Tải bản đầy đủ (.docx) (17 trang)

CÂU HỎI ÔN THI MAC_LÊNIN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (105.98 KB, 17 trang )

ÔN THI MAC 2
Câu 1: Theo W.Petty, có hai nguồn gốc tạo ra giá trị: lao động và tự nhiên. Quan
điểm này đúng hay sai? Vì sao?
+ W.Petty không trực tiếp trình bày lý luận về giá trị nhưng thông qua những luận điểm
của ông về giá cả có thể khẳng định ông là người đầu tiên đưa ra nguyên lý về giá trị lao
động
+ Nghiên cứu về giá cả, ông cho rằng có hai loại giá cả: giá cả tự nhiên và giá cả chính
trị.
Giá cả chính trị (giá cả thị trường) do nhiều yếu tố ngẫu nhiên chi phối, nên rất khó xác
định chính xác. Giá cả tự nhiên (giá trị) do hao phí lao động quyết định, và năng suất lao
động có ảnh hưởng tới mức hao phí đó.
+ Ông xác định giá cả tự nhiên của hàng hoá bằng cánh so sánh lượng lao động hao phí
để sản xuất ra hàng hoá với lượng lao động hao phí để tạo ra bạc hay vàng.
+ Theo ông giá cả tự nhiên (giá trị của hàng hoá) là sự phản ánh giá cả tự nhiên của
tiền tệ, cũng như ánh sáng mặt trăng là sự phản chiếu của mặt trời. Nhưng ông lại chỉ
thừa nhận lao động khai thác vàng là lao động tạo ra giá trị còn giá trị của hàng hoá chỉ
được xác định khi trao đổi với tiền.
+ Khi trình bày về mối quan của năng suất lao động đối với lượng giá trị hàng hoá:
Ông khẳng định giá cả tự nhiên (giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác
vàng bạc.
+ Một lý luận quan trọng của ông đó là: ông khẳng định: "lao động là cha của của cải
còn đất đai là mẹ của của cải", luận điểm này đúng nếu xem của cải là giá trị sử dụng,
song sẽ là sai nếu hiểu lao động và tự nhiên là nhân tố tạo ra giá trị. Ông đã tìm thước đo
thống nhất của giá trị là thước đo chung đối với tự nhiên và lao động, ông đưa ra quan
điểm "thước đo thông thường của giá trị là thức ăn trung bình hàng ngày của mỗi người,
chứ không phải là lao động hàng ngày của người đó". Với luận điểm này đã chứng tỏ ông
chưa phân biệt được rõ giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, chưa biết đến tính chất xã hội
của giá trị. Ngoài ra ông còn có ý định giải quyết mối quan hệ giữa lao động phức tạp và
lao động giản đơn nhưng không thành công.



Câu 2: A.Smith cho rằng: tiền lương, lợi nhuận và địa tô là cơ sở của các quan hệ
trao đổi. Quan điểm này đúng hay sai? Vì sao?
Lý luận về thu nhập:
Đây là điểm trung tâm và là cơ sở xuất phát giải quyết các vấn đề lý luận trong học
thuyết kinh tế của Adam Smith:
+ Lý luận về tiền lương:
- Ông quan niệm tiền lương là một phần thu nhập của công nhân làm thuê, là một phần
của sản phẩm lao động. Ông ủng hộ việc trả tiền lương cao.
- Hai yếu tố quyết định đến mức tiền lương là cầu về lao động và giá cả trung bình của
các tư liệu sinh hoạt, ông cũng đã phân biệt sự khác nhau giữa tiền lương thực tế và tiền
lương danh nghĩa.
+ Lý luận về lợi nhuận, lợi tức:
- Adam Smith chỉ rõ nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận: là một khoản khấu trừ do
công nhân tạo ra là kết quả của lao động đem lại.
- Về lợi tức ông cho rằng lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận, được đẻ ra từ lợi nhuận.
Lợi túc của tư bản cho vay được trả bằng cách lấy vào lợi nhuận thuần tuý và do mức lợi
nhuận thuần tuý quyết định.
- Ông cũng chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận như: tiền công, quy mô tư
bản, lĩnh vực đầu tư, cạnh tranh, sự can thiệp của nhà nước...
- Ông cũng là người chỉ ra xu hướng giảm xuống của tỷ suất lợi nhuận, và cho rằng tư
bản đầu tư ngày càng nhiều thì tỷ suất lợi nhuận càng thấp.
+ Lý luận về địa tô:
- Adam Smith có hai luận điểm về khái niệm địa tô: một là, địa tô là khoản khấu trừ
thứ nhất vào sản phẩm lao động, hai là, địa tô là khoản tiền trả về việc sử dụng đất đai,
phụ thuộc vào mức độ phì nhiêu của đất đai và việc người nông dân có khả năng trả tiền
cho ruộng đất.
- Về hình thức địa tô, Adam Smith đã phân biệt hai hình thái của địa tô chênh lệch I,
nhưng ông lại chưa nghiên cứu địa tô chênh lệch II.



Câu 3: Trong thời đại ngày nay, hai xu hướng phát triển của dân tộc biểu hiện ra
như thế nào? Ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với việc giải quyết vấn đề dân tộc ở
VN hiện nay?
Những năm đầu của thế kỷ XXI nền kinh tế thế giới phát triển theo các xu hướng sau
đây:
1.
Xu
hướng
quốc
tế
hoá
nền
kinh
tế
thế
giới
Nền kinh tế thế giới đang phát triển thành một thể thống nhất tuy vẫn bao gồm các mặt
đối lập và mâu thuẫn nhau.
Những quan hệ kinh tế toàn thế giới vốn có những sức mạnh không thể cưỡng lại. Thực
tế trong nhiều thập kỷ qua, kể từ khi chủ nghĩa xã hội ra đời, sự đối đầu giữa 2 hệ thống
kinh tế xã hội đã đưa nền kinh tế thế giới tới những nguy cơ to lớn chưa thể lường hết
được, trái với xu thế khách quan quốc tế hoá đang phát triển. Ngay trong thời kỳ chiến
tranh lạnh và đối đầu gay gắt, các quan hệ kinh tế Đông –Tây vẫn tồn tại bất chấp ý chí
của các chính phủ. Trong những điều kiện mới hiện nay, kinh tế các nước vừa phát triển
vừa tăng cường liên kết. Mỗi nước không chỉ tăng cường tiềm lực kinh tế của mình, mà
còn mở rộng buôn bán các nước khác.
Xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới phát triển trên cơ sở xuất hiện ngày càng nhiều
những vấn đề kinh tế toàn cầu, đòi hỏi phải có sự phối hợp chung để giải quyết các vấn
đề
đó.

