Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Luyện cách viết mở bài trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 9 ở trường THCS yên mỹ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (200.24 KB, 20 trang )

MỤC LỤC
TT
1

Nội dung
Đặt vấn đề

Trang
1

2

Lý do chọn đề tài

1

3

Mục đích nghiên cứu

2

4

Đối tượng nghiên cứu

2

5

Phương pháp nghiên cứu



2

6

Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

3

7

Cơ sở lí luận của vấn đề.

3

8

Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

7

9

Giải pháp và thực hiện

8

10

Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục ,

với bản thân đồng nghiệp và nhà trường .

16

11

Kết luận và kiến nghị

17

12

Kết luận

17

13

Kiến nghị

17

14

Tài liệu tham khảo

19

-1-



A. ĐẶT VẤN ĐÈ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Văn nghị luận có vai trị hết sức quan trọng trong đời sống xã hội cũng như trong
nhà trường. Thông qua các bài văn nghị luận, học sinh có điều kiện phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo, các em có dịp thể hiện năng lực tư duy, cảm thụ và năng
lực lập luận của mình. Đây cũng là những yêu cầu cần thiết để các em làm hành
trang bước vào cuộc sống. Để viết được một bài tập làm văn đạt yêu cầu đã khó, viết
được một bài văn nghị luận lại càng khó hơn, nhất là với học sinh bậc THCS. Văn
nghị luận đòi hỏi cách lập luận chặt chẽ, tư duy sắc bén, khoa học, đòi hỏi yêu cầu
cao hơn về tính khoa học, tính lơgic, tính biện chứng,…Trong khi đó tư duy lập luận
lơgic của học sinh THCS chưa định hình rõ rệt. Điều này làm hạn chế sự tiếp thu
kiến thức văn nghị luận ở các em và ảnh hưởng rất nhiều đến sự lắng đọng kiến thức
mà giáo viên mong muốn truyền thụ đến các em.
Qua thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy học sinh THCS nói chung, học
sinh trường THCS Yên Mỹ nói riêng cịn gặp khơng ít khó khăn khi làm văn nghị
luận. Các em ít hứng thú trong việc rèn luyện kỹ năng viết văn nghị luận, bài viết
văn nghị luận của các em thường mắc khá nhiều lỗi. Một trong những lỗi ta bắt gặp
ngay khi mở đầu bài viết đó là các em cịn lúng túng, khơng biết làm thế nào để vào
bài cho nhanh mà vẫn đảm bảo đúng, hay và hấp dẫn. Quan tâm đến cách viết bài
của học sinh, từ đó tìm ra các biện pháp, phương pháp hữu hiệu nhất giúp học sinh
hoàn thành bài viết của mình với kết quả cao nhất có thể nói là một việc làm có ý
nghĩa thiết thực. Mục đích chính yếu là nhằm rèn luyện nâng cao kỹ năng viết bài
văn nghị luận cho học sinh và góp phần vào nhiệm vụ chung của q trình đổi mới
phương pháp dạy học Ngữ văn.
Sự khởi đầu của việc làm văn nghị luận là viết đoạn mở bài còn được gọi dưới
cái tên như đặt vấn đề hay nêu vấn đề. Nhưng quả thực, việc khởi động này cũng là
việc khó khăn nhất đối với học sinh. Vì đoạn mở bài là căn cứ để đánh giá bài làm
có sáng tạo, độc đáo, hấp dẫn hay không. Nằm ở vị trí đầu tiên trong bố cục ba phần

(mở bài, thân bài, kết bài), đoạn mở bài thường tạo ấn tượng ban đầu, giúp người
đọc cảm nhận trọn vẹn âm hưởng của toàn bài. Cho nên một đoạn mở bài gọn gàng,
mạch lạc sẽ thu hút được sự quan tâm của đơng đảo người đọc. Bên cạnh đó, nó cịn
tạo thêm hứng thú cho chính người viết. Ngược lại, người đọc mất cảm tình khi tiếp
xúc với một bài văn có đoạn mở bài mang biểu hiện của nhận thức hạn chế và lối tư
duy thiếu mạch lạc của người viết, thể hiện ở cách viết khơ khan, dài dịng, xa đề,
thậm chí lạc đề, thiếu hấp dẫn. Từ tâm lý tiếp nhận khơng tốt, người đọc có thể mặc
nhiên quy kết rằng nội dung bài văn này kém chất lượng. Như vậy, đoạn mở bài là
một trong những bộ phận quan trọng cấu thành bài văn nghị luận.
Xuất phát từ thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn cho học sinh lớp 9, tôi đã mạnh dạn
áp dụng kinh nghiệm: “Luyện cách viết mở bài trong bài văn nghị luận cho học
sinh lớp 9 ở trường THCS Yên Mỹ” để hướng dẫn học sinh viết đoạn mở bài trong
bài văn nghị luận một cách bài bản, kỹ càng. Và việc làm đó bước đầu đã thu được
kết quả rất khả quan, thuận lợi cho quá trình viết văn nghị luận của học sinh.
-2-


II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

Trong những năm học gần đây, tơi đã khơng ngừng nghiên cứu, tìm tịi, học hỏi và
áp dụng các phương pháp viết mở bài để hướng dẫn học sinh mở bài đúng, tiến tới
mở bài hay, cuốn hút người đọc. Cơng việc địi hỏi ở tơi niềm đam mê và sự đầu tư
thời gian, tâm huyết nhằm giúp học sinh lớp 9 vượt qua rào cản tâm lí ngại khó và
những vướng mắc trong q trình bắt tay vào viết mở bài cho bài văn nghị luận. Hi
vọng với kinh nghiệm ít ỏi của mình, tơi có thể cùng với các bạn đồng nghiệp giúp
học sinh một cách rèn luyện để các em dần dần thành thạo kĩ năng viết mở bài, để
bài làm văn của các em đạt yêu cầu và hay hơn.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

Tập trung vào Luyện cách viết mở bài trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 9, tôi

mong muốn các em sẽ biết viết những mở bài từ đạt yêu cầu đến đạt yêu cầu cao. Vì
vậy, đề tài này sẽ giúp học sinh nắm vững vai trò, đặc điểm của phần mở bài trong
bài tập làm văn, biết ưu điểm của các cách mở bài khác nhau, biết lựa chọn cách mở
bài phù hợp với yêu cầu của từng đề bài và thành thạo kĩ năng viết mở bài cho bài
văn nghị luận văn học. Đó là những khâu quan trọng quyết định kết quả bài tập làm
văn của các em mà mọi học sinh và giáo viên đều quan tâm.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Trong quá trình triển khai sáng kiến tôi đã áp dụng các phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết;
- Điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin;
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.

-3-


B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ.

1. Đặc điểm của đoạn mở bài.
Đoạn mở bài trong bài văn nghị luận có tính thống nhất với tồn bài về nội
dung và hình thức. Mặt khác, đoạn mở bài cịn có tính hồn chỉnh và độc lập tương
đối so với các phần khác trong bài. Vì vậy nó tồn tại ở dạng một đoạn văn riêng biệt
(đoạn mở đầu) trong hệ thống văn bản. Đặc điểm của mở bài trong bài văn nghị luận
là:
1.1.Về chức năng, nhiệm vụ:
Đoạn mở bài phải tạo được tình huống có vấn đề tức là phải đề xuất được vấn
đề mà đề bài yêu cầu giải quyết. Nó có nhiệm vụ nêu ra luận đề (vấn đề nghị luận)
cho toàn bài. Vấn đề nêu trong mở bài là ở dạng tổng quát, khái quát cần triển khai,
giải quyết. Do đó, người viết cần nắm vững yêu cầu của đề bài, từ đó khái quát thành

