Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
MÔN QUẢN LÝ LỬA RỪNG I
Forest Fire
(dùng cho hệ Đại học ngành Quản lý tài nguyên R & MT)
Số đơn vị học trình: 2, số tiết:30 tiết (2 tín chỉ)
Trong đó: - Lý thuyết: 30 tiết
- Thực tập: 1 tuần
HƯỚNG DẪN GIẢNG DẠY
Cấu trúc: Lý thuyết 20 tiết, thực hành 3 tiết, bài tập thảo luận 7 tiết
Nội dung:
- Lý thuyết: Vai trò sinh thái của lửa rừng; đặc tính của cháy rừng và những
nhân tố ảnh hưởng tới cháy rừng.
- Thực hành: Quan sát, nhận xét về hệ thống phòng chống cháy rừng ở một
khu rừng và thực hành xác định cường độ cháy.
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
1. Mục tiêu, yêu cầu của môn học
1.1. Mục tiêu: Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về vai trò, bản chất,
nguyên nhân của lửa rừng; dự báo và một số biện pháp phòng - chữa cháy rừng chủ yếu để
góp phần vào việc quản lý bảo vệ rừng và môi trường.
1.2. Yêu cầu: Sinh viên cần hiểu được vai trò sinh thái cũng như ảnh hưởng của lửa
rừng, bản chất và nguyên nhân của cháy rừng, trình bày được các phương pháp dự báo và
triển khai được một số biện pháp phòng và chữa cháy rừng thông dụng.
2. Mô tả vắn tắt nội dung môn học
Khái niệm về cháy rừng; Nguyên nhân và các loại cháy rừng; Vai trò sinh thái của
lửa rừng; Các nguyên lý cơ bản của sự cháy; Những nhân tố ảnh hưởng tới cháy rừng; Dự
báo cháy rừng; Các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng.
3. Hướng dẫn thực hiện
- Chương 3 có 3 tiết bài tập về bản chất của cháy rừng.
- Chương 4 có 2 tiết thực hành về các dụng cụ phương tiện phục vụ dự báo cháy rừng.
- Đánh giá kết quả thực tập: Sinh viên bảo vệ hoặc đánh giá qua báo cáo thực tập.
4. Nội dung chi tiết môn học
Bài mở đầu (Tổng số: 1 tiết)
1. Khái niệm Cháy rừng và khoa học Phòng cháy, chữa cháy rừng.
2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu của khoa học phòng cháy, chữa
cháy rừng.
3. Lịch sử phát triển của khoa học phòng cháy, chữa cháy rừng.
4. Tình hình cháy rừng trên thế giới và Việt Nam trong những năm gần đây.
Chương 1: Nguyên nhân và các loại cháy rừng
(Tổng số tiết: 3 tiết; lý thuyết: 3 tiết, bài tập: 0 tiết)
1.1. Nguyên nhân gây cháy rừng
1.2. Các loại cháy rừng
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
-1-
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
Chương 2: Vai trò sinh thái của lửa rừng
(Tổng số tiết: 5 tiết; lý thuyết: 5 tiết, bài tập: 0 tiết)
2.1. Lửa là một nhân tố sinh thái đặc biệt
2.2. Lửa như một quá trình tự nhiên trong rừng
2.3. ảnh hưởng của lửa rừng tới thực vật rừng
2.4. ảnh hưởng của lửa rừng tới động vật và vi sinh vật
2.5. ảnh hưởng của lửa rừng tới môi trường
2.6. ảnh hưởng của cháy rừng đến dòng năng lượng và chuyển hoá vật chất
2.7. Hiệu ích đa dạng của công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
Chương 3: Đặc tính của cháy rừng
(Tổng số tiết: 9 tiết, lý thuyết: 6 tiết, bài tập: 3 tiết)
3.1. Các nguyên lý cơ bản của sự cháy
3.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới cháy rừng
Chương 4: Dự báo cháy rừng
(Tổng số tiết: 7 tiết, lý thuyết: 5 tiết, bài tập: 2 tiết)
4.1. Khái niệm dự báo cháy rừng
4.2. Mùa cháy rừng
4.3. Các phương pháp dự báo cháy rừng
4.4. Thông tin về dự báo cháy rừng
Chương 5: Phòng cháy, chữa cháy rừng
(Tổng số tiết: 5 tiết, lý thuyết: 5 tiết, bài tập: 0 tiết)
5.1. Mục đích và yêu cầu chung của công tác PCCCR
5.2. Một số biện pháp phòng cháy rừng
5.3. Một số biện pháp chữa cháy rừng
5.4. Kỹ thuật an toàn trong chữa cháy rừng.
Phần thực tập: 15 tiết
Mục đích: Nhằm giúp cho sinh viên nắm vững hơn những kiến thức đã học, các
công việc và thao tác cần thực hiện trong quá trình nghiên cứu đặc điểm, tính chất của vật
liệu cháy, dự báo cháy rừng, phương pháp thu thập và phân tích số liệu để đề xuất các biện
pháp phòng cháy rừng cho một đơn vị bảo vệ rừng, đồng thời làm quen với một số biện
pháp chữa cháy rừng thông dụng.
Nội dung thực tập: Xác định mùa cháy rừng; các phương pháp dự báo cháy rừng,
một số biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng.
Bài 1: Thực tập về dự báo cháy rừng
(ngày thứ nhất)
Mục đích: Nhằm giúp sinh viên nắm vững hơn các phương pháp xác định mùa cháy
và dự báo cháy rừng.
Yêu cầu: Sinh viên biết cách thu thập số liệu và tiến hành xác định mùa cháy và dự
báo cháy rừng cho một khu vực.
Kết quả: Từ số liệu thu thập, xác định mùa cháy, đưa ra kết quả dự báo cháy rừng
ngắn hạn và dài hạn cho khu vực.
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
-2-
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
Bài 2. Thực tập về các biện pháp phòng cháy rừng
(ngày thứ hai, thứ ba và thứ tư)
Mục đích: Nhằm giúp sinh viên nắm chắc các công việc và thao tác cần thực hiện
trong quá trình nghiên cứu đặc điểm vật liệu cháy, đánh giá nguy cơ cháy, đánh giá thực
trạng công tác PCCCR và đề xuất các biện pháp phòng cháy rừng cho khu vực thực tập.
Yêu cầu: Sinh viên biết cách thu thập, xử lý số liệu, nhận xét và đề xuất các biện
pháp phòng cháy rừng cho một khu vực.
Kết quả: Bộ số liệu về đặc điểm cấu trúc và vật liệu cháy ở các trạng thái rừng chủ
yếu, đánh giá thực trạng công tác PCCCR và đề xuất các biện pháp phòng cháy rừng phù
hợp cho khu vực thực tập.
Bài 3. Thực tập các biện pháp chữa cháy rừng
(ngày thứ 5)
Mục đích: Nhằm giúp sinh viên biết cách sử dụng các dụng cụ, thiết bị chữa cháy
rừng đơn giản và làm quen với một số biện pháp chữa cháy rừng thường được áp dụng
trong thực tiễn.
Yêu cầu: Sinh viên biết sử dụng các dụng cụ, thiết bị chữa cháy rừng đơn giản, biết
sử dụng một số biện pháp chữa cháy rừng thông dụng.
Kết quả: Sử dụng được các trang, thiết bị chữa cháy rừng đơn giản và biết cách áp
dụng các biện pháp chữa cháy rừng thông dụng trong một số điều kiện cụ thể.
Ngày thứ 6: Đánh giá kết quả thực tập
BÀI GIẢNG
Bài mở đầu: SƠ LƯỢC VỀ CHÁY RỪNG
(Tổng số: 1 tiết)
1. Khái niệm về cháy rừng, khoa học phòng và chữa cháy rừng
Cháy rừng là một thảm họa đối với mỗi quốc gia, gây nên những tổn thất lớn về tài
nguyên, kinh tế, xã hội, môi trường sống và cả tính mạng con người.
Cháy rừng là đám cháy được phát sinh trong rừng, có tác động xấu và làm tiêu huỷ
sinh vật trong rừng. Hay nói cách khác cháy rừng là quá trình làm tiêu huỷ những vật liệu
cháy của rừng mà sự hình thành và phát triển không diễn ra theo sự kiểm soát của chủ
rừng.
Theo tài liệu về quản lý lửa rừng, FAO đưa ra khái niệm về cháy rừng và thường
được sử dụng là:
“Cháy rừng là sự xuất hiện và lan truyền của những đám cháy trong rừng mà
không nằm trong sự kiểm soát của con người; gây lên những tổn thất nhiều mặt về tài
nguyên, của cải và môi trường”
Khoa học lửa rừng là môn khoa học nghiên cứu về lửa ở trong rừng.
Khoa học lửa rừng là một môn khoa học còn non trẻ, ngoài việc lấy sinh thái học
làm cơ sở còn sử dụng nhiều kiến thức của các môn khoa học khác như: Khí tượng thuỷ
văn rừng, Toán học, Vật lý, Hoá học, Công trình cơ giới, Tin học, …
2. Đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu về phòng và chữa cháy rừng
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
-3-
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Trong tự nhiên, lửa là một hiện tượng tự nhiên phức tạp. Sự tồn tại của lửa có tác
dụng quan trọng đối với nền văn minh tiến bộ của con người và sự phát sinh, phát triển
của lửa rừng.
Lửa hay sự cháy là phản ứng hóa học có tỏa nhiệt và phát ra ánh sáng. Để sự cháy
xảy ra, phải cần và đủ 3 yếu tố, đó là: chất cháy, ôxy và nguồn nhiệt. Khi cháy cái bốc lên
thành ngọn lửa thực chất là chất khí ở nhiệt độ cao, các phân tử khí rơi vào trạng thái bí
kích thích, sau đó nó giải phóng ra photon phát sáng nên nó phát sáng.
Nhưng do việc sử dụng lửa thiếu ý thức của con người nên nhiều vụ cháy đã gây ra
thiệt hại lớn như: Thiêu rụi nhà cửa, các công trình công cộng, làng mạc, thành phố,
những cánh rừng bạt ngàn, thay đổi môi trường sinh thái, gây nguy hiểm cho tính mạng
của con người, …
Đối tượng nghiên cứu của khoa học lửa rừng chỉ giới hạn là lửa phát sinh và phát
triển trong rừng.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Nội dung cơ bản của môn khoa học lửa rừng là:
- Nghiên cứu nguyên lý về sự phát sinh, phát triển của những đám cháy trong rừng;
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa cháy rừng và môi trường;
- Nghiên cứu các biện pháp phòng cháy, chữa cháy và lợi dụng lửa trong rừng
Trong đó những vấn đề chủ yếu nhất bao gồm: Nghiên cứu ảnh hưởng của lửa tới hệ sinh
thái rừng và môi trường, bản chất của cháy rừng, điều kiện và nguyên nhân gây ra cháy
rừng, các loại cháy rừng, phương pháp dự báo cháy rừng, biện pháp phòng cháy và chữa
cháy rừng, sử dụng lửa trong kinh doanh và bảo vệ rừng.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong khoa học lửa rừng là nghiên cứu thực
nghiệm và quan sát ngoài hiện trường kết hợp với nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, ứng
dụng các thành tựu của toán học, hoá học, vật lý học, công nghệ thông tin, … tìm ra
những quy luật phát sinh phát triển của lửa rừng, mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng
tới cháy rừng làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp quản lý lửa rừng đạt hiệu quả cao.
Từ thập niên 70 của thế kỷ XX trở lại đây, nhiều nước trên thế giới như Mỹ,
Canada, Autralia, Trung Quốc, … đã thành lập mạng lưới cấp quốc gia về dự báo mức độ
nguy hiểm của cháy rừng, tiến hành quản lý cháy rừng một cách tổng hợp, áp dụng kỹ
thuật hàng không và viễn thám để phát hiện nhanh đám cháy, áp dụng nhiều phương pháp
và thiết bị tiên tiến trong chữa cháy rừng, …
3. Lịch sử phát triển của khoa học phòng cháy, chữa cháy rừng
3.1. Giai đoạn dùng lửa
Theo tạp chí Science số ngày 14 tháng 8 năm 2010, một nhóm các nhà nghiên cứu
quốc tế bao gồm 3 nhà nghiên cứu thuộc Học viện nguồn gốc con người tại Đại học bang
Arizona (Mỹ) đã tìm thấy bằng chứng chứng minh rằng: Người hiện đại thời kỳ đầu sống
tại khu vực bờ biển mũi phía Nam Châu Phi 72.000 năm trước đã sử dụng kỹ thuật điều
khiển lửa để tăng tính hiệu quả và chất lượng của quá trình chế tạo dụng cụ đồ đá. Bằng
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
-4-
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
chứng đó là silcrete chưa được nung (trái) thể hiện những thay đổi lớn về màu sắc và cấu
trúc sau khi được nung và đẽo gọt (phải) được phát hiện tại vị trí cách điểm khai quật
Pinnacle Point, Vịnh Mossel 5 km, các nhà khoa học còn cho biết là hầu hết các miếng
silcrete tìm thấy đều đã được đẽo gọt tỉ mỉ.
