Tiểu Luận
Môn: Lịch sử báo chí Việt Nam
Đề tài:
Sự nghiệp báo chí và quá trình hoạt động báo chí của nhà
thơ, nhà văn, nhà báo Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu
A, Phần mở đầu
1, Mục đích:
Tản Đà – nhà thơ, nhà văn, nhà báo lớn đầu thế kỉ XX. Nhắc đến ông người
thường nhớ đến các tập thơ như khối tình con I, II, III, Tản Đà xuân sắc…, tập văn như
Giấc mộng con I, II, Thề non nước...Nhưng còn một lĩnh vực mà Tản Đà rất xuất sắc đó
là báo chí. Sự nghiệp báo chí của ông gặp rất nhiều trắc trở. Tuy nhiên, ông không hề từ
bỏ mà vẫn tiếp tục công việc viết báo của mình. Điều đó, khiến những sinh viên và những
nhà làm báo hiện đại đáng học hỏi. Tìm hiểu sự nghiệp báo chí và quá trình hoạt động
báo chí của Tản Đà sẽ giúp hiểu sâu sắc hơn về một nhà báo lớn của dân tộc vào những
năm đầu của báo chí Việt Nam.
2, Phương pháp nghiên cứu:
-
Sưu tầm
Nghiên cứu – phân tích
B, Nội dung
1, Cuộc đời của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu
1.1, Gia đình
Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889 tại làng
Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây (nay là xã Sơn Đà, huyện Ba Vì, Hà Nội),
nguyên quán của ông ở làng Lủ tức Kim Lũ, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà
Đông (nay là phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, Hà Nội).
Ông thuộc dòng dõi quyền quý, có truyền thống khoa bảng. Tổ tiên ông xưa kia có
nhiều đời làm quan dưới Triều Lê . Sau khi Gia Long lên ngôi, dòng họ này thề sẽ không
đi thi, không làm quan với tân triều. Đến thời cha ông là Nguyễn Danh Kế, do hoàn cảnh
gia đình cực khổ, lại phải nuôi mẹ già, đành lỗi ước với tổ tiên. Nguyễn Danh Kế thi đỗ
cử nhân, làm quan cho Triều Nguyễn đến chức Ngự sử trong Kinh, giữ việc án lý, nổi
tiếng là người có tài văn án trong triều. Ông Kế vốn là người phong lưu tài tử, thường lui
tới chốn bình khang và quen với bà Lưu Thị Hiền ở phố.
Bà Lưu Thị Hiền có nghệ danh Nhữ Thị Nhiêm, là một đào hát tài sắc ở Hàng
Thao - Nam Định, bà lấy lẽ ông Nguyễn Danh Kế khi ông làm tri phủ Xuân Trường. Bà
là người hát hay, có tài làm thơ chữ Nôm. Tản Đà là con trai út của cuộc lương duyên
giữa tài tử và giai nhân này.
Trong những người anh em còn lại, có người anh ruột (cùng cha khác mẹ) với Tản
Đà là Nguyễn Tái Tích, là người có nhiều những ảnh hưởng to lớn tới cuộc đời sau này
của Tản Đà. Ông Tích sinh năm 1864, nối nghiệp cha đi thi đỗ và ra làm quan. Ông là
người thanh liêm chính trực, nên đường hoạn lộ cũng không yên ổn. Tản Đà từ nhỏ sống
với ông, phải nhiều lần di chuyển tới những nơi ông Tích được bổ nhiệm: Yên Mô - Ninh
Bình, Vụ Bản - Nam Định, Quảng Oai - Sơn Tây, Vĩnh Tường - Vĩnh Yên.
1.2, Thời niên thiếu
Thời niên thiếu của Tản Đà trải nhiều giai đoạn khóc cười. Năm lên 3 tuổi, bố mất,
cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Năm sau, vì bất hoà với nhà chồng, bà Nghiêm bỏ
đi, trở lại nghề ca xướng. 8 năm sau, xảy ra chuyện chị ruột ông cũng theo mẹ làm nghề
đó (năm Tản Đà 13 tuổi). Những sự kiện đã để lại nhiều dấu ấn khó phai trong tâm hồn.
Tản Đà hấp thụ nền Nho giáo từ nhỏ, được ông Tích nhiệt tình hướng vào con
đường cử nghiệp. Theo hồi ký trong 1 bài thơ thì 5 tuổi ông học Tam tự kinh, Ấu học ngũ
ngôn thi, Dương tiết,... 6 tuổi học Luận ngữ, kinh, truyện và chữ quốc ngữ, 10 tuổi biết
làm câu đối, 11 tuổi làm thơ văn. Ông rất thích làm văn, lại được anh hết lòng chỉ dẫn,
nên 14 tuổi đã thạo các lối từ, chương, thi, phú. Lúc còn học ở trường Quy thức - một
trường học thực nghiệm cải cách của Pháp mở ở Hà Nội- , ông viết bài "Âu Á nhị châu
hiện thế" bằng Hán văn, được các báo ở Hồng Kông đăng trong mục xã thuyết. Năm 15
tuổi, ông đã nổi tiếng là thần đồng của tỉnh Sơn Tây.
