ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH
BAN CHẤP HÀNH TP. HỒ CHÍ MINH
----------------
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƯỞNG SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC EUREKA
LẦN THỨ XVIII NĂM 2016
TÊN CÔNG TRÌNH:
HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA
TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN
LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU: XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số công trình:…………………….
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA
TRONG TÙY BÚT NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN
Tóm tắt
Hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ văn chương,
nó tựa như là một biện pháp tu từ được các các nhà văn, nhà thơ ưa thích sử dụng. Tùy
bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân hấp dẫn người đọc bởi những kết hợp ngôn
từ độc đáo do một số lượng lớn các từ ngữ đã được chuyển nghĩa, chuyển trường. Sự
chuyển dịch này tạo ra nhiều giá trị biểu đạt mới cho tác phẩm trong việc khắc họa hình
tượng con sông Đà, người lái đò sông Đà cũng như qua đó để thể hiện tài năng và phong
cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
1.Đặt vấn đề
Chuyển trường nghĩa là một hiện tượng khá đặc biệt trong sử dụng ngôn ngữ. Chuyển
trường nghĩa gợi cho người đọc những liên tưởng phong phú mới lạ ẩn sau những vỉa
tầng ngôn từ. Vì vậy, chuyển đổi trường từ vựng có thể được coi là một biện pháp tu từ
hiệu quả trong sáng tác văn chương. Tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
được rút từ tập tùy bút Sông Đà (1960) là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật
và tài năng của Nguyễn Tuân. Người lái đò sông Đà không chỉ thôi miên người đọc vào
mê cung của cảnh vật sông Đà, những con người lao động bình dị trên sông nước mà còn
hấp dẫn bởi những kết hợp ngôn từ độc đáo mang đậm nét tài hoa, uyên bác. Nguyễn
Tuân đã khéo léo gắn kết các từ ngữ thuộc nhiều trường nghĩa khác nhau tạo ra nhiều
kiểu chuyển nghĩa, chuyển trường. Tìm hiểu hiện tượng chuyển trường nghĩa trong đoạn
trích “Người lái đò sông Đà”, chúng tôi mong muốn góp phần làm sáng tỏ hiện tượng
chuyển trường nghĩa trong ngôn ngữ nói chung và trong đoạn trích “Người lái đò sông
Đà” nói riêng. Đồng thời kết quả thống kê, phân loại của bài viết cũng góp phần làm
phong phú thêm ngữ liệu cho việc dạy văn trong nhà trường phổ thông. Đây cũng là việc
làm cần thiết góp phần hình thành kĩ năng lĩnh hội văn bản, đổi mới phương pháp dạy
học tích hợp Văn - tiếng Việt trong chương trình giáo dục phổ thông.
2.Nội dung
2.1. Sự chuyển dịch trường nghĩa và hiệu quả của sự chuyển trường
Sự chuyển trường nghĩa là hiện tượng "một từ ngữ thuộc một trường ý niệm này được
chuyển sang dùng cho các sự vật thuộc một trường ý niệm khác"[1;68]. Sự chuyển nghĩa
trên của từ chính là cơ sở của sự chuyển trường nghĩa của từ. Không phải bất cứ hiện
tượng chuyển nghĩa nào cũng dẫn đến sự chuyển trường nghĩa của từ, nhưng có thể
khẳng định, sự chuyển trường nghĩa bắt đầu từ sự chuyển nghĩa của từ. Bởi vì, từ chuyển
nghĩa- nội dung biểu thị của từ thay đổi- thì từ cũng chuyển sang trường nghĩa mới tương
ứng với nội dung biểu thị mới của nó.
Tác dụng đầu tiên của hiện tượng chuyển trường nghĩa đối với ngôn ngữ là làm giàu
vốn từ vựng. Khi một từ chuyển trường nó biến thành từ đa nghĩa, từ vẫn giữ nguyên
hình thức ngữ âm cũ nhưng lại mang một nội dung mới hay nghĩa mới, nội dung mới này
luôn có quan hệ tương sinh với nội dung cũ (nghĩa cũ, nghĩa gốc) của từ. Từ càng chuyển
qua nhiều trường nghĩa thì càng mang nhiều nghĩa mới- nội dung biểu đạt của nó càng
phong phú. Sự chuyển trường nghĩa của từ không chỉ có tác dụng làm giàu cho vốn từ
vựng, đáp ứng nhu cầu giao tiếp của con người mà còn góp phần làm tăng khả năng diễn
đạt, tăng sức biểu cảm của ngôn ngữ. Khi từ chuyển trường nghĩa, ngoài những giá trị
biểu đạt mới xuất hiện ở trường nghĩa mới, từ còn giữ được ấn tượng ngữ nghĩa vốn có ở
trường nghĩa cũ. Đặc tính này làm cho giá trị biểu đạt của từ càng phong phú.