Những
vấn
đề
cấp
bách
đăt
ra
là:
1.1 Vấn đề chiến tranh và hoà bình: Chính sách đối đầu buộc các quốc gia phải tăng
cường chi phí quốc phòng rất lớn và tác động rất xấu đến nền kinh tế của nhiều quốc gia,
đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Các nước tư bản chủ nghĩa phát triển gặp không
ít khó khăn do chính việc sản xuất và buôn bán vũ khí. Do đó, cuộc đấu tranh cho hoà
bình
chống
chiến
tranh, cắt giảm vũ khí hạt nhân là nhiệm vụ cấp bách của cả nhân loại, của mọi quốc gia
và các phong trào tiến bộ. Đó cũng là vấn đề có tính chất kinh tế toàn cầu.
1.2 Vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái: Đây là vấn đề đang được đặt ra như một vấn đề
toàn cầu nghiêm trọng. Sự phát triển của công nghiệp hoá, đô thị hoá cùng với sự gia tăng
dân
số qúa nhanh ở nhiều quốc gia làm cho chất thải độc hại ngày càng lớn. Trái Đất đang và
sẽ bị ô nhiễm nặng …Các quốc gia cần phải có sự phối hợp hành động để ngăn chặn
nguy cơ này.


1.3 Hệ thống tín dụng quốc tế: Hệ thống tín dụng quốc tế có liên quan đến mọi quốc gia,
được tất cả các nước quan tâm. Nền kinh tế thế giới đang bị đe doạ đẩy tới bờ vực thẳm
của những cuộc khủng hoảng tài chính. Hiện nay, trên thế giới có quá nhiều con nợ, nhất
là các nước đang phát triển không có khả năng trả nợ …nếu các nước này đang phá sản
thì

mọi
quốc
gia khác cũng chịu những tổn thất nặng nề và không thể lường trước được.
1.4 Vấn đề thương mại quốc tế cũng ngày càng trở nên gay gắt vì các quốc gia, kể cả các
nước đang phát triển ngày càng đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường thế giới… và tổ chức
thương mại thế giới WTO đã ra đời vào ngày 1.1.1995 để giải quyết những xu hướng tự
do hoá thương mại …sẽ có lợi cho mọi quốc gia thành viên.
1.5 Những vấn đề toàn cầu nghiêm trọng khác như vấn đề dân số, lương thực, khai thác
đại dương…ngày càng được đặt ra và thừa nhận là cấp bách, song về cơ bản chúng chưa
được giải quyết và biểu hiện ngày càng nghiêm trọng. Đây không phải là nhiệm vụ của
một quốc gia nào, mà không phải giải quyết trong phạm vi hẹp mà là nhiệm vụ chung của
tất cả các quốc gia trên toàn cầu.
Tính thống nhất của nền kinh tế hay xu hướng quốc tế hoá nền kinh tế phát triển trên cơ
sở mở rộng các quan hệ hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia. Trước đây những quan hệ
cùng có lợi dường như chỉ tồn tại trong quan hệ giữa các nước tư bản chủ nghĩa với các
nước đang phát triển chỉ là quan hệ bóc lột, áp bức dân tộc và thôn tính, xâm lược. Trong
quan hệ đông tây chỉ thấy sự đối đầu, chống phá nhau. Từ thực tế đấu tranh của các nước
đang phát triển đã buộc các nước phát triển phải xây dựng và mở rộng các quan hệ cùng
có lợi với mọi quốc gia.
Trong tình hình mới hiện nay, các nước có nền kinh tế phát triển muốn mở rộng thị
trường, nguồn vốn đầu tư, địa bàn chuyển nhượng những kỹ thuật truyền thống và hình
thành phân công lao động quốc tế thì phải mở rộng những quan hệ quốc tế cùng có lợi.
Đây chính là một phương hướng mới của các quan hệ kinh tế quốc tế, tạo ra cơ hội để các
quốc gia có điều kiện có thể mở rộng các quan hệ phụ thuộc vào nhau. Không thể phát
triển kinh tế bằng cách xây dựng một nền kinh tế khép kín, tự cô lập trong một nước,
thậm chí một nhóm nước.
Nền kinh tế khủng hoảng, sản xuất giảm sút, thất nghiệp cao và thiếu vốn đầu tư ở các
nước Đông Âu, sự tan rã và suy sụp nhanh chóng của nền kinh tế Liên Xô cũ đã cho thấy
rằng mô hình kinh tế tập trung quan liêu, đóng cửa không phù hợp với xu hướng toàn cầu
hoá nền kinh tế hiện nay. Nó khẳng định con đường phát triển của nền kinh tế thị trường

ở các nước đang phát triển cũng như đang tiến hành cải cách nền kinh tế theo hướng thị


trường. Ví dụ như Angiêri từ ngày 1/1/1992 nhà nước đã bỏ chính sách bao cấp giá, giá
hàng Angiêri chính thức thả nổi. Các nước kinh tế đang phát triển cũng đang tích cực tiến
hành nền kinh tế cho phù hợp với xu hướng mới này của thế giới.
Xu hướng liên kết toàn thế giới thành một thị trường thống nhất đang được đẩy mạnh
hơn. Nó phản ánh quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay.
2. Xu hướng nền kinh tế thế giới chuyển sang nền kinh tế có cơ sở vật chất kỹ thuật
mới
về
chất
một
nền
văn
minh
hậu
công
nghiệp.
Từ trước đến nay nền kinh tế thế giới vẫn đang hoạt động chủ yếu dựa vào những cơ sở
vật chất - kỹ thuật truyền thống. Trước yêu cầu phát triển của giai đoạn mới cơ sở này
ngày càng tỏ ra không đáp ứng được. Tại các nước công nghiệp phát triển, kỹ thuật cơ
khí hoá đã đạt trình độ cao và phổ biến các nguồn năng lượng dựa trên cơ sở sử dụng
nguyên liệu rắn và lỏng, các vật liệu kim khí… đều đã được tận dụng cao độ và nguồn
cung cấp chúng ngày càng hạn chế. Các quá trình công nghệ không liên tục ngày càng
không đáp ứng các yêu cầu phát triển, không gian lục địa đã tỏ ra không đủ cho một nền
kinh tế thế giới trong tương lai…
Thế kỷ XXI nền kinh tế trí tuệ đang được hình thành và phát triển. Đó là những người
máy công nghiệp sẽ thay thế bằng những người lao động. Các quá trình lao động trí óc
cũng được người máy thay thế. Các nguồn năng lượng mặt trời và nhiệt hạch… sẽ phổ