Năm 1909 (Kỷ Dậu), ông tham dự kỳ thi hương ở Nam Định, rồi trượt trong lần đi
thi đầu tiên này. Ông về lại nhà ở Phủ Vĩnh Tường ôn tập.
Năm 1913, anh cả Nguyễn Tài Tích mất. Tản Đà về Vĩnh Phú làm nghề báo, tờ
báo ông cộng tác đầu tiên là "Đông Dương tạp chí" của Nguyễn Văn Vĩnh, phụ trách mục
"Một lối văn nôm". Đây có thể coi là dấu mốc bắt đầu cho sự nghiệp báo chí của ông.
Đến năm 1915, ông lấy vợ là bà Nguyễn Thị Tùng, con gái ông Nguyễn Mạnh
Hương tri huyện ở Hà Đông, trở thành anh em cột chèo với nhà văn Phan Khôi. Cũng
năm này ông có tác phẩm hay, đăng trên "Đông dương tạp chí", nhanh chóng có được
tiếng vang trên văn đàn. Năm 1916, ông lấy bút danh Tản Đà là tên ghép giữa núi Tản,
sông Đà, và chính thức chọn con đường của một người viết văn, làm báo chuyên nghiệp.
1.3, Giai đoạn nở rộ của sự nghiệp viết văn, làm báo
Từ 1915 đến 1926 là những năm tháng đắc ý nhất của Tản Đà. Năm 1915, cuốn
sách đầu tiên của Tản Đà được xuất bản, gây tiếng vang lớn, đó là tập thơ "Khối tình con
I".
Sau thành công đó, ông viết liền cuốn "Giấc mộng con" (cho in năm 1917) và một
số vở tuồng: "Người cá", "Tây Thi", "Dương Quý Phi", "Thiên Thai" (diễn lần đầu
năm 1916 tại Hải Phòng).
Nhà thơ, nhà văn, nhà báo Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu (nguồn: tulieu.violet.com)
Năm 1917, Phạm Quỳnh sáng lập ra "Nam Phong tạp chí", và bài của Tản Đà có
trên tạp chí này từ số đầu tiên. Năm 1918, Phạm Quỳnh ca ngợi cuốn "Khối tình con I"
và phê phán cuốn "Giấc mộng con I", cả khen lẫn chê đều dùng những lời lẽ sâu cay, biến
Tản Đà trở thành một hiện tượng trên văn đàn. Sau bài phê phán tư tưởng của "Giấc
mộng con", Tản Đà thôi cộng tác với Nam Phong tạp chí và mở một số cuộc hội đàm để
chống lại những lời phê phán đó, sự kiện này cũng được nhiều giới quan tâm.
Từ 1919 tới 1921, Tản Đà viết một loạt sách; truyện thì có "Thần tiền", "Đàn bà
Tàu" (1919); sách giáo khoa, luân lý thì có "Đài gương", "Lên sáu" (1919), "Lên tám"
(1920), thơ thì có tập "Còn chơi" (1921). Thời kỳ này ông quen với một nhà tư sản nữa là
ông Bùi Huy Tín, cùng nhau du lịch khắp Bắc, Trung kỳ và làm chủ bút "Hữu thanh tạp
chí" một thời gian.
Năm 1922, Tản Đà thành lập "Tản Đà thư điếm" (sau đổi thành "Tản Đà thư cục"),
đây là nhà xuất bản riêng đầu tiên của ông. Tại đây đã xuất và tái bản hết những sách
quan trọng trong sự nghiệp của Tản Đà; "Tản Đà tùng văn" (tuyển cả thơ và văn xuôi,
trong đó có truyện "Thề Non Nước", 1922); "Truyện thế gian" tập I và II (1922), "Trần ai
tri kỷ" (1924), "Quốc sử huấn nông (1924), và tập "Thơ Tản Đà" (1925). Ngoài ra thư cục
này còn cho xuất bản sách của Ngô Tất Tố, Đoàn Tư Thuật.
Năm 38 tuổi (1926), Hữu Thanh tạp chí đình bản, Tản Đà cho ra đời "An Nam tạp
chí" số đầu tiên với tòa soạn ở phố Hàng Lọng. Sự ra đời của "An Nam tạp chí", tờ báo
mà Tản Đà dành hết tâm huyết, đã bắt đầu quãng đời lận đận của ông.