Như vậy, hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng phổ biến trong ngôn ngữ văn
chương hiện đại. Nó tựa như là một biện pháp tu từ, tạo ra những cách hiểu đầy thú vị,
bất ngờ. Khi chuyển trường nghĩa, từ không chỉ mang dấu ấn của trường nghĩa mới đang
chứa nó mà còn mang dấu ấn của trường nghĩa cũ đã chứa nó. Sự cộng hưởng của hai
trường nghĩa này đưa đến cho từ một nội dung mới. Để cắt nghĩa đầy đủ nội dung mới
của từ, người tiếp nhận phải huy động những hiểu biết của mình về hai trường nghĩa mà
từ đã và đang có mặt cộng với những liên tưởng do từ gợi ra. Trong tác phẩm Người lái
đò Sông Đà Nguyễn Tuân đã chuyển trường hàng loạt các từ ngữ để phục vụ đắc lực
trong việc khắc họa hình ảnh con Sông Đà và hình ảnh người lái đò.
2.2.Sự chuyển dịch trường nghĩa trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
Qua khảo sát, tôi nhận thấy có 110 trường hợp chuyển đổi trường nghĩa trong Người
lái đò Sông Đà. Dựa vào nét nghĩa chung nhất của các trường nghĩa và sự chuyển đổi
trường nghĩa của các đơn vị từ trong tác phẩm tôi nhận thấy rằng trong tác phẩm Người
lái đò Sông Đà hiện tượng chuyển trường nghĩa xảy ra chủ yếu là từ trường nghĩa người
chuyển qua trường chỉ sự vật (sông nước); ngoài ra còn có từ trường nghĩa động vật sang
trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước) cụ thể như sau.
2.2.1.Trường nghĩa con người chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước)
Trong Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, số lượng từ được chuyển từ trường
nghĩa con người (bộ phận cơ thể người, tính cách, hành động) qua trường nghĩa chỉ sự vật
là lớn nhất (101 từ), nó được thể hiện cụ thể như sau:
STT
1
Từ được chuyển
trường nghĩa
Bụng
Số lần
5
Ngữ cảnh
Không phải người lái đò Sông Đà
không biết rằng cái thuyền bụng chửa thì
chứa được nhiều hàng.
Nhưng bụng thuyền mà to thì không
lách qua được luồn nước hẹp thắt chịt lại
giữa của đá; cho nên cái thuyền then đuôi
én mới dài mình, mới thắt bụng lại như
một cô thiếu nữ thít chặt cạp xiêm chưa
muốn vội làm người mẹ.
Quãng này mà khinh suất tay lái thì
cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
Sóng nước như thể quân liều mạng vào
sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng
và hông thuyền.
2
Mặt
2
Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ
ngược...
...Mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến
ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè
thất vọng...
3
Hông, gối
1
Sóng nước như thể quân liều mạng
vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào
bụng và hông thuyền.
4
Mình
1
Dòng sông vặn mình vào một cái bến
cát có hang lạnh.
5
Tóc
3
Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như
một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn
hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa
ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù
khói núi mèo đốt nương xuân.
6
Nhăn nhúm, méo mó
1
Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ
ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó
hơn cả mặt nước chỗ này.
7
Bệ vệ, oai phong lẫm 1
liệt
Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm
thanh viện cho đá, những hòn đá bệ vệ
oai phong lẫm liệt.
8
Hung ác
Và từ Vạn Yên về đến Chợ Bờ, Hòa
Bình, dòng sông lại lố nhố một số thác
khác nó vẫn dọa người trên thuyền, nhưng
tính chất đã bớt hung ác hơn cái đám thác
1
Sơn La Lai Châu.
