Tải bản đầy đủ (.pdf) (56 trang)

Đánh giá tình hình mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái ngoại tại công ty Thiên Thuận Tường và biện pháp phòng trị (Khóa luận tốt nghiệp)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (833.41 KB, 56 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------

PHẠM XUÂN TRƢỜNG
Tên đề tài:
‘’ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG MMA TRÊN ĐÀN
LỢN NÁI NGOẠI TẠI CÔNG TY THIÊN THUẬN TƢỜNG
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ’’

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------------

PHẠM XUÂN TRƢỜNG
Tên đề tài:
‘’ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH MẮC HỘI CHỨNG MMA TRÊN ĐÀN
LỢN NÁI NGOẠI TẠI CÔNG TY THIÊN THUẬN TƢỜNG VÀ
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ’’

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:

Thú y

Lớp:

K45 –TY - N01

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:


2013 – 2017

Giảng viên hƣớng dẫn: PGS.TS. Trần Văn Phùng

Thái Nguyên, năm 2017


i
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập, rèn nghề dƣới mái trƣờng Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên cũng nhƣ thực tập tốt nghiệp, em nhận đƣợc sự giúp đỡ tận tình
của các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y cũng nhƣ các thầy cô giáo trong
trƣờng đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản, cho em đƣợc niềm tin
vững bƣớc trong cuộc sống và công tác sau này. Nhân dịp này em xin bày tỏ
lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu Trƣờng Đại học Nông
Lâm, Đại học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa cùng toàn thể các thầy giáo,
cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dạy bảo, chỉ dạy và giúp đỡ
em trong toàn khóa học.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hƣớng dẫn
PGS.TS. Trần Văn Phùng đã tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành
tốt khóa luận này.
Đồng thời, cho em gửi lời cảm ơn tới công ty CP Thiên Thuận Tƣờng,
thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt
thời gian thực tập.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã
luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em học tập và hoàn thành
tốt quá trình thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn!


Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2017

Sinh viên

Phạm Xuân Trƣờng


ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Kết quả chăm sóc lợn con qua các tháng........................................ 31
Bảng 4.2. Kết quả thực hiện tiêm phòng tại trại ............................................. 32
Bảng 4.3. Kết quả thực hiện công tác điều trị ................................................. 35
Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc hội chứng MMA trên đàn lợn nái sau khi
sinh tại trại qua các tháng. ............................................................................... 37
Bảng 4.5. Tỷ lệ mắc hội chứng MMA của đàn lợn nái sinh sản
của trại theo các lứa đẻ ................................................................................... 38
Bảng 4.6. Những triệu chứng chính của lợn nái mắc hội chứng MMA ......... 39
Bảng 4.7. Kết quả điều trị bệnh viêm vú, viêm tử cung tại trại ...................... 40
Bảng 4.8. Kết quả so sánh khả năng sinh sản của lợn nái sau khi điều trị khỏi
hội chứng MMA với lợn nái không mắc bệnh ................................................ 41


iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT


ACTH:

Adreno Cortico Tropin Hormone

C.P:

Charoen Pokphand Group

Cs:

Cộng sự

E. coli:

Escherichia Coli

FSH:

Folliculo Stimulin Hormone

GSH:

Gonado Stimulin Hormone

LH:

Lutein Stimulin Hormone

PGF2:


Prostagladin

Nxb:

Nhà xuất bản

STH:

Somato Tropin Hormone

STT:

Số thứ tự

TT:

Thể trọng

TTT

Thiên Thuận Tƣờng

VTM:

Vitamin

UBND:

Ủy ban nhân dân


KTKS:

Khai thác khoáng sản

MMA:

Hội chứng viêm tử cung (Metritis), viêm vú
(Mastitis), mất sữa (Agalactia)

VTC:

Viêm tử cung

KST:

Ký sinh trùng


iv
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
Phần 1. MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1.1 Đặt vấn đề.................................................................................................... 1
1.2. Mục đích của đề tài .................................................................................... 1
Phần 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU ..................................................................... 2
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 2
2.1.1. Điều kiện của trang trại ........................................................................... 2

2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trại............................................................................ 2
2.1.3. Cơ sở vật chất của trại ............................................................................. 3
2.2. Cơ sở khoa học của đề tài ........................................................................... 4
2.2.1. Đặc điểm về sinh lý, sinh dục và sinh sản của lợn nái............................ 4
2.2.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn cái ................................................... 7
2.2.3. Khái quát hội chứng viêm tử cung (Metritis), viêm vú
(Mastitis), mất sữa (Agalactia) - MMA .......................................................... 9
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc .............................................. 17
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc.......................................................... 17
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc ......................................................... 20
PHẦN 3.ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1. Đối tƣợng ................................................................................................. 22
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 22
3.2.1. Địa điểm ................................................................................................ 22
3.2.2. Thời gian ............................................................................................... 22


v
3.3. Nội dung thực hiện ................................................................................... 22
3.4 Các chỉ tiêu và phƣơng pháp thực hiện ..................................................... 22
3.4.1. Phƣơng pháp khảo sát hội chứng MMA trên đàn lợn nái của cơ sở..... 22
3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 23
PHẦN 4.KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ......................................................... 25
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 25
4.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dƣỡng đàn lợn ................................................. 25
4.1.2. Kết quả công tác thú y tại cơ sở. ........................................................... 32
4.2 Kết quả thực hiện chuyên đề ngiên cứu .................................................... 36
4.2.1. Tỷ lệ mắc hội chứng MMA của đàn lợn nái theo các tháng trong năm 36
4.2.2. Tỷ lệ mắc hội chứng MMA của đàn lợn nái sinh sản theo lứa đẻ. ...... 37
4.2.3. Một số triệu chứng lâm sàng chính hội chứng MMA ........................... 39