1.4, Cuối đời lận đận
Thời kỳ đầu làm chủ "An Nam tạp chí", Tản Đà chưa thiếu thốn nhiều, ông thường
đi du lịch: khi thì lên đề thơ ở núi Non Nước - Ninh Bình (bài Vịnh hòn đá), khi thì vào
trung kỳ thăm Phan Sào Nam, khi thì ở Sài Gòn gặp Diệp Văn Kỳ, ra Bình Định thăm mộ
cũ nhà Tây Sơn, về Hải Phòng sống với con tướng Cần Vương đô thống Thuật. Ông vừa
làm báo vừa đi chơi do đó tạp chí "An Nam" cũng ra rải rác, thất thường. Dần dần, ông
túng quẫn, những cuộc đi là để trốn nợ hoặc giải sầu, hoặc là tìm người tài trợ cho báo.
Thời kỳ này ông viết cũng nhiều, các tập "Nhàn tưởng" (bút ký triết học, 1929),
"Giấc mộng lớn" (tự truyện, 1929), "Khối tình con III" (in lại thơ cũ), "Thề non nước"
(truyện), "Giấc mộng con II" (truyện), lần lượt ra đời.
Năm 1931-1932, Tản Đà có cuộc bút chiến nổi tiếng với Phan Khôi về luân lý và
Tống Nho. Ông có câu nói đi vào lịch sử khi kết án Phan Khôi: "vu hãm tiên hiền, loạn
ngôn hoặc chúng, bại hoại phong quá" và đòi đem Phan Khôi ra Văn Miếu quất roi vào
đít.
Năm 1933, khi phong trào Thơ Mới đang nổi lên, thì "An Nam tạp chí" của Tản
Đà chính thức đình bản sau 3 lần đình bản và 3 lần tái bản. Sự kiện này khi đó bị nhiều
người thuộc phe "thơ mới" đem ra cười cợt, trong đó có Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, đã viết
một bài "văn tế An Nam tạp chí" với lời lẽ xỏ lá. Thời kỳ đầu của phong trào thơ mới,
Tản Đà im lặng. Mãi đến năm 1934, ông mới có một vài lời khuyên nhẹ nhàng gửi các
nhà thơ Mới.
Tuy vậy, với vai trò là nhà thơ nổi tiếng nhất trong làng thơ cũ đương thời, Tản Đà
vẫn là một đối tượng chính để những người thuộc phe thơ mới tìm cách đánh đổ.
Tờ Phong hóa của Tự Lực văn đoàn rất hăng hái chê ông, chê mọi thứ, từ tính nghiện
rượu, nói nhiều lúc say, hay say, cho đến cái mũi ửng đỏ của Tản Đà cũng bị chê nốt.
[cần dẫn nguồn]
Do ảnh hưởng của phong trào Thơ Mới và phong trào theo Tân học, Tản Đà, con
người thuộc phe cựu học, làm thơ cũ đã dần dần trở nên cô độc. Tên tuổi ông gần như bị
đẩy lui vào dĩ vãng, nhường chỗ cho các nhà thơ mới: Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng
Lư... Cộng với việc "An Nam tạp chí" đình bản vĩnh viễn, cuộc sống của Tản Đà vốn
nghèo túng lại càng trở nên thiếu thốn hơn, phải chạy ngược chạy xuôi để kiếm sống. Có
khi người ta thấy ông ở khu Bạch Mai dạy chữ Nho. Có lúc ở Hà Đông, đăng quảng cáo
lên mấy tờ báo: "Nhận làm thuê các thứ văn vui, buồn, thường dùng trong xã hội - Tản
Đà Nguyễn Khắc Hiếu". Năm 1938, ông còn mở cả một phòng đoán số Hà Lạc để xem
bói.
Những năm cuối đời trải qua hắt hiu, buồn thảm như thế, nhưng Tản Đà còn được
an ủi là ông bỗng được mọi người quan tâm trở lại. Phe "thơ mới" sau chiến thắng, đã
không còn đả kích Tản Đà. Họ bắt đầu lật lại những gì Tản Đà đã cống hiến xưa nay, họ
ca ngợi Tản Đà, xem ông như một ông Thánh của làng thơ... Tờ Ngày nay của Tự Lực
văn đoàn, trước kia chê ông tới không còn chỗ chê, thì nay lại mời ông cộng tác, hết lời
ca ngợi những bài thơ Đường do ông dịch.
Lúc này sức khỏe của Tản Đà suy yếu, ông giành hết tâm sức cho việc dịch thuật
và biên tập: "Liêu Trai chí dị" của Bồ Tùng Linh (Tân Dân xuất bản, 1937), "Vương
Thúy Kiều chú giải tân truyện" (in năm 1940, sau khi ông mất), "Thời hiền thi tập",
"Khổng Tử lược truyện" (đã thất lạc)...
