hành, công nhân viên trong danh sách bao gồm những người
trực tiếp sản xuất từ một ngày trở lên và người không trực tiếp sản xuất từ năm
ngày trở lên.
Công nhân viên trong danh sách được phân chia thành các loại lao động
khác nhau theo 2 tiêu thức khác nhau sau:
- Nếu căn cứ vào tính liên tục của thời gian làm việc công nhân viên trong
danh sách gồm công nhân viên thường xuyên và công nhân viên tạm thời. Trong
đó:
+ Công nhân viên thường xuyên là những người được tuyển dụng chính
thức làm việc lâu dài cho doanh nghiệp và những người tuy chưa được tuyển
dụng chính thức nhưng làm việc thường xuyên và liên tục.
+ Công nhân viên tạm thời làm việc cho doanh nghiệp theo hợp đồng
lao động trong đó quy định rõ thời gian làm việc.
- Nếu căn cứ vào tính chất hoạt động sản xuất, công nhân viên trong
danh sách được chia thành công nhân viên sản xuất kinh doanh cơ bản và
công nhân viên thuộc các hoạt động khác:
+ Công nhân viên sản xuất kinh doanh cơ bản là những người trực tiếp
hay gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh chính ở doanh

Vũ Thị Thanh Nga

22

Lớp K39/21.08


nghiệp gồm: công nhân chính, công nhân phụ, nhân viên kỹ thuật, nhân viên

quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính …
+ Công nhân viên thuộc các hoạt động khác là những người tham gia
vào các hoạt động phục vụ gián tiếp cho quá trình sản xuất kinh doanh trong
doanh nghiệp như: công nhân viên xây dựng cơ bản, công nhân viên vận tải,
những công nhân viên hoạt động trong các lĩnh vực dịch vụ, nhà ăn …
*Công nhân viên ngoài danh sách: là những người tham gia làm việc tại
doanh nghiệp nhưng không thuộc quyền quản lý và trả lương của doanh
nghiệp. Họ là những người do đơn vị khác gửi đến như: Thợ học nghề, sinh
viên thực tập, cán bộ chuyên trách công tác đoàn thể, phạm nhân lao động cải
tạo …
Các doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến công nhân viên trong danh
sách vì đây là bộ phận quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Còn những công nhân viên ngoài danh sách chỉ chiếm tỷ trọng
rất nhỏ trong lực lượng lao động.
Tuy nhiên, để quản lý, huy động và sử dụng lao động hợp lý thì việc
phân loại lao động như trên là chưa đủ. Các doanh nghiệp cần phải quản lý
lao động theo trình độ kỹ thuật, trình độ tay nghề của từng công nhân viên, để
từ đó có sự phân công sắp xếp lao động trong doanh nghiệp cho phù hợp với
năng lực của mỗi người.
1.3.2. Hạch toán lao động
Để quản lý và sử dụng lao động ở doanh nghiệp, nhất thiết phải tiến
hành hạch toán lao động. Đây một loại hạch toán nghiệp vụ nhằm mục đích
cuối cùng là giúp doanh nghiệp tìm ra được các biện pháp thích hợp để quản
lý và sử dụng lao động một cách có hiệu quả, bao gồm các nội dung: hạch
toán số lượng lao động, hạch toán thời gian lao động và hạch toán kết quả lao
động:
*Hạch toán số lượng lao động:
Các doanh nghiệp thường sử dụng “Sổ danh sách lao động”để quản lý về
số lượng từng loại lao động theo tính chất công việc và theo trình độ kỹ thuật cấp
Vũ Thị Thanh Nga