4.2.4. Kết quả điều trị hội chứng MMA của lợn nái tại trại .......................... 40
4.2.5. Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái mắc
hội chứng M.M.A và sau khi điều trị khỏi ...................................................... 41
Phần 5.KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................. 43
5.1. Kết luận .................................................................................................... 43
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 44
I. Tài liệu Tiếng Việt ....................................................................................... 44
ΙΙ. Tài liệu Tiếng Anh...................................................................................... 46
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 48


1

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng
trong ngành nông nghiệp của Việt Nam. Lợn đƣợc xếp đứng ở vị trí hàng đầu
trong số các vật nuôi, cung cấp phần lớn thực phẩm cho nhân dân và phân bón
cho sản xuất nông nghiệp. Ngày nay chăn nuôi lợn còn có tầm quan trọng đặc
biệt nữa là tăng kim ngạch xuất khẩu, đây cũng là một trong những nguồn
đem lại thu nhập ngoại tệ đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.
Tuy có rất nhiều thuận lợi nhƣng ngành chăn nuôi lợn ở nƣớc ta hiện nay
vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là hiện nay giá lợn đang thấp ở mức kỷ
lục thì càng yêu cầu phải có bƣớc ngoặt mới để vực dậy ngành chăn nuôi.
Đứng trƣớc yêu cầu đó, ngành chăn nuôi nói chung cũng nhƣ ngành
chăn nuôi lợn nói riêng phải có một bƣớc phát triển mới để sánh kịp với các
nƣớc khác trên thế giới. Đặc biệt hiện nay tình hình chăn nuôi lợn gặp rất
nhiều khó khăn nhất là về chăm sóc và nuôi dƣỡng lợn nái sinh sản hay mắc

các bệnh tật, quy trình chăm sóc nuôi dƣỡng khắt khe. Trƣớc thực tế đó em
thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình mắc hội chứng MMA trên đàn lợn
nái ngoại tại công ty Thiên Thuận Tường và biện pháp phòng trị ".
1.2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá đƣợc thực trạng hội chứng viêm tử cung, viêm vú và mất
sữa (MMA) ở đàn lợn nái tại trại công ty cổ phần KTKS Thiên Thuận Tƣờng
- Quảng Ninh, và sử dụng phác đồ điều trị
- Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của hội chứng MMA đến năng suất sinh
sản của lợn nái.
- Xây dựng đƣợc phác đồ điều trị và quy trình kỹ thuật phòng ngừa hội
chứng MMA ở lợn nái sinh sản.


2

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1. Điều kiện của trang trại

* Vị trí địa lý
Trại lợn nái sinh sản của công ty CP Thiên Thuận Tƣờng nằm trên địa
phận tổ 2, khu 1, phƣờng Cửa Ông, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Phƣờng Cƣ̉a Ông có địa hình khá phức tạp, phía Bắc là những dải núi cao. Độ
cao trung bình 600 m, thuộc cánh cung bình phong Đông Triều – Móng Cái.
* Đặc điểm khí hậu
Cẩm Phả là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, ở vùng Đông Bắc
Bộ, chịu ảnh hƣởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Do đó trại lợn của công ty
CP Thiên Thuận Tƣờng cũng chịu ảnh hƣởng chung của khí hậu vùng.
Nhiệt độ trung bình năm là 23oC, nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 là 39oC,

nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 12oC.
Lƣợng mƣa: Lƣợng mƣa trung bình năm là 2567,8 mm/năm. Lƣợng
mƣa hàng năm tƣơng đối lớn, chế độ mƣa chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mƣa
bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 80% - 90% tổng lƣợng mƣa cả năm.
Mùa khô thì lƣợng mƣa rất nhỏ chỉ chiếm khoảng 10% - 20% tổng lƣợng mƣa
cả năm.
Chế độ gió mùa: Mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, tháng 4 năm sau
thƣờng chịu ảnh hƣởng của gió Bắc, Đông Bắc, mỗi tháng từ 3 – 4 đợt. Mùa
hè từ tháng 5 đến tháng 9, chủ yếu là gió Nam, Đông Nam. Tốc độ gió trung
bình năm là 3 – 3,4 m/s.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu tổ chức của trại nhƣ sau:
- 01 chủ trại; 01 quản lý trại; 02 kỹ thuật trại; 01 kỹ thuật hỗ trợ của công
ty; 13 công nhân và 02 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại.


3

Với đội ngũ trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau gồm tổ chuồng nái đẻ,
tổ chuồng nái chửa, tổ chuồng nái hậu bị, tổ chuồng cai sữa. Mỗi tổ thực hiện
công việc chuyên biệt một cách nghiêm túc và đúng quy định của trang trại.
2.1.3. Cơ sở vật chất của trại