Ngày 7 tháng 6 năm 1939 (tức 20 tháng 4 năm Kỷ Mão), ông mất (51 tuổi) sau
một thời gian chống chọi với bệnh gan, trên cái giường nát tại nhà riêng số 71 ngã tư
Sở, Hà Nội, để lại vợ và tám đứa con. Di thể của ông được an táng tại nghĩa trang Quảng
Thiện, Hà Nội.
2, Sự nghiệp báo chí và quá trình hoạt động báo chí của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu
Làm báo là một phần trong sự nghiệp rất phong phú của Tản Đà. Ông có phong
cách làm báo đặc biệt, thường xuất hiện trong những cuộc bút chiến với những giọng
điệu khó lẫn. Từng là cộng tác viên cho "Nam Phong", sau đó do bất đồng với Phạm
Quỳnh mà sang làm chủ bút cho "Hữu Thanh". Về sau ông sáng lập ra "An Nam tạp chí"
nhưng ba lần phải chịu cảnh đình bản vì lý do tài chính. Ở giai đoạn cuối đời còn cộng
tác với "Văn học tạp chí" và cả "Ngày nay", tờ báo trước đó đã mạt sát ông nặng nề.
Có thể nói sự nghiệp báo chí của Tản Đà, cũng như cuộc đời của ông, thường gặp
gian nan trắc trở. Song những đóng góp của ông trong thời buổi sơ khai của báo chí Việt
Nam, là một cái giá trị mà người ta phải công nhận.
Choáng ngợp trước văn minh Âu Tây, nhiệt tình dấn thân, hăm hở đổi mới, Tản
Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã viết báo, đã làm báo với rất nhiều kỳ vọng. Nhưng, không rũ
được quan niệm nhà Nho về nhiều mặt, ông liên tục thất bại. Nhưng Tản Đà để lại những
giai thoại thú vị về một nhà Nho chuyển sang làm báo...
Sinh thời, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889 - 1939) đã vang danh thi bá trong
làng thơ Việt Nam. Kể từ lúc ông tạ thế đến nay, địa vị của nhà thơ non Tản sông Đà
ngày càng trở nên lừng lững qua các trang văn học sử.
Nhưng đó là một Tản Đà của văn chương. Còn Tản Đà của báo chí thì sao?
Có thể nói, trong tư cách một người làm báo, Tản Đà đã hào phóng đem cuộc đời
báo chí của mình cung hiến cho hậu thế hàng loạt giai thoại. Thú vị đấy, song cũng không
ít điều đáng để lắng lại, ngẫm nghĩ.
Đầu thế kỷ XX, với sự xuất hiện của báo chí và nhà xuất bản trong đời sống, viết
văn viết báo đã trở thành một nghề - theo cái nghĩa là một công việc để người ta có thể
làm và nhờ đó mà tồn tại (điều này chưa từng xảy ra ở xã hội Việt Nam trước đó). Tản Đà
thuộc thế hệ những người làm văn làm báo đầu tiên ấy.
Năm 1915, Tản Đà bắt đầu công bố tác phẩm trên Đông Dương tạp chí của
Nguyễn Văn Vĩnh, mở màn cho một cuộc đời "buôn văn bán chữ kiếm tiền tiêu" đầy
sóng gió.
Năm 1921, hội Bắc Kỳ công thương ái hữu thành lập, ra báo Hữu Thanh làm cơ
quan ngôn luận, Tản Đà được mời làm chủ bút. Nửa năm sau, do bất đồng quan điểm với
nhóm Nguyễn Huy Hợi và Nguyễn Mạnh Bổng, ông từ chức chủ bút báo Hữu Thanh.
Năm 1926, Tản Đà mở An Nam tạp chí, tự lãnh vai trò chủ báo, mời Ngô Tất Tố
giữ chân thư ký toà soạn. Kể từ năm 1926 đến năm 1933, suốt bảy năm ròng hầu như mọi
hoạt động của Tản Đà đều dồn vào việc xuất bản, tái bản An Nam tạp chí.
Ông chăm chút, tâm huyết với tờ báo, đương nhiên, nhưng theo cách riêng của
ông, vì thế mà nó long đong tới sáu lần đình bản, đến lần thứ sáu (năm 1933) thì thật sự
cáo chung: Tản Đà chấm dứt đời chủ báo!
Trong bài báo có tên "Người làm văn" in trên Đông Pháp thời báo (số 641, năm
1927), Tản Đà viết: "Các báo quán đã là một đạo quân tiên phong trong trận tiến thủ của
xã hội, thời phàm các người viết văn trong báo giới đều là một tên lính ở trong đội tiên
phong. Oai nghiêm thay! Hùng dũng thay! Một ngọn bút sắt tung hoành có quan hệ đến
vận hội của đồng bào hai mươi lăm triệu".