biến và thay thế cho những cho các nguồn năng lượng hiện có. Các chất siêu dẫn, siêu
cứng, siêu sạch, siêu bền… sẽ thay thế các vật liệu truyền thống. Công nghệ vi sinh, công
nghệ gen sẽ phát triển… Các công nghệ liên tục sẽ được sử dụng rộng rãi. Không gian
của nền kinh tế thế giới sẽ được mở rộng đến đáy Đại Dương và vũ trụ … Khi đó nền sản
xuất thế giới sẽ đảm bảo cung cấp hàng hoá dồi dào với chi phí rất thấp, các khu vực sản
xuất vật chất sẽ thu hẹp lại nhỏ bé so với các khu vực kinh tế trí tuệ.
Để có thể thực hiện bước quá độ sang một nền kinh tế mới, các nước trên thế giới dù
thuộc chế độ chính trị nào cũng phải có những thay đổi về cơ sở vật chất kỹ thuật và kiến
trúc thượng tầng, nhưng theo cách riêng của mình. Bất cứ quốc gia nào, muốn đạt được
sự phát triển và tiến nhanh trên con đường hiện đại hoá đều phải giải quyết hai vấn đề cơ
bản:
Một là, tạo ra phát minh mới trên các lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao (vi điện tử, năng
lượng, vật liệu, công nghệ) hoặc du nhập chúng và áp dụng nhanh chóng vào sản xuất.
Hai là, chuyển nhượng sang nơi khác các kỹ thuật trung gian và truyền thống.


Hai vấn đề này có Hối liên quan và đòi hỏi có sự phối hợp toàn cầu nếu không chuyển
nhượng các kỹ thuật trung gian truyền thống sang các quốc gia kém phát triển hơn thì các
tiến bộ kỹ thuật dù có đạt được cũng không có nơi sử dụng hoặc việc áp dụng có nhiều
hạn chế.
Các quốc gia có nền kinh tế phát triển, trình độ công nghiệp hoá cao coi khoa học công
nghệ là cốt lõi của biến đổi nền kinh tế. Các nước này áp dụng nhiều biện pháp để dành
được các ưu thế trong sáng tạo kỹ thuật công nghệ như: tăng cường quản lý nhà nước về
lĩnh vực nghiên cứu khoa học công nghệ, thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học công
nghệ và tăng cường đầu tư nghiên cứu khoa học, cải cách và chấn hưng giáo dục, bồi
dưỡng và thu hút nhân tài, thành lập các thành phố khoa học kỹ thuật cao.
Các nước phát triển, đặc biệt là Nhật Bản đã đạt được thành tựu kinh tế nổi bật còn nhờ
việc nhập bằng phát minh từ nước ngoài và đưa các bằng phát minh này vào ứng dụng
trong sản xuất. Nhật Bản trong 20 năm (1950-1970) đã nhập 11.606 bằng phát minh, vào
những năm gần đây khối lượng các bằng phát minh Nhật nhập vào còn nhiều hơn.

Việc chuyển nhượng các kỹ thuật trung gian và truyền thống ở các nước phát triển sang
các nước kém phát triển hơn. Nhờ đó mà các nước nghèo rút ngắn được chu kỳ đổi mới
kỹ thuật và thời gian hoàn vốn cho những kỹ thuật nhập khẩu. Cách thứ hai là áp dụng
kết cấu hai tầng trong công nghiệp. Tầng thứ nhất gồm các xí nghiệp lớn, hiện đại. Tầng
thứ hai gồm các xí nghiệp nhỏ và vừa kém hiện đại hơn. Các kỹ thuật được xem là cũ
luôn luôn được chuyển nhượng từ tầng thứ nhất sang tầng thứ hai. Nhật Bản đã thành
công trong việc chuyển nhượng kỹ thuật trung gian và truyền thống theo cả hai cách này.
Các nước NIC hiện cũng đang tìm một tầng công nghiệp thứ hai ở các công nghiệp nước
kém phát triển hơn.
Bước quá độ chuyển sang một nền kinh tế mới ở các nước kém phát triển. Để xây dựng
những ngành công nghiệp hiện đại cho nền kinh tế của mình đa số các quốc gia đi theo
hai hướng:
Một là, du nhập các kỹ thuật trung gian và truyền thống của các nước phát triển trên cơ
sở đó nhanh chóng bắt nhịp với trình độ hiện đại của nền sản xuất thế giới. Nam Triều
Tiên là nước đi theo con đường này.
Hai là, nhập các bằng phát minh sáng chế, nghiên cứu, ứng dụng chúng vào sản xuất để
tạo dựng cho mình một tầng công nghiệp hiện đại. Tầng công nghiệp truyền thống được
coi là tiền đề để áp dụng hướng thứ hai. Hướng thứ nhất càng mở rộng, càng mạnh thì
khả năng nghiên cứu ứng dụng và phát minh sáng chế càng lớn.


Các nước đang phát triển hiện đứng trước một thách thức mới. Đó là lợi thế của các quốc
gia này về nguồn nguyên liệu, nhưng tỷ trọng giao dịch nông sản phẩm khoáng sản trên
thị trường thế giới ngày càng giảm do cách mạng khoa học kỹ thuật công nghệ đang phổ
biến. Vì vậy, các nước đang phát triển phải áp dụng chính sách kinh tế mới, thực hiện
chính sách mở cửa với bên ngoài, tham gia cạnh tranh quốc tế, sử dụng những thành tựu
mới của khoa học kỹ thuật và dịch vụ quốc tế.
Những thay đổi về cơ cấu kinh tế thế giới dẫn tới những thay đổi về thị trường: thị trường
của hàng hoá có hàm lượng kỹ thuật cao và thị trường dịch vụ sẽ ngày càng mở rộng, còn
thị trường hàng hoá truyền thống sẽ ngày càng thu hẹp và cạnh tranh để tiêu thụ ngày