Hình 01: Silcrete trước và sau xử lý nhiệt (Ảnh: Kyle Brown)
Giai đoạn dùng lửa được tính từ khi
con người biết dùng lửa cho tới cuối thế
kỷ XIX. Lúc đầu chủ yếu con người dùng
lửa để đốt rừng, khai hoang, săn bắn và
sưởi ấm, do đó nạn cháy rừng xảy ra rất
phổ biến. Đặc biệt là sau thế kỷ XVIII,
cùng với sự phát triển mạnh của chủ nghĩa
tư bản, hoạt động di dân, đốt rừng khai
hoang cùng với nhu cầu về gỗ tăng cao
làm cho diện tích rừng giảm sút nhanh.
Trong giai đoạn này con người chỉ đơn
thuần là lợi dụng lửa mà chưa nhận thức
được những tác hại của cháy rừng nên khoa học về lửa rừng chưa được hình thành.
3.2. Giai đoạn phòng chống cháy rừng
Giai đoạn này được bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX. đứng
trước hậu quả nghiêm trọng của nạn cháy rừng và suy giảm tài nguyên cũng như thay đổi
môi trường sống, thiêu rụi tài sản và gây ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của nhân loại. Con
người dần dần nhận thức được tầm quan trọng của lửa rừng và đã tiến hành nghiên cứu, áp
dụng nhiều biện pháp phòng và chữa cháy rừng. Cũng từ đây khoa học lửa rừng đã được
hình thành và ngày càng phát triển.
Ngay từ khi khoa học lửa rừng mới hình thành, các nước như Mỹ, Canada, Nga
(Liên Xô cũ), Australia, … đã bắt đầu nghiên cứu mối liên hệ giữa các nhân tố khí tượng
và đặc điểm rừng với cháy rừng để dự báo cháy rừng. Nghiên cứu và áp dụng nhiều biện
pháp phòng và chữa cháy rừng tiên tiến, kể cả việc dùng máy bay để phát hiện và tham gia
dập lửa.
3.3 Giai đoạn quản lý lửa rừng
Từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX đến nay, do sự phát triển của khoa học hiện đại, nhất
là ứng dụng khoa học công nghệ thông tin, giúp cho việc nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật
phòng cháy và chữa cháy đạt được những bước tiến nhảy vọt. Bên cạnh đó, nhận thức của
con người về lửa rừng cũng đã được thay đổi. Lửa rừng không chỉ có hại mà còn có lợi,
hay nói cách khác lửa là kẻ thù nguy hiểm nhất đồng thời cũng là người bạn tốt của rừng.
Vì vậy, không giống với phòng chống cháy rừng chỉ quan tâm tới việc ngăn chặn cháy
rừng, nâng cao năng lực phòng và chữa cháy rừng, quản lý lửa rừng mà còn quan tâm tới
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
-5-
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
việc khống chế lửa rừng, vừa dùng lửa an toàn theo một quy trình hợp lý để phục vụ mục
tiêu kinh doanh và bảo vệ rừng đã được định trước.
Việc lợi dụng lửa hiện đại đã góp phần làm cho khoa học sinh thái rừng có những
bước phát triển mới. Nhiều nhà sinh thái học lâm nghiệp đã cho rằng lửa rừng là một nhân
tố sinh thái. Đồng thời hình thành một phân nhánh mới của sinh thái học, đó là sinh thái
học lửa rừng (Forest fire ecology), nó đi sâu nghiên cứu các tác dụng và ảnh hưởng của
lửa đến môi trường, thực vật, động vật, quần thể, … là cơ sở lý luận cho việc dùng lửa
trong kinh doanh rừng và cũng là một bộ phận không thể thiếu trong quản lý lửa rừng.
4. Sơ lược về tình hình cháy rừng trên thế giới và Việt Nam
4.1. Trên thế giới
Theo kết quả nghiên cứu của Tổ chức Lương Nông Liên hợp quốc (FAO) về hiện
trạng rừng toàn cầu năm 2010, thế giới đã mất hơn 13 triệu hécta rừng, rừng chỉ còn 31 %
diện tích toàn cầu với tổng diện tích chưa đầy 4 tỷ hécta; trong khi đó ở đầu thế kỷ XX
diện tích rừng thế giới là 6 tỷ ha.
Số liệu thống kê cho thấy tốc độ mất rừng hàng năm trên thế giới là 20 triệu ha,
một trong những nguyên nhân cơ bản của mất rừng chính là cháy rừng: Trung bình có
khoảng 10 – 15 triệu ha rừng bị cháy/năm. Những đám cháy rừng điển hình xảy ra một số
nước trong những năm gần đây như sau:
* Nga:
- Năm 2010, những đám cháy rừng và than bùn tại Nga bắt đầu bùng phát vào thời
điểm những ngày cuối tháng 7, sau hơn một tháng nước Nga phải chịu cảnh hạn hán và
nắng nóng lên đến mức kỷ lục trong vòng 130 năm trở lại đây. Tiếp đó, các đám liên tiếp
bùng phát ở khắp nơi. Đến ngày 4/8/2010, 22 chủ thể của nước Nga phát hiện các điểm
cháy rừng với tổng diện tích lên đến hàng trăm ngàn hecta. Do thiếu phương tiện phòng
cháy chữa cháy, thiếu cả nhân sự, một phần miền Trung nước Nga chìm trong khói lửa.
Tại khu vực thủ đô Matxcơva, các đám cháy rừng và than bùn cũng xuất hiện ở khắp nơi
khiến khói bụi từ các đám cháy tràn vào thành phố khiến mức độ ô nhiễm ở thành phố này
cao gấp nhiều lần so với tiêu chuẩn an toàn. Hàng trăm người đã mắc bệnh do hít phải
khói bụi từ các đám cháy rừng. Những đám cháy rừng này đã gây ra những thiệt hại
nghiêm trọng về người và tài sản trên toàn bộ lãnh thổ nước Nga. Đã có ít nhất 60 người
thiệt mạng và hơn 3.500 người khác rơi vào cảnh "màn trời chiếu đất” do các đám cháy
rừng. Khoảng 1/5 sản lượng ngũ cốc của Nga bị tàn phá, làm tăng vọt giá lúa mì trên thị
trường quốc tế. Tổng số thiệt hại mà nước Nga phải chịu, theo Kommersant, ước tính lên
đến 15 tỷ USD.
- Theo TTO, ngày 24/5/2011 nhà chức trách Nga thông báo có 421 vụ cháy đã bao
trùm hơn 116.000 ha rừng trong vòng 24 giờ qua. Cháy rừng chủ yếu xảy ra tại khu vực
Siberia và dãy núi Ural, những vùng dân cư thưa thớt, trong đó các đám cháy lớn nhất
được ghi nhận tại Cộng hòa Sakha, vùng Amur và Krasnoyarsk. Chính phủ Nga đã huy
động 6.000 người với 1.140 thiết bị cứu hỏa và 42 máy bay để chiến đấu với ngọn lửa.
Hiện phân nửa số đám cháy đã bị dập tắt. Tuy nhiên diện tích cháy rừng năm nay tại Nga
đã là 290.000 ha, lớn gấp đôi so với năm 2009, gây lo sợ về sự tái diễn thảm họa cháy
rừng năm 2010. Đợt cháy rừng lịch sử năm 2010 tại Nga đã thiêu rụi hàng trăm nghìn
hecta lúa mì và khiến hàng chục người thiệt mạng. Khói đen bao trùm Matxcơva trong
nhiều tuần làm tỉ lệ tử vong tại thành phố tăng gấp đôi.
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
-6-
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
- Ngày 28/7/2011, Bộ Tình trạng khẩn cấp Nga cho biết cháy rừng ở nước Nga đã
khiến nhiệt độ khu vực tăng kỷ lục, nhiều khu vực nhiệt độ tăng lên từ 40 0C đến 430C.
Theo các nhà hoạt động môi trường, các đám cháy đã gây ra khói bụi độc hại bao phủ một
vùng rộng lớn và đe dọa đến môi trường ở thủ đô Mátxcơva.
* Mỹ:
- Theo tin CNN ngày 20/4/2011, lực lượng cứu hỏa tiểu bang Texas đang phải
chiến đấu với khoảng 44 đám cháy bao trùm 700,000 mẫu đất tại phía đông và phía tây
Texas. Có 31 đám cháy ở các khu vực phía Đông Texas và 11 đám cháy khác ở phía Tây.
Nhiều đám cháy đã vượt khỏi tầm kiểm soát trong ngày 19/4/2011. Chính quyền tiểu bang
mô tả tình trạng cháy rừng này là “chưa có tiền lệ” và “chưa có dấu hiệu lắng dịu”. Phát
ngôn viên cơ quan bảo vệ rừng, bà Norvell cho biết, tiểu bang Texas đã trải qua 19 ngày
khô hạn dữ dội liên tiếp, với độ ẩm chỉ một con số. Đây là mùa xuân khô hạn nhất tại
Texas kể từ năm 1917. Ông Palmer Buck, chỉ huy cứu hỏa thành phố Austin, cho biết tình
hình diễn biến đám cháy đang tệ dần theo từng ngày, còn thị trưởng Austin mô tả các đám
cháy đe dọa thành phố là “lớn nhất trong 72 năm qua”.Theo lời phát ngôn viên Marq
Webb - cơ quan kiểm lâm Texas Mùa cháy rừng năm nay ở Texas đã ghi nhận 7,807 đám
cháy trên 1.5 triệu acre, ảnh hưởng đến 252 trên tổng số 254 quận hạt của tiểu bang.
Thống đốc Texas, Rick Perry lưu ý là đã có 1 nhân viên cứu hỏa thiệt mạng, 18 người
khác bị thương, thần hỏa đã phá hủy 244 ngôi nhà và đe dọa tính mạng của hơn 8.000 cư
dân. Thống đốc Rick Perry đã viết thư cho Tổng thống Mỹ - Obama đề nghị chính quyền
liên bang tuyên bố Texas là khu vực có thảm họa và hỗ trợ tài chính khẩn cấp.
- Một khu rừng bốc cháy dữ dội tại Nutrioso, Arizona, ngày 10/6/2011 đã thiêu rụi
30 ngôi nhà và hơn 1.000 người dân phải sơ tán. Đám cháy được dự báo sẽ tiếp tục lan tới
New Mexico và gây hiểm họa cho những đường dây điện và có thể dẫn tới mất điện trên
toàn New Mexico và Texas.
- Một đám cháy rừng khác ở vành đai thành phố Tehachapi, bang California, Mỹ
đang lan ra trên diện rộng, thiêu hủy ít nhất 30 ngôi nhà và nhà chức trách ước tính sẽ có
thêm 150 ngôi nhà nữa sẽ bị lửa thiêu hủy. Hơn 250 lính cứu hỏa cùng các phương tiện
dập lửa đã được huy động trong ngày 28/7/2011 song không thể ngăn nổi "bà hỏa". Ước
tính đã có hàng chục héc ta rừng và hoa màu ở bị lửa tàn phá, đặc biệt ở hạt Kern, phía
nam Tehachapi. Dân cư ở khu vực Old West Ranch đã phải đi sơ tán để đảm bảo an toàn.
* Indonesia: Theo Reuters, thảm họa cháy rừng tồi tệ nhất xảy ra tại Indonesia vào
năm 1997 - 1998 và gián tiếp gây ra hiện tượng El Nino. Khói bụi lan rộng sang cả
Singapore, Malaysia và Thái Lan. Thiệt hại gây ra cho ngành công nghiệp du lịch, giao
thông và nông nghiệp ước tính lên tới hơn 9 tỷ USD
* Canada: Hiện nay, khoảng 115 khu rừng ở Alberta bốc cháy và càng nghiêm
trọng hơn do điều kiện thời tiết khô nóng, kèm gió lớn. Hỏa hoạn tại 36 khu rừng trong số
này đã vượt tầm kiểm soát, trong khi các trực thăng và máy bay cứu hỏa không thể hỗ trợ
1.000 lính cứu hỏa làm nhiệm vụ do gió lớn. Khoảng 1.050 km 2 rừng đã bị phá hủy trong
tuần qua. Đây là con số thậm chí vượt mức thiệt hại cháy rừng của cả năm 2010. Nhà chức
trách Canada cho biết cháy rừng đã phá hủy hàng trăm ngôi nhà và buộc 7.000 người dân
thị trấn Slave Lake phải sơ tán khẩn cấp. Một cơn gió mạnh đã đổi hướng ngọn lửa về
phía Slave Lake gây bất ngờ cho chính quyền địa phương, việc sơ tán tại đây chỉ hoàn
thành vài giờ trước khi ngọn lửa nuốt chửng thị trấn. Bên cạnh cháy rừng, công nghiệp
khai thác dầu của Canada cũng bị đe dọa bởi tình trạng lũ lụt nghiêm trọng tại các tỉnh
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
-7-
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
Manitoba và Saskatchewan. Các chuyên gia dự báo lũ lụt có thể làm gián đoạn hoàn toàn
việc khai thác dầu mỏ và khí đốt tại những nơi này trong nhiều tháng (theo Reuters).