9
Độc dữ, nham hiểm
1
Vào loại độc dữ nham hiểm nhất là
các thác Mằn Hi Mằm Thẳm, Hát Nhạt
Hát Lai, Soong Pút Soong Mon, Hát
Moong Hát Tiếu.
10
Nghênh ngang, vô ý
1
Nhiều bè gỗ rừng nghênh ngang vô ý
là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột
xuống.
11
Tâm địa
1
...Một thứ thiên nhiên Tây Bắc có
nhiều lúc trông nó thành ra diện mạo và
tâm địa một thứ kẻ thù số một.
12
Ngỗ ngược
1
Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ
ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó
hơn cả cái mặt nước chỗ này.
13
Làm mình làm mẩy, 1
giận dỗi vô tội vạ
...Cái con sông hàng năm và đời đời
kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con
người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi vô
tội vạ với người lái đò sông Đà .
14
Lắm bệnh lắm chứng, 1
dịu dàng, bẳn tính
Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông
Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp
lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy
mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc
dịu dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt
gỏng thác lũ ngay đấy.
15
Ác
1
Con sông đã ác như người dì ghẻ,
chúa đất chia bến ngăn sông càng làm cho
Sông Đà ác thêm.
16
Oán trách, van xin, 1
khiêu khích, giọng
gằn, chế nhạo
Tiếng nước thác nghe như là oán
trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như
là khiêu khích, giọng gằn và chế nhạo.
17
Tiu nghỉu
1
...Mặc dầu cái thằng đá tướng đứng
chiến ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh
lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng
vào của sinh nó trấn lấy.
18
Gắt gỏng
1
Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông
Đà, đúng thế, nó đằm đằm ấm ấm như gặp
lại cố nhân, mặc dầu người cố nhân ấy
mình biết là lắm bệnh lắm chứng, chốc dịu
dàng đấy, rồi chốc lại bẳn tính và gắt
gỏng thác lũ ngay đấy.
19
Dọa
1
Và từ Vạn Yên về đến Chợ Bờ, Hòa
Bình, dòng sông lại lố nhố một số thác
khác nó vẫn dọa người trên thuyền, nhưng
tính chất đã bớt hung ác hơn cái đám thác
Sơn La Lai Châu.
20
Lật ngửa
1
Quãng này mà khinh suất tay lái thì
cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.
21
Thở, kêu
1
Nước ở đây thở và kêu như cửa cống
cái bị sặc.
22
Lôi
1
Nhiều bè gỗ rừng nghênh ngang vô ý
là những cái giếng hút ấy nó lôi tuột
xuống.
23
Réo
2
Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi
lại réo to mãi lên.
24
Mai phục
1
Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục
hết trong lòng sông.
25
Nhổm, vồ
1
...Hình như mỗi lần có chiếc thuyền
nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh
hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào
đường ngoặt sông là một số hòn bèn
nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền.
26
Đứng, ngồi, nằm
1
...Những hòn những tảng mới trông
tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tùy
theo sở thích tự động của đá to đá bé.
27
Giao việc, bày thạch 1
trận
Nhưng hình như Sông Đà đã giao việc
cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày
thạch trận trên sông.
28
Chia, chặn
đòi, ăn chết
ngang, 1
Đá tảng đá hòn chia làm ba hàng
chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái
thuyền.
29
Canh, dụ, đi vào, 1
Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa
đánh khuýp quật vu
hồi
đá trông như là sơ hở, nhưng chính hai
đứa giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương
đi vào sâu nữa, vào tận tuyến giữa rồi
nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu
hồi lại.
30
Chọc thủng, đánh tan, 1
tiêu diệt
Nếu lọt vào đây rồi mà cái thuyền du
kích ấy vẫn chọc thủng được tuyến hai,
thì nhiệm vụ của những boong-ke chìm và
pháo đài đá nổi ở tuyến ba phải đánh tan
cái thuyền lọt lưới đá, phải tiêu diệt tất cả
thuyền trưởng thủy thủ ngay ở dưới chân
thác.
31
Dàn bày
1
Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái
thuyền vụt tới.
32
Reo, hò
2
Phối hợp với đá, nước thác reo hò làm
thanh viện cho đá...
Chỉ còn vẳng reo tiếng hò của sóng
thác luồng sinh.
