TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ XUYẾN
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU
PHÂN LOẠI CHI CẢI
(BRASSICA L. 1753) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
HÀ NỘI, 2018
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ XUYẾN
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU
PHÂN LOẠI CHI CẢI
(BRASSICA L. 1753) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Hà Minh Tâm
HÀ NỘI, 2018
LỜI CẢM ƠN
Trong q trình làm khóa luận, tơi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ
của TS. Hà Minh Tâm và TS. Đỗ Thị Xuyến. Nhân dịp này, tơi xin bày tỏ lịng
biết ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô.
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Trần Thế Bách cùng tập thể cán bộ
phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi và tận tình giúp đỡ tơi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tơi cịn nhận được sự giúp đỡ của nhiều
tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường. Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm
ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; đặc
biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tơi học tập
và nghiên cứu.
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
ĐHSP Hà Nội 2, ngày 09 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Xuyến
LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tơi xin cam đoan:
Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Cải (Brassica L. 1753)
ở Việt Nam” là cơng trình nghiên cứu của cá nhân tơi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn của TS. Hà Minh Tâm và TS. Đỗ Thị Xuyến. Các kết quả trình bày
trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ cơng trình nào
trước đây.
ĐHSP Hà Nội 2, ngày 09 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Xuyến
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................... 3
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................................. 7
2.1. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................................... 7
2.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................. 7
2.3. Thời gian nghiên cứu .......................................................................................... 7
2.4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 7
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 11
3.1. Hệ thống phân loại và vị trí của chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam .................... 11
3.2. Đặc điểm phân loại chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam ....................................... 11
3.3. Khóa định loại các lồi thuộc chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam ....................... 13
3.4. Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam ................ 13
3.4.1. Brassica campestris L. - Cải sen ................................................................... 13
3.4.2. Brassica chinensis L. 1759 - Cải thìa ........................................................... 15
3.4.3. Brassica integrifolia O. E. Schulz, 1919 - Cải ngọt ..................................... 17
3.4.4. Brassica juncea (L.) Czern. 1859 - Cải bẹ xanh ........................................... 19
3.4.5. Brassica oleracea L. 1753 ............................................................................ 21
3.4.5a. Brassica oleracea var. botrys - Súp lơ .................................................. 24
3.4.5b. Brassica oleracea var. capitala L. 1753 – Cải bắp............................... 25
3.4.5c. Brassica oleracea var. gongylodes L. 1753 – Su hào ........................... 26
3.4.5d. Brassica oleracea var. gemmifera DC. 1821 – Súp lơ chồi ................. 27
3.4.5e. Brassica oleracea var. italica Plenck, 1794 – Cải bông xanh .............. 27
3.4.5f. Brassica oleracea var. sabauda L. 1753 – Cải quăn ............................. 27
3.4.5g. Brassica oleracea var. viridis L. 1753 – Cải rổ .................................... 27
3.4.6. Brassica pekinensis (Lour.) Rupr. 1860 - Cải thảo ....................................... 28
3.4.7a. Brassica rapa L. var. amplexicaulis - Cải tua-sai ....................................... 30
3.5. Giá trị tài nguyên ................................................................................................. 31
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................... 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
“Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Cải (Brassica L. 1753) ở Việt
Nam” Hiện nay, sự phát triển của khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ
thông tin đã thúc đẩy sự phát triển nhiều ngành khoa học khác nhau trong sinh
học, trong đó có phân loại học thực vật.
Chi Cải (Brassica L.), thuộc họ Cải (Brassicaceae Burnet, 1835), còn gọi là
Thập tự (Cruciferae Juss. 1789) có khoảng 40 lồi, chủ yếu ở khu vực Địa Trung
Hải, đặc biệt là Tây Nam châu Âu và Bắc Phi. Ở Việt Nam, chi này hiện có 6
lồi, trong đó có 6 lồi được dùng làm thuốc, 6 loài được dùng làm rau ăn cho
con người và 6 loài làm thức ăn cho gia súc. Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một
số cơng trình đề cập đến phân loại chi Cải nhưng vẫn chưa đầy đủ và có hệ
thống, một số thơng tin thiếu cập nhật. Do đó, cần có một cơng trình nghiên cứu
phân loại chuyên sâu và đầy đủ để thống nhất, phục vụ trực tiếp việc biên soạn
bộ sách Thực vật chí Việt Nam về chi Cải (Brassica L.) và cho những nghiên
cứu có liên quan.
Từ thực tế nêu trên, tơi đã chọn đề tài: “Bước đầu nghiên cứu phân loại
chi Cải (Brassica L. 1753) ở Việt Nam”.
