BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
VÕ CHÂU QUỲNH ANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI THAI NHI
TRÊN SIÊU ÂM SÀNG LỌC QUÝ 2 THAI KỲ
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
HUẾ - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
VÕ CHÂU QUỲNH ANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI THAI NHI
TRÊN SIÊU ÂM SÀNG LỌC QUÝ 2 THAI KỲ
Chun ngành: SẢN PHỤ KHOA
Mã số: 60 72 13
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. CAO NGỌC THÀNH
TS. VÕ VĂN ĐỨC
HUẾ - 2012
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa học và hoàn tất luận văn tốt nghiệp, tôi đã được sự
dạy bảo và giúp đỡ tận tình của quý Thầy Cô, sự quan tâm, động viên của gia
đình, bạn bè và anh chị em đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.Cao Ngọc Thành
và TS.Võ Văn Đức, những người thầy đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo và trực tiếp
hướng dẫn cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin được gởi lời cám ơn đến:
- Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Y Dược Huế
- Ban Giám Đốc, Phòng Kế Hoạch Tổng Hợp Bệnh viện Trường Đại
Học Y Dược Huế
- Phòng Đào Tạo Sau Đại Học Trường Đại Học Y Dược Huế
- Ban Chủ Nhiệm Bộ Môn Phụ Sản – và Khoa Phụ Sản Trường Đại
Học Y Dược Huế
- Phòng siêu âm sàng lọc – Đơn vị Sàng lọc trước sinh và sơ sinh
Bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Huế
- Thư viện Trường Đại Học Y Dược Huế
- Ban Giám Hiệu, Bộ Môn Phụ Sản Trường Đại Học Y Dược Cần
Thơ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện
luận văn này.
Tôi xin gởi tình thương yêu, sự biết ơn và lòng kính trọng đến cha mẹ,
gia đình, các em và những người thân đã luôn chăm sóc, động viên, khích lệ
tôi trong học tập và cuộc sống.
Cuối cùng, xin gởi lời cám ơn chân thành đến những người bạn đã luôn
ở bên cạnh tôi, góp ý, giúp đỡ tôi trong thời gian qua.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu ghi trong luận văn là trung thực,
và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác.
Tác giả luận văn
VÕ CHÂU QUỲNH ANH
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ĐKLĐ
:
Đường kính lưỡng đỉnh
CVĐ
:
Chu vi đầu
CDXCT
:
Chiều dài xương cánh tay
CDXĐ
:
Chiều dài xương đùi
NST
:
Nhiễm sắc thể
DTBS
:
Dị tật bẩm sinh
TN
:
Tiểu não
TT
:
Tuổi thai
CS
:
Cộng sự
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................... 3
1.1. Sự phát triển của trứng đã thụ tinh ..................................................... 3
1.2. Sự phát triển của thai trong quý 2 thai kỳ .......................................... 5
1.3. Dị tật bẩm sinh ................................................................................... 6
1.4. Siêu âm và các xét nghiệm sàng lọc quý 2 thai kỳ .......................... 14
1.5. Các nghiên cứu trong và ngoài nước ............................................... 24
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........... 30
2.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 30
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................. 30
2.3. Các phương pháp xử lý số liệu ........................................................ 45
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................... 47
3.1. Đặc điểm chung ............................................................................... 47
3.2. Đặc điểm hình thái học thai nhi ....................................................... 52
3.3. Kết quả hình ảnh dị tật bẩm sinh trên siêu âm ................................. 58
Chƣơng 4. BÀN LUẬN ............................................................................... 66
4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu ................................................ 66
4.2. Đặc điểm hình thái học thai nhi trên siêu âm .................................. 69
4.3. Di tật bẩm sinh và các yếu tố liên quan ........................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................. 88
KIẾN NGHỊ ................................................................................................. 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị tật bẩm sinh là những bất thường hình thái lớn hay nhỏ có thể biểu
hiện ngay trong quá trình phát triển phôi thai, ngay từ khi sinh hay ở các giai
đoạn muộn hơn nhưng đã có nguyên nhân từ trong thai kỳ [2].
