Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

THỊ TRƯƠNG VỐN CỔ PHẦN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (253.32 KB, 24 trang )

THỊ TRƯỜNG VỐN CỔ
PHẦN
Nhóm 8


I. CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CÁC LOẠI CỔ PHIẾU
A)CÔNG TY CỔ PHẦN
1.khái niệm
Công ty cổ phần (Joint stock company) là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn,
được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia
nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần (shares) và được phát hành huy động vốn tham
gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
2. Đặc điểm công ty Cổ phần :
Công ty Cổ phần có những đặc điểm – đặc trưng pháp lý như sau :
– Phải có số lượng cổ đông tối thiểu là 3 thành viên và không hạn chế số lượng ( có thể là cá
nhân hoặc tổ chức là cổ đông) ;
– Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị cổ phần gọi là mệnh giá
cổ phần.Mua cổ phần là hình thức chính để góp vốn vào công ty cổ phần ;
– Cổ đông là người nắm giữ cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ công ty trong
phạm vi số vốn đã góp;
– Cổ đông có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho cổ đông hoặc các nhân, tổ chức
khác một cách tự do ;
– Doanh nghiệp cổ phần có thể phát hành chứng khoán theo quy định pháp luật
3. Cơ cấu thể chế của công ty cổ phần :

2


4. Ưu và nhược điểm công ty Cổ phần :
* Ưu điểm :
- Chịu trách nhiệm hữu hạn: Vì công ty cổ phần được góp vốn từ các cổ đông nên trách nhiệm về


nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty thuộc phạm vi vốn đã góp và mức độ rủi ro sẽ thấp hơn
- Tiềm năng tài trợ lớn: Khả năng huy động vốn cao từ ngành nghề , lĩnh vực khác nhau thông
qua hình thức phát hành cổ phiếu ra thị trường
- Tiềm năng sản xuất lớn
- Chuyển nhượng vốn tương đối dễ dàng: Được chuyển nhượng quyền sở hữu: Các cổ phần hay
quyền sở hữu công ty có thể được chuyển nhượng dễ dàng, chúng được ghi vào danh mục
chuyển nhượng tại Sở giao dịch chứng khoán và có thể mua hay bán trong các phiên mở cửa một
cách nhanh chóng. Vì vậy, các cổ đông có thể duy trì tính thanh khoản của cổ phiếu và có thể
chuyển nhượng các cổ phiếu một cách thuận tiện khi họ cần tiền mặt.
* Nhược điểm :
- Số lượng thành viên cổ đông lớn dẫn đến việc quản lý và điều hành công ty phức tạp, có sự
phân tách thành các nhóm cổ đông tranh giành về lợi ích, có nhiều người không hề quen biết
nhau và thậm chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi ích
- Theo quy định thì vị trí Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp cổ phần không được
đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc doanh nghiệp khác.
- Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế mà công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà
nước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo qui
định của luật pháp; Công ty cổ phần bị đánh thuế hai lần. Lần thứ nhất thuế đánh vào công ty.
Sau đó, khi lợi nhuận được chia, nó lại phải chịu thuế đánh vào thu nhập cá nhân của từng cổ
đông.
- Tính bí mật: Vì lợi nhuận của các cổ đông và để thu hút các nhà đầu tư tiềm tàng, công ty
thường phải tiết lộ những tin tức tài chính quan trọng, những thông tin này có thể bị đối thủ cạnh
tranh khai thác nên tính giữ bí mật thường không cao. Phía các cổ đông thường thiếu quan tâm
đúng mức, rất nhiều cổ đông chỉ lo nghĩ đến lãi cổ phần hàng năm và ít hay không quan tâm đến
công việc của công ty. Sự quan tâm đến lãi cổ phần này đã làm cho một số ban lãnh đạo chỉ nghĩ
đến mục tiêu trước mắt chứ không phải thành đạt lâu dài. Với nhiệm kỳ hữu hạn, ban lãnh đạo có
thể chỉ muốn bảo toàn hay tăng lãi cổ phần để nâng cao uy tín của bản thân mình
B)CÁC LOẠI CỔ PHIẾU
1.Khái niệm: là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với
một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.

Đặc điểm:
- Đứng trên góc độ công ty, cổ phiếu là một phương tiện huy động vốn để tạo dựng hoặc mở
rộng công ty. Do đó, cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn ( Equity securities ).

3


- Người sở hữu cổ phiếu gọi là cổ đông (Shareholder), là người chủ doanh nghiệp, có quyền
tham gia quản lý doanh nghiệp qua việc bầu cử ở đại hội cổ đông.
- Cổ phiếu có giá trị trong suốt thời gian tồn tại ghi trong điều lệ công ty. Hầu hết các công ty
đều xin gia hạn hoạt động khi hết thời hạn kinh doanh. Do đó tuổi thọ của cổ phiếu được xem
như vô hạn. cổ phiếu nói chung được phép mua bán, chuyển nhượng trên TTCK.
- Mỗi cổ phiếu có một giá trị ấn định ban đầu gọi là mệnh giá. Mệnh giá lớn hay nhỏ là do luật
chứng khoán hoặc điều lệ của doạnh nghiệp qui định. Ví dụ: Mệnh giá cổ phiếu ở Mỹ là 1 USD12 USD, Việt Nam 10.000 VNĐ... Mệnh giá có thể thay đổi trong trường hợp phải chia nhỏ
(split) cổ phiếu. Ngoài ra, khi phát hành cổ phiếu có giá phát hành. Giá mua bán cổ phiếu vào bất
kỳ lúc nào đó trên thị trường gọi là thị giá cổ phiếu.
- Cổ động có cùng lợi ích với doanh nghiệp, được chia lãi (cổ tức) và cùng chịu lỗ tương xứng
với tỷ lệ vốn góp. Lợi ích của cổ đông là không ổn định.
2. Phân loại cổ phiếu:
Cổ phiếu là một loại chứng khoán rất cơ bản và có nhiều loại khác nhau, dưới đây chỉ là
những cách phân loại thông dụng nhất:
2.1 Phân loại theo quyền lợi cổ đông:



Cổ phiếu thường.
Cổ phiếu ưu đãi.

a) Cổ phiếu thường (Common stock): là loại cổ phiếu thông dụng nhất và thể hiện rõ nhất các
đặc điểm của cổ phiếu đã nêu trên.

b) Cổ phiếu ưu đãi (Preferred stock): thường chiếm tỉ trọng nhỏ hơn cổ phiếu thường, có
những đặc điểm sau:
- Được ưu tiên chia lợi tức so với cổ phiếu thường và lợi tức là cố định (số tiền cố định hoặc tỷ
suất cổ tức).
- Được ưu tiên hoàn vốn so với cổ phiếu thường khi chủ trương hoàn vốn.
Do các qui định ưu tiên khác nhau, ta có nhiều loại cổ phiếu ưu đã khác nhau:
b.1) Cổ phiếu ưu đãi tích lũy (Cumulative Preferred stock) là loại cổ phiếu mà phần nợ cổ tức
năm trước được công ty cộng dồn (tích lũy) và hoàn trả vào năm sau.
b.2) Cổ phiếu ưu đãi không tích lũy (Non-cumulative Preferred stock) là loại cổ phiếu mà
công ty có lãi đến đâu trả đến đó, phần nợ cổ tức không được tích lũy vào năm sau.
b.3) Cổ phiếu ưu đãi hoàn vốn (Redeemable Preferred Stock) là loại cổ phiếu mà công ty
dành cho các cổ đông ưu đãi quyền được hoàn vố trước cổ đông thường khi công ty có chủ
trương hoàn vôn.