- Trang trại có tổng diện tích 69 ha, trong đó khu chăn nuôi cùng khu
nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ chiếm
diện tích 6,5 ha. Diện tích còn lại là đồi núi.
- Khu chăn nuôi chia làm hai khu riêng biệt gồm chăn nuôi lợn và chăn
nuôi gà. Trong đó, khu chăn nuôi lợn đƣợc bố trí xây dựng chuồng trại cho
hơn 500 nái với các giống sản xuất nhƣ: Landrace, Yorshire, Duroc đƣợc

nhập từ nƣớc ngoài về. Về chăn nuôi gà thì chủ yếu nuôi các giống gà đẻ
trứng nhƣ: Gà Ai Cập, gà Lƣơng Phƣợng.
- Trại đƣợc chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất. Khu
điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân. Khu
sản xuất gồm: 2 chuồng nái đẻ, 2 chuồng nái chửa, 2 chuồng hậu bị và 1
chuồng cai sữa. Một số công trình phụ khác phục vụ cho chăn nuôi nhƣ: Kho
cám, kho thuốc, phòng pha tinh, phòng sát trùng. Hệ thống chuồng đƣợc xây
dựng khép kín và tự động hoàn toàn. Trang thiết bị trong chuồng hiện đại,
đƣợc nhập từ Đan Mạch. Đầu mỗi chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng
là hệ thống quạt thông gió. Riêng đối với chuồng nái đẻ thì cuối chuồng còn
có hệ thống xử lý mùi và trong chuồng có hệ thống cảm biến nhiệt độ.
* Cơ cấu đàn lợn nái bao gồm: Nái hậu bị, nái kiểm định và nái cơ bản.
Cơ cấu đàn lợn tại cơ sở năm 2017 có 405 lợn nái sinh sản; 100 lợn nái
hậu bị, 16 lợn đực giống khai thác và 4 lợn đực hậu bị.
Nhiệm vụ chính của trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ
khoa học kỹ thuật. Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất đƣợc 2,45 2,47 lứa/năm. Số con sơ sinh là 12,23 con/đàn; số con cai sữa là 11,7 con/đàn;
lợn con theo mẹ đƣợc nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến
hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của Công ty.


4

2.2. Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1. Đặc điểm về sinh lý, sinh dục và sinh sản của lợn nái
2.2.1.1. Bộ phận sinh dục bên ngoài
- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ. Tiền đình bao gồm: Màng trinh: là
một nếp gấp gồm hai lá, phía trƣớc thông với âm đạo, phía sau thông với âm
hộ. Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do hai lá niêm mạc gấp lại
thành một nếp. Lỗ niệu đạo: ở sau và dƣới màng trinh. Hành tiền đình: là hai

tạng cƣơng ở hai bên lỗ niệu đạo. Cấu tạo giống thể hổng ở bao dƣơng vật của
con đực. Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hƣớng
quay về âm vật.
- Âm vật (Clitoris)
Âm vật nằm ở góc phía dƣới mép của âm môn, có cấu tạo giống nhƣ
dƣơng vật con đực nhƣng thu nhỏ lại. Âm vật cũng có các thể hổng nhƣ
dƣơng vật con đực, phần trên âm vật có nếp da tạo ra mu âm vật (Praepatium
clitoridis), giữ âm vật bẻ gấp xuống dƣới.
Âm vật đƣợc phủ bởi một lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh
cảm giác, do đó trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh
viên thƣờng xoa bóp nhẹ vào âm vật kích thích con cái hƣng phấn để cổ tử
cung co thắt và con vật trở lại trạng thái bình thƣờng.
- Âm môn (Vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dƣới hậu môn và ngăn cách với nó
bởi vùng hồi âm. Bên ngoài có hai môi (Labia pudendi), hai môi đƣợc nối với
nhau bởi hai mép (Rima vulva).
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết chất
nhờn và tuyến mồ hôi.
Cơ quan sinh dục lợn cái cấu tạo gồm các bộ phận sau: Buồng trứng,
ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo (bộ phận sinh dục bên trong) âm môn, âm vật,
tiền đình (bộ phận sinh dục bên ngoài)


5

2.2.1.2. Bộ phận sinh dục bên trong
- Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một cặp treo ở cạnh trƣớc dây chằng rộng,
nằm trong xoang chậu. Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhƣng phần lớn
có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng. Kích thƣớc dài

1,5 - 2,5 cm; khối lƣợng khoảng 3 - 5 gram (Đặng Quang Nam và Phạm Đức
Chƣơng, 2002) [14].
Buồng trứng có hai chức năng: nội tiết (tiết ra hormone sinh sinh dục
cái Estrogen) và ngoại tiết (bài noãn). Các hormone sinh dục cái: Estrogen,
Progesteron , Oxytocine, Relaxin và Inhibin tham gia vào việc điều khiển chu
kỳ sinh sản của lợn cái. Estrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ
thống dẫn của tuyến vú. Progesteron do thể vàng tiết ra kích thích sự phân tiết
của tử cung để nuôi dƣỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển
nang tạo sữa của tuyến vú.
Oxytocin đƣợc tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng đƣợc
tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi con vật gần sinh, nó làm co thắt cơ tử
cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa.
Relaxin do thể vàng tiết ra gây dãn nở xƣơng chậu, làm dãn và mềm cổ tử
cung, do đó mở rộng đƣờng sinh dục khi lợn sắp sinh. Inhibin có tác dụng ức
chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển
noãn nang theo chu kì .
Trong buồng trứng chia làm hai miền. Miền tủy: nằm ở giữa gồm nhiều
mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc đảm
bảo nhiệm vụ nuôi dƣỡng và bảo vệ trứng. Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với
chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng cho đến khi trứng
chín và rụng. Trên buồng trứng có từ 70.000 - 100.000 noãn bào ở các giai
đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là những noãn bào sơ cấp phân bố tƣơng đối
đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trƣờng, khi noãn bao
chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng (Khuất Văn Dũng, 2005) [8].