Những năm qua, tỷ lệ trẻ sơ sinh bị dị tật bẩm sinh cũng như tỷ lệ phát
hiện dị tật bẩm sinh ở thai nhi ngày càng cao [6], [19], [44]. Theo Nguyễn Thị
Kiều Nhi, tỷ suất tử vong sơ sinh sớm do dị tật bẩm sinh ở Bệnh viện Trung
Ương Huế năm 2003 là 54% [29]. Để giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh và nâng cao
chất lượng dân số, với mong muốn cho ra đời những đứa trẻ hoàn thiện, khỏe
mạnh cả thể chất và tinh thần, người ta không chỉ đi sâu tìm hiểu nguyên nhân
hay những yếu tố nguy cơ gây dị tật thai mà còn tìm cách phát hiện sớm
những bất thường của thai nhi.
Chẩn đoán trước sinh ra đời từ những năm 1920, và hiện có rất nhiều
phương pháp được sử dụng để sàng lọc, nhưng xu hướng là các phương pháp
thăm dò không xâm nhập, kỹ thuật sinh học phân tử và chẩn đoán trước làm
tổ [2], [17], [24]. Sự ra đời các thế hệ máy siêu âm với chất lượng cao, cùng
kinh nghiệm của bác sĩ siêu âm giúp cho việc phát hiện những bất thường của
thai trở nên dễ dàng và chính xác hơn (độ nhạy của siêu âm lên tới 95% [17]).
Phối hợp với siêu âm, nhiều nơi đã áp dụng các xét nghiệm: βhCG, PAPP-A,
uE3, AFP, nhiễm sắc thể, lai huỳnh quang…để tính nguy cơ giới hạn mà bào
thai bị một số dị dạng [22], [23], [35].
Siêu âm hình thái học thai nhi quý 2 thai kỳ, lúc thai 18 – 23 tuần là công
cụ tốt nhất để sàng lọc thai chậm phát triển trong tử cung, cũng như nhiều dị
tật bẩm sinh khác [50], [65], [70].
Phan Trường Duyệt là người đầu tiên nghiên cứu về các tỷ lệ đường kính
lưỡng đỉnh/chiều dài xương đùi [9], chiều dài xương cánh tay/chiều dài xương
2
đùi [10]… năm 2003 một cách có hệ thống từ tuổi thai 14 đến 30, từ đó đưa ra
những biểu đồ phát triển bình thường của thai nhi người Việt Nam sử dụng để
đánh giá sự bất thường của thai nhi. Tại Huế, năm 2008, Hồ Thị Thúy Mai
nghiên cứu sự phát triển của thai nhi bình thường qua một số số đo trên siêu
âm từ tuần 24 đến khi sinh, cho thấy biểu đồ phát triển các số đo của thai nhi
có giá trị đặc trưng cho từng vùng, từng dân tộc, từng nước và từng thời điểm
[26].
Theo Nguyễn Việt Hùng tuổi thai phát hiện dị tật bẩm sinh trên siêu âm
trung bình 22,6 tuần [19]. Nghiên cứu của Lê Minh Toàn về tình hình dị tật
bẩm sinh tại bệnh viện Trung Ương Huế, tuổi thai phát hiện dị tật bẩm sinh
cao nhất là 18 – 23 tuần (33%) [36]. Schwärzler (1999) kết luận việc khảo sát
hình thái thai nhi trên siêu âm và các dị tật bẩm sinh thai nhi vào tuổi thai từ
18 – 23 đạt kết quả cao, đặc biệt là tuổi thai từ 20 – 22 tuần 6 ngày [71]. Lê
Anh Tuấn cho biết, tỷ lệ thai phụ đi sàng lọc và chẩn đoán trước sinh có xu
hướng sớm hơn và tỷ lệ thai nhi dị dạng ở Việt Nam hiện là 3% [1], [40].
Trên thực tế, có khoảng 50-70% trẻ bị Down sinh ra còn sống là con của các
bà mẹ dưới 35 tuổi, đây là gánh nặng của xã hội [40], [41].
Chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái
thai nhi trên siêu âm sàng lọc quý 2 thai kỳ”, với mục tiêu sau:
1. Khảo sát một số đặc điểm hình thái thai nhi trên siêu âm sàng lọc quý
2 của thai kỳ tại bệnh viện Trường Đại Học Y Dược Huế.