4


b.4) Cổ phiếu ưu đãi thu hồi (Callable Preferred Stock) là loại cổ phiếu mà công ty có quyền
thu hồi (call back) cổ phiếu bằng cách trả lại vốn cho cổ đông hoặc là đổi loại cổ phiếu ưu đãi
khác có mức tỉ suất phù hợp với lãi suất chiết khấu trên thị trường.
b.5) Cổ phiếu ưu đãi đảm bảo (Guaranteed Preferred Stock) là loại cổ phiếu đucợ một người
khác đứng ra cam kết bảo lãnh thanh toán nếu như một người khác đứng ra cam kết bảo lãnh
thanh toán nếu như công ty phát hành mà không thanh toán đươc. Người bão lãnh này thường là
công ty bảo lãnh, Ngân hàng, công ty chứng khoán hoặc Công ty bảo hiểm tín dụng.
b.6) Cổ phiếu hưởng thụ (Redeemable Stock) là cổ phiếu không vốn do doanh nghiệp phát
hành cho các cổ đông được hoàn vốn của cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu hưởng
thụ thường là cổ phiếu ghi danh. Cổ đông cũng được quyền phân chia lợi nhuận của doanh
nghiệp nếu như doanh nghiệp vẫn còn lợi nhuận giữ lại chưa chia. Mặc dù đã được doanh nghiệp
hoàn vốn, nhưng cổ đông cổ phiếu hưởng thụ vẫn được hưởng các quyền nhất định, đặc biệt là
quyền bỏ phiếu biểu quyết.

2.2 Phân loại theo quyền tham gia bỏ phiếu biểu quyết trong Đại hội đồng cổ đông:
a) Cổ phiếu đơn phiếu là loại cổ phiếu được phân bố cổ phiếu là một phiếu bầu (Voting). Loại
cổ phiếu này dùng cho các công ty cổ đông, bởi vì tất cả các cổ đông đều có thể và có điều kiện
tham dự Đại hội cổ đông đầy đủ.
b) Cổ phiếu đa phiếu là loại cổ phiếu dùng cho công ty nhiều cổ đông. Tất cả cổ đông không
thể về tham dự đại hội để bỏ phiếu biểu quyết các vấn đề quan trọng của đại hội. đại hội cổ đông
được thực hiện hai cấp: cấp cơ sở và cấp trung ương.
Doạnh nghiệp quy định 1 phiếu bầu phải bao gồm nhiều nhiều cổ phiếu. Ví dụ một phiếu
bầu tại Đại hội cổ đông công ty A phải bao gồm 100.000 cổ phiếu A thuộc mệnh giá 1 triệu
VNĐ. Cổ đông nào đủ 1 triệu VNĐ cổ phiếu sẽ được phân bổ một phiếu bầu, nếu không đủ thì
phải gộp nhiều cổ đông lại. cổ phiếu như thế được gọi là cổ phiếu đa phiếu.
c) Cổ phiếu lưỡng phiếu là cổ phiếu mà cổ đông của cổ phiếu này được phân bổ hai phiếu bầu.
Doanh nghiệp phát hành loại cổ phiếu này thường có ít cổ đông. Quyền lưỡng phiếu này thường
dành cho các cổ đông có uy tín, có danh phận trong xã hội hoặc trong ngành chuyên môn mà
doanh nghiệp đó đang kinh doanh.
Quyền lưỡng phiếu sẽ mất đi nếu như cổ đông chết đi hoặc bị truy cứu trách nhiệm dân
sự , hình sự.
2.3 Phân loại theo mục đích huy động vốn:
a) Cổ phiếu sơ cấp (Primary Stock): là cổ phiếu được phát hành lúc thành lập công ty hoặc cổ
phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Cổ phiếu sơ cấp thường là cổ phiếu ghi danh cổ đông, do đó
việc mua bán phải gắn liền với việc đăng ký lại tên cổ đông tại công ty phát hành và tuân theo
luật lệ mua bán, trao đổi và chuyển nhượng chứng khoán. Cổ đông của cổ phiếu được hưởng
nhiều quyền do điều lệ công ty qui định, trong đó quyền cơ bản là tham gia quản lý công ty
thông qua bỏ phiếu biểu quyết trong Đại hội cổ đông.

5


b) Cổ phiếu thứ cấp ( Secondary Stock): là cổ phiếu được công ty phát hành nhằm bổ sung vốn
điều lệ của công ty. Chính vì thế, cổ phiếu này còn được gọi là cổ phiếu bổ sung vốn điều lệ. Đặc

điểm của cổ phiếu thứ cấp là mệnh giá rất nhỏ, vô danh, cổ đông không tham gia quản lý công ty
(gọi là cổ đông im lặng- Silent Shareholder). Việc mua bán, chuyển nhượng được thực hiện dễ
dàng, không cần thủ tục phải chuyển nhượng sang tên tại công ty phát hành.

II.CÁC LOẠI THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU
1.Khái niệm:
-Thị trường cổ phiếu là thị trường thực hiện các giao dịch mua bán cổ phiếu do các công ty cổ
phần phát hành.
-Hàng hóa được giao dịch mua bán trên thị trường chứng khoán đó gọi là cổ phiếu.
-Có hai loại nhà đầu tư chính trên thị trường cổ phiếu là nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ
chức.
2.Nguyên tắc hoạt động: có 3 nguyên tắc cơ bản nhất
-Nguyên tắc trung gian: nguyên tắc này qui định mọi hoạt động giao dịch,mua bán cổ phiếu trên
thị trường cổ phiếu đều được thực hiện thông qua các trung gian hay các nhà môi giới.
-Nguyên tắc công khai: mọi hoạt động trên thị trường cổ phiếu đều được công bố cho mọi thành
viên của thị trường và công chứng trên các phương tiện thông tin đại chúng.
-Nguyên tắc đấu giá: giá cổ phiếu giao dịch trên thị trường được xác định thông qua việc đấu giá
giữa các lệnh mua và lệnh bán. (bao gồm 3 loại là đấu giá trực tiếp,đấu giá gián tiếp và đấu giá
tự động)
A)Phân loại thị trường cổ phiếu
1. Căn cứ vào cấp độ giao dịch:
Có 2 loại là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
-Thị trường sơ cấp: là thị trường thực hiện các mua bán cổ phiếu mới
_Thị trường thứ cấp: là thj trường thực hiện giao dịch,mua bán các cổ phiếu đã phát hành.Thị
trường thứ cấp cung cấp khả năng thanh khoản cho các cổ phiếu được phát hành trên thị trường
sơ cấp.
2.Căn cứ vào phương thức tổ chức:
Phân loại: có 3 loại chính là thị trường tập trung,thị trường bán tập trung và thị trường phi tập
trung
6



-Thị trường tập trung: là thị trường mà các giao dịch mua bán cổ phiếu diễn ra tại Sở giao dịch
chứng khoán. Bao gồm các cổ phiếu đáp ứng một số điều kiện cụ thể như: số lượng được phát
hành,số lượng cổ phiếu nằm trong tay công chúng,quy mô lợi nhuận của công ty,...
-Thị trường bán tập trung(OTC): là thị trường bậc cao,các giao dịch được thực hiện tự động
thông qua hệ thống máy tính nối mạng giữa các thành viên của thị trường trên cả nước.Các loại
cổ phiếu được giao dịch trên thị trường này là tát cả các loại cổ phiếu chưa được phép giao dịch
ở thị trường tập trung.
-Thị trường phi tập trung: là thị trường mà qui trình mua bán cổ phiếu diễn ra tại bất cứ nơi đâu
và bất cứ lúc nào.Ở đây bao gồm tất cả các loại cổ phiếu của hai thị trường trên và không có bất
cứ một điều kiện nào.
B)Tầm quan trọng của thị trường cổ phiếu:
-Thị trường cổ phiếu có vai trò thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và nó còn là
công cụ để đánh giá hoạt động kinh doanh
-Phát triển thị trường cổ phiếu giúp các công ty đa dạng hóa nguồn vốn và hạn chế sự phụ thuộc
vào nguồn vốn vay ngân hàng.
-Góp phần tận dụng và huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân chúng,đưa nguồn vốn này
vào để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
-Thu hút vốn đầu tư nước ngoài,góp phần gia tăng dòng vốn đầu tư tư nhân và cả thiện tình hình
cán cân thanh toán quốc tế.
-Kích thích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lành mạnh và hiệu quả hơn.