càng gay gắt.
Hiện nay, khu vực dịch vụ ở các nước phát triển chiếm khoảng 50 – 60% dân số lao động
và 60 – 65% tổng số sản phẩm quốc dân, khu vực công nghiệp chỉ còn chiếm khoảng
40% lao động, 30 -35% tổng sản phẩm quốc dân. Dự báo thế kỷ XXI khu vực dịch vụ ở
các nước này có thể tăng 70 – 80% dân số lao động và khu vực công nghịêp sẽ giảm đi
tương ứng, mà trong đó tỷ trọng của những ngành công nghiệp sản xuất ra hàng hoá có
hàm lượng khoa học kỹ thuật cao tăng lên và tỷ trọng của những ngành có hàm lượng
khoa học kỹ thuật trung gian sẽ giảm đi.
3. Xu hướng cải tổ và đổi mới nền kinh tế thế giới.
Một trật tự quốc tế mới đang được xác lập trên quy mô toàn cầu với những đặc trưng chủ
yếu là đối thoại và hợp tác xây dựng các khu vực hoà bình và ổn định, thực hiện các
nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau… Cuộc khủng
hoảng hệ thống XHCN trên thế giới, đặc biệt là sự sụp đổ của các nước Đông Âu, của
Liên Bang Xô viết năm 1991 đã chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh và đối đầu Đông – Tây
kéo dài trong 45 năm qua. Thế giới chuyển sang một thời kỳ mới – thời kỳ chạy đua phát
triển kinh tế. Việc xây dựng lại thể chế kinh tế toàn cầu, hay nói cách khác việc cải tổ và
đổi mới nền kinh tế thế giới là một nhu cầu cấp bách hiện nay nhằm thoả mãn được
những yêu cầu mới của sự phát triển sản xuất, phù hợp với diễn biến về mặt kinh tế chính
trị và thể chế xã hội.
Công cuộc cải tổ và đổi mới đang diễn ra sâu rộng ở tất cả các nước còn lại trong hệ
thống XHCN thế giới với những tên gọi khác nhau (Cải cách ở Trung Quốc, đổi mới ở
Việt Nam …) và với các mức độ khác nhau. Đây thực sự là cuộc cách mạng thay cũ, đổi
mới mà khi phát động các nước đã nêu rõ mục tiêu là đưa nền kinh tế và toàn bộ đời sống
xã hội sang một trạng thái mới về chất.


Các nước XHCN không thể phát triển như cũ. Những tư duy cũ, những thể chế cũ với mô
hình kinh tế kế hoạch, tập trung và đóng cửa ngày càng cản trở sự phát triển và đặt các
quốc gia này trước nguy cơ to lớn của cuộc khủng hoảng. Việc không thừa nhận những
quan hệ hàng hoá - tiền tệ dựa trên cơ chế thúc đẩy phát triển theo chiều rộng trong mô

hình XHCN tập trung quan liêu bao cấp không tạo lập được quá trình tự thân vận động để
tự cải biến mình về chất và khủng hoảng, suy sụp kinh tế chính là cái giá phải trả cho mô
hình này.
Công cuộc cải cách kinh tế có mục tiêu tạo lập nền kinh tế thị trường, để các hoạt động
kinh tế được điều tiết tự nhiên bởi cơ chế thị trường như chính nó đã có và cần phải có
dưới sự quản lý vĩ mô của nhà nước XHCN. Đó là lối thoát khỏi sự sụp đổ về kinh tế, là
hướng đi đúng nhằm đưa nền kinh tế của các quốc gia này hoà nhập vào con đường phát
triển thông thường của đời sống kinh tế nhân loại.
Các nước tư bản phát triển đã và đang bước vào công cuộc cải tổ sâu rộng về kết cấu kinh
tế và các thể chế xã hội để thích ứng với điều kiện mới. Phương hướng cải tổ của các
nước trong khu vực này thể hiện rõ nhất ở một số mặt:
- Tăng cường vai trò điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế, không chỉ giới hạn trong
phạm vi một quốc gia mà có sự phối hợp điều chỉnh siêu quốc gia.
- Phát triển các tổ chức siêu quốc gia mà chúng có ảnh hưởng lớn đến các quan hệ kinh
tế quốc tế và hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia như nhất thể hoá cộng đồng kinh tế
châu Âu, hình thành khu vực tự do Bắc Mỹ, Canada mở rộng tới Mêhicô, tiến tới toàn
châu Mỹ liên kết kinh tế nhiều tầng giữa Nhật Bản với các nước ASEAN và NIC tiến tới
nhất thể hoá kinh tế châu Á - Thái Bình Dương.
- Tập trung giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội như việc làm, trợ cấp thất nghiệp, giáo
dục phổ cập, bảo vệ môi trường… trên cơ sở đảm bảo lợi ích phát triển của chủ nghĩa tư
bản.
- Có sự chuyển biến trong quan hệ với các nước đang phát triển từ chính sách tước đoạt,
cướp bóc, kiềm chế trong tình trạng lạc hậu sang chính sách thúc đẩy sự phát triển kinh tế
tư bản chủ nghĩa phụ thuộc ở các nước này, tạo ra ở các nước đang phát triển một thị
trường rộng lớn, một hệ thống công thương nghiệp phụ thuộc, một môi trường kinh
doanh có lợi cho các nước tư bản phát triển.
Thay đổi cơ cấu nền kinh tế với vai trò chủ đạo của ngành kinh tế dịch vụ và tăng cường
đầu tư cho nghiên cứu khoa học công nghệ, áp dụng công nghệ mới vào quá trình sản
xuất. Những cải tổ trên là những dấu hiệu mới chưa từng có trong khuôn khổ của các