Mục đích nghiên cứu: Hồn thành cơng trình khoa học về phân loại chi
Cải (Brassica L.) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên
cứu họ Brassicaceae, phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho
những nghiên cứu có liên quan.
Nội dung nghiên cứu:
– Phân tích các hệ thống phân loại chi Cải (Brassica L.) trên thế giới, từ đó
lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp chi và các loài thuộc chi Cải ở Việt Nam.
– Điều tra nghiên cứu thực địa để thu thập mẫu vật và các thông tin về phân
bố, sinh thái,..
1
– Phân tích mẫu vật để định loại, xây dựng bản mơ tả chi, các lồi và tìm
hiểu giá trị tài nguyên của các loài thuộc chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam.
– Xây dựng khố định loại các lồi thuộc chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
– Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí
Việt Nam về họ Brassicaceae ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành
phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về chi Cải
(Brassica L.) ở Việt Nam.
– Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành ứng
dụng và sản xuất lâm nghiệp, y dược, sinh thái và tài nguyên sinh vật,…
Điểm mới của đề tài
Đây là cơng trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành phân loại chi Cải
(Brassica L.) ở Việt Nam một cách đầy đủ và có hệ thống, giúp cho việc tra cứu
thơng tin nhanh chóng, chính xác.
Bố cục của khóa luận: Gồm 35 trang, 2 hình vẽ, 9 ảnh, 1 bảng được chia
thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 4
trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4
trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 20 trang), kết luận và kiến nghị: 1 trang,
tài liệu tham khảo: 27 tài liệu; bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, phụ lục.
2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. 1. Trên thế giới
Người đầu tiên nghiên cứu về chi này là Linnaeus năm 1753 [23] trong
cơng trình "Species Plantarum".Trong cơng trình này, tác giả đã cơng bố chi
Brassica với 3 lồi là Brassica campestri, Brassica oleracea và Brassica rapa.
Trong đó, lồi Brassica oleracea được coi là lồi chuẩn của chi. Sau Linnaeus,
cịn một số tác giả nghiên cứu chi Brassica nhưng chủ yếu là những cơng bố
mới. Về hệ thống, khơng có tiến bộ đáng kể nào.
A. Jussieu (1789) [22] khi xây dựng hệ thống phân loại cho họ Cruciferae
(tên thứ hai của Brassicaceae) đã xếp chi Brassica vào họ này cùng với các chi
Raphalus, Sinapis, Turritis,…
G. Bentham & J. D. Hooker (1862) [15] khi xây dựng hệ thống phân loại
cho họ Cruciferae (tên thứ hai của Brassicaceae) đã xếp chi Brassica tông
Brassiceae cùng với các chi Eruca, Henophyton, Moricandia...
A. Takhtajan (2009) [26] khi xây dựng hệ thống phân loại họ Cải
(Brassicaceae) đã xếp chi Brassica vào tông Brassiceae cùng với các chi Eruca,
Raphalus, Sinapis, Sinpidendron...
Bên cạnh các hệ thống phân loại nêu trên, một số tác giả đã nghiên cứu
phân loại chi Cải ở các nước gần Việt Nam, như:
B. Jonsell (1988) [21] đã nghiên cứu phân loại chi Brassica ở khu vực
Malesian trong “Flora Malesiana Vol. 10, part 3”, tác giả đã mơ tả đặc điểm
chi, và mơ tả 1 lồi có ở vùng Malesiana là: Brassica juncea. Bên cạnh việc
cung cấp các thông tin về danh pháp, đặc điểm phân bố, sinh thái, tác giả cịn
cung cấp thơng tin về giá trị sử dụng của loài.
Siemonsma J. S. and Kasem Piluek (1994) [25], trong cơng trình “Plant
Resources of South-East Asia, tác giả đã cung cấp thông tin về danh pháp, hệ
thống các lồi và thứ, mơ tả đặc điểm lồi, thứ, đặc điểm phân bố, giá trị sử
3
dụng, sinh học và sinh thái của các loài và thứ sau: Brassica chinensis, Brassica
oleracea, Brassica pekinensis, Brassica rapa L. var. amplexicaulis, Brassica
olerrace var. botrys, Brassica olerrace var. capital, Brassica olerrace var.
gongylodes, Brassica olerrace var. gemmifera, Brassica olerrace var. italic,
Brassica olerrace var. viridis, Brassica olerrace var. sabauda.
Trong cơng trình “Flora of China”, tác giả Wu, Z. Y & P. H. Raven
(2001) [18] đã xếp chi Brassica cùng với chi Orychophragmus, đã xây dựng bản
mơ tả, khóa định loại các lồi, cung cấp một số thông tin về danh pháp, mô tả
đặc điểm chi, loài, đặc điểm phân bố, sinh thái, ở Trung Quốc và phân loại chi
này với 2 loài là: Brassica oleracea, Brassica juncea và 1 thứ Brassica rapa L.
var. amplexicaulis.