2. Khảo sát một số loại dị dạng thai nhi trên siêu âm và các yếu tố
liên quan.
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRỨNG ĐÃ THỤ TINH
Về phương diện thời gian, quá trình phát triển của trứng được chia làm
hai thời kỳ: thời kỳ sắp xếp tổ chức: bắt đầu từ lúc thụ tinh đến hết tháng thứ
hai, và thời kỳ hoàn thiện tổ chức: từ tháng thứ ba trở đi [25].
1.1.1. Thời kỳ sắp xếp tổ chức
1.1.1.1. Sự hình thành bào thai
Ở phôi thai mới thành lập người ta phân biệt 3 vùng: vùng trước là vùng
đầu, vùng giữa nhô ra để trở thành bụng, lưng có rãnh thần kinh, vùng sau là
phần đuôi và có mạng lưới thần kinh. Cuối thời kỳ phôi thai phần đuôi to ra
một cách không cân đối, đã có phác hình của mắt, mũi, miệng, tai ngoài; tứ chi
trở nên rõ nét (có chồi ngón), các bộ phận chính như tuần hoàn, tiêu hóa cũng
được thành lập vào thời kỳ này [4].
Bảng 1.1. Sự phát triển của các lá thai [4], [25]
Nguồn gốc
Lá thai ngoài
Hình thành các bộ phận
- Hệ thần kinh
- Da
- Hệ xương
- Hệ cơ
Lá thai giữa
- Mô liên kết
- Hệ tuần hoàn
- Hệ tiết niệu
Lá thai trong
- Hệ tiêu hóa
- Hệ hô hấp
4
1.1.1.2. Sự phát triển của phần phụ
- Nội sản mạc: tạo thành một buồng gọi là buồng ối, trong chứa nước ối,
thành của màng ối là một màng mỏng gọi là nội sản mạc [4], [25].
- Trung sản mạc: tạo thành chân giả bao quanh trứng, được gọi là thời kỳ
trung sản mạc rậm (thời kỳ nhau thai toàn diện) [25].
- Ngoại sản mạc: trong khi trứng làm tổ, niêm mạc tử cung phát triển
thành ngoại sản mạc. Người ta phân biệt 3 phần: ngoại sản mạc tử cung, ngoại
sản mạc trứng, ngoại sản mạc tử cung – nhau [25].
1.1.2. Thời kỳ hoàn chỉnh tổ chức
1.1.2.2. Sự phát triển của thai
Thời kỳ này phôi thai được gọi là thai nhi, bắt đầu có đủ các bộ phận và
tiếp tục phát triển tới khi hoàn chỉnh tổ chức [4]. Các điểm cốt hóa ở đầu dưới
xương đùi xuất hiện vào tuần thứ 36 và ở đầu trên xương chày vào tuần 38 [2].
Hình 1.1. Kích thước thai theo tuổi thai [25]
1.1.2.3. Sự phát triển của các phần phụ
- Nội sản mạc: ngày càng phát triển, buồng ối ngày càng rộng ra và bao
quanh thai nhi, thai nhi như con cá nằm trong nước [25].
5
- Trung sản mạc: các chân giả sẽ tan đi, trung sản mạc trở thành nhẵn,
chỉ còn lại phần bám vào tử cung sẽ tiếp tục phát triển thành gai nhau, lớp hội
bào đục thủng niêm mạc tử cung tạo thành các hồ huyết, chứa hai loại gai
nhau.
- Ngoại sản mạc: ngoại sản mạc trứng và ngoại sản mạc tử cung teo mỏng
dần, ngoại sản mạc tử cung - rau tiếp tục phát triển và bị đục thành các hồ huyết.
1.2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THAI TRONG QUÝ 2 THAI KỲ
Quý 2 thai kỳ là giai đoạn từ đầu tuần 13 đến hết tuần 25 của thai kỳ. Đây là
thời kỳ cơ thể thai nhi phát triển nhanh chóng và tiếp tục biệt hóa các hệ cơ quan.
1.2.1. Tuần thứ 13 đến 16
Đây là giai đoạn thai nhi phát triển nhanh, đầu nhỏ lại tương đối so với
cơ thể phôi, chi dưới dài ra. Hình ảnh cốt hóa hệ xương tiến triển nhanh và
xuất hiện rõ trên phim X-quang ổ bụng người mẹ bắt đầu từ tuần thứ 16. Tóc
ở da đầu được xác định, đánh dấu thời kỳ phát triểm sớm của não thai nhi.