33
Hất hàm, hỏi
1
Một hòn ấy trông nghiêng thì y như là
đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng
tên tuổi trước khi giao chiến.
34
Lùi lại, tiến gần vào
1
Một hòn khác lùi lại một chút và thách
thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào.
35
Hò la, ùa vào, bẻ gãy
1
Mặt nước hò la vang dậy quanh mình,
ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên
cánh tay mình.
36
Đá trái, thúc gối, đội
1
Sóng nước như thể quân liều mạng
vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào
bụng và hông thuyền. Có những lúc chúng
đội cả thuyền lên.
37
Bám, túm, đòi, lật 1
ngửa
Nước bám lấy thuyền như đồ vật túm
thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra
giữa trận nước vang trời thanh la não bạt.
38
Đánh, bóp chặt
Sóng thác đã đánh đến miếng đòn
hiểm độc nhất, cả cái luồng nước vô sở
1
bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò.
39
Xô, xô ra
4
Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng,
dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng,
sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè
suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất
cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được
qua đấy.
Bốn năm bọn thủy quân của ải nước
bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi
vào tập đoàn của tử.
40
Níu, lôi
1
Bốn năm bọn thủy quân của ải nước
bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi
vào tập đoàn của tử.
41
Vặn
1
Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát
có hang lạnh.
42
Hàng tiền vệ
1
Hàng tiền vệ, có hai hòn canh một cửa
đá...
43
Thủy quân
1
Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước
bên bờ trái liền xô ra định níu thuyền lôi
vào tập đoàn của tử.
44
Tướng
1
...Mặc dầu cái thằng đá tướng đứng
chiến ở của vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh
lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng
vào của sinh nó trấn lấy.
45
Hậu vệ
1
Cái luồng sống ở chặng ba này lại ở
ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác.
46
Tai tiếng
1
Tên những con thác tai tiếng này, tất
cả những người lái đò Sông Đà, vào bậc
chân chính đều thuộc lòng như người
chài biển thuộc kỳ con nước sinh con nước
rút thủy triều.
47
Khai sinh, xin nhập 1
quốc tịch, trưởng
thành
Sông Đà khai sinh ở huyện Cảnh
Đông tỉnh Vân Nam, lấy tên là Ly Tiên
(theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tên
Trung Quốc của Sông Đà lại là Bả Biên
Giang) mà đi qua một vùng núi ác, rồi đến
gần nửa đường thì xin nhập quốc tịch
Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến
ngã ba Trung Hà thì chan hòa vào Sông
Hồng.
48
Tan xác
1
...Thuyền trồng ngay cây chuối ngược
rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới
lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan
xác ở khuỷnh sông dưới.
49
Sở thích
1
Mặt sông trắng xóa càng làm bật rõ
lên những hòn những tảng mới trông
tưởng như nó đứng nó ngồi nó nằm tùy
theo sở thích tự động của đá to đá bé.
50
Du kích
1
Nếu lọt vào đây rồi mà cái thuyền du
kích ấy vẫn chọc thủng được tuyến hai, thì
nhiệm vụ của những boong-ke chìm và
pháo đài nổi ở tuyến ba phải đánh tan cái
thuyền lọt lưới đá tuyến trên, phải tiêu diệt
tất cả thuyền trưởng thủy thủ ngay ở chân
thác.
51
Thách thức
1
Một hòn khác lùi lại một chút và
thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần
vào.
52
Hỗn chiến
1
Tăng thêm mãi là tiếng hỗn chiến của
nước, của đá thác.
53
Phục kích
1
Ông đã thuộc quy luật phục kích của
lũ đá nơi ải nước hiểm trở này.
54
Thất vọng
1
Chúng vẫn không ngớt khiêu khích,
mặc dầu cái thằng đá tướng đứng chiến ở
cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất
vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào
cửa sinh nó trấn lấy.
55
Gợi cảm
1
Con Sông Đà gợi cảm.
Bảng 1: Trường nghĩa con người chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước)
2.2.2.Trường nghĩa động vật chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước)
Không chỉ sử dụng từ ngữ chuyển từ trường chỉ người sang trường chỉ sự vật mà
Nguyễn Tuân còn chuyển từ ngữ từ trường chỉ động vật sang trường chỉ sông nước (4
lần) được thể hiện cụ thể như sau:
STT
Từ chuyển trường
nghĩa
Số lần
Ngữ cảnh
1
Gùn ghè
1
Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng,
dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng,
sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè
suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất
cứ người lái đò sông Đà nào tóm được
qua đấy.
