§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt nghiÖp
- Trốn đóng BHXH: đây là trường hợp tương đối phổ biến thường xuất
hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: khai giảm số lượng lao động, khai
giảm thu nhập của người lao động.
Truy thu và sử phạt là hai hình thức được cơ quan BHXH áp dụng
nhiều nhất hiện nay. Truy thu đảm bảo cho pháp luật BHXH được tuân thủ,
cụ thể là cơ quan BHXH được phép yêu cầu kho bạc hoặc ngân hàng trích
chuyển từ tài khoản của người sử dụng lao động sang tài khoản chuyên thu
của BHXH bao gồm cả tiền lãi mà không cần sự chấp thuận thanh toán của
người sử dụng lao động. Xử phạt được BHXH thực hiện và xác định theo tỉ
lệ % so với tiền đóng BHXH hàng tháng dựa trên cơ sở tích luỹ. Nhìn chung
các chế tài sử phạt của Việt Nam hiện nay chưa thực sự nghiêm khắc, mới
chỉ mang tính hành chính chưa đủ để ngăn chặn hành vi vi phạm trên. Kết
quả thu BHXH qua mười năm từ năm 1995- 2004 được thực hiện ở bảng 2.
Bảng 2: Tình hình thu BHXH Việt Nam giai đoạn 1995- 2004.
Năm Số thu BHXH
( triệu đồng)
Tốc độ tăng tuyệt
đối (triệu đồng)
Tốc độ tăng
thu tương đối
(%)
1995 788.486 --- ---
1996 2.569.733 1.781.247 225,90
1997 3.514.226 944.493 36,75
1998 3.875.956 361.730 10,29
1999 4.186.055 310.009 8,00
2000 5.198.222 1.012.167 24,18
2001 6.334.650 1.136.428 21,86
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt nghiÖp
2002 6.790.795 456.145 7,20
2003 11.654.660 4.863.865 71,62
2004 13.168.500 1.513.840 12,99
( Nguồn BHXH Việt Nam)
Như vậy số thu của BHXH những năm qua đã đạt được những kết quả
đáng kể, số thu năm sau luôn cao hơn năm trước. Có thể thấy, ngay sau khi
đổi mới BHXH Việt Nam đã đi vào hoạt động ổn định và có hiệu quả. Như
trong bảng 2 thì số thu có tỉ lệ tăng hầu hết trong các năm là hai con số, đặc
biệt là năm 2003 có số thu tăng rất cao do BHYT chính thức sát nhập vào
BHXH. Và BHXH thực hiện thu cả phí BHYT của các lao động tham gia
BHXH như vậy thực sự thuận tiện cho cả bên thu lẫn bên nộp. BHXH Việt
Nam sau đổi mới đã chuyển từ đơn vị không có thu (thu không đáng kể)
chuyển sang đơn vị có thu. Trong mười năm thực hiện, số thu năm 2004 là
13.168.500 triệu đồng so với 788.486 triệu đồng của năm 1995. Như vậy chỉ
trong mười năm mà số thu đã tăng lên gần 20 lần, đây là con số quả không
nhỏ đặc biệt là so với số tăng gần 3 lần của số người tham gia. Việc tốc độ
tăng thu BHXH lớn hơn tốc độ tăng của người tham gia cho chúng ta thấy
phần lớn việc tăng quỹ là do tăng mức đóng góp trên đầu người. Vấn đề tăng
thu làm tăng quỹ, từ đó giảm gánh nặng của NSNN, tăng nguồn quỹ nhàn rỗi
để tăng đầu tư cung cấp cho thị trường vốn thông qua hoạt động đầu tư tăng
trưởng quỹ. Việc này không những góp phần phát triển quỹ mà còn đóng
góp vào sự phát triển của xã hội.
Bên cạnh đó tình trạng trốn đóng của BHXH Việt Nam không phải là
ít. Đặc biệt là khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các đơn vị kinh tế nhỏ lẻ
sử dụng ít lao động thường xuyên trốn đóng. Tình trạng nợ đọng kéo dại ở
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt nghiÖp
một số địa phương, một số đơn vị sử dụng lao dộng vẫn còn. Theo báo cáo,
tính đến ngày 3/9/1999, tổng số nợ đọng trên cả nước lên tới 418.144 triệu
đồng (bình quân số nợ này tương đương với việc các đơn vị sử dụng lao
động trong toàn quốc đóng chậm BHXH 1,6 tháng). Như vậy tình hình nợ
đọng hiện nay là rất lớn. Đến những năm gần đây tình trạng nợ đọng BHXH
trong công tác thu được phần nào cải thiện tình hình. Hàng năm số đơn vị
lao động tiếp tục tham gia BHXH tại các địa phương ngày càng gia tăng.
Năm 2003 trên toàn quốc có 17.437 đơn vị và 474.887 người tham gia. Đặc
biệt trong năm 2003, số nợ của BHXH của các đơn vị đã giảm rõ rệt. Nếu so
với số thu như thời kì trước thì số nợ chậm đóng chỉ bằng 0,49 tháng bình
quân tiền thu BHXH ( tương đương với số thu bình quân trong 15 ngày).