23

Lớp K39/21.08


bậc của công nhân viên. Sổ này thường do phòng tổ chức lao động tiền lương lập
(cho toàn doanh nghiệp và cho từng bộ phận). Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn
căn cứ vào sổ lao động (mở riêng cho từng người lao động) để quản lý nhân sự
cả về số lượng và chất lượng lao động, về biến động và chấp hành chế độ đối với
lao động.
*Hạch toán thời gian lao động:
Hạch toán thời gian lao động là hạch toán việc sử dụng thời gian đối
với từng công nhân viên ở từng bộ phận, tổ, phòng ban trong doanh nghiệp
nhằm quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp.
Chứng từ sử dụng để hạch toán lao động là “Bảng chấm công”Mẫu số
01-LĐ - TL. Bảng này được lập riêng cho từng bộ phận, tổ, đội lao động và
mỗi tháng được lập một tờ theo dõi từng ngày làm việc. Bảng chấm công
được dùng để ghi chép thời gian làm việc thực tế và vắng mặt của công nhân
viên trong tổ đội theo từng nguyên nhân. Trong bảng chấm công ghi rõ ngày
được nghỉ theo quy định những ngày lễ, tết, chủ nhật. Mọi sự vắng mặt của
người lao động được ghi rõ ràng. Cuối tháng, tổ trưởng (trưởng phòng) tổng
hợp tình hình sử dụng lao động số có mặt, số vắng mặt theo từng nguyên nhân
sau đó cung cấp cho phòng kế toán phân xưởng. Nhân viên kế toán phân
xưởng kiểm tra, xác nhận hàng ngày trên bảng chấm công sau đó tập hợp báo
cáo cho phòng lao động tiền lương, cuối tháng bảng này chuyển cho phòng kế
toán để tính tiền lương. Hạch toán thời gian nghỉ do ốm đau, thai sản … tai
nạn lao động hoặc phiếu nghỉ, con ốm do bệnh viên, bác sĩ cấp và xác nhận
sau đó chứng từ này được chuyển lên phòng kế toán làm căn cứ để ghi vào
bảng chấm công.

*Hạch toán kết quả lao động:
Hạch toán kết quả lao động là việc theo dõi, ghi chép kết quả lao động
của công nhân viên chức, biểu hiện bằng số lượng công việc, khối lượng sản
phẩm, công việc đã hoàn thành của từng người hay từng tổ, nhóm lao động.
Để hạch toán kết quả lao động, kế toán sử dụng các loại chứng từ ban đầu
khác nhau tuỳ theo loại hình và đặc điểm sản xuất của từng doanh nghiệp. Tuy
Vũ Thị Thanh Nga

24

Lớp K39/21.08


khác nhau về mẫu, nhưng các chứng từ này đều bao gồm các nội dung: tên công
nhân, tên công việc hoặc sản phẩm, thời gian lao động, số lượng sản phẩm hoàn
thành nghiệm thu và chất lượng công việc hoàn thành …Đó chính là các báo cáo
về kết quả sản xuất như: “Phiếu giao nhận sản phẩm”, “Bảng khoán”, “Hợp đồng
giao khoán”, “Bảng kê năng suất tổ”, “Bảng kê khối lượng công việc hoàn
thành”…Các chứng từ này đều phải do người lập (tổ trưởng) ký, cán bộ kiểm tra
kỹ thuật xác nhận, lãnh đạo bộ phận duyệt y, sau đó được chuyển cho nhân viên
hạch toán đội sản xuất để tổng hợp kết quả lao động toàn đội rồi chuyển về phòng
tiền lương xác nhận. Cuối cùng chuyển về phòng kế toán doanh nghiệp để làm
căn cứ tính lương, tính thưởng.
Tại mỗi đội thi công, nhân viên hạch toán đội phải mở sổ tổng hợp
kết quả lao động, ghi kết quả cho từng người, từng bộ phận vào sổ và
cộng sổ, lập báo cáo kết quả lao động gửi cho các bộ phận quản lý liên
quan. Phòng kế toán doanh nghiệp cũng phải mở sổ tổng hợp kết quả lao
động để tổng hợp kết quả chung cho toàn doanh nghiệp.
1.3.3. Tính lương và các khoản phải trả cho người lao động
Mỗi doanh nghiệp dựa vào điều kiện đơn vị, về đặc điểm sản xuất

kinh doanh, về đặc điểm lao động để áp dụng hình thức trả lương cho phù
hợp với đơn vị mình. Mỗi hình thức trả lương trong đơn vị đều có mục
đích tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm
bảo làm sao cho người lao động hăng hái tham gia làm việc vời ý thức cao
nhất.
Vì vậy việc áp dụng hình thức tiền lương nào, cách tính tiền lương
ra sao để đảm bảo nguyên tắc phân phối lao động là yêu cầu đặt ra trong
công tác quản lý lao động và tiền lương trong mỗi doanh nghiệp. Hơn
nữa, mỗi doanh nghiệp từ lãnh đạo đến công nhân phải tìm mọi cách để
tăng thu nhập của mình cũng như của toàn doanh nghiệp sao cho mức
lương họ nhận được từ doanh nghiệp đảm bảo cho họ có thể sống và hoà
nhập với xã hội.

Vũ Thị Thanh Nga

25

Lớp K39/21.08


×