Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH TỤ CÁC BON CỦA RỪNG THÔNG BA LÁ TỰ NHIÊN (Pinus kesiya Royle ex Gordon) TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG, LÂM ĐỒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (920.65 KB, 92 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH TỤ CÁC BON
CỦA RỪNG THÔNG BA LÁ TỰ NHIÊN
(Pinus kesiya Royle ex Gordon) TẠI
HUYỆN LẠC DƯƠNG, LÂM ĐỒNG

Họ và tên sinh viên: NGUYỄN THỊ NGA
Chuyên ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
Niên khóa: 2005-2009

Tháng 7/2009


NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH TỤ CÁC BON
CỦA RỪNG THÔNG BA LÁ TỰ NHIÊN
(Pinus kesiya Royle ex Gordon)
TẠI HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG

Tác giả

NGUYỄN THỊ NGA

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
Kỹ sư ngành Lâm nghiệp chuyên ngành
Quản lý tài nguyên rừng

Giáo viên hướng dẫn:


TS. VIÊN NGỌC NAM

Tháng 7 năm 2009
i


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên
ngành Quản lý tài nguyên rừng, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến:
Các thầy, cô giáo trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh đã tận tâm
giảng dạy, truyền thụ cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập tại
trường.
Các thầy cô trong bộ môn Quản lý tài nguyên rừng đã góp ý kiến quý báu trong
thời gian hoàn chỉnh luận văn.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Viên Ngọc Nam, người đã
hướng dẫn trực tiếp, dành hết tâm huyết tận tình chỉ dạy, dẫn dắt tôi trong suốt thời
gian thực tập và hoàn thành luận văn này.
Cảm ơn anh Tôn Thiện An và chú Nguyễn Văn Danh, các anh ở Ban Quản lý
rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, 2 bạn Nguyễn Thị Hoài và Nguyễn Thị Mỹ Vân
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu.
Cảm ơn các bạn và tập thể lớp ĐH05QR đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt
quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã
động viên tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn này.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2009
Sinh viên
Nguyễn Thị Nga

ii



TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu khả năng tích tụ các bon của rừng thông ba lá tự nhiên
(Pinus kesiya Royle ex Gordon) tại huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng được tiến hành
tại Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, xã Đa Nhim, huyện Lạc Dương,
tỉnh Lâm Đồng, thời gian từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2009. Số liệu được thu thập trên
24 ô tiêu chuẩn được chọn điển hình và đại diện cho khu vực.
Dựa trên các phương pháp nghiên cứu sinh trưởng, năng suất và sinh khối của
rừng đã phân tích, tính toán lượng các bon trong sinh khối khô các bộ phận thân, cành,
lá; xác định được mối tương quan giữa trữ lượng, sinh khối và lượng các bon hấp thụ
của thông ba lá. Kết quả nghiên cứu cũng đã bước đầu lượng giá được giá trị thu nhập
bằng tiền từ khả năng tích tụ các bon của rừng tự nhiên thông ba lá.
Kết quả thu được về sinh khối cây cá thể: Kết cấu sinh khối khô cây cá thể là:
sinh khối thân khô chiếm 44,45 %, sinh khối cành khô chiếm 24,19 %, sinh khối lá
khô là 6,72 %, sinh khối khô rễ chiếm 24,64%.
Tổng sinh khối khô của quần thể trung bình đạt 238,32 tấn/ha. Sinh khối thân là
105,58 tấn/ha, sinh khối cành là 59,53 tấn/ha, sinh khối lá là 15,63 tấn/ha, sinh khối rễ
60,76 tấn/ha.
Khả năng tích tụ các bon trong sinh khối rừng thông ba lá tự nhiên khu vực
nghiên cứu đạt 116,79 tấn/ha trong đó lượng các bon tích tụ ở bộ phận thân cây trong
quần thể chiếm tỉ lệ trung bình là 44,42%, trong bộ phận cành nhánh chiếm tỉ lệ trung
bình 23,58%, bộ phận lá chiếm tỉ lệ trung bình là 6,84%, bộ phận rễ chiếm tỉ lệ trung
bình là 25,16%.
Lượng CO2 mà rừng đã hấp thu được trong sinh khối của cây là 428,62 tấn/ha
giá trị bằng tiền thu được từ chỉ tiêu CO2 là gần 148 triệu đồng trên một héc ta.

iii


MỤC LỤC

Trang
Trang tựa

i

Lời cảm ơn

ii

Tóm tắt

iii

Mục lục

iv

Danh sách các chữ viết tắt

vi

Danh sách các hình

ix

Danh sách các bảng

x

Chương 1: MỞ ĐẦU


1

1.1 Đặt vấn đề

1

1.2 Mục tiêu

2

1.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

2

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Sơ lược một số vấn đề liên quan đến đề tài