Rải rác ở nhiều bài thơ, bài hát nói, Tản Đà cũng thường khẳng định trách nhiệm
to lớn của báo chí đối với đời sống, đối với nhân quần. Rõ ràng, mang cao vọng trở thành
một "Á châu Khổng phu tử chi đồ", lập một sự nghiệp văn chương "có bóng mây hơi
nước đến dân xã", làm báo với Tản Đà không đơn giản chỉ là việc "nôm na phá nghiệp
kiếm ăn xoàng".
Thế nhưng, để tờ báo có thể thực hiện được trọng trách xã hội như ông hằng kỳ
vọng, trước hết nó phải không bị chết yểu. Mà muốn tờ báo không bị chết yểu, người chủ
báo trước hết phải biết và phải giải được những con toán đơn giản về cân đối nguồn thu
nguồn chi (tiền), rồi nguồn bài vở để báo ra đều kỳ. Tản Đà có làm được điều đó không?
Trong "Giấc mộng lớn", Tản Đà kể lại về tình cảnh của An Nam tạp chí trước khi
bị đình bản lần đầu tiên: "Tiền ăn tiêu hàng tháng không có sổ chi tiêu, một là tạp chí về
công việc tòa báo, hai là nuôi người nhà làm, ba là cung tiếp tân khách, lại bằng khi
phóng phiếm vô ích, mỗi tháng không biết là bao nhiêu? Vì mỗi tháng không biết bao
nhiêu tiền chi tiêu, cho nên không bao lâu mà tòa tạp chí An Nam lại như thể cái thành bị
vây vậy".
Ngô Tất Tố, người cùng chèo chống con thuyền An Nam tạp chí với Tản Đà qua
bao sóng gió cũng xác nhận: "Trong những cái khác người của ông Tản Đà, đức tiêu tiền
cũng nên để ngang với tài thơ và tài rượu" (Tản Đà ở Nam Kỳ - Tao Đàn, 1939).
Cũng trong bài viết ngay sau khi Tản Đà qua đời này, Ngô Tất Tố cho biết thêm:
"Đành rằng nếu không có rượu thì ông Tản Đà sẽ không phải là ông Tản Đà, nhưng trong
khi nó làm cho ông Tản Đà thành ông Tản Đà, chính nó cũng là thủ phạm làm cho An
Nam tạp chí không có bài đưa nhà in. Bấy giờ An Nam tạp chí xuất bản mỗi tháng hai kỳ,
nhưng mấy tháng sau nó đã đảo lại: mỗi kỳ hai tháng".
Lần khác, Ngô Tất Tố than thở về Tản Đà với Vũ Bằng, Vũ Bằng thuật lại: "Chưa
uống thì bảo không có rượu như cái máy không xăng nhớt không chạy được, uống vào
say rồi thì nằm khoèo ra ngủ và lý luận một mình: say mà làm việc thì hỏi đời còn có cái
gì thú nữa?". (Người ghét Tản Đà - tạp chí Văn, số đặc biệt về Tản Đà, 1971).
Bấy nhiêu chi tiết đó có lẽ đã đủ để hình dung về cung cách Tản Đà quản lý và vận
hành tờ An Nam tạp chí trong vai trò của một ông chủ báo. Và nó cắt nghĩa cho ta hiểu,
tại sao trong sáu lần An Nam tạp chí đình bản, duy có lần đầu tiên là bị đình bản (vì bài
viết "Một cuộc chiến tranh người An Nam khởi đầu từ năm Đinh Mão" - ANTC số 10
năm 1926).
Những lần còn lại đều là tự đình bản. Vì thiếu tiền. Vì Tản Đà đã quản lý tờ báo,
đã làm báo với sự lãng mạn còn lớn hơn sự lãng mạn mà một thi sĩ cần phải có để trở
thành một thi sĩ.
Thật ra, dự phần vào số phận ba chìm bảy nổi của An Nam tạp chí, ngoài cái cách
quản lý trên mây trên gió của ông chủ báo, ngoài lối làm việc ngật ngưỡng, tuỳ hứng và
tuỳ tiện của Tản Đà "thi sĩ tửu đồ" - một Epicurien (người tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc)
theo cách nói của Trương Tửu về Tản Đà, còn có một nguyên nhân nằm ở phần nền của
mọi chuyện: Tản Đà vốn là một nhà Nho từ trong căn cốt.