nước TBCN trước đây và có thể được xem là những yếu tố mới, những hình thức quá độ
sang một xã hội mới.
Các nước đang phát triển đều đang tiến hành cải tổ với các mức độ khác nhau, mà việc
cải tổ kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia hoà nhập với trào lưu cải tổ, cải cách chung của
thế giới. Xu hướng cải tổ ở khu vực này nhằm chủ yếu vào việc mở cửa nền kinh tế với
bên ngoài, thực hiện chính sách thu hẹp kinh tế quốc gia, mở rộng kinh tế tư nhân, tuy
vẫn giữ quyền điều tiết và kiểm soát của Nhà Nước đối với các hoạt động kinh tế, tăng
cường đấu tranh cho một trật tự kinh tế quốc tế, phi chính trị hoá các quan hệ quốc tế về
mặt kinh tế. Trên cái nền chung đó cải tổ kết cấu kinh tế – xã hội và tăng cường các biện
pháp điều tiết vĩ mô là xu hướng chủ yếu của hầu hết các quốc gia đang phát triển. Cuộc
cải tổ, cải cách kinh tế được thực hiện theo hai hướng chính: cải tổ toàn diện và cải tổ kết
cấu toàn phần.
Cải tổ kết cấu toàn diện tức là cải tổ trong cả hai lĩnh vực kinh tế – xã hội. Phần lớn các
quốc gia theo xu hướng này là các nước đông dân, nền kinh tế – xã hội khủng hoảng sâu
sắc đòi hỏi Chính phủ phải tiến hành song song cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại. Điển
hình như các nước Mêhicô, Braxin, Áchentina, Angiêri. Mục tiêu đặt ra với cải tổ toàn
diện nhằm khôi phục và nâng cao mức tăng trưởng kinh tế, hạn chế vay nợ nước ngoài
trên cơ sở trả dần vốn nợ cũ, thực hiện cân bằng tài chính, chỉ tiêu có lựa chọn, tăng
cường các nguồn thu nhập trong nước, thực hiện đa dạng xuất khẩu, đa phương hoá thị
trường, kết hợp đồng bộ giữa các biện pháp kinh tế nhằm khắc phục những căn bệnh kinh
niên của nền kinh tế chậm phát triển.
Cải tổ kết cấu từng phần tức là cải tổ một số mặt yếu kém hoặc cải tổ trọng điểm. Đây
cũng là xu hướng tương đối phổ biến ở các quốc gia đang phát triển như các nước NIC ở
châu Á, hoặc một số nước ở châu Mỹ La Tinh. Điển hình về cải tổ xuất khẩu là Thái Lan
và Nam Triều Tiên. Ở Thái Lan, nhờ xuất khẩu thành phẩm dẫn đến tăng nhanh đầu tư,
tăng nhanh tổng sản phẩm quốc dân. Nam Triều Tiên chú trọng cải tổ cơ cấu một số
ngành công nghiệp xuất khẩu như sản phẩm chế tạo và hàng tiêu dùng cao cấp. Nhờ phát
triển hai ngành này, mức tăng tổng sản phẩm nội địa nâng lên và mức tăng xuất khẩu
cũng được nâng lên.

Chính phủ Malaixia đặc biệt chú ý đến điều chỉnh cơ chế thuế và các sản phẩm công
nghiệp chế biến xuất khẩu. Các nước châu Mỹ La tinh kết hợp cải tổ tài chính, giảm tỉ lệ
lạm phát với những chính sách mở rộng quan hệ ngoại thương, sử dụng tối ưu nguồn đầu
tư nước ngoài…


Bước sang thế kỷ XXI, các xu thế trên vẫn tiếp tục thể hiện vai trò có tính bao trùm và
thường xuyên quyết định, mặc dù có thêm những sắc thái mới đa dạng và phức tạp hơn.
Những sắc thái này thể hiện ở các khía cạnh sau:
Khía cạnh thứ nhất là: Do tác động của khoa học và công nghệ với cường độ lớn hơn và
trình độ cao hơn làm thay đổi cơ cấu ngành sản xuất và dịch vụ mạnh mẽ hơn, sâu sắc
hơn. Các ngành công nghiệp “ cổ điển” giảm dần tỉ trọng và vai trò của nó trở nên “ mãn
chiều xế bóng ”. Các ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ tăng nhanh, đặc biệt là
các ngành dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất. Chúng giữ vai trò khớp nối, đảm bảo cho
toàn bộ quá trình tái sản xuất xã hội được thông suốt và phát triển với tốc độ cao.
Cơ cấu kinh tế trở nên mềm hoá, khu vực kinh tế phi hình thức được mở rộng, nền kinh
tế “ tượng trưng ” có quy mô lớn hơn nền kinh tế “thực tế” nhiều lần.
Cơ cấu lao động phân theo ngành có sự thay đổi sâu sắc, xuất hiện nhiều nghề mới với sự
đan kết của nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ.
Khía cạnh thứ hai là: Do sự tác động của cách mạng khoa học và công nghệ, của sự
phân công lao động quốc tế, do vai trò và tàm hoạt động mới của các công ty xuyên quốc
gia, quá trình quốc tế hoá nến kinh tế thế giới ngày nay càng phát triển mạnh mẽ cả chiều
rộng lẫn chiếu sâu trên hai cấp độ toàn cầu hoá và khu vực hoá và đã đưa đến nền chuyển
biến nhanh chóng của thể chế kinh tế thế giới, đưa nền kinh tế trên bước vào thời kỳ cạnh
tranh toàn cầu bên cạnh sự đẩy mạnh tìm kiếm hợp tác trong cạnh tranh.
Thể chế kinh tế thế giới chuyển biến theo thị trường hoá nền kinh tế của từng quốc gia,
quốc tế hoá thể chế nền kinh tế giữa các nước theo hướng mở cửa với sự xuyên suốt của
thể chế kinh tế thị trường theo hướng nhất thể hoá và tập đoàn kinh tế khu vực.
Khía cạnh thứ ba là: Xu thế toàn cầu hoá gia tăng với các biểu hiện mới về vai trò ngày
càng lớn của hoạt động tài chính tiền tệ; sự gia tăng của mậu dịch quốc tế nhanh hơn

nhiều tốc độ tăng trưởng kinh tế; việc gia tăng làn sóng sát nhập các công ty xuyên quốc
gia; vai trò ngày càng quan trọng của tri thức và sự phát triển của loại hình kinh tế tri
thức. Công nghệ thông tin phát triển làm thay đổi cách thức tổ chức sản xuất và đời sống,
đưa đến sự tác động ngày càng lớn của kinh tế đến chính trị và xã hội. Quá trình toàn cầu
hoá diễn ra cả bề rộng lẫn bề sâu, một mặt đưa tới cơ hội cho sự phát triển kinh tế của
từng quốc gia cũng như của toàn thế giới, giúp cho việc sử dụng hợp lý các nguồn tài
nguyên hiện có trên Trái Đất cũng như gây tác động ngược trở lại đối với sự phát triển
của khoa học – công nghệ đối với việc phân công lao động quốc tế.


Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế cũng đưa đến những thách thức lớn ở
nhiều góc độ khác nhau như sự gia tăng của các rủi ro kinh tế (khủng hoảng tài chính –
tiền tệ khu vực, sự sụt giảm của thương mại toàn cầu, việc hình thành các “bong bóng”
tài chính và tiền tệ…) cũng như gây nên mâu thuẫn giữa kinh tế với chính trị và xã hội
(làm suy giảm tính độc lập chủ quyền quốc gia, gây nên sự phụ thuộc quá mức vào các
trung tâm kinh tế lớn, phương hại đến sự phát triển văn hoá dân tộc…). Trong quá trình
toàn cầu kẻ mạnh thu được nhiều lợi ích hơn còn người yếu dễ bị thua thiệt. Những quốc
gia có tiềm lực lớn, có điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh quốc tế sẽ tìm cách khai thác
quá trình toàn cầu hoá và cài đặt lợi ích của họ. Các quốc gia phát triển chậm hơn không
thể bị động theo sau, cũng không thể tham gia quá trình toàn cầu hoá một cách bị động và
vô vọng được.
III/
KẾT
LUẬN
Ngày nay, thế giới đang có sự biến động sâu sắc về nhiều mặt. Về phương diện kinh tế,
các quan hệ kinh tế quốc dân đan quyện vào nhau và chi phối nền kinh tế của tất cả các
nước.
Bối
cảnh quốc tế mới vừa tạo ra thời cơ mới tương đối thuận lợi, đồng thời cũng đặt ra những
thách thức mới đối với nền kinh tế của các quốc gia.

Thời cơ mới là một nhân tố hết sức quan trọng, như một luồng gió mới sẽ có tác động rất
lớn đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Sự diễn biến phức tạp của tình hình thế
giới đòi hỏi từng quốc gia phải có tư duy mới, biết tận dụng tối đa các nguồn lực sẵn có,
phát huy thế mạnh của mình để hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Đối với nước ta, việc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực là việc làm hết sức
cần thiết. Nếu không quan tâm đến điều này, nền kinh tế Việt Nam không thể phát triển
như hiện nay. Trong thế kỷ XXI, hy vọng nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ và
sẽ trở thành nước công nghiệp phát triển trong những năm tới.

Câu 4: Vì sao có thể nói giá trị biểu hiện quan hệ KT giữa những người sản xuất
hàng hóa? (SGK)
Câu 5: Vì sao nói học thuyết tích lũy là sự kế tục trực tiếp và phát triển thêm một
bước của học thuyết giá trị thặng dư? (SGK)
Câu 6: Vì sao nói Đảng Cộng sản là nhân tố đảm bảo cho giai cấp công nhân thực
hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình? Liên hệ thực tiễn CM VN
a. Tính tất yếu, quy luật hình thành và phát triển chính Đảng của giai cấp công nhân


Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân. hai ông đã xây dựng nên thuyết về một xã hội mới. Học
thuyết này đã phản ánh đúng những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, phản ánh
được tâm tư nguyện vọng của giai cấp công nhân. Đặc biệt, chỉ ra một cách đúng đắn con
đường, điều kiện, biện pháp… để thực hiện nguyện vọng đó. Vì vậy, nó đã được giai cấp
công nhân tiếp thu nhanh chóng và coi đó là “vũ khí lý luận” của giai cấp mình.
Chủ nghĩa Mác có nhu cầu xâm nhập vào phong trào công nhân để hướng dẫn cuộc đấu
tranh của giai cấp công nhân và qua đó kiểm nghiệm, bổ sung hoàn chỉnh học thuyết của
mình. Còn giai cấp công nhân, từ thất bại trong các cuộc đấu tranh với giai cấp tư sản, họ
đang rất cần có lý luận cách mạng, khoa học để dẫn đường. Khi lý luận của chủ nghĩa
Mác thâm nhập vào phong trào công nhân, một bộ phận tiên tiến trong giai cấp công nhân
đã tiếp thu được học thuyết cách mạng của Mác. Họ dựa vào lý luận của chủ nghĩa Mác

để xác định cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược… Họ đứng ra tổ chức lãnh đạo
cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở nước mình. Chính bộ phận ưu tú đó hình thành
nên chính Đảng của giai cấp công nhân – đó là Đảng Cộng sản.
V.I.Lênin đã khái quát quá trình hình thành chính đảng của giai cấp công nhân và nêu
thành quy luật: Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào
công nhân.
Tuy nhiên trong mỗi nước, sự kết hợp ấy là sản phẩm của lịch sử lại được thực hiện bằng
những con đường đặc biệt, tùy theo điều kiện không gian và thời gian. Ở những nước
thuộc địa, nửa thuộc địa, chủ nghĩa Mác thường kết hợp với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước thành lập ra Đảng Cộng sản.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân chuyển từ đấu tranh tự phát
sang đấu tranh tự giác trong mỗi hành động với tư cách một giai cấp tự giác và thực sự
cách mạng.
b. Mối quan hệ giữa Đảng cộng sản với giai cấp công nhân
Đảng chính trị là tổ chức cao nhất của một giai cấp, nó đại biểu tập trung cho nguyện
vọng, trí tuệ, lợi ích của giai cấp đó. Vì vậy, mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản với giai
cấp công nhân được thể hiện như sau:
- Đảng Cộng sản là tổ chức cao nhất, chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân, là đội tiên
phong chiến đấu, là bộ tham mưu có trình độ lý luận cao nhất để lãnh đạo giai cấp công
nhân và cả dân tộc hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.


- Đảng Cộng sản là tổ chức biểu hiện tập trung lợi ích, nguyện vọng, phẩm chất, trí tuệ
của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và dân tộc.
- Giai cấp công nhân là cơ sở xã hội – chính trị của Đảng Cộng sản, là nguồn bổ sung lực
lượng chủ yếu làm cho Đảng tồn tại và lớn mạnh.
Do đó, Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân có mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời.
Những đảng viên của Đảng Cộng sản có thể không phải là công nhân, nhưng phải là
người giác ngộ về sứ mệnh của giai cấp công nhân, phải đứng trên lập trường của giai
cấp công nhân. Với một Đảng Cộng sản chân chính, thì sự lãnh đạo của Đảng chính là sự

lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với toàn xã hội.
c.Vai trò của Đảng cộng sản
- Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, phân tích đúng đắn hoàn cảnh lịch sử, đề
ra mục tiêu, đường lối chính sách đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước.
- Đảng giáo dục đem lại giác ngộ cho toàn bộ giai cấp, sức mạnh đoàn kết, nghị lực cách
mạng, trí tuệ và hành động cách mạng của toàn bộ giai cấp, trên cơ sở đó lôi cuốn tất cả
các tầng lớp nhân dân lao động và cả dân tộc đứng lên hành động theo đường lối chính
sách của Đảng nhằm hoàn thành thắng lợi những mục tiêu đã đề ra, xây dựng chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Câu 7: Trong hoạt động trao đổi không ngang giá, giá trị thặng dư có được tạo ra
không? Vì sao? (KO_SGK_Mâu thuẫn CT chung TB)
Câu 8: Phân tích sự khác biệt giữa gía trị thặng dư siêu ngạch được tạo ra trong
nông nghiệp và gía trị thặng dư siêu ngạch được tạo ra trong các ngành công
nghiệp? Nguyên nhân của sự khác biệt ?
Giống nhau: cả hai đều là phần lợi nhuận vượt quá lợi nhuận bình quân mà các nhà tư
bản thu được trong một thời gian nhất định trong quá trình cạnh tranh nhờ thường xuyên
cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất lao động,... hoặc do những lợi thế về điều kiện sản
xuất tác động làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá mình sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội
của hàng hoá đó trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp.
Khác nhau:
Đối với lợi nhuận siêu ngạch trong công ngiệp: do đi trước trong việc cải tiến kĩ thuật,
nâng cao năng suất lao động đã giúp một số nhà tư bản thu được lợi nhuận siêu ngạch (bỏ
qua mặt lợi thế về điều kiện sản xuất của một số rất ít nhà tư bản như vị trí địa lí thuận
lợi,...). Nhưng sau đó, khi những cải tiến kĩ thuật, phương pháp nâng cao năng suất lao


động này được tất cả các nhà tư bản khác áp dụng thì lúc này lợi nhuận lợi nhuận siêu
ngạch không còn nữa mà thay vào đó là một mức lợi nhuận bình quân mới được thiết lập
trong toàn ngành. Rồi lại sau một khoảng thời gian nhất định, lợi nhuận siêu ngạch lại
được tạo ra bởi một số nhà tư bản, rồi sau đó lại được thay bằng một mức lợi nhuận bình

quân mới. Điều này luôn được lặp đi lặp lại trong sản xuất công nghiệp tự do cạnh tranh.
Vì vậy có thể nói, trong công nghiệp sự tồn tại của lợi nhuận siêu ngạch chỉ là hiện tượng
tạm thời đối với từng tư bản cá biệt.
Trái lại, trong nông nghiệp, sự tồn tại của lợi nhuận siêu ngạch lại có tính ổn định và lâu
dài. Nguyên nhân là do trong nông nghiệp ruộng đất là tư liêu sản xuất cơ bản, ruộng đất
tốt, xấu khác nhau, đại bộ phận là xấu. Do người ta không thể tạo thêm được ruộng đất,
mà những ruộng đất tốt lại bị độc quyền kinh doanh kiểu tư bản chủ nghĩa cho thuê hết
nên buộc phải thuê cả ruộng đất xấu. Điều đó làm cho những nhà tư bản kinh doanh trên
ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn luôn thu được lợi nhuận siêu ngạch. Lợi
nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài vì nó dựa trên tính cố định của ruộng
đất và độ màu mỡ tự nhiên của ruộng đất.
Câu 9: Phân tích những nội dung cơ bản cần thực hiện để xây dựng nền văn hóa
XHCN? Nội dung nào đóng vai trò quyết định nhất. Vì sao?

Câu 10: Khi số lượng hàng hóa đưa ra thị trường tăng hoặc giảm thì có ảnh hưởng
đến lượng giá trị hàng hóa đó không? Vì sao?
Cung-cầu ko ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa.
Lượng giá trị hàng hóa do thơi gian lao động xã hội cần thiết để tạo nên hàng hóa đó
quyết định. Nó chịu ảnh hưởng của các nhân tố:
-năng suất lao động, cường đọ lao động
-tính chất của lao động: giản đơn hay phức tạp
Còn cung-cầu chỉ ảnh hưởng tới giá cả của hàng hóa:
giá cả hàng hóa do giá trị(hao phí lao động xã hội cần thiết) quyết định, nó thường xuyên
biến động quanh giá trị, do nhiều nhân tố tác động, trước hết là do cung cầu hàng hóa
quyết đinh:
-cung>cầu: giá cả

-cung<cầu: giá cả>giá trị
-cung=cầu: giá cả=giá trị


Câu 11: Có quan điểm cho rằng: “Nền kinh tế tri thức, trí thức đóng vai trò quan
trọng, vì vậy sứ mệnh lịch sử đã chuyển từ giai cấp công nhân sang trí thức”. Bằng
lý luận thực tiễn a/c hãy phê phán quan điểm sai lầm trên.
Luận điệu 1: trong thời đại ngày nay CMKH-CN diễn ra như vũ bảo. KH đã trở thành
LLSX trực tiếp. do đó, trí thức chứ không phải là GCCN là lực lượng tiên phong cách
mạng.
Việc đề cao vai trò của trí thức đến mức phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
như trên là một sai lầm, một cách nhìn phiến diện. bởi vì:
Trí thức chỉ là một tầng lớp xh bao gồm những người lao động trí óc phức tạp và sáng
tạo, họ xuất thân từ nhiều giai cấp, nghề nghiệp chính của họ là sx ra giá trị tinh thần. ví
dụ như nhà khoa học, giáo viên, lãnh đạo, quản lý.
Va trí thức không thể nào thay thế GCCN lãnh đạo xã hội vì:
Tầng lớp trí thức không phải là một lực lượng kinh tế chính trị độc lập. họ không
có hệ tư tưởng độc lập.
Tầng lớp trí thức luôn gắn chặt lợi ích của mình với lợi ích giai cấp thống trị nen
họ dễ thỏa hiệp với GCTS, họ không cách mạng.
Xét trong xh sản xuất vật chất bao giờ cũng quyết định tồn tại xã hội. mà ta biết
rằng trong xã hội thì GCCN mới là người sàn xuất ra của cải vật chất. ngày nay với sự
phát triển mạnh mẽ của KHKT CN củng được nâng cao về trình độ, tay nghề, chuyên
môn nghiệp vụ,…hàm lượng chất xám trong sản phẩm ngày càng cao.
GCCN vẫn là GC tiên tiến nhất, cách mạng nhất,triệt để nhất, kỷ luật nhất, đoàn
kết quốc tế nhất. nên tầng lớp trí thức không bao giờ có thể thay thế được vị trí lãnh đạo
của GCCN.
Tuy nhiên chúng ta phải lưu ý rằng, mặc dù không thừa nhận tầng lớp trí thức là lực
lượng lãnh đạo cuộc cách mạng xh nhằm xóa bỏ áp bức bóc lột, nhưng CNM luôn khẳng
định trí thưc giữ vai trò quan trọng trong tiến trình ccah1 mạng XHCN, nhất là trong giai