2
Rống lên, gầm
1
Thế rồi nó rống lên như tiếng một
ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa
rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá
tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét
với đàn trâu da cháy bùng bùng.
3
Cái bờm
1
Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng
luồng rồi, ông đò ghì cương lái...
Bảng 2: Trường nghĩa động vật chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật (sông nước)
Nhờ việc chuyển đổi từ ngữ từ trường nghĩa con người, động vật chuyển qua trường
chỉ sự vật đã đem lại giá trị biểu đạt cao cho tác phẩm, hình ảnh con sông Đà hiện lên đầy
ấn tượng với những nét hung bạo và trữ tình. Trên nền thiên nhiên ấy hình ảnh người lái
đò hiện lên hết sức độc đáo, qua đó ta thấy được tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân
trong việc sử dụng ngôn ngữ nói riêng và trong sáng tạo nghệ thuật nói chung.
2.3. Giá trị biểu đạt của sự chuyển đối trường nghĩa trong Người lái đò Sông Đà
của Nguyễn Tuân
Với việc chuyển trường các từ ngữ khiến Sông Đà và hình ảnh người lái đò hiện lên
gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc. Con Sông Đà hiện lên như một sinh thể sống động
có diện mạo, tính cách, nội tâm giống như con người. Nó là một nhân vật văn học có hai
tính cách cách nổi bật vừa hung bạo dữ dội, lại vừa trữ tình nên thơ. Càng khắc họa con
Sông Đà ấn tượng bao nhiêu thì hình ảnh người lái đò lại nổi bật bấy nhiêu, qua việc sử
dụng từ ngữ ta thấy được tài năng cũng như phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân.
2.3.1. Vẻ đẹp hung bạo của Sông Đà qua việc chuyển trường nghĩa
Nguyễn Tuân đặc biệt ham mê cảm giác mạnh vì vậy đứng trước vẻ đẹp hùng vĩ của
Sông Đà ngòi bút của ông như cựa quậy sống động. Ông tung ra một đạo quân ngôn ngữ
rồi chuyển trường nghĩa các từ đó để miêu tả dòng sông với nét tính cách hung bạo dữ
tợn.
Nguyễn Tuân đã sử dụng những từ vốn dùng để chỉ các bộ phận của cơ thể con người
chuyển sang chỉ bộ phận của thuyền, đá, dòng sông (11 lần) điều này khiến cho sự vật
hiện lên giống như con người, chúng cũng có những bộ phận cơ thể khác nhau. Từ được
chuyển trường nhiều nhất là từ bụng nó là bộ phận tiếp giáp nhiều nhất với mặt nước của
thuyền, qua việc chuyển trường này nó thể hiện sự hiểu biết của tác giả về thuyền đi trên
Sông Đà cũng như cho thấy sự mạnh mẽ của Sông Đà bởi bụng thuyền là phần rộng và
vững trãi nhất của thuyền vậy mà khi đến dòng Sông Đà hung bạo nó cũng có nguy cơ bị
lật ngửa, bị mắc kẹt lại nơi đây. Không chỉ có các bộ phận như con người đá nước Đà
giang còn có những ngoại hình riêng.
Với việc chuyển trường các từ vốn dùng để chỉ ngoại hình của con người sang chỉ
ngoại hình của đá (3 lần) Nguyễn Tuân đã khiến mỗi hòn đá không chỉ có những bộ phận
cơ thể mà chúng còn có những diện mạo khác nhau. Qua đó ta thấy được rằng những hòn
đá trên sông Đà không phải là những sự vật vô tri mà chúng cũng có những đặc điểm
riêng gây được ấn tượng cho người đọc. Cùng với đó Nguyễn Tuân còn sử dụng những từ
chỉ tính cách phẩm chất của con người chuyển sang chỉ các sự vật trên Sông Đà. Qua
việc chuyển trường các từ chỉ tính cách, phẩm chất của con người sang chỉ sông, đá, thiên
nhiên…(11 lần) Nguyễn Tuân đã đem tới cho người đọc những cảm nhận thú vị, con
Sông Đà kia phải chăng chính là đứa con ngỗ nghịch của bà mẹ tạo hóa, chúng luôn hằn
học, gây hấn với con người; mỗi sự vật nơi đây đều có những tâm tư tình cảm riêng.