* Trung Quốc: Theo nguồn tin từ CongDong.Cz, ít nhất có 9 người chết và 7 người
bị thương do cháy rừng bùng phát trở lại vào cuối chiều 3/3 tại huyện Kiếm Xuyên, tỉnh
Vân Nam. Theo giới chức địa phương, các đám cháy rừng bùng phát vào ngày 3/3/2011
tại thôn Kim Hà đã được dập tắt hoàn toàn vào 9h sáng ngày 4/3. Tuy nhiên, đến 16h cùng
ngày, các đám cháy bỗng dưng bùng phát lại dữ dội do gặp phải gió lớn, khiến nhiều nhân
viên chữa cháy không kịp thoát ra bên ngoài.
Theo TS. Hoàng Minh Hiền - Cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão
Những vụ cháy rừng lớn ở In-đô-nê-xi-a và Hy Lạp trong thời gian hoạt động của hiện
tượng En Ni-nô 1997-1998 có thể chỉ là biểu hiện ban đầu của một Thảm họa Toàn cầu
sắp xảy ra. Dự báo khoa học cho thấy trong vài năm tới, biến động thời tiết do En Ni-nô sẽ
gây ra nhiều đám cháy hơn, với mức độ khốc liệt hơn.
Cháy rừng ở Đông - Nam Á năm 1998 gây thiệt hại 10 tỷ đô la và đe doạ sức khoẻ
của 70 triệu người. Hậu quả của những đám cháy tiếp theo có thể sẽ rất tàn khốc, vì rừng
chưa kịp phục hồi từ những đám cháy trước, những cây chết và gỗ mục sẽ đóng vai trò
như chất đốt có sẵn tạo điều kiện cho cháy rừng xảy ra và với cường độ gia tăng.
Tình hình ở Hy Lạp là hình ảnh thu nhỏ của những gì đang xảy ra trên quy mô toàn
cầu. Hơn 70 nghìn ha rừng đã cháy trụi trong vài tuần. Các đám cháy đã tác động tới hai
vùng hoang dã quan trọng nhất của nước này. Dãy núi Pin-đốt là nơi sinh sống của nhiều
loài cây, gấu nâu, mèo rừng và nhiều loài chó sói. Đảo Xa-mốt hiện nay đã mất đi loài
thông chủ yếu đem lại cho dân đảo nguồn thu nhập về du lịch. Toàn bộ rừng quanh thủ đô
A-ten đã bị mất.
Đến nay, những vùng chủ yếu dễ xảy ra cháy rừng bao gồm: Trung Quốc, Mỹ Latinh, Đông Nam á mà đặc biệt là In-đô-nê-xi-a, Nga, Bắc Mỹ và Địa Trung Hải. Nghiên
cứu mới đây cho thấy cháy rừng sẽ nhanh chóng trở thành vấn đề của nhiều quốc gia vì
khí hậu thay đổi dẫn đến En Ni-nô sẽ hoạt động thường xuyên hơn, cưòng độ mạnh hơn và
tác dộng ngược trở lại nhiều khu rừng với hậu quả xấu và những đám cháy rừng thường
xuyên hơn.
4.2. Việt Nam
Ở Việt Nam, theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, cháy rừng thường xuất hiện
vào mùa hanh khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau tại tất cả các vùng Nam Bộ,
Tây Nguyên, Trung bộ và Bắc Bộ. Cháy nhiều xảy ra ở các tỉnh như Lâm Đồng, Đắc Lắc,
Kiên Giang, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoá, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Lào Cai.
Cháy rừng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Bên cạnh nguyên nhân khách quan do thời
tiết hanh khô là các tác động của con người như di dân tự do, đốt đất làm nương, đốt cỏ để
chăn nuôi, hun khói lấy mật, khai thác gỗ trái phép, du lịch sinh thái, làm đường giao
thông, …
Cháy rừng ở nước ta bị ảnh hưởng rất rõ rệt của En Ni-nô. Trên khắp thế giới, khai
thác rừng và đất một cách quá mức đã dẫn đến những điều kiện rất thuận lợi cho sự suy
thoái môi trường sinh thái đến mức không thể kiểm soát được. Sự cắt xé diện tích rừng
thành nhiều mảnh nhỏ, độ che phủ của tán lá giảm, khí hậu thay đổi và tình trạng mục nát
của gỗ vụn bị đốn trên những vùng rộng lớn, … đã tạo tiền đề cho những đám cháy lớn và
vùng rừng dễ bị tổn thương hơn. Các tổ chức quốc tế như WWF và IUCN đã kêu gọi phải
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
-8-
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
có hành động khẩn cấp và cụ thể, quan tâm tới những nguyên nhân cơ bản của nạn cháy
rừng, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, thay đổi thói quen trong nông nghiệp; bổ sung và
thi hành luật quốc gia và quốc tế, bảo đảm ngân sách cho ngăn chặn và quản lý cháy rừng
ở các địa phương, ...
- Năm 2010: Theo Ban chỉ đạo Trung ương phòng cháy, chữa cháy rừng, từ đầu
tháng 2 đến nay, trong cả nước xảy ra hơn 160 vụ cháy, gây thiệt hại hơn 2.100 ha rừng, cụ
thể ở một số địa phương như sau:
- Bắc Kạn: Cùng ngày 27/2/2010, tại tỉnh Bắc Kạn đã xảy ra 10 vụ hỏa hoạn, trong
đó có 5 vụ cháy rừng, thiêu rụi khoảng 11 ha rừng. Vụ cháy rừng lớn nhất ở thôn Nà
Váng, xã Đôn Phong, huyện Bạch Thông, phá hủy 4 ha rừng.
- Lai Châu: Hơn 700 người đã được huy động để cứu rừng cho 2 điểm cháy thuộc
thị trấn Tân Uyên và xã Phúc Khoa, huyện Tân Uyên tỉnh Lai Châu.
- Lào Cai:
+ Khoảng 13h, ngày 8/2/2010, tại khu vực rừng quốc gia Hoàng Liên (Sa Pa) đã
xảy ra nhiều đám cháy trên diện rộng, ở nhiều khu vực khác nhau, điểm cháy được xác
định bắt đầu từ khu rừng giáp ranh giữa thôn Séo Mí Tỷ (xã Tả Van) với thôn Ma Quái Hồ
(Bản Hồ) và thôn Nậm Ngấn (xã Nậm Sài). Đến quá trưa ngày 15 - 2, điểm cháy cuối
cùng tại điểm cao 2.400 m trên sườn phía Tây Hoàng Liên đã được các lực lượng cứu hộ
dập tắt. Theo thống kê ban đầu, diện tích rừng đã cháy khoảng 1.700 ha (gần 1.000 ha tại
Bản Hồ, Tả Van; 700 ha giáp ranh giữa tỉnh Lào Cai và Lai Châu) chủ yếu là rừng gianh
và rừng tái sinh, diện tích rừng lõi thiệt hại không đáng kể.
+ Đến ngày 12/2, đã cơ bản dập cháy được các điểm Ma Quái Hồ, Tả Trung Hồ,
Séo Mí Tỷ, Dền Thàng. Nhưng đến 9h ngày 12/2/2010, đã phát sinh thêm điểm cháy mới
phía Tây rừng quốc gia Hoàng Liên – Sa Pa tại khu vực giáp ranh giữa tỉnh Lai Châu và
tỉnh Lào Cai. Đến 14h ngày 14/2/2010 tiếp tục xuất hiện đám cháy mới tại độ cao 2.400 m
thuộc vùng lõi rừng quốc gia Hoàng Liên – Sa Pa. Đến 12 giờ ngày 15/2, các đám cháy cơ
bản được khống chế, qua thống kê có khoảng 1.700 ha (gần 1.000 ha tại Bản Hồ, Tả Van;
700 ha giáp ranh giữa tỉnh Lào Cai và Lai Châu) đã bị cháy. Đây là vụ cháy rừng lớn nhất
tại tỉnh Lào Cai kể từ năm 1971.
+ Tại tỉnh Lào Cai, trong ngày 6/3/2010 xảy ra 3 vụ cháy rừng tại xã Nậm Sài,
huyện Sa Pa, xã Tả Phời, thành phố Lào Cai và thị trấn Sa Pa, huyện Sa Pa. Tỉnh huy động
hơn 500 người để dập lửa. Đến 3 giờ sáng nay, các đám cháy đã được dập tắt, thiệt hại
khoảng 15 hecta rừng.
- Sơn La: Ngày 27/2/2010, trên địa bàn xã Suối Tộ, Phù Yên, Sơn La xảy ra cháy
rừng sau đó lan rộng ra các địa bàn thuộc huyện Bắc Yên (Sơn La). Do thời tiết nắng
nóng, hanh khô và nhiều gió, đến 17h chiều 3/3 đám cháy rừng bùng phát dữ dội, lan rộng
xuống khu rừng bản Suối Khang thuộc xã Suối Tọ, trong Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Xùa.
Theo ước tính, khoảng 40 -50 ha rừng đã bị thiêu cháy kể từ khi đám cháy bùng phát. Tỉnh
Sơn La đã huy động gần 600 người chữa 6 điểm cháy thuộc huyện Phù Yên và Bắc Yên.
- Cao Bằng: Ngày 26/2/2010, tỉnh Cao Bằng cũng xuất hiện vụ cháy rừng lớn, kéo
dài đến ngày 27/2, phá hủy khoảng 130 ha rừng, chủ yếu là rừng mới trồng.
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
-9-
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
- Thanh Hóa: Ngày 2/3/2010, tại bản Pù Ngùa, xã Pù Nhi, huyện Mường Lát, tỉnh
Thanh Hoá xảy ra vụ cháy thiêu rụi hơn 2 ha rừng, chủ yếu là rừng nghèo kiệt, rừng có
cây lau, le, ...
- Vĩnh Phúc: Xảy ra cháy rừng tại các xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên từ 23 giờ
ngày 6/3. Khoảng 200 người đã được huy động để chống cháy rừng, đến 2 giờ sáng nay,
đám cháy được dập tắt, thiệt hại khoảng 16 hecta rừng trồng.
- Hà Tĩnh:
+ Khoảng 19h30 ngày 3/3/2010, rừng thông tại địa bàn xóm 1 xã Sơn Thủy, huyện
Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xảy ra một đám cháy dữ dội. Lửa bốc cao ngùn ngụt trong đêm,
rực sáng cả một vùng.
+ Tại Hà Tĩnh trong hơn một tuần tháng 6 liên tiếp xảy ra 10 vụ cháy rừng gây thiệt
hại nghiêm trọng. Trong khi đó, thời tiết nắng nóng gay gắt vẫn chưa có dấu hiệu chấm
dứt hàng trăm ha rừng có nguy cơ cháy bất cứ lúc nào. Ngày 17/6, tin từ Hạt kiểm lâm
huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) cho biết: Vào tối 16/6, một đám cháy lại bùng phát tại cánh
rừng từ đội 3, xã Sơn Lâm, Hương Sơn, sau đó đám cháy lan nhanh sang rừng keo thuộc
xóm 11, xã Sơn Giang, Hương Sơn. Đến sáng 17/6, vụ cháy lớn ở 2 xã trên đã thiêu trụi
hơn 25 ha rừng thông và rừng keo đang đến độ thu hoạch. Ông Trần Xuân Đường, Chủ
tịch UBND xã Sơn Giang, Hương Sơn cho biết, nếu không khống chế ngọn lửa kịp thời,
hơn 50 ha rừng thông và rừng keo của bà con trong xã sẽ bị thiêu rụi. Được biết, từ 14 đến
17/6, tại các xã Ân Phú (Vũ Quang), xã Hương Vĩnh (Hương Khê) và 4 xã Sơn Trà, Sơn
Long, Sơn Quang, Sơn Lâm (Hương Sơn) gần 100 ha rừng keo và thông bị thiêu rụi. 12
giờ ngày 7/7/2011, một vụ cháy lớn ở đèo Bắc Hải Vân, tiếp giáp giữa 2 tỉnh TT- Huế và
TP. Đà Nẵng đã thiêu rụi gần 5 ha rừng keo và cây bụi. Đám cháy đã lan sang khu vực
rừng đặc dụng Nam Hải Vân thuộc Đà Nẵng gây thiệt hại lớn.