4
4
4

2.1.1 Sinh khối
2.1.1.1 Nghiên cứu sinh khối trên thế giới

5

2.1.1.2 Nghiên cứu sinh khối ở Việt Nam

6

7

2.1.2 Tích tụ các bon
2.1.2.1 Những vấn đề liên quan đến các bon

7

2.1.2.3 Nghiên cứu tích tụ các bon trên thế giới

11

2.1.2.4 Nghiên cứu tích tụ các bon ở Việt Nam

13

2.2 Thảo luận về tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

14
15

3.1 Nội dung nghiên cứu

15

3.2 Phương pháp nghiên cứu

15

3.2.1 Công tác chuẩn bị


15

3.2.2 Ngoại nghiệp

16

3.2.3 Nội nghiệp

17
17

3.2.3.1 Phương pháp kế thừa
iv


3.2.3.2 Phương pháp tính toán lượng các bon tích tụ của thông ba lá

17

3.2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

18

3.2.3.4 Phương pháp phân tích số liệu

19
20

3.2 Đối tượng nghiên cứu

3.2.1 Đặc điểm sinh học

20

3.2.2 Đặc tính sinh thái

21

3.23 Công dụng

21

3.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

21

3.3.1 Điều kiện tự nhiên

22

3.3.1.1 Vị trí địa lý

22

3.3.1.2 Địa hình

22

3.3.1.3 Thổ nhưỡng


22

3.3.1.4 Khí hậu

23

3.3.1.5 Hệ thống sông ngòi

24

3.3.2 Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội

24

3.3.2.1 Dân số, dân tộc, tôn giáo

24

3.3.2.2 Tình hình kinh tế

24

3.3.2.3 Cơ sở hạ tầng

25

3.3.2.4 Hiện trạng sử dụng đất và tài nguyên rừng

26


Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

28

4.1 Vị trí khu vực nghiên cứu

28

4.2 Đặc điểm cấu trúc rừng khu vực nghiên cứu

29

4.2.1 Phân bố thực nghiệm số cây theo cấp đường kính

29

4.2.2 Tương quan giữa chiều cao và đường kính

30

4.2.3 Thể tích cây

31
33

4.3 Sinh khối khô
4.3.1 Sinh khối khô cây cá thể

33


4.3.2 Sinh khối khô quần thể

35
37

4.4 Lượng các bon tích tụ

37

4.4.1 Lượng các bon cây cá thể
4.4.1.1 Tương quan giữa các bon tích tụ với đường kính thân cây
v

40


4.4.1.2 Tương quan giữa Ct của cây cá thể và thể tích cây cá thể (V)

46
46

4.4.2 Lượng các bon quần thể
4.4.2.1 Kết cấu lượng các bon tích tụ trong quần thể

47

4.4.2.2 Đánh giá lượng các bon tích lũy của quần thể theo cấp độ cao

48


4.4.2.3 Mối quan hệ giữa lượng các bon quần thể với các chỉ tiêu lâm phần

50

4.5 Bảng tra lượng các bon tích tụ dựa vào chỉ tiêu D1,3

52

4.6 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật cho rừng thông ba lá tự nhiên

54

4.7 Lượng giá bằng tiền khả năng tích tụ các bon của rừng

54

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

55

5.1 Kết luận

55

5.2 Kiến nghị

56

TÀI LIỆU THAM KHẢO


57

PHỤ LỤC

vi


DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
a0, a1, a2

Các tham số của phương trình.

C

Carbon – các bon

CO2

Carbon Dioxide – Cácbonic.

Ct

Lượng các bon tích lũy của cây

Cth

Lượng các bon tích lũy của bộ phận thân cây

Cc


Lượng các bon tích lũy của bộ phận cành cây

Cl

Lượng các bon tích lũy của bộ phận lá cây

Cr

Lượng các bon tích lũy của bộ phận rễ cây

CDM

Clean Development Mechanism – Cơ chế phát triển sạch

DNA

Cơ quan có thẩm quyền quốc gia về CDM

EU

European Union - Liên minh Châu Âu

EC

European Commission - Ủy ban Châu Âu

GIS

Geographical Information System -Hệ thống thông tin địa lý


GPS

Global Position System - Hệ thống định vị toàn cầu

IPCC

Intergovernmental Panel on Climate Change – Ban liên chính phủ về
biến đổi khí hậu.

f

Hình số thân cây

LULUCF

Land use, land use change and forestry – Sử dụng đất, thay đổi sử dụng
đất và lâm nghiệp

M

Mass - Trữ lượng

N

Number - Số cây

NIRI

Nissho Iwai Research Institute - Viện nghiên cứu Nissho Iwai – Nhật
Bản


P

Sinh khối theo Lê Hồng Phúc

UNEP

United Nations Environment Programme - Chương trình Môi trường
Liên hợp quốc.

UNFCCC

United Nations Frame Convention on Climate Change - Công ước khung
của Liên hợp quốc vế biến đổi khí hậu.

Y

Biến phụ thuộc
vii


x

Biến độc lập

V

Thể tích cây

WMO


World Meteorology Organization - Tổ chức Khí tượng Thế giới

WWF

World Wide Fund - Quỹ Bảo tồn thiên nhiên Thế Giới

viii


DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Lượng các bon tích lũy trong các kiểu rừng (Bảo Huy, 2007)

12

Hình 3.1: Kích thước ô đo đếm liên kết

16

Hình 4.1: Vị trí ô đo đếm

28

Hình 4.2: Đồ thị biểu diễn N – D1,3

30

Hình 4.3: Đồ thị tương quan Hvn - D1,3


31

Hình 4.4: Tỉ lệ sinh khối khô các bộ phận cây cá thể

35

Hình 4.5: Tỉ lệ các bon các bộ phân cây cá thể

40

Hình 4.6: Đồ thị tương quan Cth – D1,3

41

Hình 4.7: Đồ thị tương quan Cc – D1,3

42

Hình 4.8: Đồ thị tương quan Cl – D1,3

43

Hình 4.9: Đồ thị tương quan Cr – D1,3

44

Hình 4.10: Đồ thị tương quan Ct – D1,3

45


Hình 4.11: Đồ thị tương quan Ct – V

46

Hình 4.12: Tỉ lệ các bon từng bộ phận của quần thể

48

Hình 4.13: Đồ thị tương quan Ct – G1,3

52

ix


DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Phân bố số cây theo cấp đường kính