Việc chuyển trường nghĩa các từ vốn để chỉ trạng thái, tình cảm của con người chuyển
sang trường chỉ sự vật (7 lần) ta thấy đá nước trên sông Đà hiện lên thật độc đáo chúng
hiện lên với những tình cảm thật phức tạp cũng giống như con người lúc thì hung tợn dữ
dằn; nhưng lúc lại dịu dàng đằm thắm. Qua đó ta thấy được khả năng sử dụng từ ngữ
chính xác của Nguyễn Tuân, ông đã nắm bắt được đúng thần thái của sự vật từ đó gây
được ấn tượng mạnh với người đọc. Lũ đá nước trên Sông Đà còn gây ấn tượng bởi
những hoạt động giống như con người.
Đặc biệt Nguyễn Tuân đã huy động một đội quân ngôn ngữ hùng hậu chỉ các hoạt
động, hành động của con người chuyển sang chỉ các hoạt động của đá, nước (51 lần) để
tạo nên một mê hồn trận bằng đá linh hoạt biến hóa khôn lường. Đá tồn tại giống như con
người với đủ những cử chỉ hành động, Nguyễn Tuân đã thật tài tình khi dựng được khí
sắc của sự vật. Đá giống như một lũ côn đồ hiếu chiến, từ thuở khai thiên lập địa đã sinh
ra để gây hấn với con người; mỗi hòn đá, luồng nước nơi đây đều có một chức vụ, một
nhiệm vụ riêng.
Ông còn sử dụng những từ chỉ chức vụ nghề nghiệp của con người chuyển sang chỉ sự
vật (4 lần) tác giả đã khiến cho mỗi một hòn đá trên Sông Đà đều có những chức vụ và có
những nhiệm vụ riêng, chúng như đang bày binh bố trận để đánh lừa con thuyền vào chỗ
chết. Cùng với đó, Nguyễn Tuân đã sử dụng những từ chuyên dùng để chỉ con người
chuyển sang chỉ các sự vật trên Sông Đà.
Cuối cùng Nguyễn Tuân đã sử dụng những từ chuyên dùng cho con người chuyển
sang từ dùng để chỉ sự vật(11 lần), đây như là một nét vẽ cuối cùng mà ông cho sự vật
nơi đây chúng mang đầy đủ những bộ phận, những đặc điểm tính cách, trạng thái cũng
như những biểu hiện phức tạp của con người.
Không chỉ chuyển trường nghĩa các từ ngữ chỉ con người sang chỉ sự vật mà Nguyễn
Tuân còn chuyển cả những từ ngữ thuộc trường động vật sang trường chỉ sông nước (4
lần). Qua việc chuyển đổi trường nghĩa này ta thấy được con sông Đà giống như những
động vật nơi hoang dã khó thuần dưỡng, nó lúc nào cũng hung hăng dự tợn như đòi ăn
chết con người bất cứ lúc nào.
Như vậy với việc chuyển các từ thuộc trường con người, động vật chuyển sang trường
sự vật Nguyễn Tuân đã miêu tả thật sống động khung cảnh đá nước trên Sông Đà, chúng
đâu phải là những sự vật vô hồn, vô tri mà là những tên côn đồ hiếu chiến có sức mạnh
hoang dại, dữ dội, có dã tâm mưu mô sảo quyệt như dì ghẻ chúa đất sinh ra để gây hấn
với con người.
2.3.2. Vẻ đẹp trữ tình của con Sông Đà qua việc chuyển trường nghĩa
Sông Đà không chỉ hung bạo mà còn rất trữ tình nên thơ, tác giả đã miêu tả dòng sông
ở nhiều góc độ khác nhau, với việc chuyển trường nghĩa các từ ngữ (9 lần) Nguyễn Tuân
đã lột tả được vẻ đẹp gợi cảm và sống động của sông nước Đà giang.