Trong tác phẩm “Flora of Hong Kong” của tập thể tác giả WU De-lin
(2007) [19] đã mô tả chi Brassica thuộc họ Brassicaceae cùng với chi Rorippa.
Với chi Brassica, tác giả đã xây dựng bản mơ tả, khóa định loại 4 lồi, cung cấp
một số thơng tin về danh pháp, đặc điểm phân bố, sinh thái, giá trị sử dụng, ở
Hồng Kông là: Brasica oleracea, Brasica juncea, Brassica chinensis, Brasica
pekinensis.
Trong tác phẩm “CRC World Dictionary of Medicinal and Poisonous
Plants” Taylor & Francis (2012) [27], tác giả đã cung cấp thơng tin về giá trị sử
dụng của 2 lồi là: Brassica oleracea, Brassica juncea.
Như vậy, dù dựa vào đặc điểm khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất
xếp chi Brassica vào họ Brassicaceae.
1. 2. Ở Việt Nam
Cho đến nay các cơng trình nghiên cứu họ Cải (Brassicaceae) nói chung và
chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam cịn rất ít. Người đầu tiên đề cập đến chi Cải ở
Việt Nam là nhà thực vật người Bồ Đào Nha Lourreiro. Trong cơng trình Thực
vật Nam Bộ - “Flora Conchinchinensis” [24] cơng bố năm 1790 tác giả đã công
4
bố loài Sinapis pekinensis (là tên đồng nghĩa của Brassica pekinensis) và
Sinapis chinensis (nay là tên đồng nghĩa của Brassica juncea). Tác giả cũng sắp
xếp giống như Linnaeus (1753).
Gagnepain (1908), trong cơng trình “Flore Générale de l'.Indo-Chine” [17]
đã mơ tả đặc điểm của chi Cải, cung cấp một số thông tin về danh pháp và đặc
điểm phân bố của 1 loài là: Brassica juncea. Tác giả lấy tên họ Cải là
Cruciferes.
Trong cơng trình “Cây cỏ Việt Nam” được tái bản năm 1999 [10], Phạm
Hồng Hộ đã cung cấp các thơng tin cơ bản để nhận biết 4 loài và 7 phân loài
thuộc chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam là: Brassica juncea, Brassica oleracea,
Brassica oleracea var. capitata, Brassica oleracea var. botrytis, Brassica
oleracea var. italic, Brassica oleracea var. subauda, Brassica oleracea var.
viridis, Brassica oleracea var. caulorapa, Brassica oleracea var. gemmirfera,
Brassica chinensis, Brassica pekinensis. Cơng trình tuy có nhiều hạn chế như:
bản mơ tả cịn sơ sài, khơng có tài liệu trích dẫn,... nhưng cho đến nay, đây là tài
liệu quan trọng cho việc định loại sơ bộ các loài thực vật ở Việt Nam.
Nguyễn Tiến Bân (2003) [3], trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam họ Cải - Brassicaceae” đã chỉnh lý danh pháp và đưa ra danh lục 6 loài thuộc chi
Cải (Brassica L.) ở Việt Nam. Tác giả cung cấp một số dẫn liệu về vùng phân
bố, dạng sống và sinh thái, cũng như giá trị sử dụng các loài trong chi Cải
(Brassica L.)
Năm 2003, trong cuốn “Từ điển thực vật thông dụng”, tập 1 [5], Võ Văn
Chi đã tóm tắt đặc điểm của chi Cải (Brassica L.) và mơ tả các lồi thuộc chi
này cùng hình ảnh và một số đặc điểm, công dụng, phân bố, nguồn gốc.
Đỗ Tất Lợi (2004) [11], trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”
tác giả đã cung cấp các thơng tin cơ bản để nhận biết 1 lồi và 1 thứ thuộc chi
Cải: Brassica juncea, Brassica oleracea var. capitala. Tác giả cung cấp một số
5
dẫn liệu về vùng phân bố thu hái và chế biến, dạng sống thành phần hóa học và
sinh thái, cũng như giá trị sử dụng liều dùng các loài trong chi Brassica
Ngồi ra cịn một số cơng trình đề cập đến chi Brassica L. dưới dạng tài
nguyên như: Trong công trình “Cây thuốc Việt Nam” (1997) [14] của Viện dược
liệu đã đề cập đến giá trị sử dụng, nguồn gốc, sự phát triển, sinh thái của 1 thứ
của loài Brassica oleracea có ở Việt Nam là Brassica oleracea var. capitata;
hay Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng
Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiên, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm
Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2004) với “Cây thuốc và
động vật làm thuốc ở Việt Nam” [8] giới thiệu 1 loài về phân bố, sinh thái, mơ
tả, cách trồng, tác dụng đó là Brassica juncea; hay cơng trình của Võ Văn Chi
(2012) trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [6] giới thiệu 5 loài làm thuốc là
Brassica campestis, Brassica integrifolia, Brassica pekinensis, Brassica
chinensis, Brassica juncea.