- Kiên Giang:
+ Từ đầu mùa khô đến ngày 20/3/2010, toàn huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
xảy ra 15 vụ cháy, trên diện tích khoảng 50 ha, trong đó có 40 ha bị thiệt hại nặng. Trong
những ngày qua, tại huyện đảo Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang) liên tiếp xảy ra cháy rừng.
Sau vụ cháy lớn tại ấp Bãi Vòng, xã Hàm Ninh kéo dài 4 ngày liền mới được dập tắt, mới
đây một đám cháy khác lại bùng phát tại ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ. Đám cháy bùng phát
đêm 17/3 nhưng đến sáng 18/3 mới được khống chế và dập tắt. Ngay khi phát hiện cháy
rừng, lực lượng phòng cháy chữa cháy huyện đảo Phú Quốc và bộ đội hải quân đóng trên
địa bàn đã được huy động tới hiện trường cùng tham gia chữa cháy. Từ đầu mùa khô đến
nay, toàn huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xảy ra 15 vụ cháy, trên diện tích khoảng
50 ha, trong đó có 40 ha bị thiệt hại nặng.
+ Trước đó, ngày 25/2/2010 đã có 2 vụ cháy rừng liên tiếp xảy ra tại khu vực Bãi
Trường, xã Dương Tơ và khu vực ấp Rạch Tràm, xã Bãi Thơm (huyện đảo Phú Quốc,
Kiên Giang) thiêu rụi hoàn toàn hơn 10 ha rừng tràm phòng hộ.
+ Tại lâm trường Hòn Đất (xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất, Kiên Giang), một vụ
cháy rừng xảy ra vào 9h ngày 18/3/2010, do gió mạnh, khô hanh, lớp thực bì dày nên lực
lượng chữa cháy của lâm trường không thể dập tắt được đám cháy và phải báo cáo với
Ban phòng chống cháy rừng tỉnh xin thêm lực lượng hỗ trợ. Đến 23 h ngày 19/3, vụ cháy
rừng mới được khống chế và dập tắt. Theo thống kê ban đầu, ước tính khoảng 300 ha rừng
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 10 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
bị cháy, trong đó có 100 ha rừng mới trồng 1 năm tuổi và 65 ha rừng từ 3 - 5 tuổi đã bị
thiêu rụi hoàn toàn.
+ Cũng trong ngày 18/3/2010, tại huyện Giang Thành, Kiên Giang cũng xảy ra
cháy rừng làm thiệt hại khoảng 50 ha rừng tràm. Đám cháy đến chiều 19/3 mới được dập
tắt hoàn toàn.
- Cà Mau: Ngày 9/3/2010, ông Nguyễn Quang Của, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm
lâm Cà Mau cho biết: Cà Mau đã xảy ra 2 vụ cháy làm thiệt hại 1.000 m 2 rừng tại khoảnh
4, Tiểu khu 51, Phân trường Trần Văn Thời và 500 m2 ở khoảnh 2 phân trường U Minh I.
- Gia Lai:
+ Ngày 14/3/2010, tại Gia Lai đã xảy ra cháy rừng thông tại tiểu khu 602 (xã Hà
Tam, Đăk Pơ), uớc tính hơn 60 ha rừng trồng và rừng phòng hộ đã bị thiêu rụi, diện tích
rừng đã bị cháy chủ yếu là rừng thông lâu năm được trồng từ thời Pháp, do Lâm trường
Bắc An Khê quản lý.
+ Trước đó, đám cháy tại rừng thông khu vực đèo Mang Yang, huyện Đăk Pơ (tỉnh
Gia Lai) đã cơ bản được khống chế vào lúc 14 giờ 30 chiều 16/3. Đám cháy bùng phát vào
trưa 14/3. Do mùa khô Tây Nguyên đang vào cao điểm, ngọn lửa đã hoành hành suốt 3
ngày đêm, thiêu rụi gần 30 ha rừng thông. Đây là khu vực đèo cao, vực sâu nên các lực
lượng ứng cứu rất vất vả trong việc dập lửa. Ngay sau khi vụ cháy này được khống chế thì
vào lúc 19 giờ ngày 16/3, một đám cháy khác lại phát sinh tại khu rừng thông trên đỉnh
đèo Mang Yang, thuộc H.Mang Yang (Gia Lai), cách QL 19 khoảng 1 km.
- Kon Tum: Ngày 3/3/2010, sau hơn 15 giờ chống chọi với lửa, lực lượng chức
năng của huyện Sa Thầy (Kon Tum) đã khống chế được đám cháy rừng tại các tiểu khu
626, 629 và 630. Vụ cháy rừng trên đã thiêu rụi khoảng 100 ha rừng trồng của Công ty
Innovgreen, chủ yếu là thông và bạch đàn được trồng trong hai năm 2008-2009. Chỉ trong
vòng 10 ngày qua, trên địa bàn huyện Sa Thầy đã xảy ra 4 vụ cháy rừng làm thiệt hại hơn
130 ha rừng, trong đó có hơn 20 ha rừng tự nhiên của Vườn quốc gia Chư Mom Ray.
- Yên Bái: Theo báo cáo nhanh của Chi cục Kiểm lâm Yên Bái chiều 8/3/2010, từ
đầu tháng 2/2010 đến ngày 8/3, tại yên Bái đã xảy ra 22 vụ cháy rừng, trong đó có 16 vụ
cháy rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh và sáu vụ cháy trảng cỏ, lau lách, thiêu trụi
175,5 ha rừng, trong đó có 165,5 ha rừng trồng và 10 ha rừng khoanh nuôi tái sinh. Còn tại
tỉnh Yên Bái, hơn 500 người đã được huy động đến các điểm cháy rừng ở xã Hồ Bốn và
xã Tà Si Láng, thuộc huyện Trạm Tấu. Đến nay, các đám cháy này cũng đã được dập tắt.
- Phú Yên: Một vụ cháy rừng nghiêm trọng vừa xảy ra tại Phú Yên năm 2010, ước
ban đầu thiệt hại hơn 250 ha rừng trồng phòng hộ đầu nguồn tại tiểu khu 50,52 thuộc địa
bàn xã vùng cao Phú Mỡ huyện Đồng Xuân. Diện tích rừng bị cháy (gồm cây dầu rái và
keo lá tràm) thuộc dự án 661 được trồng từ do Ban quản lý rừng phòng hộ Đồng Xuân
chăm sóc quản lý. Được biết gần một tháng trước cũng tại khu vực này đã xảy ra một vụ
cháy làm thiệt hại khoảng 50 ha rừng tràm.
- Đồng Nai: Trưa 18/3/2010, khu rừng tràm tại ấp Long Đức 3, xã An Phước, huyện
Long Thành, Đồng Nai đã xảy ra cháy lớn và đến 16 giờ cùng ngày đám cháy đã được
khống chế hoàn toàn. Vụ cháy đã thiêu rụi khoảng 30ha rừng tràm nhưng rất may không
có trường hợp thương vong.
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 11 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
- Đồng Tháp: Khoảng 200 ha rừng tại vườn quốc gia Tràm Chim (Tam Nông, Đồng
Tháp) đã bốc cháy ngùn ngụt, thiêu rụi cây tràm và nhiều loài thú. Lửa vẫn tiếp tục bốc
cao đến tối 26/4/2010 tại cả hai khu A1 và A2. Ban chỉ huy Phòng chống cháy rừng huyện
phải báo về tỉnh xin chi viện. Ông Lê Vĩnh Tân, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp đã đến
hiện trường trực tiếp chỉ đạo khoảng 500 người gồm mọi lực lượng để chữa cháy.
- Quảng Trị: Ngày 28/7/2011, UBND huyện Vĩnh Linh - Quảng Trị cho biết, một
vụ cháy rừng lớn đã xảy ra tại 2 xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, gây thiệt hại
gần 19 ha rừng tràm. Lực lượng kiểm lâm địa bàn, Hạt Kiểm lâm huyện đã huy động hơn
200 người dân nhanh chóng dập lửa nhưng do thời tiết khô, nóng đã khiến cho đám cháy
bùng phát nhanh.
Theo ông Đỗ Thanh Hải, trưởng phòng quản lý và bảo vệ rừng (Cục Kiểm lâm), chỉ
tính từ đầu năm đến hết tháng 2/2010, cả nước đã xảy ra trên 150 vụ cháy rừng làm hơn
1.600 ha rừng bị cháy, trong đó khu vực Tây Bắc chiếm chủ yếu. Tỉnh Lào Cai dẫn đầu
với khoảng 700 ha rừng đã bị xóa sổ, Lai Châu có hơn 300 ha rừng đã bị cháy rụi, Hà
Giang cháy rụi gần 230 ha. Trong 2 tháng đầu năm, số vụ cháy và diện tích rừng bị cháy
đã tăng đột biến (cả năm 2009 chỉ cháy 1.557 ha rừng), trong đó khu vực Tây Bắc chiếm
chủ yếu, cả năm 2008 cũng chỉ cháy trên 1.549 ha rừng.
* Năm 2011:
- Thừa Thiên – Huế: Ngày 2/7 liên tiếp 2 vụ cháy rừng đã xảy ra tại huyện miền núi
A Lưới và TP Huế, thiêu rụi gần 6 ha rừng thông và keo trên 30 năm.
- Lâm Đồng: Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 8 - 4, ông Nguyễn Duy Hải, Chủ tịch Ủy
ban Nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xác nhận tại tiểu khu 145a và 145b,
thuộc Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà, đã có một vụ cháy lớn. Khu vực rừng bị cháy là
rừng phòng hộ giáp với thị trấn Lạc Dương, huyện Lạc Dương. Đám cháy được phát hiện
vào khoảng 10 giờ sáng cùng ngày. Ngay sau khi phát hiện, huyện đã huy động gần 100
người tham gia chữa cháy rừng, nhưng do địa điểm cháy rất khó tiếp cận, lại không có
nước để dập, lực lượng chữa cháy phải dùng cành cây để khống chế, vụ cháy đã lan rộng
trên diện tích khoảng 10 ha thảm thực vật.
- Gia Lai: Từ đầu năm mới đến nay, hơn 400 ha rừng rừng trồng của Công ty Lê
Khanh (xã Ia Le, huyện Chư Pưh) đã bị lửa thiêu rụi.
- Đà Nẵng: Trong 2 ngày 6 – 7/8/2011, Tp. Đà Nẵng đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, trong đó
nhiều vụ xảy ra cùng lúc ở các khu vực khác nhau gây khó khăn cho công tác cứu rừng. Trưa 8/7,
ông Trần Văn Lương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng - cho biết, lực lượng phối
hợp giữa TP Đà Nẵng và Thừa Thiên Huế đã khống chế được vụ cháy rừng đặc dụng Nam Hải
Vân (P.Hòa Hiệp Bắc, Q.Liên Chiểu) sau 24 giờ liên tục dập lửa. Tuy nhiên, ngay sau đó, cánh
rừng sản xuất trồng keo lá tràm ở thôn Phú Hạ, xã Hòa Sơn, H.Hòa Vang, TP Đà Nẵng lại bốc
cháy dữ dội. UBND xã Hòa Sơn huy động toàn bộ lực lượng cùng xe chữa cháy đang khống chế
đám cháy, thì cách đó khoảng vài cây số, cánh rừng trồng của người dân ở thôn Hòa Khê cũng
bùng cháy. Bộ Chỉ huy quân sự TP Đà Nẵng phải điều thêm một xe chữa cháy nữa ứng cứu. Thôn
Hòa Khê có 2 điểm cháy nằm trên 2 ngọn đồi, lực lượng chữa cháy lại phải phân tán lực lượng để
cứu rừng. Đến cuối giờ chiều cùng ngày, đám cháy vẫn đang bùng lên dữ dội.
- Quảng Bình: UBND xã Phúc Trạch (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) cho biết,
khoảng 9 giờ sáng 26/7 đã xảy ra vụ cháy lớn tại khu rừng trồng 327 thuộc địa bàn của xã
khiến 3 ha rừng thông đã bị thiêu rụi.
- Quảng Trị: Ngày 28/7, tin từ UBND huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị cho biết, một vụ
cháy rừng lớn đã xảy ra tại 2 xã Vĩnh Chấp, Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, gây thiệt hại gần
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 12 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
19 ha rừng tràm của người dân, thuộc dự án trồng rừng 661. Lực lượng kiểm lâm địa bàn,
Hạt Kiểm lâm huyện đã huy động hơn 200 người dân nhanh chóng dập lửa nhưng do thời
tiết khô, nóng đã khiến cho đám cháy bùng phát nhanh.
Diện tích rừng bị cháy Năm:; năm: ha; năm:; năm:; năm: ha; năm: ha năm: diện tích
rừng bị cháy ha; 6 tháng đầu năm:.