Con đường đến với báo chí văn chương của Tản Đà là một sự lạ lùng. Sống trong
hoàn cảnh bần hàn nhưng cao vọng của Tản Đà là muốn đem tài năng của mình thực
hành để mong giúp ích cho văn chương xã hội và báo chí nước nhà. Tuy chưa nổi tiếng
trên văn đàn buổi đầu nhưng có những nhà văn, nhà báo ở Hà Nội biết tiếng Tản Đà,
thường mời tiên sinh hợp tác. Người bước vào trường báo chí Việt Nam bằng thơ ca và
những bài bút luận. Nhà giáo nhà văn Nguyễn Văn Phúc, cháu gọi Tản Đà bằng ông trẻ
đã kể lại trong cuốn sách hồi ức của mình, cuốn “Tôi với Tản Đà” rằng có lần Tản Đà
nhận được một phong thư gửi từ Hà Nội lên. Thư đó là của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh
gửi cho thi sĩ. Trong thư ông Nguyễn Văn Vĩnh tỏ ý là biết hoàn cảnh của Tản Đà hiện tại
và vì mến tài, muốn giúp Tản Đà mưu sinh nên tỏ ý mời thi sĩ giúp một tay, làm trợ bút
cho tờ báo của ông là tờ Trung Bắc tân văn nhưng Tản Đà đã từ chối vì: “Tôi muốn tự tài
mình lại gây lấy một thanh thế cho mình, nếu mình thực có tài. Bởi những lẽ đó mà dù
túng thiếu, đói rét, tôi cũng không chịu làm trái với tư tưởng của mình…”.
Chưa ra Hà Nội làm báo, nhưng liền trong mấy năm ở quê nhà Bất Bạt, Tản Đà đã kịp
gây dựng cho mình một lâu đài văn chương khá hoành tráng, mà sau này vì vậy thanh thế
người lẫy lừng. Năm 1921, có người bạn xin được giấy phép ra tờ Hữu Thanh, Tản Đà
lúc này được mời làm chủ bút và chính thức bước vào làng báo khi đã ở tuổi 35. Ông bắt
đầu một chặng đời mới “nồng đậm giao du cùng xã hội”. Nhưng chí khí thi nhân không
mấy khi dễ chấp nhận những tư tưởng khác mình. Nửa năm làm chủ bút tạp chí Hữu
Thanh, có lẽ bất đồng quan niệm với người chủ nhiệm báo mà Tản Đà bỗng nhiên từ
chức. Tòa soạn Hữu Thanh ai cũng luyến tiếc, cố nài thi sĩ lưu lại nhưng ông một mực ra
đi… Và trước khi rời tòa báo, vẫn còn mấy câu thơ đăng lên báo tỏ tấm tình với bạn hữu:
Mới nửa năm trời báo Hữu Thanh/ Biệt ly lai lãng xiết bao tình/ Chút tình hữu ái không
ly
biệt/
Tiếng
gọi
đàn
xa
núi
Tản
xanh.
Câu cuối cùng có lẽ Tản Đà đã nại ra lý do là phải về với bạn bè núi Tản nên đành phải từ
biệt. Mà quả thực ông sau đó đã trở lại Bất Bạt quê hương. Tháng ba năm sau thì lão mẫu
của thi sĩ qua đời. Lo tang ma cho mẹ già xong chàng lại bái biệt quê hương lần nữa để ra
đi tìm nơi thể hiện tài năng trời phú cho mình. Lúc đầu mở Tản Đà thư điếm lo việc làm
sách rồi sau đó hợp lại với Nghiêm Hàm ấn quán thành Tản Đà tu thư cục, chuyên xuất
bản những sách như Đại học, Kinh thi, Quốc sử Huấn Mông… Hình như công việc xuất
bản vốn yên tĩnh mà trong lòng người thi sĩ thì náo động không yên, vì vậy đầu năm
1925, Tản Đà đầu đơn xin ra tờ An Nam tạp chí. Năm sau thì có Nghị định cho phép
thành lập, thế là cùng những người bạn ở Hữu Thanh năm nào nay tung hoành ngọn bút.
Ngày 1-7-1926 tờ An Nam tạp chí ra mắt, sau mười số báo, An Nam tạp chí bị đình bản
do Tản Đà có bài viết đụng đến nền thống trị thực dân Pháp trên số thứ 10-1927. Đến khi
tục bản, tạp chí dời đến số 68 đường Rue des Graines (phố Hàng Đậu - TG) tiếp tục in số
11. Được ít lâu lại bị đình bản, Tản Đà xuống Nam Định cậy nhờ bạn bè tục bản lần 2
nhưng chỉ được mấy kỳ… Tờ An Nam tạp chí ra đời rồi thất bại, tái bản lại thất bại đến 5
lần khiến ông chủ bút phải long đong lận đận ra Bắc vào Nam… Không biết là tại Tản Đà
không rành quản lý hay là ông trời ghen ghét khách văn chương mà thành ra trêu cợt làm
cho nhà thi sĩ mấy bận long đong… Chính thi sĩ từng than rằng: "Mỗi một phen ra đời lại
một phen thất bại. Mỗi một phen thất bại đầu tóc lại bạc thêm”.