III.Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
1.Thị trường sơ cấp
Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này
vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc đầu tư mua các chứng
khoán mới phát hành.
a.Vai trò của thị trường sơ cấp
+Chứng khoán hóa nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy động qua việc phát hành

chứng khoán.
+Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong
dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn.
b.Đặc điểm của thị trường sơ cấp

7


+Thị trường sơ cấp là thị trường không liên tục và là nơi duy nhất mà các chứng khoán đem lại
vốn cho người phát hành.
+Những người bán trên thị trường sơ cấp được xác định thường là Kho bạc Ngân hàng Nhà
nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành.
+Giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành quyết định và thường được in
ngay trên chứng khoán.
c.Những điểm thuận lợi và bất lợi khi phát hành chứng khoán ra công chúng.
c.1)Những điểm thuận lợi
- Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ tạo ra hình ảnh đẹp và sự nổi tiếng của công ty, nhờ
vậy công ty sẽ dễ dàng hơn và tốn ít chi phí hơn trong việc huy động vốn qua phát hành trái
phiếu, cổ phiếu ở những lần sau. Thêm vào đó, khách hàng và nhà cung ứng của công ty thường
cũng sẽ trở thành cổ đông của công ty và do vậy công ty sẽ rất có lợi trong việc mua nguyên liệu
và tiêu thụ sản phẩm.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng sẽ làm tăng giá trị tài sản ròng, giúp công ty có được
nguồn vốn lớn và có thể vay vốn của ngân hàng với lãi suất ưu đãi hơn cũng như các điều khoản
về tài sản cầm cố sẽ ít phiền hà hơn. Ví dụ như các cổ phiếu của các công ty đại chúng dễ dàng
được chấp nhận là tài sản cầm cố cho các khoản vay ngân hàng. Ngoài ra, việc phát hành chứng
khoán ra công chúng cũng giúp công ty trở thành một ứng cử viên hấp dẫn hơn đối với các công
ty nước ngoài với tư cách làm đối tác liên doanh.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng giúp công ty có thể thu hút và duy trì đội ngũ nhân viên
giỏi bởi vì khi chào bán chứng khoán ra công chúng, công ty bao giờ cũng dành một tỷ lệ chứng
khoán nhất định để bán cho nhân viên của mình. Với quyền mua cổ phiếu, nhân viên của công ty

sẽ trở thành cổ đông, và được hưởng lãi trên vốn thay vì thu nhập thông thường. Điều này đã làm
cho nhân viên của công ty làm việc có hiệu quả hơn và coi sự thành bại của công ty thực sự là
thành bại của mình.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng, công ty có cơ hội tốt để xây dựng một hệ thống quản lý
chuyên nghiệp cũng như xây dựng được một chiến lược phát triển rõ ràng. Công ty cũng dễ dàng
hơn trong việc tìm người thay thế, nhờ đó mà tạo ra được tính liên tục trong quản lý. Bên cạnh
đó, sự hiện diện của các uỷ viên quản trị không trực tiếp tham gia điều hành công ty cũng giúp
tăng cường kiểm tra và cân đối trong quản lý và điều hành công ty.
- Phát hành chứng khoán ra công chúng làm tăng chất lượng và độ chính xác của các báo cáo của
công ty bởi vì các báo cáo của công ty phải được lập theo các tiêu chuẩn chung do cơ quan quản
lý qui định. Chính điều này làm cho việc đánh giá và so sánh kết quả hoạt động của công ty được
thực hiện dễ dàng và chính xác hơn.
c.2) Những điểm bất lợi
- Phát hành cổ phiếu ra công chúng làm phân tán quyền sở hữu và có thể làm mất quyền kiểm
soát công ty của các cổ đông sáng lập do hoạt động thôn tín công ty. Bên cạnh đó, cơ cấu về
8


quyền sở hữu của công ty luôn luôn bị biến động do chịu ảnh hưởng của các giao dịch cổ phiếu
hàng ngày.
- Chi phí phát hành chứng khoán ra công chúng cao, thường chiếm từ 8-10% khoản vốn huy
động, bao gồm các chi phí bảo lãnh phát hành, phí tư vấn pháp luật, chi phí in ấn, phí kiểm toán,
chi phí niêm yết… Ngoài ra, hàng năm công ty cũng phảI chịu thêm các khoản chi phí phụ như
chi phí kiểm toán các báo cáo tài chính , chi phí cho việc chuẩn bị tài liệu nộp cho cơ quan quản
lý nhà nước về chứng khoán và chi phí công bố thông tin định kỳ.
- Công ty phát hành chứng khoán ra công chúng phải tuân thủ một chế độ công bố thông tin rộng
rãi, nghiêm ngặt và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn so với các công ty khác. Hơn nữa, việc công
bố các thông tin về doanh thu, lợi nhuận, vị trí cạnh tranh, phương thức hoạt động, các hợp đồng
nguyên liệu, cũng như nguy cơ bị rò rỉ thông tin mật ra ngoài có thể đưa công ty vào vị trí cạnh
tranh bất lợi.

- Đội ngũ cán bộ quản lý công ty phải chịu trách nhiệm lớn hơn trước công chúng. Ngoài ra, do
qui định của pháp luật, việc chuyển nhượng vốn cổ phần của họ thường bị hạn chế.
d.Việc phát hành
Được hỗ trợ bởi:
-các đại lý đầu tư
-các chuyên gia tư vấn
-các trung gian giữa bên phát hành và nhà đầu tư
Có 2 hình thức phát hành cổ phiếu:
-phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO)
-Phát hành cổ phiếu theo thời vụ (SEASONED)
d.1)Phát hành lần đầu ra công chúng:
-cổ phiếu công chúng lần đầu tiên
-cần có sự chấp thuận của Uỷ ban chứng khoán (SEC)
Có 3 sự lựa chọn ở thị trường sơ cấp:
-

Phát hành ra công chúng: là việc chào bán chứng khoán công ty ra các nhà đầu tư đại
chúng ở một mức giá xác định
Phát hành đặc quyền mua trước: là việc chào bán chứng khoán mới cho cổ đông hiện
hữu, những người mua cổ phiếu theo tỷ lệ sở hữu hiện tại của họ
Phát hành riêng lẻ: là việc chào bán chứng khoán của công ty, không được đăng ký với
SEC và không được bán ra công chúng.

2.Thị trường thứ cấp

9


Thị trưởng thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.
Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.

a.Vai trò của thị trường thứ cấp
+Cung cấp thị trường, tạo ra những điều kiện dễ dàng để bán những công cụ tài chính trên thị
trường sơ cấp.
+Thị trường thứ cấp xác định giá của mỗi chứng khoán mà công ty phát hành bán ở thị trường sơ
cấp.
b.Đặc điểm thị trường thứ cấp
+Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứng khoán thuộc về các nhà đầu
tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không thuộc về nhà phát hành. Nói cách khác, các
luồng vốn không chảy vào những người phát hành chứng khoán, mà chuyển vận giữa những
người đầu tư chứng khoán trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị
trường tài chính, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp.
+Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ánh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá chứng khoán trên
thị trường thứ cấp do cung và cầu quyết định.
+Thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua và bán các chứng
khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp.
+HOA KỲ có 3 sàn giao dịch chứng khoán chính:
Sở giao dịch chứng khoán New York
Sàn giao dịch NASDAQ
Sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ
Như vậy, sự khác nhau cơ bản giữa thị trường thứ cấp và thị trường sơ cấp thể hiện ở chỗ:
hoạt động của thị trường sơ cấp làm tăng thêm vốn cho toàn bộ nền kinh tế, còn hoạt
động của thị trường thứ cấp chỉ thực hiện việc chuyển đổi quyền sở hữu chứng khoán đã
phát hành, mà không làm tăng thêm vốn cho nền kinh tế.
 Hai thị trường này có mối quan hệ mật thiết với nhau được ví như hai bánh xe của một
chiếc xe, trong đó thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề; còn thị trường thứ cấp là động
lực. Nếu không có thị trường sơ cấp thì sẽ không có chứng khoán để lưu thông trên thị
trường thứ cấp, và ngược lại, nếu không có thị trường thứ cấp thì việc hoán chuyển các
chứng khoán thành tiền sẽ rất khó khăn, và khiến cho người đầu tư sẽ dè dặt khi mua
chứng khoán, làm thu hẹp thị trường sơ cấp, hạn chế việc huy động vốn của các chủ thể
cần vốn trong nền kinh tế.



