BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THÙY LINH
VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THÙY LINH
VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN ĐÌNH KHÔI NGUYÊN
Đà Nẵng – Năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thùy Linh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài...................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 2
5. Bố cục đề tài........................................................................................ 2
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ............................................................ 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC............................................................................. 6
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC .......................................................................................................... 6
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị ........................................................... 6
1.1.2 Đặc điểm hoạt động của các trường đại học ................................ 7
1.1.3 Sự cần thiết của kế toán quản trị trong các trường đại học ........ 11
1.2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
CÔNG LẬP ..................................................................................................... 12
1.2.1 Đặc điểm công tác quản lý tài chính của trường đại học công lập.... 12
1.2.2 Ảnh hưởng của cơ chế quản lý tài chính đối với công tác kế toán
quản trị trong các trường đại học công lập ..................................................... 14
1.3 VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
CÔNG LẬP ..................................................................................................... 17
1.3.1 Xây dựng dự toán......................................................................... 17
1.3.2 Kiểm tra, đánh giá thực hiện dự toán........................................... 21
1.3.3 Thông tin thích hợp cho việc ra quyết định................................. 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1................................................................................ 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG .............................................. 26
2.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ........ 26
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ............................................... 26
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng hoạt động...................................... 27
2.1.3 Đặc điểm phân cấp quản lý tài chính........................................... 30
2.1.4 Tổ chức công tác kế toán tại Trường Đại học Kinh tế ................ 32
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ........................................................ 36
2.2.1 Công tác lập dự toán .................................................................... 37
2.2.2 Kiểm tra, kiểm soát, đánh giá tình hình thực hiện dự toán.......... 51
2.2.3 Cung cấp thông tin thích hợp cho việc ra quyết định.................. 55
2.2.4 Đánh giá thực trạng kế toán quản trị tại Trường Đại học Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng ............................................................................................. 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2................................................................................ 60
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG ...................................................... 61
3.1 TÍNH TẤT YẾU VÀ YÊU CẦU VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
ĐỐI VỚI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ..................................................... 61
3.2 TỔ CHỨC VẬN DỤNG VÀ HOÀN THIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG KẾ
TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ............................. 63
3.2.1 Tổ chức vận dụng công tác kế toán quản trị tại Trường Đại học
Kinh tế, Đại học Đà Nẵng ............................................................................... 63
3.2.2 Hoàn thiện một số nội dung kế toán quản trị tại Trường Đại học
Kinh tế, Đại học Đà Nẵng ............................................................................... 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3................................................................................ 90