Như vậy, có thể nói rằng cho đến nay chưa có một cơng trình nào nghiên
cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về họ Cải (Brassicaceae) nói chung và chi
Cải (Brassica L.) nói riêng. Đặc biệt là chưa có cơng trình nào sử dụng cơng
nghệ thơng tin vào việc tra cứu chi Cải ở Việt Nam.
6
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2. 1. Đối tượng nghiên cứu
Các taxon thuộc chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam, dựa trên cơ sở mẫu vật
và tài liệu
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Cải (Brassica L.) trên thế giới và của
Việt Nam, nhất là các tài liệu chuyên khảo.
Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam,
hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên
Sinh vật (HN).
Tổng số mẫu nghiên cứu là 9. Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại
phòng tiêu bản thực vật (Viện Sinh thái và Tài ngun Sinh vật).
Ngồi ra, tơi cịn tham khảo nhiều mẫu thu thập được trong điều tra thực
địa và các ảnh chụp mẫu vật trên internet.
2. 2. Phạm vi nghiên cứu
Khắp cả nước.
2. 3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3/2016 - 5/2018
2. 4. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại chi Cải (Brassica L.), tôi sử dụng phương pháp
Hình thái so sánh theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007 [13]. Đây là phương pháp cổ
điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất trên thế giới
và phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở nước ta. Phương pháp này dựa trên đặc
điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan
sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi
7
bởi tác động của môi trường. Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các
cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng
thành so sánh với cây trưởng thành, nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa,...).
Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng
thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp.
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm
thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng
thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác.
Công tác nội nghiệp: Được tiến hành trong phịng thí nghiệm, bao gồm
việc xử lý, phân tích và bảo quản mẫu vật. Tại đây, các mẫu vật được phân tích,
chụp ảnh, vẽ hình và mơ tả, sau đó dựa vào các bản mơ tả gốc và mẫu vật chuẩn
(nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các
nước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngồi nước về chi Cải
(Brassica L.). Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc phân loại chi
này ở Việt Nam.
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Cải (Brassica L.) hiện
có.
Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm
mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thơng tin có liên quan
khác.
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi,
xây dựng khoá định loại, mơ tả các phân chi và các lồi, chỉnh lý phần danh
pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa
học khác của đề tài.
8
– Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật
và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công
bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả cơng bố tên khoa
học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu ở Việt Nam
đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mơ tả, lồi
chuẩn của chi, ghi chú (nếu có).
Thứ tự soạn thảo lồi và dưới lồi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên
tác giả cơng bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công
bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu
ở Việt Nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu
có), tên Việt Nam khác (nếu có), mơ tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc. class.),
mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học
và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có).
– Cách mơ tả: Mơ tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc
truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá,...)
đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt).
Để xây dựng bản mơ tả cho một lồi, tơi tập hợp các số liệu đã phân tích về
lồi đó, sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có), từ
đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho lồi.
Bản mơ tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các lồi
trong chi. Nếu bản mơ tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu
khác (thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), tơi sẽ có những ghi
chú bổ sung.
– Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, tơi lựa chọn cách
xây dựng khố lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành như sau:
9
Từ tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc
điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định,
dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon). Trong mỗi nhóm, lại
tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp
tục như vậy đến khi phân biệt hết các taxon.
– Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện
hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam.
10
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Hệ thống phân loại và vị trí của Cải (Brassica L.) ở Việt Nam.
Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Cải và họ Cải trong các cơng
trình thực vật chí ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam như: Phạm Hoàng Hộ
(1999); Wu, Z. Y & P. H. Raven (2001); WU De-lin (2007), A. Takhtajan
(2009),... tôi nhận thấy phân loại chi này khơng có phân chi mà phân chia trực
tiếp đến các lồi.
Trong cơng trình này, tơi lựa chọn hệ thống của A. Takhtajan (2009) để
phân chia chi Cải ở Việt Nam. Vì đây là hệ thống được kế thừa trước đó, phù
hợp với việc sắp xếp các taxon ở Việt Nam. Trên cơ sở hệ thống này, chi Cải
(Brassica L.) được xếp vào họ Cải (Brassicaceae Burm), bộ Màn màn
(Capparales), phân lớp Sổ (Diliienidae), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) hay
cịn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae). Theo đó chi này ở Việt Nam có 6
lồi.