Tản Đà từ ngày rời quê hương dấn thân vào trường văn trận bút, người quá nặng lòng với
văn chương xã hội. Năm 1928, sau khi rời tờ Đông Pháp thời báo ở Sài Gòn, người lại trở
về Bắc. Lúc này có người thông gia quý mến tài năng và nhân cách thi nhân nên cố mời
Tản Đà lưu lại nhà mình đặng tĩnh dưỡng ít lâu. Từ Sơn Tây, chàng thi sĩ cảm thấy ngày
tháng trôi đi trong nỗi buồn cô liêu nhàn tản… Viết bài cho vài tờ báo không mất mấy
thời gian, và Tản Đà lại muốn xông vào trường hoạt động cho con đường văn chương thơ
phú. Nỗi nhớ tờ báo cũ của mình như nhớ một người bạn lớn là An Nam tạp chí, người
lại
mong
tái
bản
tờ
báo
của
mình
nhưng
ngặt
nỗi
không
tiền.
Thi sĩ từng thốt lên "Không có gì bẩn bằng đồng tiền. Thế mà không có tiền thời không
thể nào làm một việc gì được. Đời như vậy có đáng chán không?!" Buồn cảnh nghèo vì
nó mà mộng không thành, thi sĩ lại lấy rượu và thơ tiêu sầu: Rượu thơ mình lại với mình/
Khi say quên cả cái hình phù du… Trong một lần trà dư tửu hậu với người cháu gọi bằng
ông nhưng được cận kề nhiều lần hầu chuyện hầu rượu thi nhân, Tản Đà thú nhận: “Tôi
cũng ngẫm nghĩ đến thế lực đồng tiền thì buồn rầu vô hạn. Rồi lan man tôi lại nghĩ cả đến
biết bao nhiêu mặt anh hùng tài trí cổ kim cũng vì tiền mà không toại được lý tưởng cao
siêu, dù đã vất vả bôn ba nay ngược mai xuôi mà rút cục cũng không làm nên sự nghiệp
gì, chỉ có biết ôm một mối thất vọng cho đến khi hai tay buông xuôi là hết. “Cái khó bó
cái khôn” một câu tầm thường như vậy mà rất đúng”. Là người của Thiên hạ. Người
không riêng của một nơi nào và đi đâu ông cũng có những người bạn, thường là độc giả
vì mến tài. Nhiều người biết Tản Đà là người có thiên tài mà đành chấp nhận cuộc sống
bần bách. Thế rồi một độc giả đã mời thi sĩ về ở Quảng Yên (bây giờ là Quảng Ninh).
Nhưng cái con người ấy thích xê dịch nhiều hơn là yên ổn. Mà ở Quảng Yên xa xôi quá
với bạn bè báo chí ở Hà thành, vả lại dù có được bạn bè giúp đỡ nhưng ngòi bút Tản Đà
không đủ nuôi bảy tám con người trong gia đình. Và thế là lại dắt díu nhau về Hà Trì bên
cạnh Hà Đông. Nơi này gần Hà Nội, được xem là trung tâm văn chương thời ấy, thi sĩ
chắc rằng hoạt động của mình vì thế mà thuận lợi hơn. Những tưởng là thế nhưng ngòi
bút của Tản Đà cũng bất lực trước cuộc đời. Hà Trì không đủ nuôi sống gia đình, thi sĩ
đã lại chạy ra Bạch Mai, lúc này không nghĩ đến cuộc đời văn chương xã hội nữa là vì đã
cùng kế sinh nhai. Người ra đó với ý định mở lớp dạy chữ Nho và xem tướng số. Thời đại
thật đáng buồn thay, một danh nhân một thi nhân lẫy lừng như Tản Đà mà không thể có
cuộc sống đủ đầy phải lâm vào cơ cực phải xoay xở để sinh nhai bằng cái nghề tướng
số… Người cùng thời lắm kẻ cười ra nước mắt khi nhìn thấy trên tường nhà phố Bạch
Mai có viết quảng cáo rằng: “Nguyễn Khắc Hiếu Tản Đà - Hà Lạc lý số”. Nhưng cuối
cùng mộng cỏn con dạy học và xem lý số cho người khác cũng bất thành khi vợ con
không đủ sống. Chủ đòi tiền nhà, ông đành gán lại ít đồ đạc rồi dọn về nơi ở cuối cùng là
xóm nghèo ở Ngã Tư Sở... Ngẫm quãng đời hơn hai mươi năm xông pha nơi trận bút
trường văn, người thi sĩ tài ba từng có lúc tự bạch: “Khi làm chủ bút, lúc viết mướn/ Hai
chục năm dư cảnh khốn cùng”.