Với việc chuyển trường nghĩa các từ vốn dùng để chỉ bộ phận và tính cách của con
người sang chỉ sự vật khiến cho nhìn từ trên cao xuống dòng sông như một áng tóc trữ
tình đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc; con Sông Đà gợi cảm; dịu dàng…
với việc sử dụng các từ ngữ chuyển trường đã khiến dòng Sông Đà hiện lên như một
người thiếu nữ đẹp, dịu dàng, duyên dáng, kiều diễm như ướp cả hương thơm quyến rũ
của núi rừng, mơ màng trong sương khói huyền thoại.
Nhà văn không coi Sông Đà như một vật vô tri mà cảm nhận dòng sông gợi cảm như
một cố nhân. Tác giả không kìm nén được cảm xúc khi gặp lại dòng sông sau bao ngày
xa cách: Chao ôi trông con sông vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa dầm, vui như nối
lại chiêm bao đứt quãng. Nó đằm đằm ấm ấm như gặp lại cố nhân đó là những hình ảnh
thật gần gũi thân thương. Đặc biệt Nguyễn Tuân còn tinh tế phát hiện ra màu nắng tháng
ba Đường thi: Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu. Đó là màu nắng thơ mộng mang theo
dư vị đầy lưu luyến, bịn rịn của tình bạn chân thành. Đó là một liên tưởng độc đáo khiến
cho dòng sông giống như một ngườ bạn tri kỉ, đồng thời dòng sông nhờ thế mà còn mang
vẻ đẹp cổ kính đầy chất thơ. Với những ngôn từ được sử dụng có độ chính xác cao thể
hiện một khả năng quan sát tinh tế, khả năng liên tưởng độc đáo Nguyễn Tuân đã mô tả
tài tình thần thái của con sông. Sông Đà như một người có nội tâm phức tạp, lúc trong
sáng bình yên, lúc bẳn gắt thác lũ.
Tóm lại ngôn ngữ Nguyễn Tuân đã lay con sông vô tri thức dậy, tưới linh hồn vào nó,
và ông khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đủ in luôn tính nết vào
đó: “hung bạo và trữ tình”. Nếu chỉ có một vế, con sông sẽ lười nhác trong đơn giản.
Tính cách sông Đà phải là một hệ thống những phẩm chất đối chọi nhau như nước với
lửa, và phải từ những nghịch lí nghịch âm ấy, con sông mới có điều kiện phô bày hết vẻ
phức tạp phong phú, đầy hấp dẫn của mình.
2.3.3. Vẻ đẹp của người lái đò qua việc chuyển trường nghĩa
Hình như Nguyễn Tuân tô đậm sức hấp dẫn của sông Đà là để ngầm đề cao ông lái đó
tài ba, nghệ sĩ. Để miêu ta cuộc giao tranh giữa người và thác dữ, Nguyễn Tuân huy động
gần 300 động từ trong đó có số lượng lớn từ được chuyển trường để đủ sức ganh tài cùng
con nước cuồng nộ Đà giang và trí lực ông lái phi thường. Trong các từ được chuyển
trường thì tần số động từ là đậm đặc nhất đặc biệt là ở trường đoạn hỗn chiến giữa người
và sông nước, khiến người đọc nghẹt thở. Cơn cuồng phong động từ xô lên cùng cơn
thịnh nộ sông Đà: rống lên, nhổm cả dậy, vồ lấy, đánh khuýp, reo hò, thúc, đội, túm, lật
ngửa, bóp chặt…Phía ông lái, động từ cũng hợp sức tạo nên thế cưỡi hổ tung hoành: nắm
chặt, ghì cương, bám chắc, phóng nhanh, lái miết, đè sấn, chặt đôi, phóng thẳng, chọc
thủng…. Hai hệ thống động từ đối chọi, tương phản gay gắt, đọng lại trong lòng người
đọc là một sông Đà được nhìn như một hung thần, gây cảm giác hãi hùng về cuộc quyết
đấu dữ dội giữa con người và thiên nhiên đã diễn ra nơi đây hàng bao thế kỉ. Với việc sử
dụng đắc lực những từ ngữ chuyển trường Nguyễn Tuân đã miêu tả một cuộc chiến gay
cấn, kịch tính cuối cùng ông đò đã chiến thắng bằng chính những khả năng và phẩm chất
của mình. Nguyễn Tuân đã tìm thấy ở con sông Đà và ở "tay lái ra hoa" đó cái chất vàng
mười của thiên nhiên núi rừng Tây Bắc.