STT
Năm
Diện tích rừng cháy Ghi chú
1
2004
4787,0 ha
2
2005
7552,5 ha
3
2006
2386,7 ha
4
2007
4367,3 ha
5
2008
1677,3 ha
6
2009
1658 ha
7
2010
6723 ha
8
½ 2011
676 ha
Trung bình
3813 ha
Hiện nay, nạn cháy rừng đang trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với mọi quốc gia
trên thế giới, đặc biệt những nước có diện tích rừng lớn. Vì vậy, hạn chế nạn cháy rừng và
bảo vệ môi trường sống của nhân loại là nhiệm vụ cấp bách không phải chỉ của một quốc
gia nào mà của toàn thế giới.
Chương 1
Nguyên nhân và các loại cháy rừng
(Tổng số tiết: 3 tiết; lý thuyết: 3 tiết, bài tập: 0 tiết)
1. Nguyên nhân gây cháy rừng
Nguồn lửa là nguyên nhân cơ bản của cháy rừng. Nguồn lửa gây cháy rừng có
nhiều, nhưng có thể chia ra hai nhóm: Lửa do hiện tượng tự nhiên và lửa do hoạt động của
con người. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của hoa học kỹ thuật và tập quán sinh hoạt
của con người, các nguyên nhân gây cháy rừng ở một địa phương hoặc một quốc gia cũng
có thể thay đổi. Sự hiểu biết chính xác về nguyên nhân cháy rừng là cần thiết để có thể
hạn chế đến mức thấp nhất diện tích rừng bị cháy.
1.1 Lửa do hiện tượng tự nhiên
Nguồn lửa này do các quá trình tự nhiên gây ra như sấm, sét, núi lửa, động đất, đá
đổ, … rất khó khống chế. Nguyên nhân này
chiếm tỷ lệ thấp (1 – 5 %) và chỉ xuất hiện
trong những điều kiện thời tiết hết sức thuận
lợi cho quá trình phát sinh nguồn lửa tiếp xúc
với các nguồn vật liêu khô kiệt trong rừng.
Những nước thường xảy ra cháy rừng do
nguyên nhân này như: Mỹ, Nga, Columbia,
Canada, Australia, Pháp, …
Theo Tailor (1974), hàng nămg trên thế
giới xuất hiện khoảng 50.000 vụ cháy rừng do
sấm sét gây ra, chiếm gần 1 % tổng số lần sét
đánh xuống mặt đất.
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 13 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
Ở Việt Nam, hiện tượng sấm, sét gây cháy rừng rất hiếm, theo thông tin thu thập
được thì mới có hai vụ xảy ra ở Cà Mau và Kom Tum năm 1998.
1.2 Lửa do hoạt động con người
Phần lớn số vụ cháy xảy ra đều do hoạt động của con người một cách trực tiếp hoặc
gián tiếp.
Theo số liệu thống kê về tình hình cháy rừng trên thế giới, nguồn lửa do cháy rừng
do các hoạt động của con người chiếm trên 90 %. Ví dụ: ở Nga 93 %, Mỹ 91 %, Trong
Quốc 99 %, Australia 92 %, ... những hoạt động này chủ yếu là: Dùng lửa xử lý thực bì
khi canh tác nông nghiệp, đun nấu sưởi ấm trong rừng, khai thác và các hoạt động sản
xuất lâm nghiệp khác, đốt cỏ phục vụ chăn nuôi, săn bắt động vật, thăm quan du lịch, cố ý
đốt do hằn thù cá nhân, …
Ở Việt Nam, các nguồn lửa gây cháy rừng do con người rất đa dạng. Trong đó một
số hoạt động chủ yếu sau:
- Đốt phá rừng làm nương rẫy và xử lý thưc bì khi canh tác nương rẫy. Nguyên
nhân này có tỷ lệ rất cao. Số vụ cháy rừng đã xảy ra ở các địa phương chiếm trên 60%.
- Sử dụng lửa trong rừng và ven rừng không cẩn thận như: Đun nấu, sưởi ấm trong
rừng, săn bắt động vật, lấy mật ong, hầm than củi, tảo mộ, trẻ em nghịch lửa, …
- Do các hoạt động kinh tế xã hội khác: Đốt thực bì phục vụ trồng rừng, khảo sát
địa chất, đốt phục vụ việc dọn đường giao thông, đốt đồng cỏ phục vụ chăn nuôi, khai thác
bừa bãi, đốt trước làm giảm vật liệu cháy, hoạt động thăm quan du lịch, …
- Đốt do hằn thù cá nhân: Một số người làm ăn phi pháp trong rừng đã bị
phạt hoặc một số người làm thuê cho chủ rừng nhưng có mẫu thuẫn nên đã đốt rừng để trả
thù, ...
Có thể tham khảo số liệu thống kê từ báo cáo hàng năm về nguyên nhân cháy rừng
ở bang Western (Australia) từ năm 1966 – 1971 và nguyên nhân gây cháy rừng thông của
Tỉnh Quảng ninh và Lâm đồng từ 1970 - 2000 qua bảng sau:
Bảng thống kê nguyên nhân cháy rừng ở Western (Australia) từ 1966 – 1971
TT
Nguyên nhân cháy rừng
Số vụ cháy (%)
1
Đốt dọn đồng cỏ, đốt cỏ phục vụ chăn nuôi
36
2
Xử lý thực bì trồng rừng và canh tác nông nghiệp
9
3
Do sấm sét
8
4
Hút thuốc lá
6
5
Cháy do xe cộ
6
6
Do trẻ em
5
7
Do xe lửa
5
8
Do máy kéo
4
9
Cắm trại
2
10
Các nguyên nhân khác
10
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 14 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
Bảng thống kê nguyên nhân cháy rừng thông ở Quảng Ninh và Lâm đồng 1970 – 2000
TT
Nguyên nhân cháy rừng
Số vụ cháy Tỷ lệ (%)
1
Hoạt động canh tác nương rẫy
317
63.9
2
Đun nấu, sưởi ấm, đốt than, đốt cỏ
108
21.8
3
Dọn vườn, làm nhà sản xuất lâm nghiệp
28
5.7
4
Dọn đường giao thống bắt tắc kè
20
4
5
Hoạt động di lịch
4
0.8
6
Cố ý đốt
2
0.4
7
Sấm sét
0
0
8
Nguyên nhân khác
17
3.4
Trong một vùng sự phân bố ngọn lửa không phải là cố định. Tuỳ theo thời gian
trong ngày hay trong năm, hoạt động xã hội, sự phát triển kinh tế và nhân lực của người
dân mà có những thay đổi. Nhìn chung nguồn lửa có quan hệ mật thiết với mật độ dân cư
và hoạt động của con người. Những nơi có mật độ dân cư dày, rừng thường bị cháy nhiều
hơn nơi có mật độ dân cư thưa. Rừng thứ sinh cháy nhiều hơn rừng nguyên sinh, rừng
đang khai thác dễ cháy hơn rừng chưa khai thác, …
Nguồn lửa phát sinh chủ yếu trong rừng do con người gây ra, vì vậy việc tăng
cường quản lý và ngăn chặn nguồn lửa là khâu mấu chốt có thể đảm bảo không phát sinh
cháy rừng, làm giảm bớt tổn thất do cháy rừng gây ra. Nhiều nơi đã có cố gắng trong công
tác PCCCR, nhưng cháy rừng vẫn xảy ra, một nguyên nhân quan trọng là chưa có biện
pháp cụ thể quản lý việc dùng lửa hoặc người dân chưa chấp hành nghiêm chỉnh quy định
sử dụng lửa an toàn.
Đề phòng nguồn lửa tự nhiên cần tăng cường công tác quan trắc ở các trạm dự báo
khí tượng thuỷ văn rừng, dự báo chính xác, kịp thời, đồng thời phát hiện và dập tắt ngay
khi đám cháy mới xuất hiện.
Để quản lý nguồn lửa gây cháy rừng do con người gây ra cần tiến hành nhiều biện
pháp như: Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục, xây dựng quy chế sử dụng lửa, xây
dựng các biện pháp phòng cháy rừng cũng như đề phòng nguồn lửa xảy ra và quản lý theo
pháp luật.
2. Các loại cháy rừng
2.1 Cơ sở phân loại cháy rừng
Có ba tầng vật liệu phân bố trong rừng bao gồm ở dưới mặt đất, sát mặt đất và trên
tán. Cháy rừng có thể xảy ra một hoặc cả ba trong số vật liệu cháy trên. Song phần lớn các
đám cháy xuất hiện ở lớp vật liệu cháy sát bề mặt đất. Thỉnh thoảng những đám cháy sát
mặt đất mạnh sẽ lan lên tán rừng, trong những điều kiện nào đó, ngọn lửa có thể lan tới
lớp vật liệu cháy dưới mặt đất.
Căn cứ vào sự phân bố trong không gian theo chiều thẳng đứng của vật liệu, khi
cháy để phân chia thành 3 loại: Cháy dưới tán (cháy mặt đất), cháy tán và cháy ngầm
2.2 Cháy dưới tán
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 15 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
Quá trình cháy các vật liệu phân bố trên bề mặt đất và dưới tán rừng được gọi là
cháy mặt đất (cháy dưới tán).
Đây là loại phổ biến nhất chiếm khoản 96 % trong tổng số vụ cháy rừng, nhưng gây
tác hại ít nhất. Nhiệt độ cháy có thể đạt trên 400 oC, loại cháy này thiêu huỷ hầu hết các
loài cây dưới tán rừng. Thân, gốc cây và tầng tán phía dưới thường bị xém hoặc cháy
nham nhở để lại nhiều vết tích gây ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây.
Căn cứ vào tốc độ của đám cháy, có thể chia loại cháy này thành loại này thành
cháy chậm và cháy nhanh.
* Cháy nhanh: Cháy nhanh hoặc cháy lướt nhanh có tốc độ đạt trên 180 m/giờ, sức
cháy yếu, ngọn lửa thấp nên tác hại nhẹ hơn cháy chậm. Tuy nhiên loại cháy này rất dễ
chuyển thành cháy tán, nhất là khi đám cháy xảy ra ở khu rừng non, nhiều thảm tươi, cây
bụi và có cành nhánh phân bố gần mặt đất. Sau khi cháy, diện tích bị cháy thường có hình
tam giác.
* Cháy chậm:
Cháy chậm có tốc độc dưới 180 m/giờ, thường xảy ra ở nơi tích tụ nhiều vật liệu
cháy với độ ẩm nhỏ và mức độ chất đống cao, ngọn lửa rất ít khi cao quá 2m, nhìn từ xa
chỉ thấy khói bốc lên.
Sau khi cháy, vết cháy thường có hình bầu dục hay hình trứng, cháy chậm hay cháy
nhanh phụ thuộc chủ yếu vào tốc độ gió, khối lượng, độ ẩm và sự phân bố của vật liệu
cháy dưới tán rừng.
Cháy bề mặt thường gặp nhiều ở những khu rừng thưa, rừng rụng lá theo mùa như
rừng khộp ở Tây nguyên, gây tác hại chủ yếu với cây non và một số vi sinh vật, động vật
nhỏ sống dưới tán rừng. Ngoài ra, loại cháy này còn có thể làm thương tổn, gây ảnh hưởng
đến sinh trưởng của cây, làm cho gỗ kém phẩm chất do để lại nhiều vết sẹo trên thân cây.
2.3 Cháy tán
Sự lan truyền của ngọn lửa trên tầng tán của rừng được gọi là cháy tán. Cháy tán
thường được phát triển từ cháy dưới tán, thường hay xẩy ra trong điều kiện thời tiết hanh
khô kéo dài, tốc độ gió trên tán rừng từ trung bình đến mạnh.
Khi cháy dưới tán, ngọn lửa sẽ đốt nóng và sấy khô phần tán rừng sau đó ngọn lửa
sẽ lan từ tán cây này sang cây khác, cháy tán có tốc độ lan tràn nhanh, nhiệt lượng toả ra
lớn. Tuy chỉ chiếm tỷ lệ 2.0 – 2.5 % trong tổng số các vụ cháy rừng nhưng với nhiệt độ
cao (có thể trên 900oC) và tính chất cháy khá toàn diện, loại cháy này thường gây tác hại
rất lớn, thậm chỉ huỷ diệt cả hệ sinh thái rừng.
Với cháy tán, từ xa có thể nhìn thấy ngọn lửa và cột khói bốc lên, cột khói có thể
cao đến 1.5 km và có thể gây ra xoáy khí cuốn theo cả các sản vật đang cháy tạo ra hình
tượng “lửa bay” và “pháo lửa”. Vì vậy cháy tán có khả năng lan tràn rất nhanh làm tăng
diện tích bị cháy và gây nhiều khó khăn cho công tác chữa cháy.
Loại cháy này thường xảy ra với những khu rừng thuần loài có khả năng tỉa cành tự
nhiên kém, đặc biệt là rừng có nhiều tinh dầu và nhựa dễ bắt cháy như rừng thông non,
Long não, Bạch đàn hoặc rừng tự nhiên hỗn giao có độ dốc lớn (>25o).