KẾT LUẬN .................................................................................................... 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 92
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH
: Ban Giám hiệu
BHXH
: Bảo hiểm xã hội
BHYT
: Bảo hiểm y tế
BHTN
: Bảo hiểm thất nghiệp
CBVC
: Cán bộ viên chức
CNV
: Công nhân viên
CQ
: Chính quy
CTSV
: Công tác sinh viên
DT
: Dự toán
ĐHĐN
: Đại học Đà Nẵng
ĐHKT
: Đại học Kinh tế
Đoàn TN
: Đoàn thanh niên
GVC
: Giảng viên chính
HCSN
: Hành chính sự nghiệp
HCTH
: Hành chính tổng hợp
HĐSN
: Hoạt động sự nghiệp
HP
: Học phí
HSSV
: Học sinh sinh viên
KP
: Kinh phí
KPCĐ
: Kinh phí công đoàn
KTQT
: Kế toán quản trị
KTTC
: Kế toán tài chính
NCKH
: Nghiên cứu khoa học
NSNN
: Ngân sách nhà nước
SĐH
: Sau đại học
SV
: Sinh viên
SL
: Số lượng
TK
: Tài khoản
TSCĐ
: Tài sản cố định
VPP
: Văn phòng phẩm
VHVL
: Vừa học vừa làm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Tên bảng
Trang
2.1
Danh mục và mẫu báo cáo kế toán được áp dụng tại
Trường Đại học Kinh tế
35
2.2
Dự toán Ngân sách nhà nước cấp năm 2013 (Dự toán
giao chi Ngân sách nhà nước năm 2013)
40
2.3
Dự toán giao chi Ngân sách nhà nước năm 2013 (Dự
toán Ngân sách nhà nước cấp năm 2013)
41
2.4
Dự toán nguồn thu sự nghiệp năm 2013
42
2.5
Dự toán nguồn thu khác năm 2013
44
2.6
Dự toán chi lương, phụ cấp và các khoản đóng góp năm
2013
45
2.7
Dự toán các khoản chi thanh toán cá nhân năm 2013
46
2.8
Dự toán các khoản chi về hàng hóa, dịch vụ năm 2013
48
2.9
Dự toán chi đầu tư phát triển năm 2013
49
2.10
Dự toán các khoản chi khác năm 2013
49
2.11
Dự toán trích lập các Quỹ và phân phối kết quả tài chính
2013
50
2.12
Bảng báo cáo dự toán thu, chi thường xuyên năm 2012
53
2.13
Dự toán đơn giá giờ giảng vượt chuẩn, p.cấp phục vụ,
thu nhập tăng thêm và phúc lợi trung bình CBVC năm
2013
57
2.14
Dự toán kết quả tài chính của lớp 34K2HCM
58
3.1
Dự toán chi thường xuyên theo quý năm 2013
69
3.2
Bảng dự toán linh hoạt chi phí mở lớp học lại tại ĐH
Phạm Văn Đồng
71
3.3
Bảng dự toán linh hoạt chi phí tuyển dụng cán bộ giảng
dạy năm 2013
72
3.4
Báo cáo kiểm soát các khoản mục chi thanh toán cá
nhân năm 2012
76
3.5
Báo cáo kiểm soát kết quả hoạt động tài chính năm 2012
77
3.6
Báo cáo chấp hành dự toán năm 2012
78
3.7
Bảng tổng hợp dự toán các khoản thu năm 2013
83
3.8
Bảng tổng hợp dự toán các khoản chi năm 2013
84
3.9
Bảng tổng hợp kết quả hoạt động theo Khoa đào tạo
năm 2013
85
3.10
Bảng phân tích chi lương, chi tiền giảng bình quân của
giáo viên theo Khoa năm 2013
86
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
Tên Sơ đồ
Trang
1.1
Quy trình lập dự toán của Trường Đại học công lập
18
2.1
Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Kinh tế
28
2.2
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại Trường ĐHKT
33
2.3
Quy trình lập dự toán tại Trường ĐHKT
38
2.4
Nội dung lập dự toán tại Trường ĐHKT
39
3.1
Mô hình tổ chức bộ máy KTQT kết hợp với KTTC
63
3.2
Quy trình lập dự toán của Trường Đại học Kinh tế
68
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, với sự phát triển không ngừng của nền kinh
tế thì các đơn vị hành chính sự nghiệp dưới sự quản lý của nhà nước cũng
từng bước đổi mới cách thức quản lý hoạt động của mình theo xu hướng từng
bước nâng cao tính tự chủ về tài chính. Việc quản lý tài chính ở các trường
đại học công lập cũng nằm trong quá trình đó. Trước đây, nguồn tài chính của
các trường đại học công lập chỉ chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước cấp nên
các đơn vị thường trông chờ, ỷ lại. Cơ chế quản lý thu, chi còn lỏng lẻo, bất
cập, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của đơn vị.
Trước tình hình đó, Nhà nước đã đưa ra chương trình cải cách nền tài
chính công, trong đó có ban hành cơ chế quản lý tài chính mới theo Nghị định
43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu
theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Nghị định ban hành trong tình hình
nguồn kinh phí dành cho các trường có hạn, trong khi đó nguồn chi lại tăng
cao do hàng năm phải tăng lương theo lộ trình của Chính phủ. Vì vậy, để cơ
chế mới phát huy tác dụng thì các đơn vị phải nghiên cứu cách thức quản lý
tài chính phù hợp với đơn vị mình để vừa phát huy được tính chủ động, sáng
tạo, vừa đáp ứng kịp thời, hiệu quả các hoạt động.
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng là đơn vị sự nghiệp có thu
hiện đang áp dụng cơ chế quản lý tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP.