3, Tờ An Nam tạp chí của Tản Đà
Tản Đà là người sáng lập ra tờ báo chuyên về văn học đầu tiên của Việt Nam: tờ
"An Nam tạp chí". Số đầu tiên ra ngày 1 tháng 7 năm 1926, Tản Đà làm chủ báo, thư ký
tòa soạn là Ngô Tất Tố. Tờ báo xem như gắn liền với sự nghiệp làm báo của Tản Đà,
song nó không hoạt động yên ổn như ý, cho đến ngày chính thức "chết", tờ báo đã trải
qua ba lần đình bản.
"An Nam tạp chí" đình bản lần đầu tiên vào tháng 3 năm 1927, sau khi ra được 10
số. Sau đó, đến năm 1929, Tản Đà hợp tác với một người ở Hàng Gai, cho tái bản tạp chí.
Theo ông Lâm Tuyền Khách, sự tái bản này là ý của người kia, ra tạp chí để có dịp thu nợ
vì Tản Đà nợ ông một món không dễ trả. Trên bìa "An Nam tạp chí" lúc ấy ghi Tản Đà là
"chủ sự", còn ông nọ là "chủ nhân". Cũng theo ông Lâm Tuyền Khách, còn một lý do nữa
là nếu ngày ấy An Nam tạp chí không tái bản thì sẽ bị thu giấy phép.
Lần tái bản này chỉ ra được vài số rồi lại đình bản. Đến tháng 4 năm 1931, "An
Nam tạp chí" lại tái bản, lần này hoạt động đến ngày 1 tháng 3 năm 1933 thì đình bản
vĩnh viễn vì lý do tài chính.
Tản Đà là cây bút chủ lực của "An Nam tạp chí", cách làm báo của ông có thể coi
là khá đặc biệt. Theo Lâm Tuyền Khách, ban ngày ông không làm việc, chỉ uống rượu,
nói chuyện hay đọcsách, đến hai - ba giờ đêm ông mới trở dậy thắp đèn viết cho đến
sáng. Trong tờ báo nhiều khi độc giả thấy những bài viết đang liền mạch, tự nhiên bị bỏ
dở trong 1 thời gian dài mới thấy Tản Đà xuất hiện viết tiếp.
Tờ "An Nam tạp chí" tuy tổng cộng chỉ có 48 số, lại hoạt động thất thường, thiếu
chuyên nghiệp nhưng được coi là một trong những tờ đầu tiên có những đóng góp tích
cực vào sự phát triển của văn học Việt Nam thời cận đại theo khuynh hướng hiện thực.
Bên cạnh đó nó thể hiện một cách kín đáo lòng yêu nước của Tản Đà, qua những bài tiểu
luận, bài thơ đăng rải rác.
C, Bài học kinh nghiệm
Qua những tìm hiểu và phân tích về cuộc đời và sự nghiệp làm thơ đặc biệt là làm báo
của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu, tôi thấy được sự vất vả của nghề báo – cái nghề mà tôi
đã, đang và sẽ đi theo. Tài năng là một phần, nghề báo đỏi hỏi chúng ta phải biết “nhạy
cảm” với thời cuộc. Nhiều người nói “nhạy cảm” là phải biết tránh những cái gì gai góc
và động chạm đến những thế lực ngầm. Tuy nhiên, theo tôi chúng ta nên tiếp cận những
cái gai góc, thế lực đó một cách thận trọng.
Trong thời đại kinh thế thị trường hiện nay, tòa soạn báo là một doanh nghiệp, mỗi nhà
báo là một doanh nhân. Nhưng dù chúng ta là “doanh nhân”, cũng không được đánh mất
đi ngòi bút chính nghĩa, phục vụ vì lợi ích của nhân dân.
D, Tài liệu tham khảo
1, www.tailieu.vn
2, www.vi.wikipedia.com
3, www.cand.com
4, www.antd.com
MỤC LỤC
A, Phần mở đầu ........................................................................................................2
1, Mục đích...............................................................................................................2
2, Phương pháp nghiên cứu.......................................................................................2
B, Nội dung...............................................................................................................2
1, Cuộc đời của Tản Đà – Nguyễn Khắc Hiếu...........................................................2
2, Sự nghiệp báo chí và quá trình hoạt động báo chí của Tản Đà – Nguyễn Khắc
Hiếu........................................................................................................................... 7
3, Tờ An Nam tạp chí của Tản Đà.............................................................................13
C, Bài học kinh nghiệm.............................................................................................15
D, Tài liệu tham khảo................................................................................................15