Căn cứ vào tốc độ cháy, có thể chia cháy tán thành hai loại: cháy tán chậm và cháy
tán nhanh.
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 16 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
* Cháy nhanh: Cháy nhanh chỉ sự lướt nhanh trên tán khi có gió với tốc độ >15
m/s. Tốc độ cháy thường đạt 1.8 – 2.4 km/giờ. Lúc đầu khi mới bén đến tán rừng, ngọn
lửa lan tràn rất nhanh, sau đó ít phút. Tốc độ giảm rõ rệt, lúc này các vật liệu ở mặt đất
được đốt nóng, bốc cháy và toả nhiệt. Lượng nhiệt đó góp phần làm các cây gỗ phía trước
và tán của chúng được xấy khô bốc cháy và ngọn lửa lan nhanh chóng. Lan truyền sang
các tán cây khác. Ngọn lửa trên tán có thể lan đi trước ngọn lửa cháy dưới tán. Khoảng từ
50 – 200 m, khu vực cháy thường có hình bầu dục dài.
* Cháy chậm:Cháy chậm thường xảy ra khi tốc độ gió trên tán rừng khoảng 5 – 15
m/s. Mức độ ổn định của đám cháy được duy trì bởi nhiệt lượng của cháy dưới tán. Tốc độ
di chuyển của đám cháy thường ở mức 0.3 - 0.9 km/giờ. Nhiệt lượng từ đám cháy lớn gấp
từ 10 – 20 lần so với cháy dưới tán, gây tác hại lớn hơn cháy nhanh do ngọn lửa cháy lan
tràn theo tất cả các tầng rừng, từ lớp thảm tươi đến tán rừng, làm cho rừng sẽ bị hại hoàn
toàn. Khu cháy thường có hình Bầu dục.
2.4 Cháy ngầm
Quá trình cháy các chất hữu cơ nằm dưới bề mặt đất, chủ yếu là lớp thân bùn và
mùn gọi là cháy ngầm.
Cháy ngầm chiếm khoảng 1.5 – 2 % trong tổng số vụ cháy rừng. Các chất hữu cơ
được tích tụ lâu dài trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng, bao gồm tầng thảm
mục, do cành khô lá rụng, các thân cây đổ, tầng rễ cây đã chết bị vùi lấp dưới mặt đất, …
Vào mùa khô, tầng chất hữu cơ này thường có độ ẩm thấp, có khả năng cháy khi gặp
nguồn lửa. Khi đã cháy thường khá ổn định, không thấy ngọn lửa và rất khó phát hiện.
Tốc độ của đám cháy ngầm rất chậm, đạt khoảng 0.5 – 5 m/ngày, cháy âm ỉ, í khói,
khó dập và dễ gây nguy hiểm cho người chữa cháy.
Cháy ngầm có thể kéo dài đến vài tháng, cháy sâu trong lòng đất, thậm chí ở độ sâu
vài mét. Do cháy chậm nên cháy triệt để, cháy rễ cây làm cho cây chết đứng và làm đổ
hàng loạt khi có gió mạnh, sự lan tràn của cháy ngầm không phụ thuộc vào hướng gió và
tốc độ gió mà chủ yếu phụ thuộc vào sự phân bố, khối lượng và độ ẩm vật liệu cháy. Vì
vậy, khi cháy rừng thường có hình tròn.
Ở nước ta, cháy ngầm thường xảy ra ở những khu rừng tràm ven biển, một năm có
6 tháng khô hạn và 6 tháng ngập nước. Vật liệu cháy cho cháy ngầm ở đây chính là lớp
than bùn có bề dày 0.8 – 1.5 m, thậm chí nhiều nơi còn sâu hơn. Khi cháy nhiệt độ toả ra
từ 400 – 700oC phần lớn dùng đển hun nóng và xấy khô lớp than bùn bên cạnh, vì vậy ở
độ ẩm cao khoảng 70 – 80 % than bùn vẫn cháy nếu như có nguồn lửa ban đầu. Trong
than bùn có chứa lượng hắc ín khá lớn, khoảng 20 – 25 %, khi cháy thường đóng thành
lớp vỏ cứng bên trên, ngăn nước ngấm vào trong, than bùn có đặc tính khó sấy khô, nhưng
khi đã khô thì khó thấm nước, khi độ ẩm từ 20 – 30 %, than bùn dễ bắt lửa.
Ngoài ra, cháy rừng còn hay xảy ra ở những khu rừng, phân bố trên núi cao
(>800m) nơi có khí hậu lạnh quanh năm, không thuận lợi cho vi sinh vật phân giải chất
hưu cơ, lượng mùn tích tụ dày có thể tới trên 1.5 m.
Tỷ lệ về số vụ cháy rừng theo các loại cháy và diện tích bị hại ở Mỹ và Nga được
thống kê ở biểu sau:
Biểu: Thống kê số vụ cháy rừng và diện tích bị hại ở Nga và Mỹ
Tên nước
Loại cháy
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
Số vụ cháy (%)
- 17 -
Diện tích bị hại (%)
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Nga
Mỹ
Ban QLTNR & MT
Cháy dưới tán
98,0
81,4
Cháy tán
1,5
18,6
Cháy ngầm
0,5
0,02
Cháy dưới tán
97,0
82,0
Cháy tán
2,0
17,9
Cháy ngầm
1,0
0,1
Việc phân chia 3 loại cháy trên chỉ có ý nghĩa tương đối, trong thực tế có thể xảy ra
đồng thời cả 3 loại cháy. Mỗi loại cháy có thể sinh ra độc lập nhưng cũng có thể chuyển
hoá cho nhau. Cháy mặt đất có thể gây ra cháy tán và cũng có thể gây cháy ngầm và
ngược lại, cháy tán và cháy ngầm cũng cỏ thể phát triển thành cháy mặt đất, …
Những khu rừng thưa thường xảy ra cháy mặt đất, rừng tràm vùng Tây Nam Bộ
hay rừng trên núi cao thường xảy ra cháy ngầm, vùng có cháy tán độc lập thường xảy ra ở
những khu vực rừng cây lá kim mọc dày, …
Ở nước ta có chiến thuật và kỹ thuật dập lửa tiên tiến với trang thiết bị hiện đại,
phân mức độ của cháy rừng ra thành các loại: Cháy nhỏ, cháy trung bình và cháy lớn. Dựa
trên diện tích bị cháy với mỗi loại cháy cần áp dụng những chiến thuật và kỹ thuật chữa
cháy phù hợp để đạt hiệu quả cao và đảm bảo an toàn khi chữa cháy.
- Đám cháy nhỏ: Diện tích cháy < 10 ha, thường là đám cháy bề mặt, chúng chưa
thực sự gây nên các tình huống nguy hiểm về cả tốc độ lan tràn cũng như cường độ cháy
và có thể kiểm soát bởi lực lượng chữa cháy tại chỗ với biện pháp tấn công trực tiếp.
- Đám cháy trung bình: Diện tích khoảng từ 10 – 100 ha, phần lớn là cháy tán.
Những đám cháy này thường có cường độ cao, phụ thuộc vào tình hình vật liệu cháy và
thời tiết, để dập lửa có thể áp dụng các biện pháp trực tiếp hoặc gián tiêp.
- Đám cháy lớn: Thường có diện tích > 100 ha và gây nên các thiệt hại nặng nề.
Trong tổng số các vụ cháy rừng, có khoảng từ 5 – 10 % các vụ cháy lớn. Phần lớn chúng
là kết quả tổng hợp của những điều kiện bất lợi về thời tiết và địa hình. Trong những đám
cháy lớn, đặc điểm về kích thước, sự phân bố và sự sắp xếp của vật liệu cháy chỉ đóng vai
trò thứ yếu, quan trọng hơn cả chính là tổng khối lượng vật liệu cháy. Chiến thuật dập lửa
ở các đám cháy này thường là tấn công một cách gián tiếp.
Chương 2
Vai trò sinh thái của lửa rừng
(Tổng số tiết: 5 tiết; lý thuyết: 5 tiết, bài tập: 0 tiết)
Lửa rừng là một nhân tố sinh thái đặc biệt, có quan hệ mật thiết với con người và
những nhân tố sinh thái khác như các nhân tố khí tượng, địa hình, sinh vật và đất đai, …
Lửa rừng có thể gây ra những tác động sâu sắc trong quá trình hình thành và phát triển
rừng. Những tác động đó được thể hiện khá rõ thông qua các cơ chế tác động của nhiệt độ
cao và có thể dẫn đến mất cân bằng sinh thái.
Lửa rừng có thể gây ra những ảnh hưởng trực tiếp tới các thành phần thực vật, động
vật và vi sinh vật, đất và tiểu khí hậu rừng, đồng thời cũng có thể gây ảnh hưởng gián tiếp
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 18 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
đối với từng thành phần trong hệ sinh thái rừng thông qua quá trình tác động đến các
thành phần khác.
Mức độ và tính chất ảnh hưởng của lửa đến hệ sinh thái rừng được quyết định bởi
chu kỳ xuất hiện, cường độ và thời gian cháy. Chu kỳ cháy dài hay ngắn có ảnh hưởng đến
đặc điểm cấu trúc tổ thành của hệ sinh thái rừng. Trong những điều kiện nhất định, một số
loài sẽ sinh trưởng kém hoặc bị chết nếu ảnh hưởng của đám cháy vượt quá ngưỡng cho
phép, trong khi một số loài khác lại có thể tồn tại thậm chí còn phát triển tốt hơn. Vì vậy,
có thể nói lửa rừng đã tham gia vào quá trình hình thành khả năng thích nghi của các loài
và chọn lọc tự nhiên.
Sinh thái lửa rừng là khoa học nghiên cứu các tính chất và quy luật ảnh hưởng của
lửa rừng đối với môi trường, động vật, thực vật và vi sinh vật cũng như cả hệ sinh thái
rừng. Sinh thái lửa rừng là cơ sở lý luận quan trọng cho công tác phòng cháy, chữa cháy
và lợi dụng lửa rừng trong kinh doanh.
1. Lửa là một nhân tố sinh thái đặc biệt
1.1. Lửa rừng là nhân tố sinh thái không liên tục
Không giống như các nhân tố sinh thái khác như: Ánh sáng, nhiệt độ, nước, CO 2,
O2, … lửa không luôn luôn tồn tại với đời sống cây rừng, cây rừng không thể sử dụng lửa
rừng để sống.
Những nhân tố sinh thái thường mang tính liên tục và tương đối ổn định. Mặc dù
các nhân tố đó có sự biến đổi liện tục nhưng chúng thường tuân theo quy luật ngày đêm và
theo mùa. Ngược lại, trong các điều kiện tự nhiên, lửa rừng là nhân tố ngẫu nhiên không
liên tục, không ổn định và không tuân theo quy luật, … Lửa rừng xuất hiện nhiều hay ít
còn phụ thuộc vào nhận thức của con người và điều kiện xã hội. Vì vậy, đặc tính cũng như
ảnh hưởng của lửa nhiều khi rất khó xác định.
1.2. Lửa rừng có thể tồn tại độc lập ngoài hệ sinh thái rừng
Những nhân tố sinh thái thông thường đều luôn tồn tại trong các hệ sinh thái rừng,
nhưng lửa rừng lại có thể tồn tại độc lập, tách rời các hệ sinh thái rừng đó.
Trong hệ sinh thái rừng tồn tại 4 thành phần cơ bản: Những chất vô cơ tham gia vào
chu trình tuần hoàn vật chất, chất hữu cơ liên kết các thành phần hữu sinh và vô sinh, chế
độ khí hậu và sinh vật. Sự tồn tại như vậy không cần tới sự có mặt của lửa rừng. Nhưng
khi đã xuất hiện trong rừng (do con người hoặc do tự nhiên) thì lửa có thể gây ra những
tác động to lớn đối với từng thành phần hay toàn bộ hệ sinh thái rừng biến đổi trong các
điều kiện cụ thể khác nhau.
1.3. Quan hệ giữa lửa rừng và con người
Việc tìm ra lửa và sử dụng trong cuộc sống giữ một vai trò quan trọng trong tiến
trình phát triển của xã hội loài người. Tuy nhiên, do sự kiểm soát của con người đối với
lửa còn rất hạn chế nên khi con người sử dụng lửa trong rừng, có thể là vô tình hay cố ý đã
gây ra những vụ cháy rừng thiệt hại lớn và khó lường.
Các kết quả thống kê đã cho thấy có khoảng từ 80 – 95 % số vụ cháy rừng do con
người gây ra, điều đó cho thấy mối quan hệ giữa lửa rừng – con người - rừng, vì vậy muốn
bảo vệ rừng khỏi cháy, trong quản lý lửa rừng trước hết phải giáo dục ý thức dùng lửa của
con người.