luận đề lớn cần giải quyết và nêu ngắn gọn ở mở bài. Trong phần mở bài của bài văn
nghị luận, người viết không nên bộc lộ ngay thái độ, quan điểm của mình về vấn đề
nghị luận mà chỉ nêu vấn đề cần giải quyết, điều đó góp phần làm cho bài viết có sức
hấp dẫn người đọc hơn.
Thực tế mở bài thường là đoạn văn hoàn chỉnh, thể hiện rõ những nội
dung sau:
- Dẫn dắt vấn đề: Mở đầu đoạn là những câu dẫn dắt có liên quan đến
vấn đề chính cần bàn để chuẩn bị tư tưởng dẫn người đọc vào vấn đề.
- Nêu vấn đề: Vấn đề phải được nêu một cách ngắn gọn, nêu đúng vấn đề
đặt ra trong đề bài và phải nêu một cách khái quát.
- Nhận định về tầm quan trọng của vấn đề, ý nghĩa của vấn đề đối với thời đại
( Phần này tùy thuộc vào từng vấn đề cụ thể, không nhất thiết mở bài nào cũng phải
có).
1.2. Về cách thức trình bày:
Đoạn mở bài ln có sự tương ứng với đoạn kết bài về cả nội dung và độ dài.
Trong trường hợp vấn đề quá phức tạp không thể nêu trong một đoạn văn thì có thể
viết thành hai đoạn văn, khi đó, độ dài của mở bài nới rộng hơn. Song về cơ bản,
đoạn mở bài của học sinh khi làm văn trong nhà trường cần đảm bảo yêu cầu về hình
thức sau:
- Ngắn gọn: Từ khâu dẫn dắt vấn đề đến khâu nêu tầm quan trọng, ý nghĩa (nếu có)
chỉ ngắn gọn trong 4-7 câu. Nhưng vẫn cần đảm bảo được tính trọn vẹn của vấn đề
và tránh lan man không nêu được vấn đề trung tâm.
- Đầy đủ: Khi đọc xong mở bài phải làm cho người đọc hiểu được vấn đề đặt ra ở
đây là gì, trong phạm vi nào và phương thức vận dụng để giải quyết vấn đề đó như
thế nào…Phần này nhất thiết phải đầy đủ tất cả các nội dung, quan trọng nhất là phải
nêu đúng, đủ vấn đề của bài làm.
- Độc đáo: Đoạn mở bài phải gây được sự chú ý và gợi cho người đọc sự quan tâm,
niềm hứng thú theo dõi sự trình bày ở phần sau.

-4-



- Giản dị, tự nhiên: Đòi hỏi khi viết phải có giọng điệu tự nhiên, có khả năng tạo ra
cảm giác thân quen, gần gũi với người đọc (người nghe) và có sức gợi nghĩ (gợi
cảm).
Về ngơn ngữ diễn đạt: Trong đoạn mở bài, những câu dẫn vào đề nên viết
ngắn gọn, khéo léo, lời lẽ tự nhiên, thoải mái sao cho tạo được ấn tượng, hứng thú
cho người đọc, người nghe. Do đặc thù riêng của đoạn mở bài nên khi viết cần tránh
lối viết cầu kì, dài dịng, lan man, xa rời trọng tâm đề bài yêu cầu. Các câu trong
đoạn mở bài thường là kiểu câu trần thuật, nhưng cũng có cả câu phủ định và câu
nghi vấn (câu hỏi tu từ nhằm kích thích suy nghĩ của người đọc).
2.Yêu cầu của đoạn mở bài.
Về cơ bản, đoạn mở bài đạt yêu cầu là một đoạn mở bài đúng. Nghĩa là đoạn
mở bài đó phải đảm bảo đầy đủ nội dung và đảm nhận chức năng của phần đặt vấn
đề. Mở bài đạt yêu cầu khi nó giới thiệu được vấn đề đến người đọc (vấn đề sẽ được
trình bày ở phần thân bài).
Ở đây chúng tơi quan niệm rằng: Mở bài là một đoạn văn hoàn chỉnh (đoạn
mở bài). Đoạn văn ấy cũng có ba phần: Mở đầu đoạn, phần giữa đoạn và phần kết
đoạn. Mỗi phần của mở bài đảm nhận một nhiệm vụ tương đối độc lập. Cụ thể là:
- Phần mở đầu đoạn: Nêu những câu dẫn dắt ( có thể là những lời văn của
người viết, có thể là một câu thơ, lời hát, một câu nói nổi tiếng của một nhân vật,
một chính khách, là một mẩu chuyện nhỏ hoặc lời giới thiệu vài nét về tác giả, tác
phẩm,…). Yêu cầu nội dung câu dẫn phải gần gũi và có liên quan đến vấn đề chính
mà bài văn sẽ đề cập đến.
- Phần giữa đoạn: Nêu vấn đề chính của bài viết (vấn đề có thể đã nêu rõ trong đề, có
thể người viết phải tự rút ra, tự khái quát và nêu lên). Đối với loại đề yêu cầu phân
tích, cảm thụ tác phẩm nghệ thuật thì phần này thường nêu ấn tượng chủ đạo, bao
trùm lên toàn bộ tác phẩm mà người viết cảm nhận được.
- Phần kết đoạn: Nêu giới hạn vấn đề và phạm vi tư liệu mà bài viết sẽ trình bày.
Phần này thường được nêu rõ trong đề bài, người viết chỉ cần nêu lại yêu cầu và dẫn

lại ý kiến, câu trích ở đề bài. Phần cuối này cũng có thể nêu hướng giải quyết vấn đề,
ý nghĩa, tầm quan trọng của vấn đề đối với bản thân và thời đại.
3. Các cách viết đoạn mở bài trong văn nghị luận:
Thơng thường có hai cách viết đoạn mở bài:
3.1. Mở bài trực tiếp:
Mở bài trực tiếp là cách đi thẳng vào vấn đề cần nghị luận. Nghĩa là sau khi đã tìm
hiểu đề và xác định được vấn đề trọng tâm của bài nghị luận, ta nêu thẳng vấn đề đó
ra bằng một luận điểm rõ ràng. Tuy nhiên, khi mở bài trực tiếp, ta cũng phải trình
bày cho đủ ý, khơng nói thiếu nhưng cũng khơng nên nói hết nội dung, phải đáp ứng
đủ các yêu cầu của một phần mở bài chuẩn mực trong nhà trường.
Ví dụ: Với đề bài: “Phân tích bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu”
Học sinh đã mở bài như sau:

-5-


Nói đến Chính Hữu khơng thể khơng nói đến bài thơ “Đồng chí”. Bài thơ như
một điểm sáng trong tập “Đầu súng trăng treo”- tập thơ viết về đề tài người lính
của ơng.
- Vấn đề nghị luận: Đề tài người lính
- Giới hạn vấn đề: Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu.
Đặt vấn đề theo cách trực tiếp dễ làm nhưng khó hay, khơng thu hút nhiều sự
chú ý của người đọc. Vì mở bài trực tiếp thường khơng có phần dẫn dắt mà chỉ có
hai phần cơ bản tạo nên đoạn mở bài là phần nêu vấn đề và phần giới hạn vấn đề.
Cho nên trong nhà trường, người ta thường chuộng cách đặt vấn đề gián tiếp hơn.
3.2. Mở bài gián tiếp:
Mở bài gián tiếp là cách vào đề thông qua một loạt sự dẫn dắt như: Nêu ra một câu
chuyện, sự kiện, con số, so sánh,…sau đó mới nêu vấn đề nghị luận để kích thích trí
tị mị, gợi chú ý của người đọc, rồi từ đó mới nêu lên vấn đề chính.
Khi sử dụng các mở bài gián tiếp, người viết cần lựa chọn điểm xuất phát sao cho:

từ đó có thể dẫn đến đề tài; có khả năng tạo ra cảm giác gần gũi, quen thuộc với
người đọc (người nghe), có sự gợi nghĩ (gợi cảm). Cách này thường dài nhưng lại lôi
cuốn, hấp dẫn người đọc.
Một số kiểu mở bài gián tiếp thường gặp:
*Kiểu diễn dịch:
Dẫn dắt vào đề theo kiểu diễn dịch là người viết nêu ra những khái quát hơn, bao
trùm vấn đề đặt ra trong đề bài rồi thu hẹp lại dần. Sau cùng, bắt vào vấn đề của đề
bài.
Ví dụ: Với đề bài “ Tình mẹ và ý nghĩa của lời ru đối với cuộc đời mỗi con
người trong bài thơ “Con cị” của Chế Lan Viên”, có thể mở bài như sau:
(1) Đã là người Việt Nam, ai lớn lên mà chẳng mang theo, dù ít dù nhiều hơi ấm của
những lời ru, những lời yêu thương êm đềm khi xưa mẹ hát. (2) Đã mang trong mình
dịng máu Việt, ai mà chẳng có một góc tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên, chập chờn
theo đơi cánh cị trắng ở nơi sâu thẳm hoài niệm, tâm hồn. (3) Chế Lan Viên cũng
vậy, ơng cũng là người Việt Nam, dịng máu chảy trong huyết quản ơng cũng mang
tên Lạc Hồng, có lẽ vì thế, trong thơ ơng, dù là suy ngẫm, dù là triết lí, ta vẫn gặp
lời ru của mẹ, ta vẫn thấy tuổi thơ nồng cháy, vẫn nghe trong đó thong thả nhịp vỗ
cánh cị. (4) Và “Con cị” là một bài thơ tiêu biểu cho một hồn thơ như thế, một bài
thơ mà chất triết lí, suy tưởng đã hòa làm một với những lời ca đẹp đẽ nhất ca ngợi
tình mẹ, ca ngợi ý nghĩa của những lời hát ru đối với cuộc đời mỗi con người.
Mở bài trên gồm bốn câu trình bày theo kiểu diễn dịch:
+Câu (1), ( 2) nêu nhận định khái quát về ý nghĩa lời ru của mẹ đối với mỗi con
người.
+Câu (3) giới thiệu thơ Chế Lan Viên.
+Câu (4) nêu vấn đề nghị luận: “Tình mẹ và ý nghĩa lời ru trong bài thơ “Con cò”
của Chế Lan Viên”.

-6-



*Kiểu quy nạp:
Mở bài theo kiểu quy nạp tức là nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong
đề bài rồi tổng hợp lại thành vấn đề cần nghị luận.
Ví dụ, với đề bài: Suy ngẫm của em về lịng dũng cảm, có thể mở bài theo kiểu
quy nạp như:
(1) Mấy tháng trước, đài báo đưa tin về một anh thanh niên tay không bắt cướp ở
thành phố Hồ Chí Minh mà khơng cần gia nhập một tổ chức cơng an hay dân phịng
nào, cũng khơng phải để lấy thù lao hay ân huệ. (2) Hàng ngày chúng ta vẫn nghe
tin có những bạn trẻ nhảy xuống sơng cứu người sắp chết đuối, có những tình
nguyện viên khơng quản ngại gian khổ, hiểm nguy đến với các bệnh nhân trại
phong, vào các bệnh viện truyền nhiễm hoặc đến với đồng bào dân tộc miền núi cần
sự giúp đỡ. (3) Và với những nghĩa cử cao đẹp đó, chúng ta gọi họ là con người có
lịng dũng cảm.
Mở bài trên viết theo kiểu quy nạp:
+ Câu (1), (2) đưa ra những tấm gương khơng quản ngại khó khăn, gian khổ, thậm
chí sẵn sàng hi sinh tính mạng để cứu người.
+ Câu (3) khái quát những hành động cao cả đó trong khái niệm lịng dũng cảm.
*Kiểu so sánh:
Có hai cách so sánh:
- So sánh tương đồng, tương liên: Với cách này ta bắt đầu bằng việc nêu lên một ý,
một sự việc tương tự (có liên quan với ý, với sự việc của luận đề) nhằm tạo ra sự liên
tưởng rồi từ đó mà chuyển sang vấn đề cần bàn.
Ví dụ, với đề văn: Vẻ đẹp mùa xuân trong đoạn trích “Cảnh ngày xn”
(Trích “Truyện Kiều”- Nguyễn Du), có thể mở bài:
Từ lâu, mùa xuân đã trở thành nguồn cảm hứng vơ tận cho thơ ca, đánh thức
ngịi bút của bao nghệ sỹ tài hoa. Ta đã từng được cảm nhận sắc xuân ngập tràn
của đêm “Nguyên tiêu” trong thơ Hồ Chí Minh, được hịa mình vào những cung bậc
cảm xúc xuân nồng nàn, rạo rực trong “Mùa xuân của tôi” cùng với Vũ Bằng, và
giờ đây lại được đắm mình trong sức xuân tràn trề, sắc xuân trong trẻo, tươi sáng,
tinh khôi qua những nét vẽ tinh tế, tài hoa của cụ Nguyễn Du trong đoạn trích

“Cảnh ngày xuân” (trích “Truyện Kiều”).
- So sánh tương phản, đối lập: bắt đầu lập luận bằng cách nêu ý trái ngược với ý của
luận đề để rồi lấy đó làm cái cớ mà chuyển sang luận đề.
Ví dụ, với đề văn: Cảm nhận về bài thơ “Qua đèo Ngang” của Bà Huyện
Thanh Quan, có thể viết:
Nếu như thơ Hồ Xuân Hương hấp dẫn người đọc bởi chất bình dị, dân dã,
gần gũi, quen thuộc với đời sống bình dân thì thơ Bà Huyện Thanh Quan lại chiếm
được tình cảm nồng thắm nơi bạn đọc bởi phong cách thơ cổ điển, trang nhã, điêu
luyện. Đọc thơ bà, ta như được đắm mình trong một điệu thơ nhẹ nhàng, trầm lắng,
chất chứa những mối hoài cảm sâu xa. Bài thơ “Qua đèo Ngang” chắc chắn để lại
trong lòng người đọc những ấn tượng như vậy.

-7-


Không phải lúc nào áp dụng những cách làm trên cũng hay, sự sáng tạo của cá
nhân góp phần khơng nhỏ vào thành cơng của bài viết. Vì thế, khi làm bài học sinh
phải định hướng cho mình những cách mở bài tốt nhất. Trong bốn kiểu nhỏ của cách
mở bài gián tiếp, kiểu mở bài theo lối so sánh tương liên địi hỏi người viết phải có
kiến thức rộng, có hiểu biết về những vấn đề liên quan cần nghị luận và phải có cảm
nhận tinh tế trước mọi vấn đề để nhìn vào đó có thể tìm ra mối quan hệ tương liên;
còn kiểu mở bài theo lối tương phản thường áp dụng cho học sinh có cảm thụ tốt,
nhuần nhuyễn và điêu luyện, vì nội dung của nó tương đối phức tạp. Hai kiểu mở bài
này phổ biến đối với học sinh khá giỏi.
Tóm lại, mở bài có nhiều cách, nhiều kiểu, tùy trường hợp mà vận dụng. Nhưng nhìn
chung, chúng ta cần nhớ một điều, phần mở bài, phần đặt vấn đề có nhiệm vụ khơi
gợi sự chú ý của người đọc đối với vấn đề mình cần nghị luận. Do đó cần tránh dài
dịng, vịng vo hoặc lấn sang phần thân bài, làm loãng vấn đề nghị luận sẽ được giải
quyết triệt để ở phần thân bài. Để có được phần mở bài như ý đòi hỏi người viết phải
đọc và thực hành nhiều dạng đề khác nhau, chỉ khi rèn luyện nhiều thì đứng trước

những đề văn kiểm tra học sinh mới có thể tìm ra cách mở bài nhanh chóng và dễ
dàng.
II.THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM .

1.Thực trạng chung:
Trên thực tế, qua khảo sát chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn, chúng
tôi thấy kết quả thu được chưa cao, giáo viên thường có tâm lí ngại dạy phần Tập
làm văn. Cịn học sinh thường tỏ ra không hứng thú với các tiết Tập làm văn, nhất là
phần nghị luận. Nếu như tình hình dạy Tập làm văn nói chung cịn nhiều vấn đề trăn
trở, thì mở bài trong bài văn nghị luận nói riêng cịn gặp nhiều khó khăn. Phần này
thường bị xem nhẹ và không dành thời gian ôn tập hay rèn luyện. Chính vì thế đã
dẫn tới tình trạng có rất nhiều bài văn mở đầu khô khan, lạc đề hoặc không tạo hứng
thú cho người đọc.
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi việc làm bài văn nghị luận của học sinh,
một vấn đề dễ nhận thấy là các em rất chật vật, mất nhiều thời gian vào việc viết
phần mở bài. Từ việc chấm bài, bản thân tôi cũng nhận thấy phần mở bài của đối
tượng học sinh này thường mắc phải các lỗi cơ bản sau:
- Thiếu ý hoặc chưa nêu được vấn đề cần nghị luận;
- Dẫn dắt vấn đề vịng vo, rườm rà, vu vơ, khơng liên quan đến vấn đề cần giải quyết
mà đề bài yêu cầu.
- Mở bài quá chi tiết, nói hết nội dung lẽ ra phần thân bài mới trình bày;
- Mở bài khơ khan, thiếu hình ảnh.
2.Về phía giáo viên:
Một số thầy cơ giáo cịn coi nhẹ các giờ lập dàn ý, trả bài, khiến cho học sinh
khơng có thói quen sửa chữa những lỗi còn hay mắc phải trong khi viết. Viết văn là
q trình ln cần uốn nắn, chỉ dẫn để nâng cao kĩ năng, bởi “văn ôn, võ luyện”.
Mặt khác, do thiếu thời gian giảng dạy mà một số giáo viên có thói quen từ xưa đến
-8-



nay coi phần mở bài đơn giản chỉ là sự gợi mở vấn đề. Rõ ràng, giáo viên thấy học
sinh chưa đáp ứng đủ từng yêu cầu của mỗi phần trong bài hay tồn bài, các em có
cố gắng lắm cũng chỉ đi được những phần trọng tâm (thân bài). Giáo viên khi hướng
dẫn học sinh viết phần mở bài thường chỉ giới thiệu rất sơ lược các nội dung phải
trình bày. Đơi khi hướng dẫn học sinh viết phần này, khơng ít giáo viên tỏ ra lúng
túng khi phải chỉ ra những bước cụ thể để viết được mở bài một cách thành thục.
Cũng có những giáo viên tâm huyết hơn thì hướng dẫn học sinh một vài kĩ năng để
viết phần mở bài nhưng chủ yếu dựa vào chủ quan của bản thân mình, cốt sao giới
thiệu được vấn đề, còn chủ yếu tập trung vào phần thân bài. Đây là một trong những
nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng buồn là rất nhiều học sinh tỏ ra rất lúng túng
khi viết văn, mắc nhiều lỗi sai trong văn bản thông dụng và số đông học sinh tỏ ra
ngại học Tập làm văn.
3. Về phía học sinh:
Các em chưa chú ý đến chức năng, nhiệm vụ của phần mở bài trong bài văn,
các phương pháp viết phần này thì lơ mơ. Từ sự thiếu hụt về kiến thức cũng như thời
gian giảng dạy hạn chế khiến cho các em học sinh cũng rơi vào tình trạng khơng
nắm vững được cách viết một mở bài thế nào là đạt yêu cầu, chưa nói đến hay và
hấp dẫn. Đa số các em căn cứ vào nội dung có sẵn của đề bài để viết mở bài cho bài
văn của mình mà khơng hề sáng tạo hay tìm tịi cách viết nào khác. Tình trạng học
sinh kém về khả năng diễn đạt còn khiến cho việc viết mở bài trở nên sơ sài, tẻ nhạt,
rời rạc. Các em thường lúng túng khi làm mở bài hoặc bài làm thường là sự sao chép
máy móc đoạn văn mẫu của thầy cơ giáo, thiếu sự sáng tạo cá nhân. Các em chưa
được hướng dẫn cụ thể cách viết các dạng mở bài khác nhau, để có thể so sánh thấy
được cái hay của sự sáng tạo, cái hấp dẫn ở một bài văn hay.
Từ nhận thức ấy, trong quá trình dạy kiểu bài nghị luận văn học, tơi đã cố gắng tìm
hiểu làm như thế nào để giúp các em thốt khỏi tình trạng lúng túng khi bắt đầu viết
bài văn nghị luận. Nếu giải quyết được tình trạng này thì các em sẽ vững vàng, tự
tin, chủ động hơn khi bước vào những kì thi quan trọng và khi tiếp tục học văn ở
những năm tiếp theo.
Mục đích của đề tài là rèn luyện cho học sinh viết đúng, viết nhanh và tiến tới viết

hay phần mở bài, tránh được một số lỗi thường gặp trong quá trình viết đoạn mở bài
cho bài văn nghị luận.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

1. Các giải pháp.
1.1. Cung cấp kiến thức cơ bản về yêu cầu của đoạn văn mở bài cho học sinh:
- Đoạn mở bài đúng nhất thiết phải có hai nội dung: Thứ nhất là nêu vấn đề
bàn bạc; thứ hai là nêu phạm vi tư liệu và giới hạn vấn đề.
- Về hình thức, đoạn mở bài phải trình bày có câu cú gọn gàng, đúng ngữ
pháp, ngữ nghĩa đồng thời nêu được chủ đề của đoạn.
Ví dụ: Đề bài : “Tình cha con trong truyện “Chiếc lược ngà” của Nguyễn
Quang Sáng”

-9-


Mở bài 1: Có nhà văn đã nói rằng: “Khơng có chuyện cổ tích nào đẹp bằng
chính cuộc sống viết ra”. Cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc ta với biết bao
câu chuyện đã trở thành huyền thoại được các nhà văn ghi lại như những câu
chuyện cổ tích thời hiện đại. Trong số ấy phải kể đến“Chiếc lược ngà” của Nguyễn
Quang Sáng. Sâu đậm nhất, mạnh mẽ nhất là tình cha con.
Đoạn mở bài trên đã đảm bảo đầy đủ yêu cầu của một mở bài:
- Phần dẫn dắt vấn đề: Từ một câu nói của một nhà văn.
- Phần nêu vấn đề: Tình cha con sâu đậm, mạnh mẽ.
- Giới hạn vấn đề: Tác phẩm “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.
Khi đã đạt yêu cầu là mở bài đúng, chúng tơi cịn muốn bàn đến một mở bài
hay. Một mở bài hay là mở bài đưa ra vấn đề một cách bất ngờ, khiến cho người ta
có hứng thú tham gia vào việc giải quyết vấn đề đó.
Muốn mở bài cho hay và thành thạo cần luyện tập bằng cách cùng một đề văn
nhưng suy nghĩ và viết mở bài theo nhiều kiểu khác nhau. Các mở bài khác nhau chủ