đoạn hiện nay. Điều đó thể hiện rõ trong tư tưởng của Mác, Ăngghen, Lenin về lien minh

xã hội của giai cấp CN.
Luận điệu 2: ngày nay GCCN đã được cải thiện, điều kiện sinh hoạt vật chất, tinh thần
đang được thỏa mãn nhu cầu nên mất đi những xung đột cách mạng, tính chất cách mạng
của họ đã tan biến. họ đang hòa nhập vào xã hội tư bản.
Quan điểm rằng trong điều kiện CNTB hiện đại GCCN hết nghèo khổ là một quan điểm
sai sự thật. nhiều công trình nghiên cứu xã hội ở các nước TB phát triển đã thừa nhận là
hàng triệu công nhân vẫn đang sống trong cảnh nghèo khổ. Và bộ phận công nhân khác
tuy có được cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất nhưng họ vẫn bị bóc lột nặng nề. những
điều kiện cần thiết cho sự phát triển về tinh thần và đảm bảo về vật chất không được thực
hiện. vả lại, tính chất này của GCCN không phải do sự nghèo khổ của họ quy định.
GCCN trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng bởi vì nó đại diện cho LLSX mới, có khả
năng xây dựng một PTSX tiến bộ hơn PTSX TBCN.
Luận điệu 3: ở các nước tư bản phát triển, CN có cổ phần trong các công ty TB, được
chia lợi nhuận. đời sống CN được cải thiện. như vậy, GCCN đã không còn là GC không
có TLSX. Họ không còn bị bóc lột nữa. họ không còn là GCCN như C.Mác đã chỉ ra nên
họ cũng không có sứ mệnh lịch sử như quan niệm của CN Mác phát hiện.
Đây là một lập luận hoàn toàn sai lầm. một số CN ở các nước TB phát triển có cổ phần
trong các công ty TB, nhưng số công nhân ấy là rất ít so với toàn bộ GCCN. Hơn nữa số
cổ phần của các công nhân chiếm tỷ lệ rất ít.Ví dụ Mỹ là nươc thực hiện chia cổ phần cho
công nhân sớm nhất trên thế giới nhưng cho đến hiện nay chỉ có hơn 10% CN mỹ có cổ
phần trong công ty TB. Như vậy dù mức sống có cao hơn trước, dù công nhân có được
tham gia quản lý thông qua đại biểu trong hội đồng xí nghiệp theo chế độ tham dự và chế
độ ủy nhiệm nhưng họ vẫn là những người làm thuê bá sức lao động, ý chí của CNTB
vẫn là quyền lực chi phối, tầng lớp nhà quản lý vẫn chỉ là kẻ phụ thuộc vào giới chủ.
Người chủ thực sự đối với TLSX vẫn là nhà TB. GCCN vẫn là giai cấp không có hay về
cơ bản là không có TLSX.
Thật sai lầm khi nói rằng GCCN không còn bị bóc lột nữa bởi vì bản chất của TB
là bóc lột GTTD, mà ngày nay các hình thức bóc lột áy ngày càng tinh vi hơn, mà chủ
yếu là bóc lột chất xám.
GCCN vẫn luôn là LLSX cơ bản và trực tiếp, vẫn là GC tiên tiến trong xã hội. sứ

mệnh lịch sử của GCCN không thể chuyển vào tay GC hay tầng lớp xã hội nào khác.


Luận điệu 4: ở các nước TB phát triển nền sản xuất ngày càng mang tính tự động
hóa, như vậy GCCN ở đây sẽ ngày càng ít đi, là đến một ngày nào đó nó sẽ không còn
nữa.
Lấy hai tiêu chí về nghề nghiệp và vị trí trong QHSX để xem xét thì không thể phủ
nhận sự tồn tại của GCCN trong điều kiện CNTB hiện nay. Bởi lẽ:
Thứ nhất vẫn tồn tại giai cấp của những người trực tiếp vận hành sản xuất nền công
nghiệp.
Thứ hai vẫn luôn tồn tại giai cấp những người làm thuê cho các nhà tư bản. và do đó vẫn
bị bóc lột GTTD.
Nền sản xuất tự động với hàng loạt dây chuyền, trang thiết bị hiện đại tự hỏi chúng từ đâu
mà ra, tất cả đều phải do bàn tay sản xuất của CN. Những trang thiết bị hiện đại ấy muốn
vận hành được phải có người công nhân điều chỉnh, phải có người bảo trì, chăm sóc, sửa
chữa…chính như vậy không thể thiếu được hình bong của GCCN.
Như vậy khi nói rằng đến một lúc nào đó GCCN sẽ khôn tồn tại nữa là một điều hoàn
toàn sai lầm. từ sự phân tích ở trên ta rút ra một số nhận định như sau:
Một là trong bối cảnh hiện nay cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN đòi
hỏi GCCN và Đảng của nó phải có sự trưởng thành vượt bậc về tư ưởng chính trị và tổ
chức.
Hai là đấu tranh và hợp tác để phát triển CNXH đang là mục tiêu, phương thức hành
động chủ yếu của GCCN và các nước do ĐCS lãnh đạo.
Ba là GCCN thực hiện sứ mệnh và mục tiêu đấu tranh của mình trong bối cảnh hiện nay
phỉa rất kiên định về nguyên tắc chiến lược., mục tiêu XHCN nhưng phải linh hoạt, mềm
dẻo, đa dạng về hình thức và bước đi, biện pháp, sách lược. đối với nước ta GCCN phải
đi đầu trong việc góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế, giải phóng LLSX và tinh
thần xã hội. xây dựng Đảng và đổi mới hệ thống chính trị nhằm xây dựng nền dân chủ
XHCN mà cốt lõi là xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, mở cửa và
hợp tác với các nước…theo luật pháp quốc tế cùng có lợi.

Tóm lại những luận điểm của GCTS đưa ra để phủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN chỉ
là những luận điệu sai lầm, thiếu căn cứ kha học với mục đích xuyên tạc. như vậy chúng
ta phải luôn tin tưởng vào sứ mệnh lịch sử của GCCN, góp phần xây dựng đất nước tiến
lên CNXH, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho toàn nhân dân.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×