6

- Ống dẫn trứng (Oviductus)
Còn gọi là vòi Fallop, đƣợc treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là

một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng. Căn cứ vào
chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành 4 đoạn:
+ Tua diềm: có hình răng cƣa giống nhƣ tua diềm ôm xung quanh
cuống buồng trứng.
+ Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng.
+ Phồng ống dẫn trứng: là phần tiếp nối sau phần phễu. Phần này còn
đƣợc gọi là đoạn ống giãn rộng xa tâm.
+ Eo: là doạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với sừng tử cung.
Chức năng của ống dẫn trứng: là nơi để tế bào sinh dục đực (tinh trùng)
và tế bào sinh dục cái (trứng) gặp nhau, ống dẫn trứng có khả năng co bóp
dƣới ảnh hƣởng của hormon Oxytocin nhằm giúp cho tinh trùng thuận lợi hơn
trong việc thụ tinh (Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chƣơng, 2002) [14].
- Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu, dƣới trực tràng, trên bàng quang và
niệu đạo, hai sừng tử cung ở phía trƣớc xoang chậu. Tử cung đƣợc giữ lại tại
chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và đƣợc giữ bởi các dây chằng.
Tử cung gồm các phần: sừng, thân và cổ tử cung.
Tử cung lợn thuộc loại sừng tử cung kép, gồm hai sừng thông với một
thân và cổ tử cung. Sừng tử cung dài 50 - 100cm, hình ruột non thông với ống
dẫn trứng. Thân tử cung dài 3 - 5cm. Cổ tử cung dài 10 - 18cm, có thành dày,
hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều cài răng lƣợc, thông với âm đạo. Vách
tử cung gồm ba lớp đƣợc cấu tạo từ ngoài vào trong: lớp tƣơng mạc, lớp cơ
trơn và lớp nội mạc.
Theo Trần Thị Dân (2004) [3], trƣơng lực cơ càng cao (tử cung trở nên
cứng) khi có nhiều Estrogen trong máu và trƣơng lực cơ giảm (tử cung mềm)
khi có nhiều Progesterone trong máu. Vai trò của cơ tử cung là góp phần cho


7


sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra
ngoài khi sinh đẻ. Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dƣới tác
dụng Progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung.
Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết ra các chất vào lòng tử cung để
giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di
chuyển đến ống dẫn trứng. Dƣới ảnh hƣởng của Estrogen, các tuyến tử cung
phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dƣới màng nhày và cuộn lại.
Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt đƣợc khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng
của Progesterone. Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn
của chu kỳ động dục.
- Âm đạo (Vigina)
Theo Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chƣơng (2002) [14], âm đạo là
ống đi từ cổ tử cung đến âm hộ. Đầu trƣớc âm đạo dính vào cổ tử cung, đầu
sau thông ra tiền đình, có màng trinh đậy ở lỗ âm đạo.
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, âm
đạo của lợn dài 10 - 12 cm (Trần Tiến Dũng và cs. 2004) [6].
Ngoài ra, âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là
ống thải các chất dịch từ trong tử cung.
2.2.2. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn cái
* Sự thành thục về tính
Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì sẽ có biểu hiện về
tính dục. Con đực có khả năng sinh ra tinh trùng, con cái có khả năng sinh ra
tế bào trứng. Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [21] cho biết, thành thục
về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản.
Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục nhƣ: Buồng trứng, tử cung, âm đạo đã
phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bƣớc vào hoạt động sinh sản. Đồng
thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh


8


dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tƣợng
động dục.Tuy nhiên, thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống,
tính biệt và các điều kiện ngoại cảnh cũng nhƣ chăm sóc nuôi dƣỡng.
* Chu kỳ tính
Khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục đƣợc biểu hiện
ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu.
Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn
toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tƣợng bệnh lý thì
bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt
buồng trứng. Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng
trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục. Do
trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ.
Một chu kỳ động dục đƣợc tính từ lần thải trứng trƣớc đến lần thải
trứng sau. Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác
nhau. Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động
trong phạm vi từ 18 - 25 ngày. Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn
không động dục lại. Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động
dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày. Theo Hoàng Toàn
Thắng và Cao Văn, (2006) [21].
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng
sinh sản của gia súc cái. Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên
bao gồm thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai
lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hƣởng đến số con cai sữa/nái/năm.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao
động không đáng kể, từ 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi.
Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời
gian bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con. Nhiều công trình



9

nghiên cứu cho thấy rằng: để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có
kết quả cao thì phải chăm sóc nuôi dƣỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm cho
lợn con, điều đó tăng số con cai sữa/nái/năm. Để rút ngắn thời gian cai sữa,
phải tập cho lợn con ăn sớm từ 5 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng
thức ăn đƣợc cung cấp, không cần sữa mẹ.
Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21
ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày nái mẹ đƣợc phối giống lại. Nhƣ vậy khoảng cách
các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất đƣợc 2,5 lứa.
2.2.3. Khái quát hội chứng viêm tử cung (Metritis), viêm vú(Mastitis), mất
sữa (Agalactia) - MMA
Hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa đƣợc gọi bằng nhiều tên
khác nhau trên thế giới: hội chứng rối loạn tiết sữa sau đẻ (postpartum
dysgalactia syndrome - PPDS/PDS) đƣợc dùng ở các nƣớc nói tiếng Anh
(Klopfenstein et al., 2006)[30], ngoài ra còn một số tên gọi khác nhƣ: hội chứng
mất sữa, hội chứng mất sữa sau đẻ… Tuy nhiên, dù ở tên gọi nào cũng phản ánh
căn nguyên gây nên những bệnh lý của hội chứng và đƣợc biểu hiện bằng các
triệu chứng đặc trƣng: kém ăn hoặc bỏ ăn, lƣời uống nƣớc, bồn chồn, sốt >
39,50C, sƣng tuyến vú, viêm tử cung, tiết nhiều dịch viêm và giảm tiết sữa từ
12 đến 48 giờ sau đẻ, lợn con chết đói tỷ lệ cao.
2.2.3.1. Bệnh viêm tử cung (Metritis)
* Đặc điểm
Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau. Lợn
nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ mắc
bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dƣỡng, các khu động thực
vật ở mỗi vùng là khác nhau, đặc biệt là công tác vệ sinh thú y.
* Nguyên nhân
Bệnh thƣờng xảy ra sau khi đẻ, có thể xảy ra ở những lợn nái sau khi phối

giống, xảy ra cả với những lợn nái hậu bị. Do những nguyên nhân chính sau:


10

+ Trong quá trình chửa, lợn nái ăn khẩu phần nhiều chất dinh dƣỡng, ít
vận động hoặc nhiễm một số bệnh truyền nhiễm nhƣ: Leptospirosis (lợn
nghệ), Brucellosis (sảy thai truyền nhiễm), Parvovirus và một số bệnh nhiễm
khuẩn khác… làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến việc đẻ khó, hay sảy thai,
thai chết lƣu gây viêm tử cung. Trong quá trình đẻ, điều kiện vệ sinh kém, sự
can thiệp đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, nhau thai bị sót lại là nguyên nhân dẫn
đến lợn nái bị viêm dạ con (Nguyễn Đức Lƣu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [12].
+ Trƣơng Lăng (2000) [10] cho biết: Streptococcus và Colibacillus
nhiễm qua cuống rốn, đẻ khó, sảy thai, sót nhau hay qua dụng cụ thụ tinh
nhân tạo cũng gây xây sát, tạo các ổ viêm nhiễm trong âm đạo và tử cung.
Trong tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đƣa
các vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái, do lợn đực
nhảy trực tiếp mà niệu quản và dƣơng vật bị viêm cũng là nguyên nhân dẫn
đến viêm tử cung của lợn nái.
+ Đoàn Thị Kim Dung và cs (2002) [5] còn cho biết: nguyên nhân gây
viêm tử cung chủ yếu do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung
huyết (Staphylococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebsiella,
E.coli dung huyết, trùng roi (Trichomonas) và do nấm Candida albicans.
+ Theo Lê Hồng Mận (2006) [13] thì khi lợn đẻ, cổ tử cung, mép âm hộ
bị rách, bị nhiễm trùng kế phát gây viêm. Chuồng đẻ nền bẩn, dây rốn lợn con
và nhau thai nhiễm trùng rồi co thụt vào gây viêm tử cung.
+ Nguyễn Văn Thanh (2007) [19] khẳng định rằng việc dùng tay móc
thai khi lợn đang đẻ nhằm rút ngắn thời gian xổ thai của lợn mẹ là nguyên
nhân chính gây ra bệnh viêm tử cung ở đàn nái nuôi theo mô hình trang trại
hiện nay.

* Triệu chứng
Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [19], khi lợn nái bị viêm tử cung các
chỉ tiêu lâm sàng nhƣ thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng so với lợn nái bình


11

thƣờng. Lợn bị sốt theo quy luật lên xuống: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5C; chiều
40 - 41C. Con vật ăn kém, sản lƣợng sữa giảm, có khi cong lƣng rặn nhƣ rặn
đái, từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có
màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ. Khi nằm lƣợng niêm dịch chảy ra nhiều hơn.
Trong trƣờng hợp thai chết lƣu, âm đạo sƣng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu
vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối. Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết
niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi, đi lại
khó khăn.
* Hậu quả
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thƣơng đƣờng sinh
dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hƣởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm
mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dƣỡng, chậm phát triển.
Lê Thị Tài và cs. (2002)[18] cho rằng: đây là một bệnh khá phổ biến ở gia súc
cái. Nếu không đƣợc chữa trị kịp thời thì sẽ ảnh hƣởng đến khả năng thụ thai
và sinh sản của gia súc cái.
Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức
năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di
chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng nhƣ: Spermiolisin (độc
tố làm tiêu tinh trùng). Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào
tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai đƣợc thì phôi ở
trong môi trƣờng dại con bất lợi cũng dễ bị chết non.
Theo Trần Thị Dân (2004) [3], Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [6], khi
lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới những hậu quả chính nhƣ: Sẩy thai, bào thai

phát triển kém hoặc thai chết lƣu, giảm sức đề kháng và khả năng sinh trƣởng
của lợn con theo mẹ, ảnh hƣởng đến khả năng động dục trở lại.
* Chẩn đoán viêm tử cung
Theo Nguyễn Đức Lƣu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12]: dựa vào những
triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, ngoài ra ta thấy lợn nái có những biểu
hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thƣờng, ở tử cung mùi hôi
thối đặc biệt khi kiểm tra qua trực tràng có thể cảm thấy một hoặc hai sừng tử