Nguồn kinh phí của Trường trong mấy năm gần đây rất hạn hẹp trong khi nhu
cầu chi tiêu của Trường lại tăng cao. Rõ ràng nhà Trường muốn đứng vững và
phát triển thì phải sử dụng các nguồn lực có hiệu quả để tạo ra sản phẩm đào
tạo đạt chất lượng cao. Đó là công việc của lãnh đạo đơn vị, mà điều này phụ
thuộc rất nhiều vào thông tin do kế toán cung cấp. Tuy nhiên, các nghiên cứu
2
hiện nay về vận dụng kế toán quản trị trong các đơn vị phi lợi nhuận, trong đó
có trường học còn quá khiêm tốn. Ngoài ra trên phương diện lý luận, kế toán
quản trị chưa được đề cập trong các thông tư hướng dẫn ở các đơn vị trường
học. Trong bối cảnh đó, tác giả đã chọn đề tài “Vận dụng kế toán quản trị
tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp với
mong muốn đưa ra cái nhìn tổng quát về những nội dung kế toán quản trị có
thể được vận dụng trong các trường đại học công lập, thực trạng đã áp dụng
để từ đó góp phần quản lý tài chính hiệu quả hơn trong bối cảnh hiện nay.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nhận diện các biểu hiện của việc vận dụng kế toán quản trị tại Trường
Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
- Đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm vận dụng kế toán quản
trị tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung kế toán quản trị được vận dụng cho
các trường đại học công lập.
- Phạm vi nghiên cứu: Số liệu và các vấn đề có liên quan được xem xét
trong năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau: phương
pháp phỏng vấn, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp nghiên cứu đối
chiếu để làm rõ các vấn đề lý luận của kế toán quản trị, thực trạng và hướng
vận dụng kế toán quản trị tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng.
Ngoài ra, luận văn còn kế thừa các kiến thức, kinh nghiệm tiếp thu
được từ các tài liệu, công trình nghiên cứu về lĩnh vực có liên quan đến đề tài.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày thành 3 chương:
3
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị trong các trường đại học
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị tại Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Đà Nẵng
Chương 3: Vận dụng kế toán quản trị tại Trường Đại học Kinh tế, Đại
học Đà Nẵng
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kế toán quản trị ngày càng có vai trò quan trọng trong các tổ chức dù
hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận bởi vì bất cứ tổ chức nào
cũng phải cần thông tin thích hợp do kế toán quản trị cung cấp trong việc
hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra kiểm soát và ra quyết định. Việc
nghiên cứu vận dụng kế toán quản trị tại các Trường cũng được nhiều tác giả
quan tâm nghiên cứu. Hầu hết trong các nghiên cứu đều tập trung vào ba nội
dung bao gồm: cơ sở lý luận về kế toán quản trị, thực trạng công tác kế toán
quản trị tại Trường và vận dụng kế toán quản trị tại đơn vị đó. Tuy nhiên, mỗi
luận văn đều có những điểm khác nhau về khả năng vận dụng kế toán quản trị
tại đơn vị.
Trong quá trình làm luận văn tôi đã tham khảo và sử dụng một số kết
quả nghiên cứu dưới đây để làm nền tảng lý luận được trình bày trong đề tài
của mình. Cụ thể như sau:
Đầu tiên có thể kể đến đó là đề tài : “Vận dụng kế toán quản trị vào các
trường chuyên nghiệp” của tác giả Dương Thị Cẩm Vân (2007) được nghiên
cứu và bảo vệ đề tài tại Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh. Đề tài này
tác giả đã đánh giá thực trạng kế toán tại các trường chuyên nghiệp (các
trường trung học chuyên nghiệp và cao đẳng), các nhân tố ảnh hưởng đến việc
vận dụng kế toán quản trị, nội dung và giải pháp vận dụng kế toán quản trị tại
các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận. Đề
tài đã chỉ rõ được những hạn chế của hệ thống kế toán tại một số trường
4
chuyên nghiệp. Từ đó, tác giả cho thấy cũng có một vài biểu hiện của kế toán
quản trị như tiến hành lập dự toán, xây dựng định mức chi phí và phân tích
quyết toán, tuy nhiên nội dung quá sơ sài và không thấy được vai trò quan
trọng của kế toán quản trị là cung cấp thông tin hữu ích cho việc lập kế hoạch,
tổ chức điều hành hoạt động, kiểm tra và ra quyết định. Trong quá trình thực
hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp chung là nghiên cứu lý luận về kế
toán quản trị theo quan điểm phát triển kết hợp xem xét tình hình thực tiễn kế
toán tại các đơn vị trường chuyên nghiệp để ứng dụng lý luận vào thực tiễn.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hường (2008) với đề tài: “Vận dụng kế
toán quản trị tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng” được nghiên
cứu và bảo vệ đề tài tại Đại học Đà Nẵng. Đề tài này, tác giả đã đánh giá được
tính thực tiễn về vận dụng kế toán quản trị đối với các trường đại học theo
quy chế tài chính mới, nhận diện biểu hiện của việc vận dụng kế toán quản trị
và đưa ra hướng vận dụng kế toán quản trị trong Trường Đại học Ngoại ngữ,
Đại học Đà Nẵng. Đề tài đã nêu rõ được những biểu hiện của kế toán quản trị
tại Trường Đại học Ngoại ngữ để từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện một số
nội dung kế toán quản trị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính cho đơn
vị. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên
cứu tổng kết lý luận, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp mô tả
so sánh để làm rõ các vấn đề về lý luận, thực trạng và định hướng vận dụng
kế toán quản trị trong Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng.