yếu do phần dẫn dắt tạo nên. Như vậy, người viết khi xác định được ba phần của
đoạn mở bài, giữ lại hai phần sau (phần nêu vấn đề và phần giới hạn) và khéo léo
thay đổi phần dẫn dắt vấn đề thì sẽ có mở bài hay.
Mở bài 2: Văn chương thường dành nhiều trang viết cho tình mẫu tử. Phải
chăng tình cảm ấy thường dễ bộc lộ, vừa rộng lớn, vừa rất tự nhiên. Nhưng bên
cạnh đó văn chương cịn khắc sâu tình phụ tử thiêng liêng. Ta đã từng cảm nhận
được tình cảm cao đẹp ấy qua “Lão Hạc” của Nam Cao. Đến “Chiếc lược ngà”,
Nguyễn Quang Sáng lại cho ta nhìn một cách cụ thể về tình cha con sâu nặng.
Hai mở bài trên cùng viết cho một đề bài. Mỗi mở bài có một cách dẫn dắt
vấn đề độc đáo, tự nhiên không giống nhau, tạo nên giọng điệu riêng của mỗi bài
viết. Cả hai bài đều được đánh giá là hay và hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.
- Một mở bài cần:
1) Tránh dẫn dắt vòng vo quá xa mãi không dẫn được vào việc nêu vấn đề.
2) Tránh dẫn dắt ý khơng liên quan gì đến vấn đề sẽ nêu.
3) Tránh nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, có gì nói hết ln rồi thân bài lại lặp lại
những điều đã nói ở mở bài.
1.2. Hướng dẫn cách rèn luyện các kĩ năng viết đoạn mở bài cho học sinh.
Trên thực tế, SGK Ngữ văn THCS khơng có tiết rèn luyện kĩ năng xây dựng
đoạn văn theo chức năng. Chính vì vậy trong các tiết học lí thuyết, tôi đã cố gắng
xen lồng từng dạng bài tập dựng đoạn mở bài. Mặt khác, trong những tiết trả bài, tôi
cũng tranh thủ đưa thêm các bài tập chữa lỗi mà học sinh hay mắc phải để các em rút
kinh nghiệm: chữa lỗi thường gặp trong đoạn viết mở bài. Từ đó, hướng các em đến
cách mở bài vừa đúng, vừa gây được ấn tượng với người đọc.
Cùng với các việc làm trên, chúng tơi cịn giao bài tập về nhà cho tổ nhóm,
sau đó sẽ thu chấm và rút kinh nghiệm cho từng đối tượng học sinh. Đối với những
học sinh trung bình - yếu, tơi chú trọng hơn, khơng địi hỏi nhiều về khả năng diễn
đạt hay mà chú trọng hơn đến cách viết đúng, mạch lạc, rõ ràng. Cố gắng chấm và
phát hiện những điểm sáng tạo của các em để có sự động viên kịp thời phù hợp.
- 10 -



*Kĩ năng nhận diện đoạn văn mở bài:
- Về phía giáo viên: để rèn luyện kĩ năng này cho học sinh, giáo viên cần chuẩn bị
phiếu học tập và phát cho học sinh ( in sẵn các bài tập liên quan)
- Về phía học sinh: Cần phải nắm chắc vai trò và cấu tạo của đoạn văn mở bài. Khi
nhận được phiếu học tập, học sinh có thể giải quyết nhanh bài tập nhận diện đoạn
văn mở bài.
Bài tập: Đọc 3 đoạn văn sau đây và cho biết đoạn nào có chức năng mở bài?
Vì sao?
Đoạn 1: (1) “Đồng chí” là một tác phẩm tiêu biểu của Chính Hữu trong những
năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. (2) Bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng
chí gắn bó thiêng liêng của những anh bộ đội Cụ Hồ.
Đoạn 2: (1) Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu được mở đầu bằng hai câu thơ mang
giọng điệu tâm tình, trị chuyện. (2) Qua những lời tâm tình ấy, chúng ta có thể biết
được về quê hương, về nguồn gốc xuất thân của những người lính. (3) Họ đều ra đi
từ những miền quê nghèo khó. (4) Đó là vùng chiêm trũng “nước mặn đồng chua”
hay là vùng trung du cằn cỗi “đất cày lên sỏi đá”.
Đoạn 3: (1) Nếu nói đến những nhà thơ tâm huyết luôn chọn chủ đề về tình đồng
đội, đồng chí làm nguồn cảm hứng sáng tạo thì khơng thể khơng nhắc đến Chính
Hữu- một nhà thơ quân đội. (2) Sáng tác của ông không nhiều nhưng lại được rất
nhiều người biết đến và yêu thích. (3) Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông
là bài thơ “Đồng chí”. (4) Bài thơ đã diễn tả sâu sắc tình đồng chí gắn bó thiêng
liêng của những anh bộ đội thời chống Pháp.
Yêu cầu học sinh căn cứ vào cấu tạo của đoạn văn mở bài để thấy được đoạn
1 và 3 là đoạn văn mở bài, đoạn 2 khơng có vai trị mở bài. Trong đó:
- Đoạn 1 sử dụng cách mở bài trực tiếp: Câu (1) giới thiệu tác giả tác phẩm; câu (2)
nêu nhận xét, đánh giá về tác phẩm ( Đây chính là vấn đề sẽ được bàn luận ở phần
thân bài).
- Đoạn 2 là đoạn văn phân tích hai câu thơ đầu của bài thơ. Đây là đoạn văn thuộc
phần thân bài.

- Đoạn 3 sử dụng cách mở bài gián tiếp: Câu (1), (2) dẫn dắt vấn đề bằng cách khái
quát cảm hứng sáng tác của tác giả; câu (3) giới hạn phạm vi nghị luận; câu (4) giới
thiệu vấn đề sẽ bàn luận ở thân bài.
*Kĩ năng chữa lỗi để hoàn chỉnh đoạn mở bài.
- Giáo viên: Chuẩn bị phiếu học tập có in sẵn hệ thống bài tập. Có thể sử dụng ngay
các đoạn văn trong các bài viết tập làm văn của học sinh trong lớp, trong trường.
- Học sinh: Thực hiện yêu cầu của bài tập.
Bài tập 1: Với đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong
truyện ngắn “Làng” của Kim Lân, có bạn đã viết mở bài như sau: “Ơng Hai đã
dành cho ngơi làng của mình một tình cảm thật sâu sắc. Sau cách mạng tháng Tám,
tình yêu làng của ơng đã hịa quện trong lịng u nước. Đó là sự chuyển biến mới
trong tư tưởng của người nông dân.”
Căn cứ vào cấu tạo của đoạn mở bài, em hãy nhận xét cách mở bài nêu trên?
- 11 -


Giáo viên hướng dẫn để học sinh thấy được đây là đoạn mở bài chưa hoàn
chỉnh. Đoạn mở bài này chưa nêu được giới hạn của vấn đề nghị luận đó là tác phẩm
nào? Của ai? Trước đoạn mở bài như vậy người đọc sẽ băn khoăn không biết “ông
Hai” ở đây là một con người cụ thể trong đời thường hay là nhân vật trong tác phẩm
nào, của tác giả nào.
Vì thế cần bổ sung vào đoạn mở bài trên phần dẫn dắt (giới thiệu tác giả, tác phẩm
và nhân vật): “Làng” của Kim Lân là một tác phẩm tiêu biểu cho thời kì văn học
chống Pháp. Nhân vật chính của truyện là ơng Hai – một người nơng dân hiền
lành, giản dị. Ơng Hai đã dành cho ngơi làng của mình một tình cảm thật sâu sắc.
Sau cách mạng tháng Tám, tình u làng của ơng đã hịa quện trong lịng u nước.
Đó là sự chuyển biến mới trong tư tưởng của người nông dân.”
Bài tập 2: Với đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ơng Hai
trong truyện ngắn “Làng” của Kim Lân, có bạn lại viết mở bài như sau:
“Tác giả Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài. Ông sinh năm 1920 ở huyện

Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh – một làng quê có truyền thống văn hóa đẹp và thơ mộng.
“Làng” là tác phẩm tiêu biểu của ông viết về người nông dân.
Phần mở bài trên đã nêu được vấn đề nghị luận chưa? Em hãy viết lại cho
hoàn chỉnh.
Giáo viên hướng dẫn để học sinh nhận ra vấn đề nghị luận chưa được nêu
trong mở bài trên. Đây là phần quan trọng nhất của mở bài, nếu thiếu thì mở bài sẽ
không đạt yêu cầu. Cần bổ sung thêm vào mở bài đó như sau để nó trở nên hồn
chỉnh: Nhân vật chính của truyện là ơng Hai – một người nơng dân hiền lành,
giản dị. Ơng Hai đã dành cho ngơi làng của mình một tình cảm thật sâu sắc. Sau
cách mạng tháng Tám, tình u làng của ơng đã hịa quện trong lịng u nước.
Đó là sự chuyển biến mới trong tư tưởng của người nông dân.
Qua hai bài tập trên học sinh phải nắm chắc được cấu tạo của phần mở bài
trong bài văn nghị luận. Bắt buộc các em phải giới thiệu được tác giả, tác phẩm (giới
hạn phạm vi kiến thức) và vấn đề nghị luận ( vấn đề cơ bản định hướng cho phần
thân bài). Nếu thiếu đi một trong hai phần này thì mở bài đều không đạt yêu cầu.
Bài tập 3: Cho đề bài sau: Suy nghĩ và cảm nhận của em về tình cảm cha
con trong bài thơ “Nói với con” của Y Phương.
Hãy đọc đoạn mở bài của một bạn học sinh cho đề bài trên và nêu ý kiến nhận
xét của bản thân em. Đoạn mở bài được viết như sau:
“Y Phương là nhà thơ của dân tộc Tày có một hồn thơ chân thật, mạnh mẽ và
trong sáng. Qua bài thơ “Nói với con” tiêu biểu cho hồn thơ Y Phương: Yêu quê
hương, bản làng, tự hào và gắn bó với dân tộc mình. Qua bài thơ này của Y Phương
đã cho ta thấy tình cảm cha con da thịt gắn bó sâu sắc. Tình cảm ấy thật chân thành
mộc mạc và xúc động.”
Qua sự gợi ý, dẫn dắt giáo viên giúp học sinh nhận ra một số vấn đề ở đoạn mở bài
này như sau:
- Về nội dung: Đoạn mở bài đã giới thiệu được tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị
luận. Như vậy, đoạn văn đã đạt yêu cầu về nội dung.
- 12 -



- Về hình thức diễn đạt thì chưa đạt yêu cầu:
+ Đoạn văn đã sử dụng 3 câu liên tiếp sai ngữ pháp: câu 1 lặp cấu trúc, câu 2 và 3
đều thiếu chủ ngữ.
+Mắc lỗi lặp từ ngữ: từ “Y Phương” lặp lại ở cả 3 câu
+ Sử dụng một số từ ngữ chưa phù hợp: Từ “của” ở câu 1; từ “da thịt” ở câu 3.
Chính bởi những lỗi này mà tuy đoạn mở bài đã đảm bảo nội dung nhưng chưa thể
coi đây là một mở bài đạt yêu cầu. Cần sửa những lỗi đã chỉ ra bằng cách:
- Câu 1: Bỏ đi từ “là” thay từ “của” bằng từ “người”.
- Câu 2: Bỏ đi từ “Qua”, thêm vào cụm từ “là tác phẩm” vào sau chủ ngữ.
- Câu 3: Bỏ đi từ “của”, thay từ “da thịt” bằng từ “ruột thịt”.
- Từ “Y Phương” ở câu 2 nên thay bằng từ “ông”; từ “Y Phương” ở câu 3 nên thay
bằng từ “nhà thơ”
Và đoạn mở bài ấy được viết lại như sau: “Y Phương - nhà thơ người dân tộc Tày có
một hồn thơ chân thật, mạnh mẽ và trong sáng. Bài thơ “Nói với con” là tác phẩm
tiêu biểu cho hồn thơ ông: Yêu quê hương, bản làng, tự hào và gắn bó với dân tộc
mình. Qua bài thơ này nhà thơ đã cho ta thấy tình cảm cha con ruột thịt gắn bó sâu
sắc. Tình cảm ấy thật chân thành mộc mạc và xúc động.”
Những lỗi ở bài tập 3 là những lỗi rất hay gặp, nhất là đối tượng học sinh trung
bình – yếu. Phần mở bài được coi như lời chào đầu tiên trong buổi gặp gỡ vậy mà
ngay từ đầu đã mắc lỗi ngữ pháp dẫn đến diễn đạt không rành mạch, rõ ràng. Cách
mở bài như vậy không những không gây được ấn tượng cho người đọc mà cịn có
tác động ngược chiều. Đây quả là một lỗi đáng tiếc mà học sinh cần hết sức chú ý để
không mắc phải.
Qua việc rèn luyện hai dạng bài tập trên đây học sinh bước đầu có thể viết nhanh
và viết đúng phần mở bài cho bài văn nghị luận văn học. Trên cơ sở này, tôi mới tiến
hành hướng dẫn cho học sinh rèn luyện kĩ năng từ chỗ viết nhanh, viết đúng đến viết
hay hơn phần mở bài.
*Kĩ năng nhận diện cách viết đoạn mở bài:
- Giáo viên: Chuẩn bị các đoạn mở bài theo hai cách: trực tiếp và gián tiếp

( các đoạn văn dành cho dạng bài tập này như tơi đã trình bày ở mục I.3-thuộc phần
Giải quyết vấn đề).
- Học sinh: Xem lại kiến thức về cách viết đoạn mở bài rồi thực hiện theo yêu cầu
của phiếu học tập.
- Mục đích: Giúp học sinh rèn kĩ năng xác định nhanh cách viết mở bài trực tiếp và
mở bài gián tiếp.
*Kĩ năng lập dàn ý cho phần mở bài:
- Giáo viên: Trước khi cho học sinh viết đoạn văn, hướng dẫn cho học sinh kĩ năng
lập dàn ý. Việc làm này cần áp dụng thường xuyên, vừa tạo thói quen, vừa giúp các
em định hướng đúng cho nội dung của đoạn văn.
- Học sinh: Lập dàn ý theo hai cách đã học.
Bài tập:

- 13 -


Em hãy lập dàn ý đoạn mở bài cho đề sau bằng hai cách: mở bài trực tiếp và gián
tiếp: “Sang thu” – Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng bâng khng mà cũng thầm
thì triết lí. Hãy phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh để làm sáng tỏ ý kiến
trên.
Học sinh lập dàn ý như sau:
Cách trực tiếp:
- Nêu vấn đền cần nghị luận: “Sang thu” – Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng
bâng khuâng mà cũng thầm thì triết lí.
- Giới hạn vấn đề: Bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh.
Cách gián tiếp:
1.
Kiểu diễn dịch:
- Dẫn dắt vấn đề: Giới thiệu khái quát về Hữu Thỉnh và bài thơ “Sang thu”.
- Nêu vấn đề: “Sang thu” – Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng bâng khuâng mà

cũng thầm thì triết lí.
2.
Kiểu so sánh:
- Dẫn dắt vấn đề: Mùa thu trong thơ của Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Xuân Diệu,…và
mùa thu bâng khuâng xao xuyến mà sâu sắc của Hữu Thỉnh.
- Nêu vấn đề: Bài thơ “Sang thu” là khúc giao mùa từ hạ sang thu thật thơ mộng nhẹ
nhàng.
- Dẫn ý kiến.
*Kĩ năng viết đoạn mở bài:
- Giáo viên: Hướng dẫn học sinh viết đoạn.
- Học sinh: viết đoạn văn trên cơ sở dàn ý đã lập, chú ý cách dùng từ, đặt câu, diễn
đạt trôi chảy,…
Kết quả thu được từ học sinh thực nghiệm như sau:
Cách viết trực tiếp: “Sang thu”của Hữu Thỉnh là một trong những bài thơ hay viết
về khoảnh khắc giao mùa của đất trời từ hạ sang thu. Có ý kiến cho rằng: “Sang
thu” – Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng bâng khng mà cũng thầm thì triết lí.
(Bài làm của học sinh thuộc đối tượng lực học Trung bình-Yếu)
Cách viết gián tiếp:
Mở bài 1: Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều, viết hay về con người và cuộc sống ở
nông thôn, về mùa thu. Nhiều vần thơ thu của ông mang cảm xúc bâng khuâng, vấn
vương trước đất trời trong trẻo đang chuyển biến nhẹ nhàng. Khoảnh khắc giao
mùa có lẽ là thời điểm đẹp nhất của tự nhiên, nó gieo vào lòng người những rung
động nhẹ nhàng khiến ta như giao hòa, đồng điệu. Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng
về một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì” thì đã gặp một Hữu Thỉnh tinh tế,
sâu sắc đến vơ cùng qua một thống “Sang thu”. Có ý kiến cho rằng: “Sang thu” –
Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng bâng khuâng mà cũng thầm thì triết lí. (Bài
làm của học sinh có lực học Khá).
Mở bài 2: Không biết tự bao giờ, thu thành bến đợi gieo tình cho nhiều thi sĩ. Người
ta yêu thu bởi cái dịu dàng, nhẹ nhàng mà thanh thoát. Thu đã trở thành điểm tựa
cho mỗi thi sĩ và dệt vần cho những bài thơ. Cái duyên tình thu ấy đã dệt nên vẻ đẹp