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 19 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
1.4. Lửa rừng là nhân tố sinh thái tàn khốc
Các nhân tố sinh thái như: Nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, … thường biến đổi mang
tính quy luật và tương đối ổn định, chúng cần thiết cho sự tồn tại của rừng, đôi khi chúng
cũng có thể ảnh hưởng xấu nhưng không thường xuyên.
Lửa rừng mỗi khi xuất hiện đều có thể biểu hiện sự tàn khốc. Ở nhiệt độ cao, các tế
bào lá cây và vỏ cây bị mất khả năng sống. Với những đám cháy lớn, cả khu rừng có thể bị
thiêu cháy thành tro bụi, đất bị cháy xém, môi trường lập địa bị suy thoái, hệ sinh thái
rừng bị mất bân bằng.
2. Lửa như một quá trình tự nhiên trong rừng
Khi con người chưa xuất hiện lửa rừng vẫn xuất hiện, nguồn gây ra lửa rừng do các
quá trình tự nhiên gây ra như sấm sét, núi lửa, động đất, đá đổ, … rất khó khống chế.
Những vụ cháy này chiếm tỷ lệ thấp (1 – 5 %).
Theo , lửa rừng có thể tạo thành “lốc lửa” – một hiện tượng
tự nhiên có khả năng hủy diệt lớn.
Sức mạnh hủy diệt của lốc lửa
Lốc lửa còn có tên gọi khác như quỷ lửa hay xoáy lửa, một hiện tượng thiên nhiên
thực ra không phải là hiếm, mà nó “hiếm vì ít khi được ghi lại trong các tài liệu”.
Lốc lửa xảy ra khi một ngọn lửa chịu tác động của những điều kiện nhất định, phụ
thuộc vào nhiệt độ không khí và luồng gió, đạt được độ xoáy thẳng đứng và hình thành
một "lốc lửa", hoặc một hiện tượng trông như cột không khí xoay chuyển có định hướng.
Lốc lửa thường xảy ra khi có cháy rừng. Nó có thể đạt độ cao từ 9 – 60 m và tỏa
rộng đến 3 m nhưng chỉ kéo dài vài phút, trừ trường hợp gió to. Lốc lửa thường di chuyển
khá chậm, bằng với tốc độ đi bộ bình thường hoặc có thể chậm hơn. Lốc lửa rất nguy
hiểm, nó thiêu cháy mọi thứ xung quanh cản đường đi của nó. Những cơn lốc lớn có thể
tạo ra gió với vận tốc 160 km/h, đủ để quật ngã cây cối.
Gió lốc cộng thêm lửa rừng sẽ rất dễ tạo nên những cơn lốc lửa với khả năng hủy
diệt lớn. Sự chênh lệch nhiệt độ rất lớn giữa ngọn lửa đang bốc cháy nóng rực và vùng
không khí lạnh xung quanh có thể tạo thành các vòng xoáy lửa. Khi gặp gió thuận và khí
lưu, các vòng xoáy lửa bắt đầu bốc lên không trung.
Lốc lửa cũng xảy ra khi sức nóng và gió mạnh gặp nhau, hình thành nên một cuộn
lốc không khí nóng. Cuộn khí này nhanh chóng chuyển thành lốc, trong điều kiện thời tiết
khô hanh, nóng nực thì khí oxy bị cuốn vào lốc rất dễ bốc cháy. Phản ứng cháy này xảy ra
ở trong phần trung tâm (core) của cơn lốc.
Phần “core” của một cơn lốc lửa thông thường có chiều rộng từ 0,3 - 0,9 m và
chiều cao từ 15 – 30 m. Trong thực tế, có những cơn bão lửa khổng lồ thực sự với chiều
cao lên đến 300 m. Những cơn lốc khổng lồ này xuất hiện ít nhất một năm một lần tại Mỹ.
Đôi khi, lốc lửa còn đi kèm cả tro bụi nóng, nhiệt độ ở khu vực “core” của lốc lửa
có thể lên tới 1.093°C - đủ nóng để thiêu cháy những gì trên đường đi của nó và tạo ra một
lượng lớn tro bụi nóng.
Lốc lửa cũng có thể xuất hiện từ một đám than bùn cháy, trong môi trường với
nhiều khí carbon thì càng là nguồn “nhiên liệu” quý giá cho lốc lửa. Khí carbon bốc lên từ
đám than sẽ ‘mò” vào phần core của cơn lốc. Tại đây có sẵn khí oxy nóng sẽ khiến sự
bùng cháy càng mạnh mẽ hơn.
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 20 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
3. Ảnh hưởng của lửa rừng tới thực vật rừng
Cháy rừng có thể gây ảnh hưởng nhiều mặt và sâu sắc đến quần thể thực vật rừng,
mức độ ảnh hưởng đó được quyết định bởi những đặc tính của đám cháy rừng như: Tốc độ
lan tràn, cường độ cháy, chu kỳ cháy, … cũng như khả năng tích ứng và kết cấu của quần
thể thực vật.
3.1. Ảnh hưởng trực tiếp
Ảnh hưởng trực tiếp của lửa rừng đến quần thể thực vật rừng được thể hiện chủ yếu
thông qua mức độ sát thương của cây rừng. Mức độ này được quyết định bởi nhiệt độ và
sự kéo dài của đám cháy. Với lá kim ở nhiệt độ 49 oC, sau một giờ các tế bào bắt đầu chết;
ở 45oC, sau 10 phút và ở nhiệt độ 60oC chỉ sau 30 giây. Đặc tính kết cấu mô của các loài
khác nhau có mức độ sát thương do lửa cũng không giống nhau. Mức độ sát thương càng
lớn, cây bị chết càng nhiều.
Thành phần của khói sinh ra khi cháy cũng có ảnh hưởng nhất định với thực vật
rừng, nhưng mức độ thiệt hại không nguy hiểm lắm. Ảnh hưởng của khói có liên quan đến
hàm lượng các chất có hại và thời gian bao phủ của khói, hàm lượng ít thì chỉ ảnh hưởng
đến quang hợp, hàm lượng cao thì gây độc cho mô tế bào. Nếu thời gian bao phủ kéo dài,
sức sống của cây và mức độ chống chịu sâu bệnh cũng giảm. Ngoài ra, khói bụi còn ảnh
hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng ánh sáng, làm cho ánh sáng trực xạ giảm, ảnh
hưởng tán xạ tăng lên nhất là vào mùa hè và mùa thu. Cháy rừng trên diện tích lớn cũng
làm giảm năng xuất cây trồng.
3.2. Ảnh hưởng gián tiếp
Sau khi một phần cây rừng bị chết, mặt đất nhận được ánh sáng nhiều hơn, nhiệt độ
tăng lên, độ ẩm giảm xuống, một số chất dinh dưỡng khoáng cũng tăng. Điều đó tạo điều
kiện thuận lợi cho các loài cây ưa sáng xâm nhập và sinh trưởng.
Sau khi cháy rừng, đất rừng mất Nitơ nghiêm trọng, nhưng sau đó xuất hiện một số
loài cây có khả năng cố định Nitơ nên một thời gian sau lượng Nitơ sẽ được bù lại.
3.3. Khả năng thích ứng của cây rừng với nhiệt độ cao
Trải qua quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài, có những loài cây đã hình thành
khả năng và đặc điểm chống chịu với nhiệt độ cao. Một số loài cây có cấu tạo lớp vỏ dày,
mọng nước, những loài cây khác lại hình thành lớp lá bảo vệ các mần non và chồi ngọn
như Bạch đàn ở Autralia hay rừng Quecus suber ở châu Âu.
Gill (1978) đã ghi nhận rừng Bạch đàn (E. dives) cao 5 – 7 m có thể đâm chồi, tạo
cành nhánh và tổng diện tích lá so với trước khi cháy ngay trong vòng 3 năm đầu tiên sau
cháy mặc dù khu rừng này đã bị thiêu cháy trụi hoàn toàn tán lá. Một số loài cây, nhất là
những loài cây thuộc phân lớp một lá mầm lại có khả năng ra hoa nhiều hơn khi chịu
những tác động kích thích của lửa, phổ biến nhất như những loài trong các họ
Graminaceae (Hòa thảo), Orchidaceae (Phong lan), Iridaceae (Lay ơn), Amaryllidaceae
(Loa kèn đỏ), Xanthorrhoeceae (Thực vật có hoa – Hoa lửa), Liliaceae (họ Loa kèn/họ
Hành), …
Một số loài cây khác lại có khả năng nẩy mầm rất nhanh sau khi khu rừng bị cháy
do hạt của chúng bị kích thích bởi điều kiện nhiệt độ thích hợp. Bên cạnh đó còn có rất
nhiều loài hình thành những đặc điểm thích nghi với nhiệt độ cao thông qua cơ chế tự điều
chỉnh về thành phần hoá học, thời kỳ ra hoa, thời kỳ rụng lá, …
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 21 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
Các loài cây, kiểu rừng khác nhau sẽ có loại cháy và mức độ cháy khác nhau.
Nghiên cứu tính thích ứng của loài cây với nhiệt độ cao sẽ cung cấp cơ sở quan trọng cho
công tác tuyển chọn và gây trồng các loài cây có khả năng phòng cháy.
3.4. Cháy rừng làm biến đổi động thái quần thể thực vật rừng
Khi xuất hiện cháy nhỏ và không đều không những có thể để lại nhiều loài cây mà
còn tạo điều kiện cho một số loài cây mới xâm nhập làm tăng tính đa dạng của quần thể.
Khi xuất hiện cháy lớn có thể gây ra những biến đổi sâu sắc trong cấu trúc tổ thành quần
thể thực vật rừng và tạo ra diễn thế thứ sinh. Mức độ cháy càng lớn, diễn thế càng triệt để.
Nếu cháy nhiều lần, đối với cây non, cây đang có quả sẽ dẫn đến tình trạng thiếu
hạt giống, rất khó có thể tiến triển. Quá trình cháy theo chu kỳ có thể hình thành quần thể
cực đỉnh cháy. Quần thể này không phải là quần thể thực sự của khu vực đó, mà là do hình
thành loài cây chính trong quần thể có khả năng thích ứng mạnh với lửa, lửa đã loại bỏ các
loài cạnh tranh với nó.
4. Ảnh hưởng của lửa rừng tới động vật và vi sinh vật
Động vật hoang dã được chia ra động vật có sương sống và động vật không sương
sống, khi nghiên cứu mực độ ảnh hưởng của cháy rừng đến chúng cho thấy sự ảnh hưởng
không giống nhau.
4.1. Ảnh hưởng của lửa rừng đến động vật có sương sống
Động vật có sương sống có thân thể lớn, có tính cơ dộng mạnh, có những đặc trưng
hành vi nhất định. ảnh hưởng của lửa có mặt trực tiếp hoặc gián tiếp và có quan hệ với tập
tính, hành vi của động vật
a. Ảnh hưởng trực tiếp
Khi xảy ra cháy rừng, những loài động vật di chuyển nhanh thường có thể tìm nơi
ẩn náu tạm thời ở những khu vực đã qua cháy hoặc những khu vực chưa bị cháy, trong khi
đó, những loài có khả năng cơ động kém hơn phải lẩn tránh trong các hoang hốc hoặc
dưới lòng đất.
Khu hệ động vật trong lòng đất hoặc những loài tìm nơi cư trú tạm thời trong đất
hầu như không lo sợ trước sự đe doạ của lửa rừng, bởi vì nguồn nhiệt của đám cháy
thường chỉ thâm nhập sâu tới vài cm xuống lòng đất.
Các loài chim thường không có gì lo sợ hơn đối với lửa ngoài sự an toàn đối với tổ
của chúng, thậm chí có rất nhiều loài chim được hưởng lợi sau khi cháy do chúng có thể
dễ dàng kiếm mồi.
Phản ứng của động vật tới cháy rừng phụ thuộc vào sinh cảnh, mức độ nhạy cảm
với khói lửa, tính linh động và khả năng tìm kiếm nơi ẩn náu của chúng.
* Sự trốn tránh
Một con vật có thể lựa chọn cách thức trốn chạy, đào bới và ẩn náu trong lòng đất
hoặc chỉ đơn giản là trú ngụ tại một ví trí nào đó không xa lắm so với ngọn lửa, điều đó
hầu như hoàn toàn phụ thuộc cường độ và tốc độ lan tràn của đám cháy cũng như đặc tính
quen thuộc của con vật hoặc của loài đối với lửa rừng. Ở những hệ sinh thái có đám cháy
bề mặt xuất hiện mang tính chu kỳ ngắn như ở Miền Nam nước Mỹ hoặc một số khu vưực
thuộc Autralia, hầu hết các loài động vật đều hình thành những khả năng thích nghi tương
đối cao với lửa. Trái lại ở những khu vực phía Bắc, sự cháy hiếm khi xảy ra thường chia
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 22 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
qua nhiều thế hệ cho nên phản ứng đối với lửa của các loài phụ thuộc nhiều vào mức độ đe
doạ do đám cháy gây ra.