Cũng viết về trường đại học, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh (2012)
với đề tài: “Vận dụng kế toán quản trị tại Đại học Đà Nẵng” được nghiên cứu
và bảo vệ đề tài tại Đại học Đà Nẵng. Đề tài này tác giả đã đưa ra những nội
dung kế toán quản trị phù hợp có thể áp dụng đối với trường đại học công lập,
đánh giá những biểu hiện của việc vận dụng kế toán quản trị tại Đại học Đà
Nẵng và đưa ra những giải pháp tổ chức thực hiện kế toán quản trị tại Đại học
5
Đà Nẵng. Đề tài đã dựa vào thực trạng công tác kế toán tại Trường Đại học
Bách Khoa và Viện Anh ngữ để từ đó đưa ra giải pháp tổ chức thực hiện kế
toán quản trị tại Đại học Đà Nẵng cho nên giải pháp đưa ra cũng chủ yếu
hướng đến hai đơn vị trên chứ chưa thể khái quát được cho Đại học Đà Nẵng.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp chung là
nghiên cứu lý luận về kế toán quản trị theo quan điểm phát triển xem xét tình
hình thực tiễn về kế toán quản trị tại trường đại học công lập để ứng dụng lý
luận vào thực tiễn.
Qua nhận xét trên, tác giả nhận thấy các bài viết đã được nghiên cứu
chủ yếu đi sâu vào việc nhìn nhận thực trạng công tác kế toán tại đơn vị để từ
đó đưa ra giải pháp tổ chức thực hiện kế toán quản trị. Để nâng cao khả năng
vận dụng kế toán quản trị đối với các trường đại học trong giai đoạn mở cửa
hội nhập, cạnh tranh giữa các trường lớn thì tác giả đã nghiên cứu vận dụng
kế toán quản trị tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng nhằm khẳng
định thêm tính thiết thực của công tác kế toán này, qua đó cũng giúp nhà quản
lý chủ động trong công tác tài chính, có những quyết định mau chóng, kịp
thời nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo và khả năng cạnh tranh.
6
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1.1 Khái niệm kế toán quản trị
Có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị:
Theo Luật Kế toán Việt nam, Kế toán quản trị “là việc thu thập, xử lý,
phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và
quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” [15, tr.9].
Theo Viện nghiên cứu Kế toán quản trị của Mỹ, “Kế toán quản trị là
một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông
tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và
kiểm soát hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực
kinh tế, cải tiến và nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho tài sản,
kết hợp chặt chẽ việc quản trị và kiểm soát nội bộ”[2, tr.13].
Theo nhóm tác giả Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson thì “Kế
toán quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý
trong việc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của đơn vị. Hoạt động của kế
toán quản trị bao gồm việc thu thập, sắp xếp, phân loại, xử lý phân tích và báo
cáo thông tin cho các nhà quản trị. Không như thông tin do kế toán tài chính
cung cấp cho những người sử dụng bên ngoài đơn vị như nhà đầu tư, chủ nợ,
nhà cung cấp và cơ quan thuế, thông tin kế toán quản trị giúp cho việc ra
quyết định trong nội bộ đơn vị”[16, tr.1].