3.2. Đặc điểm phân loại chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam
Brassica L - Chi Cải.
L. 1753. Sp. Pl. 2: 666; Czern, 1859. Consp. Pl. Charc. 8; Gagnep. 1908. Fl.
Gen. Indoch. 1: 170; T. Y. Cheo & al. 1987. Fl. Reip. Pop. Sin. 33: 14; B.
Jonsell, 1988. Fl. Males. Ser. I, 10(3): 545; Siemonsma J. S. and Kasem Piluek,
1994. PROSEA. 8:101-133; Ian Hedge, 1997. Fl. Thailand. 6(3): 184; Phamh.
1999. Illustr. Fl. Vietn. 1: 602; Wu, Z. Y & P. H. Raven, 2001. Fl. China. 8: 18;
N. T. Ban, 2003. Checkl. Pl. Sp. Vietn. 2: 426; HU Qi-ming & WU De-lin,
2007. Fl. Hong Kong. 1: 265-272; Takht. 2009. Divers. Class. Flow. Plat. 253;
Taylor & Francis, 2012. CRC World Dictionary of Medicinal and Poisonous
Plants, pp. 644-649.
11
3.2.1. Dạng sống
Hầu hết là cây thảo hằng năm hay 2 năm, mạch thủng lỗ đơn, đơi khi có thân
củ (B. oleracea), khơng có lơng hoặc có lơng thưa (B. juncea, B. campestris),
đơi khi có sáp dính (B. oleracea).
3.2.2. Lá
Lá đơn, mọc cách, có cuống dài (trừ L. oleracea đơi khi khơng có cuống),
phiến lá lớn, ngun hay xẻ thùy, nhẵn hoặc đơi khi có lơng thưa, hình thái thay
đổi tùy lồi và giống; gân hình mạng lơng chim.
3.2.3. Cụm hoa và hoa
Cụm hoa chùm hay ngù, hoặc cụm hoa chùy; mọc ở đỉnh cành và nách lá gần
đỉnh cành; hoa khá lớn; cuống hoa mảnh và kéo dài ở quả, khơng có lá bắc.
Hoa đều, lưỡng tính, đặc trưng bởi hoa mẫu 4. Lá đài 4, màu xanh, xòe rộng.
Cánh hoa bằng số lá đài; thường màu vàng, ít khi màu trắng hoặc màu hồng;
hình thìa, bầu dục, hoặc hiếm khi dạng mác ngược, chóp tù hoặc có khía; gốc
cánh hoa có cựa dài gần bằng hoặc dài hơn lá đài, mọc đối chéo chữ thập. Nhị
thường 6, (2+4), 2 nhị vịng ngồi ngắn hơn, 4 nhị vịng trong đối diện cánh hoa;
chỉ nhị rời, dài. Tuyến mật nhỏ, nằm ở gốc nhị. Bộ nhụy gồm 2 lá noãn hợp
thành bầu thượng 1 ơ, mỗi ơ có nhiều nỗn đính bên.
3.2.4. Quả và hạt
Quả nang (cịn gọi là quả cải hay quả giác), hình thn, đỉnh nhọn, gốc có
cuống dài tạo thành chi; khi chín mở bằng 4 kẽ nứt thành 2 mảnh vỏ, để lại
vách giả mang hạt; mỗi mảnh vỏ có 1 gân dọc. Hạt nhỏ và nhiều, xếp thành 1
hoặc 2 hàng trong mỗi ơ, hình cầu, vỏ hạt nhẵn bóng; lá mầm áp ngồi hoặc xếp
chồng cùng chiều, có nội nhũ nhỏ.
Có khoảng 40 lồi, chủ yếu ở khu vực Địa Trung Hải, đặc biệt là Tây
Nam châu Âu và Bắc Phi. Việt Nam hiện biết có 6 lồi, phân bố rải rác khắp cả
nước.
12
3. 3. Khố định loại các lồi thuộc chi Chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam.
1A. Lá dày và nạc, có sáp che phủ; hoa cỡ 1,2-2,5cm (tồn bộ cây khơng có
lơng) ............................................................................................5. B. oleracea
1B. Lá mỏng, khơng có sáp; hoa khơng q 1 cm.
2A. Lá phía gốc khơng có cuống, có cánh............. 7. B. rapa var. amplexicaulis
2B. Lá phía gốc có cuống, khơng có cánh.
3A. Cây có vị cay, khơng lơng hoặc có lơng thưa, lá hình đàn violon.