29

Bảng 4.2: Các dạng hàm tương quan Hvn - D1,3

30

Bảng 4.3: Thể tích cây cá thể

32

Bảng 4.4: Sinh khối khô cây cá thể


34

Bảng 4.5: Sinh khối khô quần thể

36

Bảng 4.6: Đặc trưng mẫu của sinh khối khô quần thể

37

Bảng 4.7: Kết cấu các bon tích tụ trong cây cá thể

38

Bảng 4.8: Các đặc trưng mẫu của lượng các bon tích tụ trong cây cá thể

39

Bảng 4.9: Phương trình tương quan Cth - D1,3

41

Bảng 4.10: Phương trình tương quan Cc - D1,3

42

Bảng 4.11: Phương trình tương quan giữa Cl – D1,3

43


Bảng 4.12: Phương trình tương quan giữa Cr – D1,3

44

Bảng 4.13: Phương trình tương quan giữa Ct – D1,3

45

Bảng 4.14: Phương trình tương quan giữa Ct – V

46

Bảng 4.15: Lượng các bon tích tụ trong quần thể

47

Bảng 4.16: Đặc trưng mẫu của lượng các bon tích tụ trong quần thể

47

Bảng 4.17: Lượng các bon tích tụ theo từng cấp độ cao

49

Bảng 4.18: Kết quả tổng hợp lượng các bon tích tụ và các chỉ tiêu lâm phần

50

Bảng 4.19: Tương quan giữa Ct – G1,3


51

Bảng 4.20: Biểu tra lượng các bon tích tụ của thông ba lá

53

x


Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trái đất đang nóng dần lên là vấn đề được ghi nhận trong thời gian gần đây,
theo thông tin từ tổ chức khí tượng thế giới (WMO, 2007) cho biết thập niên 1998 2007 là giai đoạn nóng nhất quan sát được (từ năm 1850), nhiệt độ trung bình bề mặt
toàn cầu năm 2007 là 14,41 oC cao hơn 0,14 oC so với trung bình giai đoạn 1961 có rất
nhiều cơ sở để khẳng định rằng tương lai khí hậu tiếp tục nóng lên. Nhiệt độ trái đất
tăng tạo điều kiện cho nhiều bệnh mới phát sinh, dịch bệnh lan tràn, nhiều loại bệnh cũ
bùng phát trở lại. Theo dự đoán, nếu nhiệt độ toàn cầu tăng 3 – 5 oC mỗi năm trên thế
giới sẽ có khoảng 50 - 80 triệu người rơi vào tình trạng nguy hiểm của bệnh sốt rét.
Chất lượng không khí, nguồn nước sinh hoạt giảm, những thành phố lớn với mức độ ô
nhiễm đáng báo động sẽ là nguyên nhân cho những bệnh liên quan đến hô hấp và
truyền nhiễm phát triển. Theo cảnh báo của tổ chức sức khỏe thế giới khu vực Châu Á
Thái Bình Dương mỗi năm có khoảng 10.000 người chết do tác động của nóng lên
toàn cầu và khoảng 800.000 người trên thế giới chết liên quan đến ô nhiễm trong lòng
đại dương, CO2 được hấp thụ bởi đại dương tạo thành axit lỏng gây nguy hại cho dãi
san hô ngầm và những sinh vật biển vỏ cứng. Ở Việt Nam, sinh kế của hàng chục triệu
người Việt nam đang bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Vấn đề này và những hệ quả
của nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo ở vùng núi, vùng biển, vùng đồng bằng
bị đe dọa. Theo dự đoán, nếu nhiệt độ trên trái đất tăng thêm 2oC thì 22 triệu người

Việt Nam sẽ mất nhà và 45% diện tích đất nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu
Long, vựa lúa lớn nhất của Việt Nam sẽ ngập chìm trong nước biển.
Nguyên nhân chính gây ra sự nóng lên của trái đất là sự gia tăng của các khí
nhà kính như CO2, CH4, NOx, CFC,… được tạo ra trong quá trình sản xuất và sinh
hoạt của con người.
Rừng được mệnh danh là lá phổi xanh khổng lồ của trái đất. Rừng là bể chứa
các bon (C), đóng vai trò quan trọng trong cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển. Ước
1


tính lượng C giữ trong sinh khối và đất gấp 3 lần lượng C có trong khí quyển và
khoảng 35% khí nhà kính trong khí quyển là hậu quả của nạn phá rừng trong quá khứ
và 17% lượng phát thải khí này là do nạn phá rừng liên tục hiện nay. Toàn bộ lượng C
dự trữ được tạo bởi kết quả của sự hấp thu khí CO2 từ khí quyển và chuyển về dạng
chất hữu cơ thực vật. Điều này cho thấy nếu tăng lượng C dự trữ trong môi trường sinh
thái sẽ có khả năng giảm lượng CO2 là một phương pháp cơ bản. Do đó việc làm sáng
tỏ tiềm năng của các bể hấp thụ các bon, vai trò của hệ sinh thái rừng trong chu trình
các bon, biện pháp tăng khả năng đóng góp của hệ sinh thái rừng trong chống biến đổi
khí hậu toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Thị trường C ra
đời, việc thương mại hóa C được coi như một giải pháp có tính lâu dài về hiệu quả
kinh tế. Cơ chế phát triển sạch (CDM) được thiết lập trong khuôn khổ nghị định thư
Kyoto mục tiêu cơ bản là hướng tới phát triển bền vững bằng các cam kết cụ thể về
hạn chế và giảm lượng khí nhà kính phát thải định lượng của các nước trên phạm vi
toàn cầu. Vấn đề cần phải giải quyết là làm thế nào để tính toán, định lượng được khả
năng tích tụ C của rừng làm cơ sở xây dựng cơ chế chi trả các dịch vụ môi trường. Tuy
nhiên, hiện nay trên thế giới việc nghiên cứu để lượng hóa những giá trị về mặt môi
trường đã được thực hiện còn ở Việt Nam chỉ mới có một vài nghiên cứu gần đây.
Trước tình hình đó chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng tích tụ các bon
(C) của rừng thông ba lá tự nhiên (Pinus kesiya Royle ex Gordon) tại huyện Lạc
Dương, tỉnh Lâm Đồng” để góp thêm tài liệu nghiên cứu và lượng giá được khả năng

tích tụ các bon của rừng tự nhiên thông ba lá tại huyện Lạc Dương.
1.2 Mục tiêu
+ Định lượng khả năng tích tụ các bon của rừng tự nhiên thông ba lá.
+ Bước đầu lượng giá khả năng tích tụ các bon của rừng tự nhiên thông ba lá.
1.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Do hạn hẹp về thời gian, kinh phí nên khóa luận chỉ thực hiện trong phạm vi
sau đây:
+ Nghiên cứu khả năng tích tụ các bon ở trạng thái rừng tự nhiên thông ba lá,
khu vực Ban Quản lí rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, huyện Lạc Dương.

2


+ Nghiên cứu sinh khối cũng như khả năng tích lũy các bon của cây gỗ ở các bộ
phận thân, cành, lá, rễ mà chưa đề cập đến lượng vật rụng, thảm tươi và các bon trong
đất.