Kế toán quản trị đã từng xuất hiện rất lâu trong hệ thống kế toán doanh
nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị trường. Những năm cuối thế kỷ 18 và
7
đầu thế kỷ 19, kế toán quản trị đã xuất hiện trong hệ thống kế toán doanh
nghiệp. Đầu tiên kế toán quản trị xuất hiện dưới hình thức kế toán chi phí
trong doanh nghiệp sản xuất nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho những
nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp sản xuất kiểm soát chi phí, định hướng
sản xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh, chống đỡ sức ép từ những doanh
nghiệp sản xuất lớn. Sau đó, với thực tiễn hữu hiệu, hiệu quả, kế toán quản trị
bắt đầu được chú ý, áp dụng, phát triển nhanh trong những loại hình doanh
nghiệp khác và cả trong những tổ chức phi lợi nhuận như cơ quan của Nhà
nước, bệnh viện…[2, tr.13].
Ngày nay, kế toán quản trị bắt đầu chuyển sang một kỷ nguyên mới, rất
gần với quản trị, là một công cụ hợp nhất giữa chiến lược kinh doanh với thị
trường, hợp nhất giữa kiểm soát và thông tin phản hồi với thông tin định
hướng hay kế toán quản trị là một bộ phận thiết yếu của quản trị, kế toán
chiến lược. [2, tr.15].
Tóm lại, tùy thuộc vào các quan điểm khác nhau, có thể có những định
nghĩa khác nhau về kế toán quản trị. Tuy nhiên sự khác nhau là không nhiều.
Các định nghĩa trên đều nhìn nhận kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành
không thể tách rời của hệ thống kế toán, có nhiệm vụ tổ chức thông tin kế
toán trong đơn vị, KTQT có quan hệ chặt chẽ với KTTC trong việc sử dụng
số liệu kế toán chi tiết của KTTC, song KTQT không phải là kế toán chi tiết.
Có thể nói, nhìn từ góc độ phục vụ cho việc quản lý và ra quyết định thì kế
toán quản trị là công việc ghi chép, thu thập, đo lường, phân tích và xử lý các
thông tin kinh tế tài chính nhằm phục vụ cho các nhà quản lý doanh nghiệp
trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh.
1.1.2 Đặc điểm hoạt động của các trường đại học
Khi nói đến kế toán quản trị chúng ta thường nghĩ ngay đó là công việc
của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh vì ở đó mới thực hiện mục tiêu lợi
8
nhuận, cần phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, phân tích lời lỗ,… Còn đối
với các trường đại học, theo quan điểm từ trước đến nay có nhiều điểm khác
biệt đối với doanh nghiệp mà về cơ bản là hoạt động không vì mục tiêu lợi
nhuận, hoạt động để thực hiện mục tiêu chính trị, xã hội được Nhà nước giao
phó. Vì vậy, việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường đại học không phải
là điều dễ dàng. Khi vận dụng KTQT cần xem xét các đặc điểm sau:
a. Đặc điểm về đào tạo
Thứ nhất là, đặc điểm về sản phẩm đào tạo: sản phẩm của trường là
đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức tích tụ qua quá trình học tập để có thể
làm việc. Sản phẩm của trường đại học có tính đa ngành, đa lĩnh vực, nhiều
cấp bậc và nhiều hệ đào tạo. Trường đại học có thể mở rộng địa bàn trên cả
nước và có thể liên kết đào tạo với các nước trên thế giới miễn là hoạt động
đúng chức năng, nhiệm vụ và pháp luật cho phép. Trường đại học được quyền
điều chỉnh chỉ tiêu tuyển sinh từ ngành này sang ngành khác để sản phẩm của
trường đáp ứng được nhu cầu xã hội trong từng giai đoạn.
Điều này đặt ra vấn đề cho nhà quản lý là làm sao phải tính toán mở
ngành đào tạo, hệ đào tạo hợp lý theo từng giai đoạn, nâng cao chất lượng đào
tạo nhằm tạo ra sản phẩm tốt nhất đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong
điều kiện nguồn lực của Trường có hạn. Trường phải tạo ra được sản phẩm
đào tạo có thương hiệu riêng để có thể cạnh tranh và đứng vững trong xu thế
cạnh tranh và toàn cầu hóa giáo dục đại học hiện nay.