Qua tùy bút Người lái đò Sông Đà ta thấy được tài năng của Nguyễn Tuân trong việc
sử dụng ngôn ngữ. Trong tác phẩm này các từ ngữ được ông chuyển trường nhiều nhất là
các động từ được chuyển từ trường con người sang trường chỉ sự vật để từ đó con Sông
Đà đâu còn là sự vật vô tri mà nó cũng có linh hồn, có hành động, có tâm tư tình cảm
giống như con người. Vẻ đẹp ngôn ngữ Nguyễn Tuân không đơn thuần là thứ trời cho
nhà văn phải lao động cật lực, trong đó có khổ công quan sát; liệu đã mấy ai đủ công phu
quan sát những biến đổi tinh vi đến thế của sông Đà, những so sánh biến hóa không trùng
lặp, những từ ngữ được sử dụng một cách chính xác, miêu tả sinh động hình ảnh của
thiên nhiên con người. Người đọc bị gây men bằng những đột ngột, người đọc sửng sốt vĩ
những so sáng lạ lẫm, những từ ngữ được chuyển trường độc đáo để rồi thán phục tài
năng và sự uyên bác của Nguyễn Tuân. Có thể coi Nguyễn Tuân là người đã nắm vững
“binh pháp của ngôn ngữ”. Với một ý thức ngôn từ mới mẻ, hiện đại, Nguyễn Tuân đã
truyền hồn cho chữ, chữ truyền hồn cho dòng sông, và dòng sông truyền xúc cảm vào
người đọc.
3.Kết luận
Xu hướng chuyển trường nghĩa trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân rất đa
dạng. Có thể là chuyển từ trường con người qua trường các sự vật, có thể là sự chuyển
đổi từ trường động vât sang trường chỉ sự vật. Trong các xu hướng chuyển trường nghĩa
thì xu hướng chuyển từ trường người qua trường chỉ sự vật có tần số cao nhất.
Sự chuyển trường nghĩa đưa đến cho ngôn ngữ văn chương của Nguyễn Tuân không
chỉ sự lạ hóa mà con đưa đến sự đa nghĩa trong ngôn từ. Sự lạ hóa được tạo bởi những
kết hợp phi logic giữa những từ thuộc các trường khác nhau để biểu hiện một nội dung
khác xa với cách hiểu thông thường. Một từ sẽ có hai hoặc hơn hai nội dung ngữ nghĩa.
Thậm chí có những nghĩa chỉ có được nhờ sự suy ra từ vốn hiểu biết và cả sự liên tưởng
phong phú của người tiếp nhận.
Như vậy hiện tượng chuyển đổi trường từ vựng là hiện tượng phổ biến trong sáng tạo
ngôn ngữ văn chương. Nó không chỉ tuân theo quy luật tiếp kiệm ngôn ngữ mà còn tuân
theo quy luật sáng tạo của con người. Nghiên cứu nó không chỉ giúp ta thấy được cái hay
của ngôn ngữ mà còn thấy được tài năng, phong cách của người sử dụng. Việc chuyển
trường nghĩa trong Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân đã khiến cho hình tượng
người lái đò và con Sông Đà hiện lên thật sống động, để lại dấu ấn đậm nét trong lòng
người đọc, qua đó ta cũng thấy được tài năng và phong cách của Nguyễn Tuân trong việc
sử dụng ngôn ngữ.
Lời cảm ơn
Để hoàn thành bản báo cáo Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong truyện ngắn
“Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình đã tân tình hướng dẫn giảng dạy trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn Cô giáo hướng dẫn TH.S Nguyễn Thị Hiền đã tận tình, chu
đáo hướng dẫn tôi thưc hiện báo cáo này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiên đề tài một cách hoàn chỉnh nhất. Song do
buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học cũng như hạn chế về kiến thức
và kinh nghiệm nên không thể trách khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa
thấy được. Tôi mong nhận được sự đóng góp của quý Thầy, Cô giáo để bản báo cáo được
hoàn chỉnh hơn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Hữu Châu (2004), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB ĐHSP Hà Nội.
2. Nguyễn Tuân (….), Tùy bút Sông Đà, NXB,….
3. />
nguoi-lai-do-song-da/.