3


Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Sơ lược một số vấn đề liên quan đến đề tài
2.1.1 Sinh khối
Sinh khối là tổng lượng chất hữu cơ có được trên một diện tích tại một thời
điểm và được tính bằng đơn vị tấn/ha (Ong và cs, 1983; Viên Ngọc Nam, 2003 trích
dẫn). Sinh khối của thực vật là khối lượng tươi của chúng trên một đơn vị diện tích
(sinh khối tươi) hay khối lượng vật chất khô kiệt sau khi được sấy khô kiệt trong
phòng thí nghiệm (sinh khối khô). Với một trạng thái thảm thực vật xác định bên cạnh
một số loài cây đặc trưng chiếm ưu thế về số lượng còn có một số loài khác với số

lượng ít hơn, các loài rêu, địa y hay thảm mục… Khi đó, sinh khối của thảm thực vật
là sự hợp thành của các bộ phận trên mặt đất và dưới mặt đất (rễ). Tỷ lệ về khối lượng
giữa các bộ phận này là giá trị phản ánh một cách trung thực cấu trúc sinh khối trạng
thái thảm thực vật đó (Phạm Xuân Hoàn, Phạm Minh Toại, 2007).
Sinh khối thực vật nói chung, cây rừng nói riêng là nguồn năng lượng có thể tái
tạo được. Nghiên cứu sinh khối nhằm tạo ra nhiều nguồn năng lượng sinh khối phục
vụ đời sống con người là con đường giải quyết năng lượng hiệu nghiệm mà con người
đã và đang tiến hành (Lê Hồng Phúc, 1996).
Việc đánh giá sinh khối rừng có ý nghĩa trong việc quản lý, sử dụng rừng (Viên
Ngọc Nam, 1996). Ý nghĩa của việc nghiên cứu sinh khối theo Clough P.F và Scott K
(1989) là: “Dựa vào những ước lượng về sinh khối và những tỷ lệ phát triển của chúng
làm cơ sở cho việc ước lượng tổng năng suất sơ cấp thuần trong những nghiên cứu về
sinh thái, cho việc đánh giá sự sinh lợi từ những sản phẩm kinh tế của rừng và xây
dựng những phương pháp lâm sinh hoàn hảo hơn”. Để sử dụng hợp lý tài nguyên rừng
đòi hỏi phải sử dụng đầy đủ sinh khối của thảm thực vật rừng nhất là cây rừng. Để mở
rộng quy mô sử dụng gỗ đòi hỏi phải hoàn thiện các phương pháp tính sinh khối các
bộ phận của cây rừng. Trong những năm gần đây, các phương pháp nghiên cứu định
lượng và mô hình dự báo sinh khối cây rừng đã được áp dụng thông qua các mối quan
4


hệ giữa sinh khối cây với các nhân tố điều tra dễ đo đếm như đường kính ngang ngực,
chiều cao cây nhằm định lượng nhanh sinh khối và giảm chi phí thực hiện. Nghiên cứu
sinh khối làm cơ sở để xác định lượng các bon tích lũy trong sinh khối rừng.
2.1.1.1 Nghiên cứu sinh khối trên thế giới
Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả xây dựng phương pháp nghiên cứu sinh
khối của rừng (Molchanov A.A, 1971; Xmirnov. B. B, 1971; Utkin. A. I., 1975, theo
Yxpenxkii B.B, 1983; Nguyễn Văn Thêm, 2002 trích dẫn). Cannell M. G. R (1992)
biên soạn cuốn: “Sinh khối và tài liệu năng suất sơ cấp rừng thế giới” đã tập hợp 600
công trình nghiên cứu được tóm tắt xuất bản về sinh khối khô, thân, cành, lá và một số

thành phần sản phẩm sơ cấp của 1.200 quần thể thuộc 46 nước trên thế giới.
Mặc dù vậy, theo phương pháp nghiên cứu sinh khối cây rừng vẫn còn là một
trong những nhiệm vụ mới của điều tra rừng. Hiện nay tồn tại rất nhiều phương pháp
nghiên cứu nghiên cứu xác định sinh khối cây rừng, tùy từng mục đích nghiên cứu cụ
thể các tác giả đã đề xuất nhiều biện pháp khác nhau theo sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật.
Wood Well (1965) và Whitaker (1968) đã đề ra phương pháp thu hoạch để
nghiên cứu năng suất sơ cấp tuyệt đối, các tác giả đã đề nghị chọn những ô tiêu chuẩn
điển hình, chặt toàn bộ cây trong ô tiêu chuẩn, cân xác định trọng lượng. Phương pháp
này có nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện nên hiện nay ít được sử dụng (Trương
Văn Vinh, 2006).
Newbuld (1967) đã đề xuất phương pháp cây mẫu để nghiên cứu xác định sinh
khối và năng suất quần xã thực vật từ các ô tiêu chuẩn. Phương pháp này đã được
chương trình sinh học quốc tế IBP thống nhất áp dụng.
Ứng dụng toán học trong nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng. Sinh khối
rừng được mô hình hóa dưới dạng các hàm nhiều biến, mỗi nhân tố tác động đến sinh
khối là một biến, phương pháp này đã mang lại tên tuổi cho các tác giả: Abadie, Alder,
Prodan, Schumacher…
Zianis và cs (2003) đã có công trình nghiên cứu “Đơn giản hóa phương trình
tương quan sinh khối cây rừng”. Tác giả đã đơn giản hóa phương trình tương quan
sinh khối cây rừng từ hàm mũ W = a.Db sang dạng hàm logarit 2 chiều lnW = lna +

5


b.lnD với các tham số a, b được xác định theo phương trình a = 7,0281.b-4,7558 và b =
1,9262 + 0,6972.b (Nguyễn Thị Hà, 2007).
Mazlan và Kadir (1999) đã tính được sinh khối cho khu vực dự trữ rừng ngập
mặn ở Sungai Pulai (Malaysia) bằng cách so sánh ảnh vệ tinh JERS-1 và Radasat trên
cơ sở tổng hợp số liệu khẩu độ của Radar.