Trong vụ cháy lớn kéo dài suốt hai tháng liền vào năm 1951 ở Siberia, người ta đã
chứng kiến sự “Sơ tán” của các loài Sóc (Sciurus), Gấu (Ursus) và Nai sừng tấm (Alces)
trong lúc chúng đang bơi qua những con sông lớn để thoát khỏi sự đe doạ của lửa rừng
(Udvardy, 1969). Đối lại những gì đã thấy trong những trường hợp như vậy, Hakala (1971)
đã mô tả một cảnh bầy Thiên Nga (Cygnus) nhởn nhơ dạo cảnh trên mặt nước của một
khu hồ nhỏ bên rừng ngay cả khi ngọn lửa ập tới bờ hồ. Một nhóm các con Tuần lộc
(Rangifer) đang tạm thời nằm lại trên nền đất trong khi bị lửa bao vây rồi sau đó mới di
chuyển đi nơi khác. Cách ứng phó điềm tĩnh tương tự như vậy đối với lửa rừng của một số
loài chim và động vật có vú đang được Vogl ghi lại vào những năm 1967 và 1973 ở
Wissconsin.
* Lửa rừng và sự tử vong
Cho tới nay, đã có rất nhiều công trình điều tra, nghiên cứu đề cập tới sự chết chóc
do lửa rừng gây ra. Các động vật nhỏ, chẳng hạn như một số loài chuột thường không thể
chịu đựng được trong điều kiện nhiệt độ vượt quá 62 oc. Tuy nhiên, hầu hết các loài động
vật sống trong các hang lại thường bị chết bởi sự nghẹt thở hơn là do tác động bởi nhiệt độ
cao (Chew, 1958).
Lawrence cho rằng một số loài động vật có thể bị nghẹt thở khi bị kẹt trong hang
do thiếu O2 và do sự bốc hơi nước của đất dưới tác dụng của nhiệt độ làm cho nguồn
không khí vốn ít ỏi trong hang trở nên ẩm ướt và nóng hơn. Các loài chim thú thường điều
chỉnh thân nhiệt của chúng dựa vào cơ chế làm lạnh phải chịu đựng nhiệt độ cao, thông
qua quá trình thoát hơi nước qua da. Khi nhiệt độ trong hang vượt quá giới hạn chịu đựng
của cơ thể và quá trình thoát hơi nước không thể thực hiện được do áp lực quá cao của hơi
nước bên ngoài thì con vật sẽ bị chết.
Nhìn chung, hầu hết các kết quả điều tra, nghiên cứu đều cho rằng các loài động vật
có sương sống thường rất hiếm khi bị chết một cách trực tiếp do lửa rừng gây ra. Tuy vậy,
khi đám cháy phát sinh và phát triển trên một diện tích rộng, với tốc độ làn tràn và cường
độ cao thì ngay cả những loài có tốc độ di chuyển nhanh cũng rất có thể bị lửa thiêu chết.
b. Ảnh hưởng gián tiếp
Ảnh hưởng gián tiếp của lửa rừng đến động vật có xương sống được biểu hiện
thông qua quá trình làm biến đổi sinh cảnh sống của chúng.
Sự thiêu huỷ thảm thực vật và xuất hiện màu đen của mặt đất sau khi cháy có thể
làm tăng nhiệt độ đất, do đó lửa rừng trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến đời sống của
chim và thú. Do sự phơi trống nền đất nên biên độ nhiệt ở những khu rừng đã qua cháy
lớn hơn rất nhiều so với nơi còn nguyên vẹn. Sự thay đổi chế độ chiếu sáng, nhiệt độ và
gió cũng đồng thời ảnh hưởng đến độ ẩm không khí và gây ra những tác động đối với một
số loài động vật, thực vật nhạy cảm.
Sự đổ gẫy của cây rừng sau khi cháy có thể gây nhiều trở ngài cho sự di chuyển của
một số loài động vật. Tuy nhiên, Cũng do cháy làm giảm bớt số cành khô lá rụng đã tạo
điều kiện thuận lợi cho một số loài tìm kiếm thức ăn trên nền đất.
Diện tích đám cháy là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới động vật.
Đối với những đám cháy nhỏ, khả năng xuất hiện của các loài sau cháy sẽ cao hơn so với
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 23 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
đám cháy lớn, do các con vật có thể dễ dàng di chuyển từ nơi trống vào nơi có rừng chưa
bị cháy.
Nguồn dinh dưỡng sau khi cháy ở năm thứ nhất đối với những loài động vật ăn cỏ,
có thể sẽ tăng lên rất nhiều. Miller (1964) cho rằng lửa rừng làm cải thiện nguồn dinh
dưỡng thông qua quá trình làm tăng hàm lượng Protein và acid photphoric. Sau khi cháy
hàm lượng Protein đã được tăng lên từ khoảng 5 % - lên 42 % do những mầm non mới
xuất hiện còn Acid photphoric tăng tới 78 %.
Ảnh hưởng của cháy rừng đến các loài chim thường làm giảm thành phần loài ăn
trên cây và làm tăng số lượng loài ăn dưới đất.
Lửa rừng có thể làm biến đổi cấu trúc thảm thực bì do vậy làm biến đổi môi trường
sống của các loài động vật. Sự biến đổi ấy được biểu hiện thông qua quá trình biến đổi
chuỗi thức ăn, mái che, nơi săn mồi, …
Lửa rừng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho những loài này nhưng lại tạo những trở
ngại và sự huỷ diệt cho những loài khác. Do vậy, có thể nói rằng lửa rừng đã góp phần
quan trọng làm thay đổi các quần thể động vật.
4.2. Ảnh hưởng của lửa rừng đến động vật không xương sống
Động vật không sương sống ở trong rừng rất phong phú. Chúng sống chủ yếu ở
trên cây và lớp thảm mục của rừng.
Cháy rừng có thể làm số lượng động vật trong đất giảm, chủ yếu do lớp thảm mục
bị thiêu hủy và nhiệt độ đất lên trên 60 oC. Cường độ lửa càng mạnh thì chúng chết càng
nhiều do bị lửa thiêu rụi hoặc mất nguồn thức ăn.
Vật chủ của các loài động vật chân đốt là cây gỗ và thực vật rừng. Sau khi cây bị
cháy, các loài côn trùng trên cây bị chết, làm cho động vật chân đốt giảm xuống.
Cháy rừng có thể đốt chết trứng, sâu non, nhộng vì vậy tuỳ điều kiện có thể dùng
lửa để khống chế côn trùng.
4.3. Đám cháy và sự hấp dẫn đối với động vật
Do xu thế hướng quang, sự hấp dẫn của ánh sáng lửa đối với các loài bướm đêm đã
trở thành vấn đề quen thuộc, ngoài ra còn rất nhiều loài côn trùng thuộc bộ cánh cứng
(Lepidoptera) cũng bị cuốn hút bởi ánh sáng do lửa rừng gây ra.
Komarek (1969) đã ghi nhận rằng một số loài Chuồn chuồn xanh (Pantala
flavescens), Chuồn chuồn ngô (Ajax junius), Chuồn chuồn nâu (Erythmis simplificollis) và
Chuồn chuồn kim (Lespes vigilax) thường chỉ xuất hiện vào một khoảng thời gian nhất
định trong ngày cũng như trong năm, đồng thời chúng cũng bị thu hút bởi một số loại cháy
rừng. Tác giả cũng chỉ ra rằng loài Ruồi khói (Microsania) lại dễ bị hấp dẫn bởi tổ hợp
mùi do khói gây ra.
Một số loài Bọ cánh cứng như (Merimna atrata) ở Australia, Melanophila atrata và
M. acuminata ở Mỹ cũng bị tác động cuốn hút bởi lửa. Những loài này có cơ quan phát
hiện bức xạ hồng ngoại, có thể định vị đám cháy ở cự ly rất xa (100 – 160 km).
Có nhiều loài chim, thú muốn đến gần đám cháy để có thể bắt được nhiều con mồi
hơn. Komarek (1969) đã thống kê được 85 loài chim thú thuộc khu vực Bắc Mỹ, 34 loài
chim thuộc châu Phi và 22 loài chim thuộc miền Bắc Australia bị hấp dẫn trước sự xuất
hiện của khói lửa. Các loài chim như Đại bàng, Diều hâu, Cắt, Kền kền và các loài thú như
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 24 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh
Cơ sở 2 – Đại học Lâm nghiệp
Ban QLTNR & MT
Sư tử (Panthera leo), Báo (Panthere pardus), Báo bờm (Acinonyx jubatus), … đều có thể
dễ dàng săn bắt những con mồi khi chúng tìm đường thoát khỏi sự bao vây của lửa rừng.
Một số loài động vật ăn cỏ rất thích ăn tro hoặc than còn lại sau cháy nhằm làm bổ
sung hàm lượng muối khoáng cho cơ thể như các loài Thỏ thuyết (Lepus americanus),
Chuột bông (Sigmodo hispidus) và loài Nai đuôi trắng (Odocoileus virginianus).
Một số loài động vật ăn cỏ khác lại thích đầm mình trong lớp tàn tro để loại bớt ve,
rận và các loài côn trùng ký sinh trên cơ thể của chúng. Komark (1967) cũng ghi nhận sự
cuốn hút bởi lửa rừng và lửa trại các loài Linh trưởng như Gorilla, Vượn đen, Khỉ
Colobus…
4.4. Ảnh hưởng của động vật hoang dã đối với lửa rừng
Lửa rừng ảnh hưởng tới môi trường sống của động vật hoang dã và ngược lại,
chính các loài động vật hoang dã lại có ảnh hưởng gián tiếp tới quá trình làm tăng hoặc
giảm khả năng xuất hiện, cường độ cháy và mức độ nguy hiểm của lửa.
Các loài động vật nói chung và côn trùng nói riêng có thể gây ra những nguy hại
lớn cho quần thể thực vật rừng khi chúng tấn công làm phát dịch, làm suy yếu, làm đổ gẫy
những cây còn sống và tỉa thưa tầng tán của lâm phần, để lại các sản vật rơi rụng hoặc các
bộ phận của cây đã bị tổn thương, khi khô những sản vật này sẽ trở thành vật liệu cháy. Ví
dụ điển hình về những trường hợp như vậy trước sự xâm nhập của nấm và côn trùng đã
làm tăng nguy cơ xuất hiện lửa rừng ở các khu rừng Abies balsamea và Picea ở miền Đông
Nam Canada và nước Anh vào những năm 1825; 1922 (Flieger, 1970) cũng như ở rừng
Pinus contorta ở miền Trung Nam Oregon (Geiszler, 1980).
Các loài chuột gặm nhấm thân cây có thể làm cho cây bị chết khô và làm tăng số
lượng vật liệu cháy. Sóc ăn quả thông làm cành khô rụng nhiều, rừng dễ bị cháy. Các tổ
chim trên cây có thể gây cháy tán. Các loài động vật ăn cỏ lớn như Hươu, Nai sừng tấm,
Hải ly, một số loài gặm nhấm có thể làm đảo lộn thành phần loài cây và khối lượng vật
liệu cháy của lâm phần khi chúng tìm kiếm thức ăn, nhất là khi chúng chỉ chọn một hay
một số loài cây nào đó (Bailey và Poulton, 1968). Trong trường hợp như vậy, chúng gây
ảnh hưởng đồng thời tới khả năng xuất hiện và cả những đặc tính cơ bản của lửa rừng.
Việc chăn thả những bầy đàn lớn của các động vật ăn cỏ có thể làm giảm nguồn cung cấp
vật liệu cháy, giảm nguy cơ xuất hiện lửa rừng và thậm chí có thể tạo ra các đường băng
phòng cháy tốt.
5. Ảnh hưởng của lửa rừng tới môi trường
Ảnh hưởng của lửa rừng đến môi trường có nhiều mặt và chủ yếu là biểu hiện
thông qua những ảnh hưởng đối với đất, nước, không khí.
5.1. Ảnh hưởng của cháy rừng đối với đất
Sau khi cháy, nhiệt độ đất - tính chất lý hóa của đất và các vinh sinh vật trong đất
đều bị biến đổi.
a. Ảnh hưởng của lửa rừng đối với quá trình sấy nóng và tăng nhiệt độ đất
Nói chung, lửa rừng làm nhiệt độ đất tăng cao, mức độ tăng đó được quyết định bởi
cường độ cháy, thành phần và khối lượng vật liệu cháy, tính chất lý hóa của đất. Cường độ
cháy càng lớn, nhiệt độ càng cao. Mức độ khắc nghiệt của lửa rừng có thể đánh giá từ khối
lượng vật rơi rụng bị thiêu hủy và khối lượng khoáng chất được tạo ra (Well et al. 1979).
Bài giảng môn Quản lý lửa rừng 1
- 25 -
Giảng viên: Ths. Nguyễn Thị Hạnh