Thứ hai là, đặc điểm về quá trình đào tạo: quá trình tạo ra sản phẩm
trong trường đại học khác với doanh nghiệp. Để đào tạo được nguồn nhân lực
chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội thì các trường đại học phải có
những điều kiện sau:
§ Về cơ sở vật chất: có phòng học theo tiêu chuẩn, thư viện được trang
bị đủ đầu sách và mạng thông tin được kết nối để người học và người dạy có
9
thể truy cập dễ dàng, có phòng thực hành đạt tiêu chuẩn theo chương trình
giảng dạy của các ngành,… Điều này đòi hỏi phải có đầu tư ban đầu đủ lớn và
chi phí cố định rất lớn.
§ Về con người: có đủ trình độ và năng lực để đảm nhận việc giảng dạy,
nghiên cứu khoa học và quản lý theo chuẩn quy định. Lực lượng cán bộ giảng
dạy cơ hữu chiếm tỷ lệ và quyết định số lượng tuyển sinh. Do vậy, có quan hệ
giữa quy mô sinh viên – giáo viên ở cơ sở đào tạo.
§ Khung chương trình: các ngành, các hệ đều có khung chương trình đã
được kiểm duyệt theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
§ Tổ chức công tác giảng dạy: một cách khoa học, đúng quy chế và có
sự linh hoạt.
Điều này đặt ra vấn đề là các nhà quản trị trường đại học phải tính toán,
cân đối nguồn tài chính hiện có, tìm kiếm thêm nguồn lực tài chính để đầu tư
cơ sở vật chất, tổ chức bộ máy biên chế, khuyến khích cán bộ giảng dạy nâng
cao trình độ để đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu dạy học.
b. Đặc điểm về tài chính
Thứ nhất là, đặc điểm về nguồn thu: ở Việt Nam, nguồn thu của các
trường đại học được huy động từ 3 nguồn tài chính sau:
§ Nguồn ngân sách nhà nước cấp: bao gồm kinh phí thường xuyên và
kinh phí không thường xuyên. Nguồn tài chính này chỉ có đối với các trường
đại học công lập.
§ Nguồn thu sự nghiệp bao gồm: thu học phí, lệ phí từ người học theo
quy định của nhà nước; thu từ các hoạt động hợp tác đào tạo, nghiên cứu khoa
học, chuyển giao công nghệ, sản xuất thử; thu từ hoạt động sản xuất dịch vụ;
các nguồn thu sự nghiệp khác (lãi tiền gửi ngân hàng, tiền thanh lý, khấu hao
tài sản mua sắm từ nguồn thu quy định tại khoản này).
§ Các nguồn thu khác: tài trợ, viện trợ, ủng hộ, quà tặng của tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nước; vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, vốn
10
góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư, mở rộng và phát triển nhà trường; các
nguồn thu hợp pháp khác.
Với nguồn tài chính như trên, trường có quyền tự chủ về nguồn kinh
phí của trường hiện có để tính toán các khoản chi cho phù hợp với điều kiện
tài chính về hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của đơn vị.
Thứ hai là, yêu cầu quản lý tài chính của trường đại học
Đối với trường đại học công lập
Cơ chế quản lý đối với các trường đại học công lập trước đây là quản lý
“đầu vào” mang tính bao cấp, các trường hết sức thụ động đợi “sự cho phép”
và “trông chờ” vào nguồn kinh phí được cấp từ nguồn ngân sách nhà nước.
Với đặc điểm đó thì yêu cầu thông tin cho quản lý ở mức độ đơn giản, chủ
yếu có tính mệnh lệnh.
Tuy nhiên, các trường đại học công lập thực hiện cơ chế quản lý tài
chính mới hiện nay là quản lý theo hình thức “đầu ra” chuyển từ cơ chế “bao
cấp” sang “phân cấp”. Với cơ chế quản lý tài chính mới hiện nay, quyền tự
chủ của các trường được tăng cường hơn bao giờ hết.
Với tinh thần của Nghị định 43/2006/NĐ-CP thì các đơn vị sự nghiệp
có thu được tự chủ tài chính, được chủ động bố trí kinh phí để thực hiện
nhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên do ngân sách nhà
nước cấp đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí, được vay vốn tín dụng
ngân hàng, chủ động về biên chế, chế độ tiền công, hình thành cơ chế quản lý
tài chính mới thông thoáng hơn, phù hợp với yêu cầu quản lý tài chính của
các đơn vị sự nghiệp có thu trong điều kiện mới. Hơn nữa, cơ chế tài chính
này đã tạo động lực mới cho các đơn vị sự nghiệp có thu trong quá trình hoạt
động, phát huy tính sáng tạo ở mỗi đơn vị cơ sở, phá bỏ những rào cản về chế
độ đãi ngộ đối với CBVC và về việc tìm kiếm nguồn lực tài chính phục vụ
cho công tác chuyên môn.