4A. Lá mọc chụm ở đất, chóp cánh hoa tù ................................... 4. B. juncea
4B. Lá khơng mọc chụm ở đất, chóp cánh hoa có khía .......... 1. B. campestris
3B. Cây khơng có vị cay, khơng có lơng, lá khơng hình đàn violon
5A. Phiến lá nhăn, cỡ 5-10×8 cm, mép lá quăn...................... 6. B. pekinensis
5B. Phiến lá khơng nhăn, cỡ 7-20×7-20 cm, mép lá thường nguyên
6A. Phiến hình bầu dục, xanh nhạt, cuống trắng ................... 2. B. chinensis
6B. Phiến hình trứng ngược, trắng, cuống xanh nhạt ........ 3. B. intergrifolia
3. 4. Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Cải (Brassica L.) ở Việt Nam
3.4.1. Brassica campestris L. - Cải sen
L. 1753. Sp. Pl. 2: 666; T. Y. Cheo & al. 1987. Fl. Reip. Pop. Sin. 33: 21; N. T.
Ban, 2003. Checkl. Pl. Sp. Vietn. 2: 426.
- Brassica rapa subsp. campestris (L.) A. R. Clapham, 1952. Fl. Brit. Isles
- Cải bẹ, Cải dưa.
13
1
2
3
5
6
7
8
4
Ảnh 1: Brassica campestris L.
1. dạng sống, 2. rễ, 3. lá 4. cành mang hoa, 5. hoa, 6. cánh hoa,
7. bộ nhụy, 8. quả
(ảnh: N. T. Xuyến, 2018, Thái Bình)
Cây thảo hằng năm, hay hai năm, cao đến 1 m; thân nhẵn hay hơi có lơng.
Lá đơn, mọc cách, có dạng lơng chim, có cuống dài, có bẹ to, dài 4-5 cm; phiến
lá dạng trứng ngược dài 40-50 cm; lá phía dưới xẻ sâu, lá phía trên xẻ nơng hơn;
chóp lá trịn hoặc tù. Hoa nhỏ, lưỡng tính, khơng có lá bắc, cánh hoa bằng số lá
đài 4, màu trắng hay vàng, dạng mác ngược, dài 6-10 mm, chóp có khía; gốc
cánh hoa có cựa dài gần bằng lá đài, mọc đối chéo chữ thập lá đài màu xanh.
Cụm hoa dạng chùm. Nhị thường 6, (2+4), 2 nhị vịng ngồi ngắn hơn, 4 nhị
vòng trong đối diện cánh hoa; chỉ nhị rời, dài. Tuyến mật nhỏ, nằm ở gốc nhị.
Bộ nhụy gồm 2 lá noãn hợp thành bầu thượng 1 ô, có vách ngăn giả chia thành 2
ô, mỗi ô có nhiều nỗn đính bên. Quả nang hình thn, đỉnh nhọn, dài 2-4 cm,
đường kính 5 mm, ở đầu có mỏ hơi dài ra, gốc có cuống dài tạo thành chi; khi
chín mở bằng 4 kẽ nứt thành 2 mảnh vỏ, để lại vách giả mang hạt; mỗi mảnh vỏ
14
có 1 gân dọc. Hạt hình cầu, đường kính 1-2 mm, vỏ màu nâu đen hay đỏ nâu,
mặt sau có màu vàng.
Loc. class.: Europe
Typus: Hort. Cliff. 339
Phân bố: Khắp nơi ở Việt Nam.
Mẫu nghiên cứu: Ngoài tự nhiên.
Sinh học và sinh thái: Được nhập trồng khắp nước ta. Thời gian sinh
trưởng 90-100 ngày, nhiệt độ thích hợp 8-200C. Ở miền Bắc thường trồng vào
tháng 7-8.
Giá trị sử dụng: Lá nấu canh, làm dưa; cịn dùng đắp ngồi trị ung thũng.
Rễ và hạt dùng chữa bệnh scorbut. Hoa và hạt dùng chữa mụn nhọt, sinh xong bị
đau bụng và giúp sự sinh nở dễ dàng.
3.4.2. Brassica chinensis L. 1759 - Cải thìa
L. 1755. Cent. Pl. 1: 19; T. Y. Cheo & al. 1987. Fl. Reip. Pop. Sin. 33: 25; J. S.
Siemonsma and Kasem Piluek, 1994. Pl. Re. of South-East Asia. 8: 130-133;
Phamh. 1999. Illustr. Fl. Vietn. 1: 603; N. T. Ban, 2003. Checkl. Pl. Sp. Vietn.
2: 426; HU Qi-ming & WU De-lin, 2007. Fl. Hong Kong. 1: 272.
-
Brassica campestris subsp. chinensis (L.) Makino, 1912. SomokuDzusetsu 3: 1, t. 27.
-
Brassica rapa subsp. chinensis (L.) Hanelt, 1986. Verz. Landwirtsch.