IV. NGHIÊN CỨU VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOẢN VIỆT NAM
Các cột mốc chính đánh dấu sự phát triển của thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Ngày

Sự kiện

1990

Luật Doanh nghiệp được thông qua và có hiệu lực
10


6/11/1993

Quyết định số 207/QĐ-TCCB của Thống đốc Ngân hàng nhà nước với nhiệm vụ
nghiên cứu, xây dựng đề án và chuẩn bị các điều kiện để thành lập thị trường
chứng khoán

29/6/1995

Quyết định số 361/QĐ-TTg thành lập Ban Chuẩn bị tổ chức TTCK giúp Thủ
tướng Chính phủ chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng
TTCK ở Việt Nam

28/11/1996

Nghị định số 75/CP của Chính phủ thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước


20/7/2000

Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh khai trương hoạt
động

28/7/2000

Phiên giao dịch đầu tiên của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh với 2 cổ phiếu có mã giao dịch là REE và SAM

8/3/2005

Giao dịch thứ cấp tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội bắt đầu được thực
hiện

23/6/2006

Quốc hội khoá XI thông qua Luật chứng khoán là văn bản xác định hành lang
pháp lý cao nhất trong lĩnh vực chứng khoán

8/8/2007

Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chính Minh chính thức được khai trương

2/6/2008

Thị trường trái phiếu chuyên biệt hình thành theo Quyết định số 352/QĐ-UBCK
ngày 16/5/2008.

24/6/2009


Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội được khai trương

24/6/2009

Khai trương Thị trường giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết
(UPCoM) với 10 công ty đại chúng đăng ký giao dịch Quá trình hình thành thị
trường chứng khoán Việt Nam

A)Sở giao dịch chứng khoán
1.Khái niệm
+Sở giao dịch chứng khoán là thị trường giao dịch chứng khoán được thực hiện tại 1 đại điểm
tập trung gọi là sàn giao dịch (trading floor) hoặc thông qua hệ thống máy tính.Các chứng khoán
được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán thông thường là chứng khoán của các công ty lớn,có
danh tiếng và đã trải qua thử thách trên thị trường và đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết.Các
loại chứng khoán này được giáo dịch theo những quy định nhất định về phương thức giao
dịch,thời gian và địa điểm cụ thể.
2.Đặc điểm
+SGDCK là nơi gặp gỡ của các nhà môi giới chứngkhoán để thương lượng đấu giá mua bán
chứng khoán,là cơ quan phục vụ cho hoạt động giao dịch mua bán chứng khoán.Như vậy,sở giao
dịch chứng khoánkhông tham gia mua bán chứng khoán,mà chỉ cho thuê địa điểm để người mua
bán thực hiện giao dịch và đưa ra các loại chứng khoán được mua bán trên thịtrường
11


+Sở giao dịch chứng khoán không có hàng hóa và không có người mua bán cuối cùng,chỉ có
những nhà mội giới,vì ở các nước thông thường chứng khoán đều được kí gửi tại ngân
hàng.Ngân hàng sẽ cho khách hàng một tài khoản gọi là tài khoản lưu kí chứng khoán,nên khi
mua bán chỉ cần qua người môi giới.
+Là một địa điểm lý tưởng cho những cuộc giao lưu vốn của xã hội,Sở GDCK có thể giúp số

vốn luân chuyển một cách dễ dàng và nhanh chóng từ người này sang tay người khác.Nhà đầu tư
có thể dễ dàng đa dạng hóa đầu tư,thay đổi lĩnh vực đầu tư một cách dễ dàng và nhanh
chóng.Chính đặc điểm này đã hấp dẫn các nhà đầu tư đến với Sở GDCK.
3.Chức năng
+Làm tăng tính thanh khoản của các chứng khoán đã phát hành.Thông qua SGDCK,chứng khoán
phát hành được giao dịch liên tục,các tổ chức phát hành có thể phát hành tăng vốn thông qua thị
trường chứng khoán,các nhà đầu tư có thể mua bán chứng khoán niêm yết một cách dễ dàng và
nhanh chóng
+Chức năng xác định giá cả công bằng.Đây là 1 chức năng cực kì quan trọng trong việc tạo ra
một thị trường liên tục.Giá cả được xác định trên cơ sở so khớp các lệnh mua và bán chứng
khoán,được chốt bởi cung-cầu trên thị trường.Qua đó SGDCK mới có thể tạo ra được một thị
trường tự do,công khai và công bằng.Hơn nữa,SGDCK mới có thể đưa ra được các báo cáo một
cách chính xác và liên tục về chứng khoán,tình hình hoạt động của các tổ chức niêm yết,các công
ty chứng khoán,đem đến cho nhà đầu tư một cái nhìn toàn diện,minh bạch về thị trường.
B)Các sở giao dịch chứng khoán
1.Sàn chứng khoán HOSE
HOSE là viết tắt của Ho Chi Minh Stock Exchange, là Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh (GDCK TP.HCM).
a. Lịch sử hình thành và phát triển của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 28//11/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 75/1998/NĐ-CP về việc thành lập Ủy
ban Chứng khoán Nhà nước và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc ra đời thị trường chứng
khoán.
Ngày 20/7/2000 Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh khai trương hoạt
động
Ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên đã chính thức được tổ chức tại Trung tâm Giao dịch
Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của thị trường chứng
khoán Việt Nam
Đến tháng 08/2007, từ chỗ chỉ có hai, ba doanh nghiệp niêm yết và bốn công ty chứng khoán
thành viên đến nay đã có 111 doanh nghiệp niêm yết và 55 công ty chứng khoán thành viên, 18
công ty quản lý quỹ, 61 tổ chức lưu ký


12


Trong năm 2011, HOSE đã nghiên cứu và xây dựng chỉ số VN30 bao gồm 30 cổ phiếu hàng đầu
về giá trị vốn hóa, chiếm khoảng 80% giá trị vốn hóa toàn thị trường, 60% về giá trị giao dịch và
có mức thanh khoản tốt. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu thị trường, HOSE cũng đã triển khai lệnh
MB và đang trong quá trình nghiên cứu xây dựng sản phẩm ETF (Exchange Traded Fund) để
đưa vào giao dịch.

b. Chức năng
Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh là một thể chế chính thức mà thông qua đó
các trái phiếu chính phủ mới được phát hành và nó có chức năng như một thị trường thứ cấp cho
một số phát hành trái phiếu hiện hữu. Tất cả các chứng khoán niêm yết trên Trung tâm giao dịch
chứng khoán Việt Nam là bằng đồng Việt Nam.
Cơ chế giao dịch trên một hệ thống đặt-khớp lệnh tự động. Năng lực của hệ thống là 300.000
lệnh mỗi ngày.
Việc thanh toán được thực hiện tập trung qua Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
c. Phương thức giao dịch cổ phiếu
+Việc giao dịch được thực hiện vào buổi sáng, từ thứ hai đến thứ sáu trong tuần. Giao dịch cổ
phiếu và chứng chỉ quỹ có ba đợt khớp lệnh từ 8h20 đến 10h30, một đợt giao dịch thỏa thuận từ
10h30 đến 11h; giao dịch trái phiếu là giao dịch thỏa thuận, từ 8h20 đến 11h.
Đợt 1: Từ 9h00-9h15 là giao dịch khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa (ATO)
Đợt 2: Từ 9h15-11h30 là giao dịch khớp lệnh liên tục đợt 1
Nghỉ giữa giờ từ 11h30-13h
Đợt 3: Từ 13h-14h30 là giao dịch khớp lệnh liên tục đợt 2
Đợt 4: Từ 14h30 - 14h45 là giao dịch khớp lệnh định kỳ xác định giá đóng cửa (ATC)
Giao dịch thỏa thuận: 9h - 11h30, 13h - 15h (Cổ phiếu + trái phiếu)
d. Phương thích giao dịch trái phiếu: Trái phiếu giao dịch thỏa thuận.
2. Sàn chứng khoán HNX