- 14 -


tinh xảo trong thơ Nguyễn Khuyến với chùm thơ thu nổi tiếng, lắng sâu trong Tản
Đà với “Cảm thu” và “Tiễn thu” hay nồng nàn trong “Đây mùa thu tới” của Xuân
Diệu. Nhưng mùa thu trong “Sang thu” của Hữu Thỉnh mới thực sự đặc biệt. Nó
khơng hẳn là bài thơ tả cảnh mùa thu mà là tiếng thì thầm của khoảnh khắc hạ
chuyển sang thu. Cái khoảnh khắc ấy đáng yêu và đáng nhớ biết bao. Có ý kiến cho
rằng: “Sang thu” – Khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng bâng khng mà cũng
thầm thì triết lí.(Bài làm của học sinh Giỏi)
Kết quả sau khi thực hành kĩ năng viết đoạn mở bài, có nhiều học sinh viết tốt,
khơng những hay mà cịn sáng tạo, song trong khn khổ của Sáng kiến kinh
nghiệm tơi chỉ xin trình bày một vài đoạn tiêu biểu như trên. Qua việc được rèn
luyện các kĩ năng trên, học sinh lớp tôi thực nghiệm không chỉ làm quen và biết thực
hành hai kiểu mở bài trực tiếp và gián tiếp mà còn nhận thấy sự khác nhau cơ bản
giữa hai cách mở bài ấy trong quá trình dẫn dắt vấn đề. Từ đây các em có định
hướng rõ hơn, đúng hơn và tự tin hơn khi bắt tay vào làm bài văn nghị luận văn học.
1.3.Giáo viên nhận xét mở bài của học sinh trên lớp.
Trong quá trình chấm, chữa bài, giáo viên khen và biểu dương các em
bằng những lời nhận xét chân thành sâu sắc, chú ý đến sự sáng tạo từ cách dùng từ
đặt câu và kĩ năng viết đoạn mở bài của từng học sinh. Việc làm này tuy nhỏ nhưng
lại có tác dụng rất lớn, kích thích được sự tự tin ở học trị, khích lệ để các em không
ngừng cố gắng để tiến bộ.
Hoặc ngay từ mở bài có thể cịn sai sót của học sinh, cơ giáo có thể sửa
lại theo hướng hay hơn, hấp dẫn hơn mà vẫn dựa trên ý tưởng của các em. Từ đó các
em có thể thấy được rằng nếu bản thân chịu khó suy nghĩ, tìm tịi thì sẽ có được mở
bài hay như của cô giáo. Như vậy, việc làm của giáo viên không những đã giúp học
sinh học tập được các cách mở bài khác nhau mà còn khuyến khích được tinh thần tự
giác, tích cực sáng tạo ở mỗi học sinh trong lớp.
2. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.

2.1. Chọn đối tượng thực nghiệm và đối chứng:
Đối tượng thực nghiệm là học sinh lớp 9 có trình độ ban đầu ngang nhau và
được lựa chọn về số lượng. Chúng tôi chia đối tượng thực nghiệm thành hai nhóm:
Nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Nhóm thực nghiệm được tổ chức dạy theo
tài liệu đề tài đề xuất với các giải pháp luyện kĩ năng viết mở bài đã trình bày. Nhóm
đối chứng được dạy bình thường theo phương pháp dạy giờ Tập làm văn nghị luận
văn học truyền thống ( theo định hướng SGK và SGV Ngữ văn 9).
Trong điều kiện cho phép, tôi tiến hành thực nghiệm tại hai lớp 9 của năm học
2015-2016:
- Lớp 9A có 36 học sinh.
- Lớp 9B có 35 học sinh.
Tổng số học sinh tham gia thực nghiệm là 71 em. Đặc điểm của học sinh lớp 9A và
9B là ngoan, kết quả học tập nhìn chung đạt yêu cầu.
2.2. Phương pháp thực nghiệm:
- 15 -


- Trao đổi với tổ chun mơn trình bày rõ mục tiêu thực nghiệm.
- Thực hiện dạy – học và quan sát học sinh trên lớp để thấy được khả năng thực hiện
giáo án của giáo viên và hứng thú của học sinh.
- Trao đổi, rút kinh nghiệm trong tổ chun mơn.
2.3. Qúa trình thực nghiệm:
*Nhóm đối chứng (Lớp 9B):
Các bước tiến hành:
Bước 1: Đưa ra đề bài và yêu cầu:
- Giáo viên hướng dẫn lập dàn ý cho phần mở bài.
- Học sinh làm bài tập trung theo yêu cầu.
Bước 2: Phân loại:
- Giáo viên thu bài.
- Chấm và phân loại bài theo tiêu chí đã nêu.

Bước 3: Đánh giá kết quả thực nghiệm.
*Nhóm thực nghiệm.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Hướng dẫn chung.
- Giáo viên giảng lí thuyết về phần mở bài, tổ chức luyện tập kĩ năng viết đoạn mở
bài theo từng kiểu.
- Học sinh nghe, trả lời câu hỏi và luyện tập theo hướng dẫn.
- Giải đáp thắc mắc.
Bước 2: Đưa ra đề bài và yêu cầu.
- Giáo viên hướng dẫn tìm hiểu đề và lập ý cho phần mở bài.
- Học sinh làm bài tập trung.
Bước 3: Phân loại:
- Giáo viên thu bài.
- Chấm và phân loại bài theo tiêu chí đã nêu.
Bước 4: Đánh giá kết quả thực nghiệm.
Sau khi giảng dạy, kiểm tra chúng tôi thực hiện đánh giá, phân loại trên cơ sở
các tiêu chí cụ thể như sau:
*Giỏi:
- Đúng, đủ kiến thức.
- Đạt u cầu cơ bản.
- Diến đạt trơi chảy, có tính nghệ thuật.
- Phần dẫn dắt đạt yêu cầu cao.
- Đúng chính tả, ngữ pháp.
*Khá:
- Đúng, đủ kiến thức.
- Đạt yêu cầu cơ bản.
- Đúng chính tả, ngữ pháp.
- Diễn đạt tương đối tốt.
*Trung bình:
- 16 -



- Đúng, đủ kiến thức.
- Đạt yêu cầu cơ bản.
- Cịn mắc lỗi chính tả.
*Khơng đạt: Khơng đáp ứng được những yêu cầu trên.
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC,
VỚI BẢN THÂN ĐỒNG NGHIỆP VÀ NHÀ TRƯỜNG.