12

cung sƣng to, thành tử cung dày, khi sờ vào phản ứng co của sừng tử cung yếu.
Nếu trong tử cung có tích nƣớc thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng.
Phòng bệnh viêm tử cung
Chăm sóc nuôi dƣỡng: Bổ sung đầy đủ và cân đối thành phần dinh
dƣỡng trong khẩu phần ăn của lợn, đặc biệt là trong giai đoạn lợn nái mang
thai, tránh tình trạng lợn quá béo hoặc quá gầy; cung cấp đủ nƣớc sạch cho lợn.
Vệ sinh: Thƣờng xuyên dọn vệ sinh chuồng nuôi lợn nái, phân lợn thải
ra phải đƣợc thu gom hàng ngày, không để phân lƣu trên nền chuồng quá lâu.
Chuồng đẻ phải đƣợc vệ sinh sạch sẽ, khi lợn đẻ có máu hoặc dịch ối trên nền
chuồng phải lau sạch. Khi lợn đẻ xong cần phải thu gom nhau thai, vệ sinh
sàn chuồng. Trƣờng hợp lợn đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ trợ
sản, phải tuyệt đối tuân thủ các bƣớc vệ sinh.
Dùng thuốc: Khi lợn đẻ có dấu hiệu chậm ra con, tiêm một mũi
oxytocin; khi lợn đẻ xong tiêm một mũi Vime - cloprostenol (PGF2α) với liều
5 ml/con; Tiêm các loại thuốc trợ lực, tăng cƣờng sức đề kháng nhƣ: Vitamin
C, Bcomplex, Canxi, B12… Tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin phòng bệnh
cho lợn theo quy định.
- Phối giống: Đảm bảo phối giống đúng kỹ thuật, vô trùng.
Điều trị bệnh viêm tử cung

Để điều trị bệnh viêm tử cung đạt hiệu quả cao cần phải theo dõi sát
đàn lợn để chẩn đoán chính xác thể bệnh và từ đó đƣa ra biện pháp điều trị
sớm sẽ rút ngắn đƣợc thời gian điều trị, lợn mau hồi phục và giảm chi phí
điều trị.
Việc điều trị bệnh cần đạt đƣợc hai mục đích: phục hồi nguyên vẹn
niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của cơ tử cung.
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có các bộ
máy nội tiết và thần kinh, bởi vậy điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm gây tác
động cục bộ và tác động lên toàn thân, thƣờng dùng phƣơng pháp thụt rửa sau đó


13

can thiệp bằng các loại kháng sinh và thuốc bổ bằng cách tiêm, cho uống hay
bơm vào tử cung.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2003) [11] thì sử dụng kháng sinh tổng hợp
có tác dụng cao. Oxytetracylin có tác dụng rộng với cả vi khuẩn Gram (-) và
vi khuẩn Gram (+), đặc biệt là có tác dụng mạnh với nhóm vi khuẩn: E. coli,
tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, xoắn khuẩn, phẩy khuẩn…
Ngoài Oxytetracylin thì Penicillin bán tổng hợp cũng có tác dụng với
hầu hết với các vi khuẩn Gram (-) và Gram (+).
Phạm Sỹ Lăng và cs. (2011) [11] cho biết hiệu quả điều trị bệnh viêm
tử cung bằng phác đồ nhƣ sau:
+ Thụt rửa tử cung bằng các thuốc sát trùng nhƣ: Biocid - 30, Lugol
5%, Han - iodine 5%,…
+ Tiêm một trong các loại kháng sinh sau: Gentamicin, Oxytetracyclin,
Penicillin,...
+ Tiêm Oxytocin để đẩy các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài.
+ Dùng thuốc trợ sức, trợ lực nhƣ: ADE B.complex, Calci - B12,
Calci – fort…

Nguyễn Đức Lƣu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12] đã dùng Oxytocin
với liều 20 - 40IU/con/ngày, để làm cho tử cung co bóp tống các chất, dịch viêm
ra ngoài. Sau đó thụt rửa bằng Han - iodine 5%, tiêm kháng sinh nhƣ:
Gentamicin 4% 1ml/6kg thể trọng hoặc Lincomycin 10% 1ml/10kg thể trọng
liên tục trong 3 đến 5 ngày.
2.2.3.2. Bệnh viêm vú (Mastitis)
* Đặc điểm
Viêm vú là một bệnh thƣờng xảy ra đối với lợn nái, với biểu hiện một
hoặc nhiều bầu vú sƣng, nóng, đau có khi thành u, cục làm lợn đau đớn, bệnh
có thể gây chết lợn nái và làm chết lợn con do thiếu sữa.


14

* Nguyên nhân
Nguyên nhân gây viêm vú ở lợn do nhiều loại vi khuẩn hoặc có thể do
kế phát từ bệnh khác, xảy ra lác đác ở từng cá thể hoặc cả đàn. Bệnh thƣờng
xuất hiện tập trung từ khi lợn đẻ đến 12 giờ sau đó, vi khuẩn xâm nhập vào
một hay nhiều bầu vú thông qua núm vú do trầy xƣớc. Trong đó vi khuẩn
Staphylococcus và Streptococcus chỉ gây viêm từng tuyến vú, Klebsiella
spp. gây viêm cấp tính và nhóm vi khuẩn E. coli với nhiều type khác nhau
đã đƣợc phân lập, độc tố của E. coli sinh ra là nguyên nhân gây viêm vú,
mất sữa.
Theo White (2013) [31] thì nguyên nhân chủ yếu gây viêm vú cấp tính
là do các loại vi khuẩn: E. coli, Klebsiella, đôi khi Pseudomonas nhiễm qua
núm vú từ phân và nền chuồng. Vì vậy, việc vệ sinh chuồng trại và núm vú
đóng vai trò quan trọng trong phòng bệnh.
Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,
Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đƣờng ruột xâm nhập gây ra viêm vú.
Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn

không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trƣớc
khi đẻ một tuần làm cho lƣợng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa. Sau vài ngày
đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lƣu là môi trƣờng tốt cho vi khuẩn xâm nhập
gây viêm nhƣ: E. coli, Staphylococcus, Klebsiella spp. (Nguyễn Nhƣ Pho,
2002) [16].
Theo Christensen R.V. và cs. (2007)[25], khi nghiên cứu về mô học và
vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là
Staphylococcus spp. và Arcanobacterium pyogenes.
Theo Trƣơng Lăng (2000)[10] cho biết: lợn con mới đẻ có răng nanh
mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập
tạo ra các ổ viêm nhiễm trên bầu vú. Lợn nái ăn thức ăn nhiều đạm sinh nhiều
sữa, lợn con bú không hết sữa ứ đọng tạo thành môi trƣờng cho vi trùng sinh
sản nhiều. Lợn chỉ cho con bú một hàng vú, hàng còn lại căng sữa quá nên