Tuần thứ 16 là lúc buồng trứng đã biệt hóa và có nhiều nang trứng nguyên
thủy chứa noãn, đối với thai nhi là nữ [2], [21].
1.2.2. Tuần thứ 17 đến 20
Tuy thời gian này thai nhi phát triển chậm hơn, nhưng chiều dài thai còn
tăng thêm khoảng 50mm. Chi dưới đạt chiều dài cuối cùng [2], [4].
Da thai nhi đã được phủ bởi một lớp gây được hình thành bởi chất bã và
các tế bào biểu bì da thai nhi bong ra. Toàn bộ da cơ thể lúc này có lông tơ,
chúng giúp giữ lớp gây ở da. Mô mỡ nâu đảm nhiệm chức năng sinh nhiệt chủ
yếu ở trẻ sơ sinh. Tuần thứ 18, tử cung thai nhi hình thành, âm đạo bắt đầu trở
thành khoang rỗng. Tinh hoàn bắt đầu hạ xuống nhưng vẫn còn ở thành bụng
sau.
1.2.3. Tuần thứ 21 đến 25
Đây là thời kỳ trọng lượng thai tăng, cơ thể thai có tỷ lệ cân đối hơn. Da
thai còn nhăn ở đầu thời kỳ này. Màu da trong mờ, dần dần có màu hồng tới đỏ
6
vì máu trong các mao mạch dưới da thấy rõ ràng. Ở tuần thứ 24, những phế bào
đã bắt đầu tiết chất điện hoạt. Mặc dù các cơ quan lúc này đã phát triển nhưng
thai sẩy lúc này thường chết vì hệ hô hấp chưa phát triển đầy đủ [2].
1.3. DỊ TẬT BẨM SINH
1.3.1. Định nghĩa dị tật bẩm sinh
Dị tật bẩm sinh (congenital malformation) là một dạng của bất thường
bẩm sinh. Trong bất thường bẩm sinh còn có các bệnh di truyền bao các rối
loạn chuyển hóa bẩm sinh, bệnh miễn dịch bẩm sinh, các khối u bẩm sinh,
chậm phát triển trí tuệ bẩm sinh và các bất thường thai sản khác [2], [4].
Dị tật bẩm sinh (DTBS) là những bất thường hình thai lớn hoặc nhỏ có thể
biểu hiện ngay trong quá trình phát triển phôi thai, ngay từ khi mới sinh ra hoặc
biểu hiện ở các giai đoạn muộn hơn nhưng đã có nguyên nhân ngay từ trước
khi sinh. Trong quá trình phát triển phôi thai, nhiều phôi thai đã bị đào thải ở
các giai đoạn khác nhau vì bị dị tật với các hình thức sẩy thai sớm, sẩy thai
muộn, thai chết lưu,… Theo thống kê của thế giới, tần số trẻ sinh sống bị dị tật
bẩm sinh 2 - 4 % [2], [6], [54]. Một số trẻ bị dị tật chết ở giai đoạn sơ sinh, vì
vậy tần số người bị dị tật bẩm sinh gặp ở cộng đồng chỉ là những người bị dị tật
còn sống sót sau chọn lọc ở giai đoạn trước sinh và giai đoạn sơ sinh.
1.3.2. Thời điểm có khả năng phát sinh dị tật trong thai kỳ [2], [4], [17]
Trong quá trình hình thành và phát triển phôi thai, tế bào mô và quá trình
sắp xếp tổ chức đều có thời kỳ nhạy cảm với tác động của những yếu tố gây
ra bất thường cho thai [2], [4], [17].
1.3.2.1. Thời kỳ tạo giao tử
Giai đoạn tạo giao tử là một giai đoạn ngắn trong quá trình phát triển cá
thể, tuy nhiên tỷ lệ các giao tử bất thường lại khá cao cho nên đây có thể là
giai đoạn các tế bào dễ mẫn cảm với các tác nhân đột biến. Tinh trùng người
có tỷ lệ hình thái bình thường ≥ 30%, tỷ lệ tinh trùng có hình thái bất thường
lên đến 70%. Tuy nhiên, các giao tử bất thường thì không có hoặc ít có khả
7
năng tham gia thụ tinh được, nên tỷ lệ bất thường bẩm sinh của phôi thai do
giao tử bất thường không cao.