1. Kết quả thực nghiệm:
Kết quả xếp loại Nhóm thực nghiệm Nhóm đối chứng
(36 bài)
(35 bài)
SL
%
SL
%
Giỏi
8
22,2
3
8,5
Khá
12
33,3
5
14,3
Trung bình
16
44,5

17
48,6
Khơng đạt
0
0
10
28,6
2. Kết quả thực nghiệm đã cho thấy tính khả thi của sáng kiến kinh nghiệm.
Lớp thực nghiệm về cơ bản đã đạt hiệu quả viết bài tốt hơn so với các lớp đối
chứng. Về phía giáo viên, chúng tơi đã thực hiện đúng tinh thần kế hoạch thực
nghiệm đề ra. Cịn học sinh thì tích cực và chủ động trong giờ học cũng như làm các
bài thực hành để rèn luyện kĩ năng viết đoạn mở bài theo yêu cầu của giáo viên đưa
ra. Các em đã viết đúng, viết nhanh hơn và nhiều em đã viết hay được phần mở bài.
Một số lỗi thường gặp trong quá trình viết đoạn mở bài cho bài văn nghị luận đã hạn
chế được đáng kể.
Vì vậy học sinh của chúng tơi đã hứng thú với việc làm văn nghị luận. Trong
hai năm gần đây, kết quả thi cuối học kỳ và thi vào THPT của học sinh lớp 9 trường
THCS Yên Mỹ đã từng bước được nâng lên. Điều đó được đánh giá khách quan vì
việc chấm bài học kì lớp 9 là chấm chéo giữa các trường. Tôi rất tự hào vì mình đã
góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng bài làm văn của học sinh. Nhất là
kết quả kì thi tuyển vào THPT vừa qua, học sinh lớp 9 do tơi dạy có nhiều em đạt
điểm giỏi, trong đó em Phạm Thị Thắm đạt điểm 9, điểm trung bình mơn Ngữ văn
vào THPT của trường chúng tơi dù cịn rất khiêm tốn so với các trường trong tồn
huyện nhưng lần đầu tiên chúng tơi đạt mức điểm trên 5. Tất cả những kết quả đạt
được đó chính là nguồn động viên thầy trị trường THCS n Mỹ tiếp tục phấn đấu
để những năm tiếp theo gặt hái nhiều thành công hơn.

- 17 -



C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Trong đời sống cũng như trong nhà trường, văn nghị luận có vai trò hết sức
quan trọng. Học sinh muốn viết được những bài văn nghị luận đạt kết quả cao cần
tích lũy được nhiều kiến thức và kĩ năng: đòi hỏi phải có sự tích lũy về vốn sống,
vốn ngơn ngữ, vốn văn học,….nhưng trước hết các em phải được trang bị phương
pháp và kĩ năng làm bài văn nghị luận, trong đó, khơng thể thiếu kĩ năng đầu tiên khi
bắt tay vào viết bài đó là viết đoạn mở bài.
Trên cơ sở khoa học về phương pháp bộ môn, đề tài này đã khẳng định vai trò
của phần mở bài trong bài văn nghị luận – một phần tuy nhỏ nhưng khơng thể thiếu
trong văn bản – nó góp phần hồn thiện chỉnh thể bài văn. Phần mở bài không chỉ có
nhiệm vụ nêu khái quát vấn đề trung tâm mà bài văn nghị luận đề cập đến mà cịn có
nhiệm vụ thu hút sự chú ý, phát động suy nghĩ thực sự ở người đọc, lôi cuốn họ vào
phần giải quyết vấn đề.
Vì vai trị của phần mở bài được đánh giá cao như vậy cho nên vai trò hướng
dẫn luyện kĩ năng viết mở bài cho học sinh của người giáo viên cũng rất cần được
coi trọng. Người giáo viên cần nghiên cứu hồn thiện nhận thức lí luận về đoạn văn
mở bài và tìm tịi phương pháp rèn luyện kĩ năng thực hành thiết lập đoạn văn mở
bài sao cho có tính khả thi nhất đối với từng đối tượng học sinh.
2. Kiến nghị, đề xuất:
Để cho vấn đề lí luận về phương pháp dạy học theo hướng đổi mới khi dạy
phân môn Tập làm văn ở trường THCS Yên Mỹ phát huy được tác dụng, qua quá
trình giảng dạy, tôi đề xuất một số vấn đề sau:
Các kĩ năng làm văn nói chung và văn nghị luận nói riêng rất quan trọng, nhất là kĩ
năng viết đoạn mở bài. Các kĩ năng này cần được chú ý dạy – học một cách hệ
thống, toàn diện ngay từ lớp 7 để các em viết đoạn mở bài sao cho đạt hiệu quả cao
trong suốt quá trình học THCS. Vì thế:
Về phía giáo viên: Người giáo viên phải là người tiên phong đổi mới phương pháp
giảng dạy. Việc đổi mới phụ thuộc chính ở chất lượng và tính năng động, sáng tạo
của giáo viên. Người giáo viên sẽ đem lại cho học sinh lòng hăng say học tập, nắm

bắt được phương pháp học, hình thành nên khả năng tự học, tự nghiên cứu và tự giáo
dục. Họ cũng chính là người phải phát huy cao nhất hoạt động tích cực chủ động
sáng tạo, đề xuất các dạng tài liệu rèn luyện kĩ năng viết đoạn mở bài cho học sinh.
Giáo viên cũng cần linh hoạt trong khi ra các dạng bài tập khác nhau để phù hợp với
từng đối tượng học sinh. Sự thay đổi đó khơng máy móc, dập khuôn nhưng vẫn đảm
bảo nội dung kiến thức và hiệu quả dạy học. Việc rèn kĩ năng viết đoạn mở bài trong
bài văn nghị luận là cách thức có hiệu quả trong làm văn nghị luận nhưng không
phải là một việc làm đơn giản.
Về phía phụ huynh: Ngày nay, khơng ít phụ huynh có tâm lí thích cho con em mình
tập trung học các mơn khoa học tự nhiên và ngoại ngữ, họ thường “ngại” khi con cái
đam mê học văn hay lực học thiên về các môn khoa học xã hội. Đó là tư tưởng sai
lầm và thực dụng làm ảnh hưởng đến việc học tập của không ít học sinh. Vì thế tơi
- 18 -


mong các bậc phụ huynh quan tâm hơn đến việc phát triển tồn diện về trí tuệ và
tâm hồn, nhân cách của con em mình, tạo điều kiện về thời gian, môi truờng và tư
liệu tốt nhất giúp các em ngày càng say mê, hứng thú học Ngữ văn và khơng cịn
tâm lí ngại làm văn.
Trên tinh thần khơng ngừng học hỏi và gắn bó với cơng việc dạy học Ngữ văn nói
chung và dạy học Tập làm văn nói riêng, qua thực tế, tơi nhận thấy hướng đi của
mình là đúng về cơ bản và có khái quát được vấn đề nhưng chưa thực sự cặn kẽ. Hi
vọng rằng, sự đóng góp của đề tài này sẽ giúp ích được phần nào những người quan
tâm đến việc dạy học cách làm văn trong nhà trường cũng như với những ai có niềm
say mê văn học. Tơi mong rằng, những vấn đề đề cập đến trong khuôn khổ hạn hẹp
của sáng kiến này sẽ là gợi ý cho nhiều người tiếp tục nghiên cứu, tìm tịi để ngày
càng hồn thiện hơn nữa hệ thống phương pháp làm văn. Nó là cơ sở, là xuất phát
điểm của những bài văn hay trong nhà trường, đồng nghĩa với việc phát triển toàn
diện năng lực tư duy, diễn đạt, hình thành nhân cách học trị. Tơi rất hi vọng có dịp
hồn chỉnh thêm vấn đề đặt ra trong Sáng kiến kinh nghiệm này. Qua đây, mong

nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và bạn bè đồng nghiệp đối với những
khiếm khuyết của đề tài này.
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến mà bản thân đã rút ra được trong thực tiễn
công tác giảng dạy Ngữ văn ở Trường THCS n Mỹ. Hồn tồn khơng có sự sao
chép của người khác. Kính mong Hội đồng khoa học xem xét, đánh giá.
Yên Mỹ, ngày 4 tháng 4 năm 2018
Xác nhận của Hiệu trưởng nhà trường

Người thực hiện

Lê Thị Tâm

- 19 -


TƯ LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 9-Tập 2 - Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Sách giáo viên Ngữ văn 9-Tập 2 - Nhà xuất bản Giáo dục.
3. Một số kiến thức-kĩ năng và bài tập nâng cao Ngữ văn 9- Nhà xuất bản Giáo dục.
4. Rèn kĩ năng làm văn nghị luận- Nhà xuất bản Giáo dục.
5. Rèn kĩ năng làm văn và bài văn mẫu lớp 9- Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội.
6. Hỏi-Đáp kiến thức Ngữ văn 9- Nhà xuất bản Giáo dục.

- 20 -



×