15

viêm. Hoặc do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá, thức ăn
khó tiêu hoặc cũng ảnh hƣởng đến cảm nhiễm vi trùng..
* Triệu chứng
Sau khi đẻ 1 - 2 ngày thấy vú sƣng đỏ, lợn mẹ ăn ít hoặc bỏ ăn. Vú
viêm không cho sữa, đầu vú sƣng nóng, sờ lợn có phản ứng đau, không cho
con bú, đàn con thiếu sữa gầy yếu nhanh chóng và kêu rít nhiều. Sốt cao 40 42C, sữa vú viêm chứa mủ màu xanh, lợn cợn, lắc thấy vẩn đục, để ra gió có
mùi hôi. Nếu không điều trị kịp thời vú sẽ cứng gây viêm kinh niên không
cho sữa. Khi viêm ban đầu chỉ một vú viêm, không chữa trị sẽ lây sang vú
khác (Trƣơng Lăng, 2000) [10].
Bình thƣờng viêm vú thƣờng xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7
- 10 ngày, có con đến một tháng. Theo Ngô Nhật Thắng (2006)[20], viêm vú
thƣờng xuất hiện ở một vài vú nhƣng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú, vú
có màu hồng, sƣng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào có cảm giác đau.

Viêm vú đƣợc chia thành các thể: viêm thanh dịch, viêm cata, viêm
Fibrin, viêm cata có mủ, viêm áp xe, viêm thể plegemol, viêm có máu.
* Hậu quả
Hậu quả của bệnh viêm vú cũng rất nặng nề. Nếu viêm vú ở thể nhẹ,
điều trị kịp thời thì nái nuôi con vẫn bị giảm lƣợng sữa, còn nếu nặng ở dạng
vú hoại tử thì phần lớn các tổ chức ở tuyến vú bị hoại tử do các vi khuẩn gây
hoại tử xâm nhập qua vết thƣơng, nếu bị huyết nhiễm trùng hay huyết nhiễm
mủ thì bệnh khó chữa, con vật có thể chết.
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000)[1] thì lợn nái mất sữa sau khi đẻ kế
phát từ viêm vú, viêm tử cung. Do khi viêm cơ thể mẹ thƣờng hay bị sốt 2 - 3
ngày liên tục, mất nƣớc, nƣớc trong tế bào và mô bào bị giảm ảnh hƣởng đến
quá trình trao đổi chất, nhất là sự hấp thu dinh dƣỡng ở đƣờng tiêu hóa bị giảm,
dần dần đến mất sữa. Khả năng phục hồi chức năng tiết sữa bị hạn chế ảnh
hƣởng đến các lứa đẻ tiếp theo.


16

Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2002)[15] thì khi con
vật bị viêm vú sẽ dẫn đến các biến chứng sau: Teo đầu vú, bầu vú bị xơ cứng
hoặc bầu vú bị hoại tử
* Chẩn đoán bệnh viêm vú
- Dựa vào triệu chứng lâm sàng: bằng mắt thƣờng quan sát thấy bầu vú
sƣng đỏ, khi xoa bầu vú thấy có cảm giác nóng và hơi cứng, khi vắt thấy
không có sữa, lợn nái có cảm giác đau và chỉ thấy nhiều dịch trong hay sữa
đặc nhƣ bã đậu. Một số trƣờng hợp bầu vú chuyển sang thâm đen rất nguy
hiểm cho con vật, đó là viêm thối rữa rất khó điều trị. Lợn nái thƣờng nằm úp
và cho con bú ít, lợn con bú ít sẽ kêu la, gầy yếu, ỉa chảy…
- Chẩn đoán phi lâm sàng: lấy mẫu sữa để kiểm tra sự có mặt các tế
bào thể với sữa lợn bình thƣờng tế bào thể đếm đƣợc là 1x106 tế bào/ml, đối

với sữa của bệnh viêm vú số lƣợng tế bào thể tăng gấp đôi là 1x108 tế bào/ml;
lấy các chất từ bầu vú để kiểm tra vi khuẩn gây bệnh. Việc kiểm tra này cũng
có ý nghĩa rất lớn trong điều trị (Anonymous, 2012) [30].
* Phòng và điều trị bệnh viêm vú
- Phòng bệnh: vệ sinh sát trùng chuồng đẻ, đảm bảo đủ diện tích và nền
chuồng khô ráo, bằng phẳng, mài răng nanh cho lợn con trong vòng 24 giờ
sau đẻ; cung cấp nƣớc uống sạch. Có thể trộn một số loại kháng sinh khác
nhau vào trong thức ăn để phòng bệnh.
Ngoài ra, những biện pháp phòng bệnh viêm tử cung cũng có thể áp
dụng cho phòng bệnh viêm vú. Trong thực tế ngƣời ta thƣờng làm công tác
phòng bệnh cho cả hai bệnh trên khi có lợn nái sắp đẻ.
- Trị bệnh: trong nhiều trƣờng hợp viêm vú do nhiều nguyên nhân gây
ra nên việc điều trị cần phải tiến hành kết hợp giữa kháng sinh và phong bế
giảm đau.
Theo Trƣơng Lăng (2003)[11], điều trị viêm vú bằng cách: Rửa và
chƣờm đá vào đầu vú viêm để giảm sƣng, giảm sốt. Ngày hai lần xoa bóp nhẹ
cho vú mềm dần, mỗi ngày vắt cạn sữa vú 4 - 5 lần để tránh lây lan sang vú