HNX là viết tắt của Hanoi Stock Exchange - Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội ( Sở GDCK Hà
Nội), là thị trường chứng khoán tại Hà Nội. Chỉ số thị trường chứng khoán của Việt Nam gồm
một số mã chứng khoán được giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội được gọi là HNXIndex.
a. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển

13


08/03/2005: Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (Tiền thân của Sở Giao dịch Chứng
khoán Hà Nội) chính thức khai trương và đi vào hoạt động
19/03/2008: Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội vinh dự được đón nhận Huân chương
Lao động hạng Ba theo Quyết định số 1455/2007/QĐ-CTN của Chủ tịch nước về thành tích xuất
sắc trong việc thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả của thị trường chứng khoán, góp phần vào sự
nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
02/01/2009: Chính phủ ban hành Quyết định số 01/2009/QĐ-TTg về việc thành lập Sở Giao dịch
Chứng khoán Hà Nội trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, từ đơn vị
sự nghiệp có thu sang hoạt động theo mô hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
thuộc sở hữu nhà nước.
15/04/2010: Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội chính thức gia nhập và là thành viên thứ 19 của
Liên đoàn các Sở Giao dịch Chứng khoán châu Á và châu Đại Dương (AOSEF).
09/07/2012: Ra mắt chỉ số HNX 30, là chỉ số giá của 30 cổ phiếu có tính thanh khoản nhất trên
thị trường cổ phiếu niêm yết.
2/12/2013: Chính thức vận hành hệ thống chỉ số bao gồm chỉ số tổng hợp (HNX FF Index), bộ
chỉ số quy mô (Large Cap Index và Medium/Small Cap Index), và bộ chỉ số ngành (công nghiệp,
xây dựng và tài chính)
b. Đơn vị giao dịch và đơn vị yết giá :
Đơn vị giao dịch (lô chẵn) đối với giao dịch khớp lệnh là 100 cổ phiếu/trái phiếu. Không quy
định đơn vị giao dịch đối với giao dịch thỏa thuận. Áp dụng khối lượng giao dịch tối thiểu đối
với giao dịch thỏa thuận là 5.000 cổ phiếu hoặc 1.000 trái phiếu. Giao dịch lô lẻ: Giao dịch có
khối lượng từ 1 đến 99 chứng khoán niêm yết có thể được thực hiện theo phương thức giao dịch

thỏa thuận trên hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội hoặc các hình thức
khác theo quy định của pháp luật.
Đơn vị yết giá:Đối với giao dịch cổ phiếu: 100 đồng. Không quy định đối với giao dịch thỏa
thuận và giao dịch trái phiếu.
c. Thời gian giao dịch: Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần (trừ các ngày nghỉ lễ)
Buổi sáng: 09h45 - 12h30
Buổi chiều: 14h00 - 17h00
d.Giá tham chiếu của cổ phiếu:
Giá tham chiếu của cổ phiếu đang giao dịch là giá cơ sở của ngày giao dịch gần nhất trước đó.
Giá cơ sở là mức giá bình quân gia quyền của các giá giao dịch thực hiện theo phương thức khớp
lệnh liên tục trong 15 phút cuối cùng của thời gian giao dịch trong ngày theo quy định. Trường
hợp không có giao dịch được thực hiện trong thời gian trên, giá cơ sở được xác định bằng mức
giá thực hiện cuối cùng trong ngày giao dịch theo phương thức khớp lệnh liên tục.
14


e. Biên độ dao động giá: Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đối với cổ phiếu đang giao
dịch là ±7%. Không áp dụng biên độ dao động giá đối với các giao dịch trái phiếu.
f. Phương thức giao dịch: Sở GDCKHN áp dụng 2 phương thức giao dịch là khớp lệnh liên tục
và thỏa thuận.
Phương thức giao dịch khớp lệnh liên tục là phương thức trong đó bên mua, bên bán nhập lệnh
vào hệ thống, hệ thống sẽ tự so khớp các lệnh giao dịch theo các nguyên tắc sau đây: Ưu tiên số
1 (Ưu tiên về giá) là giá mua cao hơn được ưu tiên thực hiện trước, giá bán thấp hơn được ưu
tiên thực hiện trước. Ưu tiên số 2 (Ưu tiên về thời gian) là các lệnh cùng phía có giá như nhau thì
lệnh nào vào trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước. Giá thực hiện là giá của lệnh được nhập vào
hệ thống trước
Phương thức giao dịch thỏa thuận là phương thức trong đó bên mua, bên bán có thể thỏa thuận
trước và báo cáo kết quả vào hệ thống giao dịch hoặc tìm các lệnh quảng cáo có trên hệ thống để
thỏa thuận các điều kiện giao dịch.
3. Sàn UPCoM

Sàn UPCoM (Unlisted Public Company Market) là tên gọi của thị trường giao dịch chứng khoán
của các công ty đại chúng (CTĐC) chưa niêm yết được tổ chức tại Sở Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội.
a. Lịch sử và quá trình hình thành:
+Ngày 20/11/2008, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 108/2008-QĐ-BTC về việc ban hành
Quy chế tổ chức và quản lý giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết tại Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HASTC). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc triển
khai thị trường UPCoM (Thị trường giao dịch cổ phiếu của công ty đại chúng chưa niêm yết)
+Thị trường UPCoM ra đời và dự kiến khai trương vào tháng 6/2009
Thị trường UpCom được xây dựng dựa trên nhu cầu phát triển thị trường chứng khoán nói chung
tại Việt Nam, có các ý kiến tư vấn của chuyên gia nước ngoài, có khung pháp lý cho thị trường
đầy đủ, tạo một cơ chế hoạt động vừa linh hoạt, vừa chặt chẽ, đem lại quyền lợi chính đáng cho
doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư.
+Sự ra đời của thị trường UPCoM đã góp phần thúc đẩy quá trình tham gia thị trường do nhà
nước quản lý của các CTĐC.
Sau khi Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) tập trung triển khai nghiệp vụ đăng ký
lưu ký chứng khoán cho các công ty đại chúng và thị trường UPCoM đi vào hoạt động, nhiều
công ty đã lựa chọn phương án đăng ký giao dịch sau khi đăng ký lưu ký chứng khoán.
b. Điều kiện tham gia UPCoM: Để có thể đăng ký giao dịch trên thị trường UPCoM, ngoài
tiêu chí phải là chứng khoán của công ty đại chúng không niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng
khoán, chứng khoán đó đã phải được đăng ký lưu ký tại Trung tâm Lưu ký
c. Lợi ích của nhà đầu tư khi tham gia giao dịch trên thị trường UPCoM:
15


+Các giao dịch, thanh toán chứng khoán được thực hiện trên một hệ thống tập trung, có quản lý
nên quyền lợi của nhà đầu tư được bảo vệ bởi các quy định của pháp luật
+Thông tin về giao dịch chứng khoán và thông tin về công ty đại chúng đăng ký giao dịch được
tổng hợp và công bố công khai, minh bạch trên các phương tiện công bố thông tin của Sở Giao
dịch Chứng khoán Hà Nội và các công ty chứng khoán. Do đó, nhà đầu tư có thể tiếp cận dễ