Trong đó số nợ chậm đóng của năm 2002 tương đương với 0,78 tháng bình
quân tiền thu BHXH. Theo các báo cáo thì số nợ chậm đóng của năm 2003
chủ yếu là của các doanh nghiệp đang trong quá trình đổi mới, sắp xếp lại
hoặc doanh nghiệp bị phá sản hay giải thể.
2. Quản lí chi BHXH.
2.1. Chi các chế độ BHXH.
Chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH hiện nay được phân loại theo
nhiều tiêu thức khác nhau, tuy vào các góc độ mà người ta có thể xem xét
các vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau. Có bốn cách phân loại chi trợ cấp
BHXH như sau:
- Chi trợ cấp định kì thường xuyên và trợ cấp một lần.
- Phương thức thanh toán trợ cấp bằng tiền hay hiện vật.
- Nguồn chi từ NSNN hay từ quỹ BHXH.
- Chi theo trợ cấp ngắn hạn hay dài hạn.
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt nghiÖp
Hiện nay BHXH Việt Nam đang thực hiện chi cho các chế độ sau:
+ Trợ cấp ốm đau.
+ Trợ cấp thai sản.
+ Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.
+ Trợ cấp hưu trí.
+ Trợ cấp tử tuất.
+ Chi dưỡng sức phục hồi sức khoẻ.
Để quản lí chi trợ cấp cho các chế độ của BHXH Việt Nam cần chú ý
đến những nội dung sau đây:
2.1.1.Phân cấp chi trả.
Cũng như quản lí thu, quản lí chi cũng theo phân cấp theo đó cơ quan
BHXh cấp tỉnh, huyện có trách nhiệm thực hiện kịp thời đầy đủ cho các đối
tượng hưởng BHXH kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng và đúng chế độ chính
sách. Theo quy định cơ quan BHXH cấp tỉnh chỉ chịu trách nhiệm chi trả trợ
cấp ốm đau, thai sản và trợ cấp một lần cho các đối tượng hưởng mà đơn vị
sử dụng mà cơ quan BHXH cấp tỉnh đã thu đóng góp. Cơ quan BHXH cấp
huyện chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản và các trợ cấp một lần cho các đơn vị
sử dụng lao động mà cơ quan BHXH cấp huyện đã thu đóng góp. BHXH
huyện cũng chi trợ cấp định kì liên quan đến các chế độ tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp, hưu tuổi già, tử tuất cho các đối tượng trên địa bàn quản lí
và chi trả trợ cấp cho cán bộ xã phường thị trấn đã tham gia BHXH. Như
vậy là đã có sự phân cấp cụ thể cho từng cấp quản lí, ngoài ra để thực hiện
quản lí việc chi trả trợ cấp cơ quan BHXH các cấp còn phải lập các báo cáo
và tổng hợp các khoản chi trợ cấp để nộp lên cơ quan BHXH cấp trên theo
§¹i häc Kinh tÕ quèc d©n LuËn v¨n tèt nghiÖp
định kì. Dựa vào các báo cáo này mà cơ quan BHXH cấp trên sẽ thực hiện
thẩm định, xét duyệt chi trợ cấp BHXH theo đúng quy định hiện hành.
2.1.2. Phương thức chi trả.
Như chúng ta đã biết việc chi trả trợ cấp hiện nay có hai phương thức
chính để chi trả, mỗi phương thức đều có những ưu điểm và nhược điểm
riêng, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh mà chúng ta nên lựa chọn cho phủ hợp. Tại
Việt Nam hiện nay phương thức chi trả gián tiếp thông qua hệ thốnh đại lí
chi trả là phổ biến nhất. Hệ thống đại lí chi trả hầu hết là quan hệ dựa trên
hợp đồng lao động và thường là chính người sử dụng lao động, cán bộ xã
phường, bưu điện hoặc ngân hàng. Thường các đại lí chi trả là người sử
dụng lao động được BHXH Việt Nam sử dụng cho việc chi trả cho các trợ
cấp ngắn hạn như ốm đau, tai nạn, bệnh nghề nghiệp... rất tiện lợi. Các đại lí
còn lại phù hợp hơn với các chế độ dài hạn. Với điều kiện như hiện nay của
Việt Nam thì phương thức chi trả như vậy là hợp lí, chi phí thấp, tiện lợi đối
với người được hưởng trợ cấp.
Cùng với sự phát triển của nước ta như hiện nay BHXH cũng cần
nghiên cứu và xem xét tới các phương thức thanh toán khác như chi trả gián
tiếp qua hệ thống tài khoản ngân hàng. Với sự phát triển của hệ thống ngân
hàng như hiện nay thì tại các thành phố có thể nghiên cứu và ứng dụng chó
phương pháp chi trả hiện đại này. Ưu điểm lớn nhất của phương thức này là
nhanh chóng và tiết kiệm chi phí.
2.1.3. Quản lí đối tượng được hưởng và số tiền chi trả.
Quản lí chi trả trợ cấp BHXH yêu cầu cơ quan BHXH quản lí đối
tượng được hưởng theo từng loại chế độ, tình hình biến động tăng giảm và