Gart. Kulturfl. (ed. 2) 1: 304
-
Brassica rapa L. cv. group Pak Choi. Siemonsma J. S. and Kasem
Piluek, 1994. PROSEA. 8:130
-
Cải trắng, cải rổ tàu
15
1
3
2
4
6
5
Ảnh 2: Brassica chinensis L.
1. dạng sống; 2 cành mang hoa; 3. lá; 4. cánh hoa; 5. quả; 6. hạt
(ảnh: N. T. Xuyến, 2018, Nam Định)
Cây thảo hằng năm hoặc 2 năm, cao 25-70 cm, có thể tới 1,5 m. Rễ khơng
phình thành củ. Lá mọc chụm ở đất, to, thn dài hoặc hình trứng 20-30 cm,
màu xanh nhạt, gân giữa trắng, nạc; sắp xếp hình xoắn, xịe rộng; phiến lá bầu
dục, dài 7-20 cm, rộng 7-20 cm, nhẵn, xanh lợt, mép lá ngun hay có răng
khơng rõ, men theo cuống tới gốc nhưng khơng tạo thành cánh; chóp lá trịn; các
lá phía trên hình giáo; cuống lá dài 3-5 cm, nạc, màu xanh hoặc trắng. Lá đài 4,
16
thuôn dài 3-4 mm. Cánh hoa 4, màu vàng tươi, hợp thành chùy ở ngọn, đỉnh tù,
dạng móng vuốt, kích thước 5 mm, dài 1-1,4 cm, rộng 6mm, có 6 nhị (4 dài, 2
ngắn). Quả cải dài 2-6 cm, rộng 3.5-6.5 mm, có mỏ 8-12 mm, chứa (10-)20(-30)
hạt, cuống dài 3 cm; hạt hình cầu, đường kính 1-1,5 mm, màu nâu tím.
Loc. class.: China
Typus: Dn Osbeck attulit lemina.
Phân bố : Trồng khắp nơi ở Việt Nam. Có ở Trung Quốc.
Mẫu nghiên cứu : HÀ NỢI (Hồng Hoa Thám), Đạt - Tâm 126 (HN); HÀ
NỢI (34A Hồng Hoa Thám), Lãi - Đạt 126 (HN); HÀ NỢI (34A Hồng Hoa
Thám), Lãi - Bách 126 (HN).
Sinh học và sinh thái : Nhiệt độ thích hợp 10-27℃. Có thể trồng quanh
năm từ đồng bằng đến núi cao, trừ những tháng quá nóng. Ở miền Bắc nước ta,
gieo tháng 7-11, vụ đông xuân ươm cấy, các tháng khác gieo thẳng, thu hoạch
sau khi gieo 40-70 ngày.mùa hoa, quả vào tháng 4-5.
Giá trị sử dụng: Lá làm rau ăn, làm dưa. Cây có tính mát. Phần bắp phình
có thể dùng ăn sống như xà lách. Tồn cây dùng làm thuốc thanh nhệt trừ phiền,
thong lợi tương vị, trị lao phổi, đái buốt, đan độc, lở sơn; nước ép của cây dùng
trị nội nhiệt ở trẻ em, trị bệnh hoại huyết.
Ghi chú: Cho đến nay, vị trí và giới hạn của lồi này vẫn cịn có những ý
kiến chưa thống nhất: Một số tác giả (P. H. Raven, 2001; Tropicos) theo quan
điểm của Hanelt (1986) coi loài này là phân loài Brassica rapa subsp. chinensis
(L.) Hanelt. Chúng tôi theo quan điểm của Nguyễn Tiến Bân (2003) và đa số các
tác giả hiện thời coi đây là 1 loài độc lập.
3.4.3. Brassica integrifolia O. E. Schulz, 1919 - Cải ngọt
(H. West) O. E. Schulz, 1903. Symb. Antill. 3: 509-511; T. Y. Cheo & al. 1987.
Fl. Reip. Pop. Sin. 33: 30; Phamh. 1999. Illustr. Fl. Vietn. 1: 602-603; N. T.
Ban, 2003. Checkl. Pl. Sp. Vietn. 2: 42.
17
-
Sinapis integrifolia Walp. Willd, 1806. Hort. Berol. 14: 14.