dàng với các thông tin này để có thể đưa ra các quyết định đầu tư một cách chính xác
+Thông qua hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và mạng lưới công ty
chứng khoán thành viên, nhà đầu tư có thể dễ dàng tìm kiếm và lựa chọn đối tác giao dịch để
mua và bán chứng khoán thông qua phương thức khớp lệnh liên tục hoặc phương thức giao dịch
thỏa thuận.
d. Phương thức giao dịch trên thị trường UPCoM là thỏa thuận, bao gồm hai hình thức:
+Thỏa thuận điện tử là hình thức giao dịch trong đó đại diện giao dịch nhập lệnh với các điều
kiện giao dịch đã được xác định và lựa chọn lệnh đối ứng phù hợp để thực hiện giao dịch
+Thỏa thuận thông thường là hình thức giao dịch trong đó bên mua, bên bán tự thỏa thuận với
nhau về các điều kiện giao dịch và được đại diện giao dịch nhập thông tin vào hệ thống đăng ký
giao dịch để xác nhận giao dịch này
e. Thông tin thêm:
+Khối lượng giao dịch tối thiểu là 10 cổ phiếu hoặc 10 trái phiếu.
+Đơn vị yết giá quy định đối với cổ phiếu là 100 đồng và không quy định đơn vị yết giá đối với
trái phiếu.
+Mệnh giá là 10.000 đồng/cổ phiếu và 100.000 đồng/trái phiếu.
+Biên độ dao động giá là +/-10% đối với cổ phiếu và có thể thay đổi trong thời gian thực hiện.
+Thời gian giao dịch là từ 10h - 15h các ngày làm việc trong tuần (nghỉ giữa phiên từ 11h3013h30).
+Ra đời từ ngày 24/6/2009, sàn UPCoM được đánh giá là "sân chơi an toàn" giúp nhà đầu tư
tránh được rủi ro trên thị trường giao dịch tự do… Việc phát triển của thị trường UPCoM đã có
lộ trình, hướng tới phát triển một thị trường OTC hiện đại, đúng nghĩa
4. Sàn OTC
Thị trường OTC là gì?
Thị trường mua ban OTC hay thị trường phi tập trung là một loại hình thị trường được xây dựng
và tổ chức không dựa trên một sàn giao dịch cố định mà nó có thể là bất cứ nơi nào có sự xuất
hiện giữa người mua và người bán khi họ có nhu cầu giao dịch.
Nó vận hành theo cơ chế chào giá, sử dụng phương tiện giao dịch là điện thoại và Internet thông
qua các thiết bị đầu cuối với nhau thay vì chỉ xảy ra tại các quầy giao dịch của các ngân hàng
16



như trước kia. dịch tập trung, lợi nhuận mà các loại cổ phiếu này mang lại tương đối cao nhưng
cũng chứa đựng nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư. Đây được coi như thị trường chứng khoán phi
tập trung.
a. Lịch sử và quá trình phát triển.
Giai đoạn đầu hoạt động, việc mua và bán chứng khoán thường thông qua ngân hàng hay công ty
chứng khoán. Phương thức giao dịch chủ yếu là mua bán trực tiếp thủ công, thương lượng giá.
Khi đã phát triển, hoạt động của thị trường được thực hiện bởi một mạng lưới các nhà môi giới
và tự doanh chứng khoán mua bán với nhau và với các nhà đầu tư ở các địa điểm phân tán khác
nhau mà không có trung tâm giao dịch.
Thị trường chứng khoán phi tập trung OTC được đặt dưới sự quản lý, điều hành của các tổ chức
do pháp luật quy định và chịu sự quản lý của nhà nước
(*) Lưu ý: OTC và thị trường chứng khoán chợ đen là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Ở Việt
Nam, nhiều nhà đầu tư hay hiểu lầm thị trường OTC là thị trường chợ đen. Thị trường chợ đen
không có sự quản lý của nhà nước, nên độ rủi ro rất cao.
b. Đặc điểm OTC
+Hình thức tổ chức: Về cơ bản thị trường OTC không có địa điểm giao dịch tập trung giữa bên
mua và bên bán như đối với thị trường chứng khoán tập trung như HOSE, HNX (Sở Giao dịch
Chứng khoán)
+Chứng khoán giao dịch là chứng khoán chưa đủ tiêu chuẩn niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng
khoán, chủ yếu là của công ty nhỏ và vừa.
+Thị trường chứng khoán phi tập trung hiện đại là thị trường được tổ chức chặt chẽ, sử dụng hệ
thống mạng tin học diện rộng liên kết với tất cả các đối tượng tham gia thị trường.
+Cơ chế xác lập giá trên thị trường OTC chủ yếu dựa trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giá
giữa bên mua và bên bán.
+Hệ thống các nhà tạo lập thị trường.
+Cơ chế thanh toán trên thị trường OTC là linh hoạt, đa dạng hơn so với phương thức thanh toán
bù trừ đa phương thống nhất ở Sở Giao dịch Chứng khoán.
+Quản lý thị trường OTC được thực hiện theo hai cấp: cấp quản lý nhà nước và cấp tự quản
c. Phân loại cổ phiếu OTC

Cổ phiếu ưu đãi: Được gọi là cổ phiếu hạn chế chuyển nhượng. Khi người mua là nhân viên
công ty sau khi mua cổ phiếu sẽ được cấp sổ và đứng tên nắm giữ của mình, nếu nhân viên đó
muốn chuyển nhượng hay bán cho người khác thì người bán sẽ làm các thủ tục chuyển nhượng
sang tên cho người mua bằng giấy viết tay chuyển nhượng. Tuy nhiên, thông thường thì cổ phiếu
ưu đãi thường được đầu tư lâu dài chứ không sử dụng trong ngắn hạn bởi lợi nhuận đem lại khi
đầu tư dài hạn thường sẽ khá cao.
17


+Cổ phiếu ủy thác: Nhờ công ty chứng khoán phát hành cổ phiếu hay gọi là bên thứ 3.
+Cổ phiếu trực tiếp: Hay còn gọi là cổ phiếu tự do. Trái ngược với cổ phiếu ủy thác, cổ phiếu
trực tiếp sẽ do nhà đầu tư tự mình phát hành.
d. Phương thức giao dịch
+Phương thức giao dịch thỏa thuận giản đơn
+Phương thức giao dịch báo giá
+Phương thức giao dịch có sự tham gia của nhà tạo lập thị trường
e. Những rủi ro thường gặp khi mua bán cổ phiếu OTC
+Tranh chấp quyền mua cổ phiếu
+Tranh chấp hay thiệt hại cổ tức
+Mua bán cổ phiếu chưa chuyển nhượng
+Rủi ro nhận chuyển nhượng quyền mua
5.Sàn chứng khoán ảo: Vnstockgame, vietstock.vn, hoclamgiau.vn
là sàn chứng khoán ảo mô phỏng cách thức hoạt động hoàn toàn giống như sàn chứng khoán thật
nhằm tạo một sân chơi cho tất cả những ai yêu thích chứng khoán có cơ hội học tập kinh
nghiệm, thực hành chứng khoán cũng như có cơ hội nhận được các giải thưởng có giá trị do
Vnstockgame, vietstock.vn, hoclamgiau.vn tổ chức. Thuộc sự quản lý của Bộ Thông tin Truyền
thông và không liên quan gì tới UBCK Nhà nước
với các nguyên tắc như sau:
a. Đăng ký: Để tham gia trò chơi, trước tiên bạn phải đăng ký làm thành viên của Vnstockgame.
Sau khi đăng ký bạn có thể chọn hình thức chơi thử hoặc tham gia vòng chơi có thưởng cùng

Vnstockgame. Trong trường hợp chơi có thưởng cùng Vnstockgame bạn phải kích hoạt vòng
chơi.
b. Nguyên tắc giao dịch
+Giá đặt mua/bán phải nằm giữa giá trần và giá sàn.Khối lượng đặt mua/bán phải là bội số của
10 (lô chẵn) và không vượt quá 19,990 cổ phiếu
+Nếu là lệnh mua thì số dư tiền mặt trong tài khoản phải >= giá trị giao dịch(bao gồm phí giao
dịch).
+Nếu là lệnh bán thì số dư cổ phiếu >= khối lượng giao dịch.
+Chỉ những lệnh được khớp trước vòng chơi kết thúc mới được công nhận xếp hạng. Nghĩa là
những kích hoạt tài khoản trước khi vòng chơi kết thúc 3 ngày là không được công nhận.
c. Thời gian giao dịch và khớp lệnh
18


Sàn thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
Sàn Hà Nội (HNX)
(*)Chú ý: Hệ thống sàn ảo Vnstockgame cho phép các nhà đầu tư đặt lệnh chờ ngoài các khoảng
thời gian quy định trên.
d. Nguyên tắc khớp lệnh:
d.1) Nguyên tắc chung:
- Lấy giá và khối lượng khớp trên sàn thật là cơ sở khớp lệnh.
- Các lệnh được so khớp theo thứ tự ưu tiên như sau:
Ưu tiên về giá: Nếu là lệnh mua thì lệnh có mức giá cao hơn sẽ được ưu tiên thực hiện trước,
Nếu là lệnh bán thì lệnh có mức giá thấp hơn sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
Ưu tiên về thời gian: Đối với các lệnh mua hoặc bán có cùng mức giá thì lệnh nhập vào hệ thống
trước sẽ được ưu tiên thực hiện trước.
d.2) Nguyên tắc khớp lệnh mua:
Giá mua >= Giá khớp trên sàn thật.
Khối lượng mua <= Khối lượng khớp trên sàn thật
d.3) Nguyên tắc khớp lệnh bán:

Giá bán <= Giá khớp trên sàn thật.
Khối lượng mua <= Khối lượng khớp trên sàn thật.
e. Thời gian thanh toán
Tất cả các giao dịch được khớp sẽ được thanh toán theo luật T+2 (nghĩa là sau 2 ngày thì tiền
hoặc cổ phiếu mới được chuyển vào tài khoản của nhà đầu tư).
f. Phí giao dịch: Tất cả các giao dịch mua hoặc bán phải chịu mức phí là 0.2% giá trị giao dịch.
g. Nộp tiền ảo
Để công bằng cho các nhà đầu, Vnstockgame quy định số tiền ảo tối đa được phép nộp là 10 tỷ.
h. Chia cổ tức Vnstockgame thực hiện việc chia cổ tức (tiền hoặc cổ phiếu) theo tỷ lệ mà các
công ty niêm yết thông báo (Nếu có thay đổi Vnstockgame sẽ thông báo).
i. Công thức xếp hạng tại Vnstockgame- Vnstockgame xếp hạng theo tỷ suất hoàn vốn đầu tư
(ROI) tăng mà các nhà đầu tư đạt được.
- Công thức:

19


ROI = (Tổng số tiền đã bán - Tổng phí giao dịch) - (Tổng tiền đã mua + Tổng phí giao dịch)/
(Tổng giá trị tiền đã mua chứng khoán+Tổng phí giao dịch)
Ghi chú : Phí giao dịch được tính là 0.3% trên tổng giá trị giao dịch
C) chức năng của thị trường chứng khoán ở Việt Nam
1.Chức năng thu hút vốn nhàn rỗi vào đầu tư phát triển
Để đầu tư phát triển thì phải tự tích luỹ hoặc huy động từ bên ngoài.Vốn huy động từ bên
ngoài bao gồm vốn vay tín dụng của các tổ chức tài chính và phát hành cổ phiêú, trái phiếu.
Ưu điểm của phát hành trái phiêú, cổ phiếu đối với dân chúng là họ dễ dàng đầu tư vào
bất cứ DN nào họ muốn hoặc mua bán kiếm lợi. Còn đối với các DN là họ không phải trả lãi suất
hàng tháng và không phải trả nợ gốc khi bị thua kỗ.
Do tính chất của chu kỳ kinh doanh nên vốn tạm thời nhàn rỗi trong các DN là rất lớn,
bên cạnh, còn có một lượng vốn lớn nằm rải rác trong dân chưa được huy động. Tất cả những
tiềm năng này sẽ được phát huy hiệu quả nếu có thị trường chứng khoán .Vì thị trường chứng

khoán với cơ sở pháp lý hoàn chỉnh và bộ má quản lý hữu hiệu, với sự phổ biến và hướng dẫn
rộng rãi , người dân sẽ dễ dàng sử dụng nguồn tiết kiệm của họ hơn. Đây là tác nhân kích thích ý
thức tiết kiệm và tạo thói quen đầu tư trong công chúng.
Ngoài ra, trong xã hội cồn có các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi như: quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi
tập thể…một phần vốn của quỹ này được gửi vào Nhân hàng để thực hiện vệc thanh toán, phần
còn lại, những người quản lý quỹ luôn tự hỏi làm thế nào cho vốn của họ có khả năng sinh lãi
nhiều nhất và vừa an toàn vừa có tính tạm thời…và thị trường chứng khoán có khả năng đáp ứng
yêu cầu này.
Tóm lại,thị trường chứng khoán có chức năng thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để
đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô doanh nghiệp góp phần giải quyết việc
làm, giảm thất nghiệp.
2.Chức năng điều tiết các nguồn vốn
Phải thừa nhận rằng, một DN không phải lúc nào cũng thiếu hoặc thừa vốn. Thừa hay
thiếu là phụ thuộc vào tính chất của chu kỳ kinh doanh.Khi cần đầu tư mua nguyên vật liệu, công
cụ dụng cụ, các khoản phải thu lớn, thì đây là lúc mà DN đang thiếu vốn. Khi quá trình sản xuất
kết thúc, sản phẩm được bán ra và thu vốn về, các khoản phải thu được thu về, lúc này DN lại
tạm thời thừa vốn.
Trên thị trường vốn, luôn luôn có sự điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu. Ở đây thị
trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng.
3.Chức năng hoà nhập nền kinh tế thế giới
Một DN có thể thu hút vốn bất vứ nơi nào và bằng con đường nào mà họ có thể thu hút
một cách dễ dàng thông qua thị trường chứng khoán. Nhờ vào hệ thống máy tính mà thị trường
chứng khoán cho phép bất cứ ai, ở nơi nào trên thế giới và mua một loại cổ phiếu của bất kỳ một
20


công ty nào mà họ thích. Từ đó hình thành mối liên hệ tiền tệ quốc tế, đẩy nhanh tốc độ chu
chuyển nguồn vốn giữa các nước, thực hiện quan hệ vay mượn lâu dài trên thế giới tạo điều kiện
cho việc hoà nhập nền kinh tế thế giới.
4.Chức năng điều tiết vĩ mô

Thị trường chứng khoán là công cụ của Nhà nước thông qua Uỷ ban chứng khoán nhà
nước, và Ngân hàng trung ương.
Nghiệp vụ chủ yếu là thắt chặt hay nới lỏng sự đầu tư trên thị trường. Khi sản xuất sa sút,
thiếu vốn, Nhà nước tung tiền ra mở rộng cho vay để khuyến khích sản xuất thông qua việc mua
vào những lô chứng khoán có giá trị lớn. Khi hiện tượng đầu tư quá mức, đầu cơ thịnh hành, thì
bán chứng khoán nhằm thắt chặt tín dụng giảm bớt đầu tư kinh tế.Vậy thị trường chứng khoán là
công cụ hữu hiệu để nhà nước kịp thời điều tiết nguồn vốn trên thị trường.

D) năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm (năm 2018)
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách, trọng tâm là hoàn thiện Luật Chứng
khoán sửa đổi trên tinh thần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho TTCK phát triển và phát huy ngày
càng tốt hơn chức năng vai trò của TTCK với nền kinh tế. Tăng cường hoạt động giám sát và
cưỡng chế thực thi nhằm đảm bảo minh bạch, an toàn cho TTCK và hệ thống tài chính quốc gia;
Thứ hai, tiếp tục thực hiện cơ cấu lại TTCK theo hướng đẩy nhanh tiến trình hợp nhất 2 sở
GDCK, kết hợp lộ trình cơ cấu lại các thị trường cổ phiếu, trái phiếu, phái sinh; tiếp tục tái cơ
cấu hệ thống các định chế trung gian trên thị trường theo định hướng của Chính phủ;
Thứ ba, phát triển các thị trường mới, sản phẩm mới nhằm tiếp tục hoàn thiện cấu trúc TTCK
Việt Nam trong đó tập trung đưa sản phẩm chứng quyền có đảm bảo vào giao dịch trên Sở Giao
dịch Chứng khoán; triển khai sản phẩm hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ tại Sở Giao dịch
Chứng khoán; hoàn thiện các điều kiện về cơ sở pháp lý, hệ thống kỹ thuật cho thị trường trái
phiếu doanh nghiệp; nghiên cứu cơ chế huy động vốn cho doanh nghiệp khởi nghiệp qua sàn
GDCK;
Thứ tư là tiếp tục tổ chức tốt công tác đấu thầu, giao dịch TPCP nhằm huy động vốn kịp thời,
hiêụ quả cho ngân sách, đầu tư phát triển; tăng cường kỷ luật tài chính ngân sách, đa đạng hoá cơ
sở nhà đầu tư và sản phẩm phát hành; nghiên cứu phát hành trái phiếu xanh và ban hành khung
pháp lý quy định về phát hành trái phiếu xanh;
Thứ năm là tiếp tục thúc đẩy cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, thoái vốn nhà nước tại các
doanh nghiệp trong đó tập trung ban hành cơ chế về thị trường, dựng sổ nhằm cải tiến và thúc
đẩy hoạt động đấu giá, cổ phần hoá gắn với niêm yết, đăng ký giao dịch trên thị trường chứng
khoán theo tinh thần Nghị định 126/2017/NĐ-CP của Chính phủ.