11
Do vậy để có thể huy động tốt nguồn tài chính, các trường đại học phải
áp dụng nhiều biện pháp quản lý giáo dục, trong đó cần vận dụng KTQT để
quản lý tài chính của đơn vị hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí.
Đối với các trường đại học ngoài công lập
Các trường đại học ngoài công lập được thành lập theo quy định của
pháp luật, có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, có con dấu và tài khoản
riêng. Nhà nước khuyến khích phát triển các cơ sở ngoài công lập, đồng
thời tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vốn và huy động các
nguồn lực dưới dạng góp vốn cổ phần, góp vốn từ người lao động trong
đơn vị, huy động nguồn lực hợp pháp khác thông qua hợp tác, liên kết với
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, cá nhân trong và ngoài
nước để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất. Để hoạt động đào tạo có hiệu quả,
các nhà quản trị trường đại học ngoài công lập quản lý trường như một
doanh nghiệp.
Căn cứ vào kết quả hàng năm, thu nhập của các trường ngoài công lập
sau khi đã trang trải các chi phí, chi phí lãi vay, nộp đủ thuế cho ngân sách
nhà nước theo quy định của pháp luật được phân phối để trích lập các quỹ và
chia lãi cho các thành viên góp vốn. Vì vậy việc vận dụng KTQT trong quá
trình quản lý là một tất yếu khách quan.
1.1.3 Sự cần thiết của kế toán quản trị trong các trường đại học
Kế toán quản trị cần được áp dụng cho mọi thành phần kinh tế và mọi
lĩnh vực kinh doanh, kể cả các trường đại học bởi vì bất cứ một tổ chức nào
dù mục đích của họ là lợi nhuận hay phi lợi nhuận cũng đều phải tiến hành
các hoạt động nhằm cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng. Mọi tổ chức
sẽ không tồn tại lâu dài nếu không đáp ứng được nhu cầu khách hàng nên các
tổ chức đều mong muốn tối thiểu hóa chi phí đầu vào và tối đa hóa kết quả
đầu ra để đạt được hiệu quả cao nhất.
12
Do đặc điểm của các trường đại học, việc sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực ngày càng khan hiếm để đạt mục tiêu về đào tạo và nghiên cứu khoa học là
mối quan tâm hàng đầu trong quản trị các trường đại học. Các trường đại học
cũng cần phải hoạch định, kiểm soát chi phí, đánh giá trách nhiệm cá nhân, đánh
giá việc hoàn thành mục tiêu đề ra và ra các quyết định thích hợp. Hơn nữa,
trong giai đoạn nền kinh tế mở cửa hội nhập, sự cạnh tranh đã và đang diễn ra
trong lĩnh vực giáo dục đại học, do đó để thu hút được sinh viên và các nguồn tài
trợ buộc các nhà quản lý phải xây dựng được thương hiệu riêng cho trường của
mình, nghĩa là sản phẩm giáo dục tạo ra phải đạt chất lượng toàn diện, chứng tỏ
được khả năng quản lý thật sự hiệu quả.
Như vậy, có thể nói việc vận dụng kế toán quản trị vào các trường đại
học với những nội dung phù hợp trong bối cảnh hiện nay là một tất yếu khách
quan. Mặc dù việc vận dụng diễn ra có phần chậm hơn so với lĩnh vực sản
xuất kinh doanh vì giáo dục đại học không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng nó
vẫn phải diễn ra cho phù hợp với xu thế phát triển hiện nay.
1.2 CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI
HỌC CÔNG LẬP
Trường đại học công lập là đơn vị sự nghiệp có thu, là đơn vị cung cấp
các dịch vụ công cộng không vì mục đích lợi nhuận, được đảm bảo một phần
hoặc toàn bộ chi phí hoạt động, thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập.