1
2
3
4
6
7
5
8
Ảnh 3: Brassica integrifolia O. E. Schulz
1. dạng sống; 2. cành mang hoa; 3. lá; 4. cánh hoa; 5. nhị; 6. bộ nhụy; 7. quả;
8. hạt (ảnh: N. T. Xuyến, 2018, Nam Định)
Cỏ hằng năm, cao 50-100 cm, thân tròn, mọc đứng, khơng có lơng. Lá có
cuống rõ, phiến dạng trứng ngược, chóp trịn hay tù, gốc từ từ hẹp, mép lá
ngun khơng nhăn, nạc, gân bên 5-6 đơi. Cuống dài, trịn, hơi trắng. Hoa đều,
lưỡng tính, khơng có lá bắc. Lá đài 4, màu xanh. Cánh hoa bằng số lá đài, hoa
vàng tươi, dài 5-6 mm, chóp tù; gốc cánh hoa có cựa dài gần bằng lá đài, mọc
đối chéo chữ thập. Chùm hoa như ngù ở ngọn, cuống hoa dài 3-5 cm. Nhị
18
thường 6, (2+4), 2 nhị vịng ngồi ngắn hơn, 4 nhị vòng trong đối diện cánh hoa;
chỉ nhị rời, dài. Tuyến mật nhỏ, nằm ở gốc nhị. Bộ nhụy gồm 2 lá nỗn hợp
thành bầu thượng 1 ơ, mỗi ơ có nhiều nỗn đính bên. Quả nang hình thn dài 411 cm, đỉnh nhọn, gốc có cuống dài tạo thành chi; khi chín mở bằng 4 kẽ nứt
thành 2 mảnh vỏ, để lại vách giả mang hạt; mỗi mảnh vỏ có 1 gân dọc. Hạt nhỏ
và nhiều, có mỏ, mỗi ơ chứa 10-20 hạt, hạt hình cầu, đường kính 1-1,5 mm, màu
nâu đến xám đen.
Phân bố : Cây trồng ở Việt Nam (Lâm Đồng và nhiều nơi khác), Ấn độ,
Trung Quốc.
Mẫu nghiên cứu: Ngoài tự nhiên
Sinh học và sinh thái : Thích hợp với mơi trường có khí hậu mát mẻ, thổ
nhưỡng có nhiều mùn. Hoa quả chủ yếu vào mùa thu.
Giá trị sử dụng: Lá làm rau ăn. Hạt dùng trị bệnh co thắt, chứng đau dây
thần kinh và đau khớp; cũng dùng trị sốt cao co giật, mất tiếng. Dầu từ hạt dùng
bôi hoặc chườm trị phát ban da, mụn nhọt. Toàn cây làm thuốc thanh nhiệt.
3.4.4. Brassica juncea (L.) Czern, 1859 – Cải bẹ xanh
Czern, 1859. Consp. Pl. Charc. 8; Gagnep. 1908. Fl. Gen. Indoch. 1: 170; T. Y.
Cheo & al. 1987. Fl. Reip. Pop. Sin 33: 28; B. Jonsell, 1988. Fl. Males. Ser. 1,
10(3): 545; Ian Hedge, 1997. Fl. Thailand .6(3): 185; Phamh. 1999. Illustr. Fl.
Vietn. 1: 602- 603; N. T. Ban, 2003. Checkl. Pl. Sp. Vietn. 2: 426; Wu, Z. Y &
P. H. Raven, 2001. Fl. China. 8: 23-24; HU Qi-ming & WU De-lin, 2007. Fl.
Hong Kong. 1: 271
-
Sinapis juncea L. 1753. Sp. Pl. 2: 668.
-
Sinapis chinensis Lour. 1790. Fl. Cochinch. 399.
- Brassica integrifolia (H.West) Rupr. 1860. Fl. Ingr. [Ruprecht]. 1: 96.
-
Cải xanh, cải canh, cải cay, giới tử.
19
Hình 1: Brassica juncea (L.) Czern
1. gốc thân và rễ; 2. một phần cành mang hoa; 3. cụm hoa; 4. hoa;
5. cánh hoa; 6. quả; 7. hạt
(Hình theo Jonsell, 1988)
Cây thảo hằng năm, cao 40-60 cm hay đến 1,5 m. Rễ trụ nạc, ít phân
nhánh. Thân thẳng đứng, phân 1 vài cành hướng lên, khơng hoặc có lơng cứng ở
gốc thân và cuống, có phấn màu trắng hoặc khơng. Lá đơn, mọc chụm từ gốc, so
le, hình trái xoan đến hình trứng ngược, tù, cuống lá có cánh với 1-2 cặp tai lá,
kích thước 20-100 x 10-60cm; phiến dài tới 1m, rộng 60cm, hơi hay có răng cưa
khơng đều, phần mép lá gần gốc xẻ thành 1-3 thùy không đều ở mỗi bên; các lá
ở phần trên thân tiêu giảm hơn; các lá phía trên hình dải-hình mác dài 5cm, rộng
5-10mm. Cuống lá dài (1-)2-8(-15) cm. Cụm hoa dạng ban đầu là chùm tụ tán
đứng, nhưng sớm phát triển mạnh dài tới 50 cm, có nhiều hoa, thường khơng lá
20