21


E)BIẾN ĐỘNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Nhìn chung thị trường chứng khoán Viêt Nam qua các năm đều có xu hướng tăng đều, tuy nhiên
chỉ có giai đoạn 2007-2008 là thị trường rơi vào khủng hoảng với việc giảm mạnh từ 1171 điểm
trong năm 2007 xuống còn 236 điểm trong năm 2008
Lý giải vì sao
Sau một độ trễ thời gian đủ dài, nay nhìn lại, cơn bùng phát của thị trường chứng khoán Việt
Nam 2006 - 2007 không khó tìm ra nguyên nhân.
+Từ góc độ vĩ mô, sự kỳ vọng rất cao vào tăng trưởng của nền kinh tế là nguyên nhân quan
trọng nhất. Vị thế của Việt Nam lên cao sau những chú ý của cộng đồng đầu tư quốc tế. Từ cuối
năm 2007, Việt Nam nằm trong số các nước có tốc độ phát triển cao nhất của khu vực.
Ngay cả thời điểm cuối năm 2007, bất chấp những cảnh báo về chất lượng tăng trưởng thiếu bền
vững, mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2008 vẫn được đặt ra ở mức 8,5-9%. Tại thời điểm đó,
22


mục tiêu này cũng không phải là viển vông khi năm 2007, tăng trưởng GDP đạt 8,48%, cao nhất
kể từ năm 1996.
+Từ góc độ dòng vốn, nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào quá mạnh trong năm 2006-2007 đã khiến
một lượng rất lớn tiền đồng được tung ra để hấp thu số ngoại tệ này, nhưng lại không được hút về
một cách đúng mức. Thời điểm cuối 2007, đầu 2008, tốc độ tăng trưởng tín dụng được ghi nhận
ở mức kỷ lục trong hệ thống ngân hàng.
Cuối quý 1/2008, mức tăng trưởng tín dụng đạt đỉnh điểm 63%, trong đó, một phần không nhỏ
được bơm vào bất động sản, chứng khoán.
+Từ góc độ nhà đầu tư, cơn say tăng trưởng và lợi nhuận đã cuốn hút một lượng rất lớn nhà đầu
tư mới tham gia thị trường. Tình trạng bỏ việc công sở đi đánh chứng khoán xảy ra như cơm bữa,

đơn giản vì lợi nhuận trong vài tháng có thể bằng thu nhập làm công ăn lương trong cả năm.
Các tay chơi lớn trên thị trường lúc đó không chỉ là các ngân hàng, công ty chứng khoán, các quỹ
đầu tư, mà còn sinh sôi rất nhiều các quỹ thành viên tự phát, những doanh nghiệp tham gia đầu
tư tài chính, những nhóm nhà đầu tư góp tiền đầu tư chung, thậm chí các nhóm này còn liên kết
với nhau.
Lớp nhà đầu tư mới này thực tế đa số chưa hề chứng kiến một “thị trường con gấu” thực sự nào.
Thị trường chứng khoán Việt Nam có khoảng 4 năm nguội lạnh, từ 2002 đến 2005, nhưng số
lượng nhà đầu tư tham gia thời điểm đó không nhiều. Nhảy vào giữa một thị trường giá lên dài
hạn dễ khiến nhà đầu tư bị cuốn vào cơn say tăng trưởng.
Bỏ qua những rủi ro về chỉ báo vĩ mô, ngay từ cuối tháng 2/2007 (chính xác là ngày 23/2/2007),
một bài viết của một tác giả có tiếng với tiêu đề: “Cơn lốc trên thị trường chứng khoán Việt
Nam: Đánh vần chữ bong bóng thế nào?” đã chỉ ra: “Nguồn gốc của sự bùng phát trên thị trường
chứng khoán Việt Nam là gì? Một phần câu trả lời là từ tiến trình cổ phần hóa và hướng theo nền
kinh tế thị trường. Nhưng phần quan trọng hơn của câu trả lời, là có quá nhiều tiền dư thừa và nó
sẽ tìm đến bất cứ chỗ nào có lợi nhất”.
Hậu quả của việc tăng trưởng nóng từ cuối năm 2007, đầu 2008 đã bắt đầu bộc lộ rõ ràng hơn
trên các chỉ số vĩ mô.
Trong quý 1/2008, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng với tốc độ bình quân 3,06%/tháng. Đến hết
quý này, CPI đã tăng 16,37% so với cùng kỳ năm trước. CPI đạt đỉnh tăng vào tháng 8/2008 với
mức 28,3% so với cùng kỳ.
Nhằm hạ nhiệt nền kinh tế, ngay từ tháng 3/2008, Chính phủ đã đề ra 8 nhóm giải pháp với mục
tiêu kiềm chế lạm phát và giảm thâm hụt thương mại. Từ tháng 2 đến tháng 6/2008, Ngân hàng
Nhà nước đã 3 lần tăng lãi suất cơ bản, từ 8,75% lên 14%. Các lãi suất điều hành như lãi suất tái
cấp vốn, lãi suất chiết khấu cũng tăng theo.
Ngày 19/5/2008, lãi suất cơ bản được trả lại vai trò kim chỉ nam của thị trường lãi suất khi gắn
với quy định của Luật Dân sự (Lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản). Trước đó,
các công cụ khác như tăng dự trữ bắt buộc đã được thực hiện trong tháng 1, phát hành tín phiếu
bắt buộc được thực hiện trong tháng 3.
23



Sức ép của lạm phát cũng như hành động của Ngân hàng nhà nước đã khiến lãi suất của các ngân
hàng tăng mạnh từ cuối quý 2/2008, dao động từ 16-18% đối với tiền gửi và từ 20-21% đối với
các khoản vay. Đặc biệt các khoản huy động kỳ hạn ngắn có lãi suất rất cao và tuy thuộc vào
từng ngân hàng để thu hút vốn. Các ngân hàng nhỏ khởi động cuộc đua lãi suất vào khoảng
tháng 5-6, đưa lãi suất liên ngân hàng thời điểm đó lên mức kỷ lục 43% và nhiều ngân hàng
trong nhóm này sẵn sàng huy động với lãi suất từ 19%-20%/năm.
Việc kìm hãm tín dụng quá gấp đã thổi bùng lên nguy cơ thiếu hụt thanh khoản trong hệ thống
ngân hàng. Trong 6 tháng đầu năm 2008, tiền đồng trở nên khan hiếm do các đơn vị nhập khẩu
ghim giữ tiền đồng để đầu cơ trong khi các ngân hàng từ chối mua USD và tăng bán ngoại tệ.
Thậm chí trong nửa đầu năm 2008, câu hỏi lớn nhất là: “Tiền đồng đã đi đâu”?
Thị trường chứng khoán sau sóng tăng cuối cùng vào tháng 10/2007 với VN-Index lên khoảng
1.100 điểm đã điều chỉnh giảm trở lại. Cho đến cuối năm 2007, chỉ số này về quanh 900 điểm,
một mức điều chỉnh vẫn được coi là bình thường sau những sóng tăng nóng.
Tuy nhiên những biện pháp kiềm chế lạm phát, thắt chặt tiền tệ ngay từ quý 1/2008 đã tạo nên cú
sốc thanh khoản và lan tỏa đến toàn bộ thị trường tài sản. Giá bất động sản bắt đầu đảo chiều
giảm, và thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức bước vào một chu kỳ sụt giảm do lo ngại
bất ổn vĩ mô, chứ không còn là điều chỉnh giá thuần túy nữa…

24



×