17

khác. Cho lợn uống Sulphat Magie với liều nhẹ 20 - 30g/con. Vú bị viêm
chƣa có mủ chỉ điều trị 2 - 3 ngày sẽ mềm trở lại, lợn khỏi bệnh và cho sữa
bình thƣờng.
2.2.3.3. Mất sữa (Agalactiae)
Chứng mất sữa thƣờng gặp ở lợn nái sau khi đẻ với những biểu hiện đặc
trƣng là núm vú bị teo dần và cứng lại, lợn con bị đói sữa kêu rít, liên tục đòi bú,
thể trạng gầy sút, da khô, lợn mẹ không có sữa nằm sấp xuống để giấu bầu vú
không cho con bú.
Nguyên nhân: Lợn mẹ sót nhau, nhau còn tồn tại trong tử cung từ đó luôn

tiết ra Folliculin ngăn trở sự phân tiết Prolactin làm cho tuyến vú không sinh sữa.
Chứng mất sữa thƣờng đi kèm trong các bệnh gây sốt sữa cao nhƣ: Viêm tử cung
có mủ, các trƣờng hợp sốt do nguyên nhân bệnh khác nhƣ bệnh truyền nhiễm,
viêm phổi, viêm vú… cũng gây mất sữa hoàn toàn. Do lợn mẹ bị sụt Canxi huyết;
Do đẻ khó làm quá trình đẻ kéo dài tiêu hao nhiều năng lƣợng mà năng lƣợng ấy
lại đƣợc lấy từ chất bột đƣờng, chất bột đƣờng không đƣợc chuyển hóa thành
đạm, từ đạm thành sữa, do khẩu phần ăn thiếu nhiều chất bột đƣờng nên khi chất
bột đƣờng bị cạn thì tuyến vú căng nhƣng không có sữa; Nái béo do ăn quá nhiều
trong giai đoạn hậu bị, mỡ tích nhiều trong tuyến vú, chèn ép làm tuyến vú phát
triển yếu, cho ăn nhiều trong giai đoạn mang thai dẫn đến sự chán ăn (bỏ ăn) sau
khi sinh...
Điều trị:
Các trƣờng hợp mất sữa thƣờng rất khó điều trị biện pháp tốt nhất là cai
sữa đàn con sớm hoặc ghép bầy tách lợn nái. Chỉ trong trƣờng hợp kém sữa, các
biện pháp kích thích lợn nái ăn, cung cấp đủ nƣớc uống, truyền nƣớc, tiêm
oxytocin hoặc sử dụng các chế phẩm có chứa Cazein- iode mới có hiệu quả.
2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn ở nƣớc ta phát triển mạnh
mẽ, số lƣợng đàn lợn tăng lên không ngừng, song song với điều đó là tình


18

hình dịch bệnh cũng tăng, đặc biệt là bệnh sinh sản. Trong khi đó nhiều ngƣời
chăn nuôi chƣa đƣợc trang bị đầy đủ các kiến thức cần thiết nên năng suất
chăn nuôi chƣa cao.
Tỷ lệ mắc hội chứng MMA hiện nay là 40 - 60% tại các trại chăn nuôi lợn
quy mô lớn, trong đó chủ yếu là viêm tử cung (Nguyễn Nhƣ Pho, 2002) [16].
Lợn nái ngoại nuôi theo mô hình trang trại ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam

có tỷ lệ mắc hội chứng MMA dao động từ 47,39% đến 53,33%. Trong đó lợn
nái mắc thể điển hình là 6,45% (Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh,
2010) [22].
Các tác giả cũng đã nghiên cứu ảnh hƣởng của hội chứng MMA đến
năng suất sinh sản của lợn nái và thử nghiệm các phác đồ điều trị hội chứng
MMA.
Lợn con có răng nanh nhọn làm xây sát bầu vú mẹ, tạo điều kiện cho vi
khuẩn xâm nhập vào bầu vú, dẫn đến viêm vú. Trong khẩu phần ăn có lƣợng
đạm quá cao làm sản sinh nhiều sữa, lợn con bú không hết, sữa ứ lại trong bầu
vú là môi trƣờng thuận lợi cho vi khuẩn phát triển. Có khi lợn mẹ chỉ cho
con bú một hàng vú, do chuồng quá lạnh, quá nóng... cũng đều là nguyên
nhân gây viêm vú. Bệnh viêm vú thƣờng xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7
- 10 ngày, có trƣờng hợp đến một tháng
Dụng cụ thụ tinh nhân tạo quá cứng sẽ gây xây sát và tạo ra các ổ viêm
trong âm đạo, tử cung. Tinh dịch bị nhiễm khuẩn, lợn đực giống bị viêm niệu
quản và dƣơng vật nên khi nhảy trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo sẽ
truyền lây mầm bệnh cho lợn nái. Rối loạn sinh sản do nhiều nguyên nhân
gây ra. Ngoài các nguyên nhân cơ học, hóa học, sinh học thông thƣờng nhƣ
vận động, hormone, dinh dƣỡng, ký sinh trùng... phải kể đến các nguyên
nhân do vi rút và vi khuẩn (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2011) [11].
Sau đẻ lợn mẹ bị mất sức nhiều do mất nƣớc, mất máu và ăn kém.
Trong những lứa đẻ đầu lợn nái thƣờng bị rách âm đạo nên bị viêm nhẹ gây


×