Magcale – Macandong và cs đã xây dựng mô hình dựa trên hệ thống thông tin
địa lý (GIS) để dự đoán không gian sinh trưởng trên mặt đất của rừng thứ sinh ở
Philippin. Mối quan hệ của các yếu tố thời tiết và sinh khối trên mặt đất được xác định
thông qua phân tích hồi quy tuyến tính đa biến. Phương trình được sử dụng để dự đoán
sinh khối tiềm năng trên mặt đất của rừng thứ sinh ở nước này, từ đó hình thành bản
đồ ước lượng sinh khối trên mặt đất của rừng thứ sinh. Nghiên cứu đã chứng minh
tiềm năng của GIS trong việc đánh giá sinh khối của rừng trong từng điều kiện khác
nhau.
2.1.1.2 Nghiên cứu sinh khối ở Việt Nam
Trong những năm qua, việc nghiên cứu sinh khối đã được nhiều nhà khoa học
trong nước quan tâm nghiên cứu. Những kết quả đạt được đã đóng góp rất lớn vào sự
phát triển của ngành Lâm nghiệp.
Lê Hồng Phúc (1996) với công trình “Đánh giá sinh trưởng, tăng trưởng, sinh
khối, năng suất rừng trồng thông ba lá (Pinus keysia) vùng Đà Lạt, Lâm Đồng”.
Nghiên cứu đã thực hiện điều tra rừng thông ba lá trồng ở khu vực Đà Lạt Lâm Đồng
trong 2 năm 1992, 1995. Công trình tiến hành chặt 139 cây mẫu (cây tiêu chuẩn bình
quân xác định theo phương pháp cây mẫu của Newbult, 1967), đánh giá sinh khối cây
và lâm phần theo phương pháp thu hoạch. Tác giả đã xây dựng biểu tổng sinh khối
thông ba lá dựa vào tương quan giữa tổng sinh khối và các chỉ tiêu Hvn, D1,3. Đồng thời
cũng kết luận rằng mật độ rừng trồng ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, tăng trưởng, sinh
khối và năng suất của rừng.
Viên Ngọc Nam (1998) đã nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ cấp rừng Đước
(Rhizophora apiculata) trồng tại Cần Giờ. Theo kết quả nghiên cứu được cho thấy sinh
khối tăng một lượng 5,93 – 12,44 tấn/ha/năm theo các cấp tuổi khác nhau; lượng tăng
đường kính 0,46 – 0,81 cm/năm; trữ lượng thảm mục tích lũy trên sàn rừng 3,4 – 12,46
tấn/ha (Nguyễn Thị Hà, 2007 trích dẫn).
6


Đặng Trịnh Triều (2007) đã nghiên cứu sinh khối cây cá thể và mối tương quan

giữa các nhân tố điều tra của thông mã vĩ (Pinus massoniana Lamb) trồng thuần loài
trên các cấp đất khác nhau tại vùng Đông Bắc. Kết quả đã xác định được sinh khối
tươi và khô của cây cá thể thông mã vĩ theo cấp đất tại Lạng Sơn và Bắc Giang, xây
dựng được mối quan hệ giữa sinh khối tươi, sinh khối khô cây cá thể với các nhân tố
điều tra lâm phần dễ xác định như D1,3, Hvn, A; mối quan hệ giữa sinh khối tươi và
sinh khối khô, sinh khối trên mặt đất và sinh khối dưới mặt đất. Các mối quan hệ này
được mô phỏng bởi các hàm y = a.xb và hàm y = exp(a-b/x) với hệ số tương quan cao,
sai số tiêu chuẩn thấp, đơn giản, dễ áp dụng.
Võ Đại Hải (2007) nghiên cứu sinh khối cây cá thể keo lai trồng thuần loài ở
Việt Nam, tác giả đã kết luận sinh khối cá thể keo lai có sự biến đổi rất lớn theo các
cấp đất và các giai đoạn tuổi khác nhau. Cấu trúc sinh khối tươi cây cá thể keo lai chủ
yếu tập trung vào sinh khối thân 49,48%, rễ 19,1% và cành 14,6%. Giữa sinh khối khô
và sinh khối tươi cây cá thể keo lai với các nhân tố điều tra lâm phần D1,3, Hvn, A có
mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau và được mô phỏng bởi các dạng hàm y = a.xb và
hàm y = a.bx có thể sử dụng để tính toán nhanh dự báo sinh khối.
2.1.2 Tích tụ các bon
2.1.2.1 Những vấn đề liên quan đến các bon
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, những hoạt động của con người ngày
càng gia tăng đã và đang dẫn đến những tác động tiêu cực đối với hệ thống khí hậu
toàn cầu. Nhận thức được vấn đề này, tại hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát
triển tại Brazil năm 1992, 155 quốc gia đã ký kết Công ước khung của Liên hợp quốc
về biến đổi khí hậu (UNFCCC).
Sự ra đời của Nghị định thư Kyoto năm 1997 với cam kết cắt giảm 5% lượng
khí nhà kính (so với mức của năm 1990) trong vòng 5 năm, từ 2008 đến 2012, của 37
nước công nghiệp phát triển và Cộng đồng châu Âu (EC) đã tạo điều kiện cho sự hình
thành và phát triển của một loại thị trường đặc biệt - thị trường buôn bán sự phát thải.
Khí CO2 là khí do các ngành công nghiệp thải ra và chiếm chủ yếu trong 4 loại khí gây
hiệu ứng nhà kính. Trên thị trường các bon, việc mua bán các bon hay chính xác hơn
là việc mua bán sự phát thải khí CO2, được thực hiện thông qua tín dụng các bon
(carbon credit). Mỗi một công ty gây ô nhiễm sẽ có một hạn mức thải CO2 nhất định