1.2.1 Đặc điểm công tác quản lý tài chính của trường đại học công lập
Đặc điểm hoạt động của các trường đại học công lập là việc triển khai
thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội do Bộ Giáo dục và Đào tạo giao
phó. Để hoàn thành nhiệm vụ trên đòi hỏi các trường đại học công lập phải
bảo đảm được nguồn kinh phí hoạt động của mình và công tác thu, chi ngân
sách là yếu tố góp phần tạo nên nguồn kinh phí để hoạt động. Theo cơ chế
13
quản lý tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu thì đặc điểm hoạt động
tài chính của trường đại học được thể hiện như sau:
- Các trường đại học công lập được ngân sách Nhà nước cấp kinh phí
đảm bảo hoạt động thường xuyên vào các mã nguồn và mã ngành kinh tế với
những mục đích nhất định, khi sử dụng vào mục chi nào của mã nguồn và mã
ngành kinh tế thì quyết toán với ngân sách nhà nước mục đó.
- Trường đại học công lập được xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ của
đơn vị để chủ động sử dụng kinh phí hoạt động thường xuyên được giao đúng
mục đích, tiết kiệm, hiệu quả. Trường đại học được thực hiện tự chủ, tự chịu
trách nhiệm về tài chính có trách nhiệm xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ dể
CBVC thực hiện và Kho bạc nhà nước kiểm soát chi. Thủ trưởng đơn vị được
quyết định mức chi quản lý và chi nghiệp vụ cao hơn hoặc thấp hơn mức chi
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
- Nhà nước khuyến khích các trường đại học công lập tăng thu, tiết
kiệm chi, tinh giản biên chế, tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở
hoàn thành nhiệm vụ được giao, sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với
ngân sách nhà nước; tùy theo kết quả hoạt động tài chính trong năm, đơn
vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm cho người lao
động, nhưng tối đa không quá 3 lần quỹ lương cấp bậc, chức vụ trong năm
do nhà nước quy định sau khi đã thực hiện trích lập quỹ phát triển hoạt
động sự nghiệp.
- Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế (thuế thu
nhập doanh nghiệp từ lãi tiền gửi ngân hàng, từ hoạt động dịch vụ đấu thầu
giữ xe, căng tin,…) và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch
thu lớn hơn chi trường đại học công lập được trích lập các quỹ như sau: trích
tối thiểu 25% số thu lớn hơn chi để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp,
14
trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ
phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
Việc lập dự toán, chấp hành dự toán, hạch toán kế toán và quyết toán thu,
chi ngân sách nhà nước được các trường đại học công lập thực hiện theo quy
định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật kế toán, các văn bản hướng dẫn luật.
1.2.2 Ảnh hưởng của cơ chế quản lý tài chính đối với công tác kế
toán quản trị trong các trường đại học công lập
Với đặc điểm công tác quản lý tài chính ở các trường đại học công lập
nêu trên thì cơ chế quản lý tài chính hiện nay có những ảnh hưởng đối với
công tác kế toán quản trị như sau:
Thứ nhất, các trường đại học được giao quyền tự chủ trong 3 năm liên
tiếp và hàng năm được cấp tăng thêm hoặc giảm theo tỷ lệ phần trăm do Thủ
tướng Chính phủ quyết định. Vì vậy, nếu dự toán ban đầu lập ra không đảm
bảo chất lượng thì phạm vi ảnh hưởng của nó vô cùng lớn, không chỉ liên
quan đến tình hình thực hiện nhiệm vụ của năm đó mà cả các năm tiếp theo.
Điều đó đòi hỏi các trường phải lập dự toán sát với yêu cầu nhiệm vụ, đảm
bảo chính xác và hiện thực để tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành tốt nhiệm
vụ, đồng thời tiết kiệm kinh phí.
Thứ hai, cơ chế tự chủ tài chính tạo cho thủ trưởng đơn vị quyền chủ
động, tự quyết và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình.Thủ trưởng
đơn vị được quyết định mức chi quản lý, chi nghiệp vụ cao hơn hoặc thấp hơn
mức chi do nhà nước quy định tùy theo nội dung và hiệu quả công việc trong
phạm vi nguồn tài chính của đơn vị (như công tác phí, hội nghị phí, nghiệp vụ
phí, …). Căn cứ để thủ trưởng thực hiện các khoản chi tiêu ở đơn vị là dựa
vào Quy chế chi tiêu nội bộ. Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là phải xây dựng Quy
chế chi tiêu nội bộ hợp lý, phù hợp với đặc thù hoạt động của đơn vị, đảm bảo