7


mà nếu muốn vượt quá hạn mức này cần phải bỏ tiền ra mua thêm hạn mức, gọi là tín
dụng các bon. Tín dụng các bon có thể được thông qua đầu tư một số dự án góp phần
làm giảm phát thải CO2 hoặc được mua lại từ các công ty khác.
Nghị định thư Kyoto với cơ chế phát triển sạch - CDM - mở ra cơ hội cho các
nước đang phát triển trong việc tiếp nhận đầu tư từ các nước phát triển để thực hiện
các dự án lớn về trồng rừng, phục hồi rừng, quản lý bảo vệ rừng tự nhiên, hạn chế tình
trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp, thúc
đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng nông lâm kết hợp...góp phần phát triển đất nước
mình theo hướng bền vững.
Việt Nam là một trong số những quốc gia trong khu vực Châu Á Thái Bình
Dương tham gia tích cực nhất vào những hoạt động nhằm giảm nhẹ những tác động
của biến đổi khí hậu do Liên Hợp Quốc đề xuất. Tính đến tháng 3 năm 2003, thời điểm
Việt Nam thành lập cơ quan có thẩm quyền quốc gia về CDM, được gọi tắt là DNA,
Việt Nam đã đạt được cả 3 điều kiện để tham gia một cách đầy đủ nhất vào các dự án
CDM quốc tế. Đó là:
1. Tham gia hoàn toàn tự nguyện.
2. Phê chuẩn công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
(UNFCCC) và ký kết nghị định thư Kyoto.
3. Thành lập DNA của quốc gia.
2.1.2.2 Một số phương pháp điều tra tích tụ các bon
Quá trình biến đổi các bon trong hệ sinh thái được xác định từ cân bằng các bon
bao gồm các bon đi vào hệ thống qua quá trình quang hợp và tiếp thu các hợp chất hữu
cơ khác; các bon mất đi từ quá trình hô hấp của thực vật và động vật, lửa, khai thác,
sinh vật chết cũng như các quá trình khác (IPCC, 2000; Phan Minh Sang, Lưu Cảnh
Trung, 2006 trích dẫn).
Một số phương pháp nghiên cứu cac bon trên mặt đất được Phan Minh Sang và
Lưu Cảnh Trung (2006) trích dẫn như sau:

(1) Phương pháp dựa trên mật độ sinh khối rừng
Theo phương pháp này, tổng lượng sinh khối trên bề mặt đất có thể được tính
bằng cách nhân diện tích của một lâm phần với mật độ sinh khối tương ứng. Các bon
thường được tính từ sinh khối bằng cách nhân hệ số chuyển đổi là cố định 0,5. Vì vậy
8


việc hệ số chuyển đổi có vai trò rất quan trọng cho tính chính xác của phương pháp
này.
(2) Phương pháp dựa trên điều tra rừng thông thường
Để điều tra sinh khối và tích tụ các bon của rừng, phương pháp đo đếm trực tiếp
truyền thống trên một số lượng ô tiêu chuẩn đủ lớn của các đối tượng rừng khác nhau
cho kết quả đáng tin cậy. Tuy nhiên, phương pháp này khá tốn kém. Ngoài ra, khi tiến
hành điều tra, các cây không có giá trị thương mại hoặc cây nhỏ thường không được
đo đếm.
(3) Phương pháp dựa trên điều tra thể tích
Phương pháp dựa trên điều tra thể tích là sử dụng hệ số chuyển đổi để tính tổng
sinh khối trên mặt đất từ sinh khối thân cây. Đặc điểm cơ bản của phương pháp này
bao gồm ba bước:
1. Tính thể tích gỗ thân cây từ số liệu điều tra;
2. Chuyển đổi từ thể tích gỗ thân cây thành sinh khối và các bon của cây bằng
cách nhân với tỷ trọng gỗ và hàm lượng các bon trong gỗ;
Phương pháp sử dụng hệ số chuyển đổi sinh khối – các bon đã được sử dụng để
tính sinh khối và các bon cho nhiều loại rừng trên thế giới trong đó có rừng tự nhiên
nhiệt đới.
(4) Phương pháp dựa trên các nhân tố điều tra lâm phần
Các nhân tố điều tra lâm phần như sinh khối, tổng tiết diện ngang, mật độ, tuổi,
chiều cao tầng trội, và thậm chí các các yếu tố khí hậu và đất đai có mối liên hệ với
nhau và được mô phỏng bằng các phương trình quan hệ. Các phương trình này được
sử dụng để xác định sinh khối và tích tụ các bon cho lâm phần.

Nhược điểm của phương pháp này là yêu cầu phải thu thập một số lượng nhất
định số liệu các nhân tố điều tra của lâm phần để có thể xây dựng được phương trình.
Tổng tiết diện ngang, mật độ là những nhân tố điều tra dễ đo đếm. Tuổi rừng cũng có
thể xác định ở những lâm phần được quản lý tốt hoặc có thể ước lượng từ chiều cao
tầng trội. Tuy nhiên, những giá trị này thông thường không được chỉ ra ở các nghiên
cứu sinh khối. Các biến khí hậu và tính chất đất cũng có thể được sử dụng để xây dựng
các phương trình tương quan cho lâm phần, nhưng rất khó khăn để thu thập được
những số liệu này.
9


(5) Phương pháp dựa trên số liệu cây cá lẻ
Hầu hết các nghiên cứu từ trước cho đến nay về sinh khối và tích tụ các bon là
dựa trên kết quả nghiên cứu của cây cá lẻ, trong đó có hàm lượng các bon trong các bộ
phận của cây. Theo phương pháp này, sinh khối cây cá lẻ được xác định từ mối quan
hệ của nó với các nhân tố điều tra khác của cây cá lẻ như chiều cao, đường kính ngang
ngực, tiết diện ngang, thể tích hoặc tổ hợp của các nhân tố này của cây.
Y (sinh khối, tích tụ các bon) = f (nhân tố điều tra cây cá lẻ).
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về sinh khối được thực hiện theo
phương pháp này, vì thế kết hợp được những thông tin có sẵn này để xây dựng các mối
quan hệ tổng thể cho lâm phần từ đó xác định khả năng tích tụ các bon của rừng là rất
quan trọng.
(6) Phương pháp dựa trên vật liệu khai thác
Lượng các bon mất đi từ rừng từ khai thác kinh tế được tính bằng công thức:
C = H. E. D;
Trong đó H là thể tích gỗ tròn khai thác được; D là tỷ trọng gỗ và E là hệ số
chuyển đổi từ tổng sinh khối khai thác từ rừng. Từ đó tính được sinh khối, lượng các
bon và động thái quá trình này, đặc biệt sau khai thác. Phương pháp này thường được
sử dụng để ước lượng lượng các bon bị mất do khai thác gỗ thương mại. Vì thế nó
giúp cho việc tính tổng lượng các bon của rừng và động thái của biến đổi các bon

trong rừng.
(7) Phương pháp dựa trên mô hình sinh trưởng
Mô hình sinh trưởng từ những biểu đồ đơn giản nhất cho đến những phần mềm
máy tính phức tạp đã và đang là những công cụ quan trọng trong quản lý rừng. Sinh
khối và tích tụ các bon có thể được xác định bằng mô hình sinh trưởng. Trên thế giới
đã có rất nhiều mô hình sinh trưởng đã được phát triển và không thể tìm hiểu được
phương pháp cụ thể của mỗi mô hình. Vì vậy cần phải xác định được những điểm
chung để phân loại mô hình. Rất nhiều tác giả đã cố gắng phân loại mô hình theo các
nhóm khác nhau với những tiêu chuẩn khác nhau. Có thể phân loại mô hình thành các
dạng chính sau đây:

10


1. Mô hình thực nghiệm/thống kê dựa trên những đo đếm của sinh trưởng và
các điều kiện tự nhiên của thời điểm đo đếm mà không xét đến các quá trình sinh lý
học.
2. Mô hình động thái: mô hình sinh lý học mô tả đầy đủ các cơ chế hóa sinh, lý
sinh trong hệ sinh thái và sinh vật.
3. Mô hình hỗn hợp: kết hợp phương pháp xây dựng hai loại mô hình trên đây
để xây dựng mô hình hỗn hợp.
Cho đến nay trên thế giới đã có rất nhiều mô hình động thái hay mô hình hỗn
hợp được xây dựng để mô phỏng quá trình phát triển của hệ sinh thái rừng như
BIOMASS, ProMod, 3 PG, Gen WTO, CO2Fix, CENTURY…
Mô hình CO2Fix có khả năng áp dụng cho các nước đang phát triển chưa có
điều kiện thực hiện và thu thập số liệu trên các thí nghiệm, ô định vị lâu năm. Mô hình
này đã được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với các mô hình khác để điều tra tích tụ các
bon và động thái qui mô lâm phần cho đến qui mô quốc gia như các nước châu Âu,
Australia, Indonexia, Costa Rica … Vì vậy có thể sử dụng mô hình này vào điều tra
các bon, động thái quá trình này ở hệ sinh thái rừng ở Việt Nam.

(8) Phương pháp dựa trên công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý
Phương pháp này sử dụng các công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý
(GIS) với các công cụ như ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, laze, rada, hệ thống định vị
toàn cầu (GPS)… để đo đếm lượng các bon trong hệ sinh thái và biến đổi của chúng.
Nó thường được áp dụng cho các điều tra ở phạm vi quốc gia hoặc vùng và cũng rất
phù hợp cho việc kiểm tra, giám sát của các dự án sử dụng đất, chuyển đổi sử dụng đất
và lâm nghiệp (LULUCF). Tuy nhiên, với qui mô dự án, đặc biệt là dự án CDM qui
mô nhỏ - thường có ở các nước đang phát triển, diện tích đất của các chủ rừng không
lớn, phương pháp này không thích hợp lắm vì sai số lớn và không dễ thực hiện do đòi
hỏi các nguồn lực đầu vào như thiết bị xử lý, nhân lực trình độ cao...
2.1.2.3 Nghiên cứu tích tụ các bon trên thế giới
MacDicken. K.G. (1997) đã có công trình “Hướng dẫn theo dõi sự tích lũy các
bon ở các dự án trồng rừng và hệ thống nông lâm kết hợp”. Hướng dẫn này mô tả một
cách hệ thống những phương pháp với mức chi phí thấp để theo dõi sự tích lũy các bon
với 3 kiểu sự dụng đất: rừng trồng, rừng tự nhiên, hệ thống Nông Lâm kết hợp. Hệ
11


thống đánh giá sự thay đổi các bon trong bốn bể chứa chính, đó là: sinh khối trên mặt
đất, sinh khối dưới mặt đất, đất và lớp vật rụng.
Joyotee Smith và Sara J. Scherr (2002) đã định lượng được lượng các bon lưu
giữ trong các kiểu rừng nhiệt đới và trong các loại hình sử dụng đất ở Brazin,
Indonêxia và Camerron, bao gồm trong sinh khối thực vật và dưới mặt đất từ 0 – 20
cm. Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng các bon lưu trữ trong thực vật giảm dần từ
kiểu rừng nguyên sinh đến rừng phục hồi sau nương rẫy và giảm mạnh đối với các loại
đất trong nông nghiệp. Trong khi đó phần dưới mặt đất lượng các bon ít biến động
hơn, nhưng cũng có xu hướng giảm dần từ rừng tự nhiên đến đất không có rừng (Phạm
Tuấn Anh, 2006 trích dẫn).

Hình 2.1: Lượng các bon tích lũy trong các kiểu rừng (Bảo Huy, 2007)

Ong và cs (2005) đã nghiên cứu sinh khối để đánh giá lượng các bon tích lũy
trong sinh khối của rừng trồng 2 loài cây bạch đàn và keo, quần thể cây bụi và thảm cỏ
ở một vùng khí hậu khô hạn, Nyaung U, Myanmar. Kết quả cho thấy, khả năng tích
lũy các bon trong sinh khối của rừng, cây bụi và thảm cỏ ở vùng khô hạn thấp hơn
nhiều so với những vùng có khí hậu mát hơn (dẫn bởi Nguyễn Thị Hà, 2007).

12


2.1.2.4 Nghiên cứu tích tụ các bon ở Việt Nam
Ngô Đình Quế và cs (2006) đã nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 của một số
loại rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam. Theo tác giả phương pháp chung để đánh giá khả
năng hấp thụ CO2 là tính toán và dự báo sinh khối khô của rừng trên đơn vị diện tích
(tấn/ha) tại một thời điểm trong quá trình sinh trưởng. Từ đó tính trực tiếp lượng CO2
hấp thụ và tồn trữ trong vật chất hữu cơ của rừng hoặc khối lượng các bon được tính
bình quân là 50% của sinh khối khô, rồi từ C lại suy ra CO2 theo phương pháp của
Morikawa. Y mà tổ chức JIFPRO sử dụng. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rừng keo
lai 3 – 12 tuổi với mật độ từ 800 – 1.350 cây/ha, năng suất từ 11,43 m3/ha/năm ở cây 3
tuổi và 24,21 m3/ha/năm ở cây 7 tuổi. Lượng CO2 hấp thụ dao động từ 60 tấn/ha tới
407,37 tấn/ha. Với rừng thông nhựa với nhiều độ tuổi khác nhau từ 5 đến 25 tuổi có
năng suất khác nhau từ 1,64m3/ha/năm tới 8,67m3/ha/năm. Lượng CO2 hấp thụ từ 18,1
tấn/ha đến 467,69 tấn/ha. Ở các rừng bạch đàn Uro 3 – 12 tuổi với mật độ trung bình
1200 – 1800 cây/ha có năng suất rừng dao động từ 15,42 – 24,46 m3/ha/năm, tuổi rừng
đạt năng suất cao là 4 – 5 tuổi. Lượng CO2 hấp thụ trong sinh khối tăng từ 107,87
tấn/ha ở cây 3 tuổi đến 378,71 tấn/ha ở cây 12 tuổi.
Vũ Tấn Phương (2006), đã nghiên cứu trữ lượng các bon thảm tươi và cây bụi
tại các vùng đất không có rừng ở các huyện Cao Phong , Đông Bắc, Hà Trung, Thạch
Thành, Ngọc Lạc, tỉnh Thanh Hóa. Tác giả tiến hành nghiên cứu 5 dạng cỏ là cỏ chỉ,
cỏ lông lợn, cỏ lá tre, lau lách và tế guột; cây bụi gồm cây dưới 2 m và cây cao 2 – 3
m. Tác giả đã tính trữ lượng các bon thông qua việc xác định sinh khối tươi và khô của

thảm tươi và cây bụi. Kết quả thu được cho thấy lau lách có trữ lượng các bon cao 20
tấn/ha, cây bụi 2 – 3 m khoảng 14 tấn/ha. Cỏ chỉ, cỏ lông lợn có lượng các bon thấp
nhất khoảng 3,9 tấn/ha.
Nguyễn Viết Khoa, Võ Đại Hải (2007) “Nghiên cứu khả năng tích tụ các bon
của một số rừng trồng keo lai thuần loài tại một số tỉnh phía Bắc”. Kết quả cho thấy,
tổng lượng các bon tích lũy trong lâm phần keo lai thuần loài rất lớn, dao động từ 49,6
- 113,8 tấn/ha, trong đó các bon tích lũy trong đất chiếm 67,9% và các bon tầng cây gỗ
chiếm 27,5%, các bon trong vật rơi rụng chiếm 3,1%, trong cây bụi thảm tươi là 1,5%.
Lượng các bon tích lũy trong lâm phần Keo lai theo các cấp đất và cấp tuổi khác nhau
là khác nhau.Thông thường ở cấp đất tốt hơn, tuổi cao hơn, mật độ rừng lớn hơn thì
13


lượng các bon tích lũy sẽ lớn hơn. Các phương trình tương quan lập được đều cho thấy
lượng các bon tích lũy trong toàn lâm phần, trong cây cá thể keo lai với các nhân tố
điều tra lâm phần; giữa lượng các bon tích lũy và sinh khối tươi, sinh khối khô cây cá
thể keo lai, cây bụi thảm tươi, vật rơi rụng đều có mối quan hệ từ tương đối chặt đến
rất chặt.
2.2 Thảo luận về tổng quan vấn đề nghiên cứu
Các tài liệu nghiên cứu trên đây cần thiết cho quá trình thực hiện đề tài, trên cơ
sở kế thừa một số phương pháp nghiên cứu, lý luận mà các tác giả đã đúc kết được.
Việc nghiên cứu tích tụ các bon của rừng là một vấn đề mới được quan tâm, đặc
biệt vấn đề nghiên cứu khả năng tích tụ các bon cho rừng tự nhiên trên thế giới chỉ mới
có vài công trình nghiên cứu, còn ở Việt Nam hầu hết các nghiên cứu đều thực hiện ở
rừng trồng của các dự án CDM .
Theo phân loại của IPCC (2006), các bể chứa các bon trong một trạng thái thảm
thực vật bao gồm: sinh khối trên mặt đất, thảm mục, gỗ chết, vật rơi rụng, sinh khối
dưới mặt đất (trong hệ thống rễ có đường kính ≥ 2 mm) và các bon hữu cơ trong đất.
Việc định lượng khả năng tích tụ các bon của tất cả các bể các bon rất phức tạp nên
hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào xác định các bon của lớp bề mặt đất.

Thị trường các bon đã và đang diễn ra rất sôi động trên thị trường thế giới, đặc
biệt là ở châu Âu. Tuy nhiên việc mua bán này đang dựa trên cơ sở chi phí hạn chế khí
phát thải mà chưa có cơ sở khoa học trong việc tính toán năng lực hấp thụ CO2 của
rừng tự nhiên. Trong nước, mặc dù Việt Nam tham gia nghị định thư Kyoto nhưng vấn
đề này hiện đang còn bỏ ngỏ, thiếu các thông tin cũng như cơ sở khoa học, phương
pháp tính toán, dự báo lượng CO2 hấp thụ làm cơ sở tham gia thị trường các bon toàn
cầu.
Hiện nay các nhà khoa học đã đưa ra áp dụng nhiều phương pháp định lượng
khả năng tích tụ các bon của rừng từ việc đo gián tiếp đến việc đo đếm trực tiếp bằng
các thiết bị và công nghệ hiện đại. Tuy nhiên phương pháp được áp dụng nhiều nhất
vẫn là xác định khả năng tích tụ các bon dựa vào sinh khối khô. Phương pháp này đơn
giản, dễ thực hiện, giảm được chi phí trong điều tra rừng. Đề tài sử dụng phương pháp
này để định lượng khả năng tích tụ các bon của rừng tự nhiên thông ba lá tại Lạc
Dương, Lâm Đồng.
14


×