1.3.2.2. Thời kỳ tiền phôi
- Giai đoạn hợp tử: Hợp tử được hình thành và tồn tại trong giai đoạn rất
ngắn nên các đột biến xuất hiện lúc hình thành hợp tử rất ít. Người ta coi việc
đánh giá hợp tử là đánh giá gián tiếp bất thường giao tử. Hợp tử chết sớm
thường do noãn hoặc tinh trùng bất thường.
- Giai đoạn phân chia: ở giai đoạn này, các tế bào phôi còn chưa hoặc ít
biệt hóa, các tác nhân độc hại gây ra các tác động theo 3 khả năng (gây tổn
thương toàn bộ hay một số lớn các phôi bào; một số ít hay nhiều phôi bào bị
tổn thương và chết; một số phôi bào bị tác động nhẹ tồn tại bên cạnh những
phôi bào bình thường khác tạo ra một cơ thể khảm…). Dị tật ở giai đoạn này
ít xảy ra vì các mô chưa có sự biệt hóa [2], [4], [21].
1.3.2.3. Thời kỳ phôi
Thời kỳ phôi là giai đoạn từ tuần thứ 3 đến tuần tứ 8. Ở thời kỳ này các
phôi bào đang tích cực biệt hóa, tạo ra ra các mầm cơ quan cho cơ thể nên rất
dễ nhạy cảm với các yếu tố gây ra bất thường [2]. Đây là thời kỳ chủ yếu
quyết định sự xuất hiện các dị tật về hình thái. Tùy theo các yếu tố gây hại và
tùy thời điểm đang biệt hóa của các mô và các cơ quan sẽ xuất hiện các dị tật
khác nhau.
1.3.2.4. Thời kỳ thai
Thời kỳ thai kéo dài từ tuần thứ 9 đến trước khi trẻ ra đời. Ở thời kỳ thai
phần lớn các cơ quan đã hình thái và đang dần hoàn thiện về chức năng do đó
tính cảm thụ với yếu tố gây hại giảm. Nếu bị tác động bởi yếu tố có hại sẽ ảnh
hưởng tới hoạt động chức năng của cơ quan đó, nếu tác động mạnh có thể làm
thai chết lưu. Tuy vậy, vẫn còn một số cơ quan đang tiếp tục biệt hóa như vỏ
não, tiểu não, hệ sinh dục… vì vậy, ở thời kỳ thai các yếu tố gây hại vẫn có
thể ảnh hưởng tới hình thái và chức năng của những cơ quan này [2].
8
1.3.3. Phân loại dị tật bẩm sinh
Phân loại DTBS là công việc rất cần thiết, tuy nhiên, do tính phức tạp và
đa dạng về biểu hiện cũng như về căn nguyên, có nhiều hệ thống phân loại đã
được sử dụng. Mỗi hệ thống hay mỗi cách phân loại đều có những căn cứ nhất
định và cũng vì vậy có những hạn chế.
1.3.3.1. Phân loại theo dạng hình thái lâm sàng
Nếu căn cứ vào số dị tật biểu hiện trên một cơ thể, có loại đơn dị tật và đa
dị tật; hoặc biểu hiện trên cơ thể thai hoặc liên hệ tới 2 thai có: dị tật đơn thân, dị
tật dính thân; theo độ trầm trọng của dị tật có: dị tật nhỏ và dị tật lớn [2], [4].
Tổng hợp các cách phân loại trên, những dạng biểu hiện lâm sàng có thể là:
Hình dáng thai không kỳ quái (không thận, không phổi, không tinh hoàn, lùn,
thiếu chi, thoát vị tạng, thai vô sọ, thận kép, thừa ngón, thận lạc chỗ, màng trinh
không thủng, thoát vị cơ hoành,…) - Hình dáng thai kỳ quái (quái thai đơn tự
dưỡng, quái thai đơn ký sinh bám vào một thai bình thường khác, quái thai phức
tạp tự dưỡng, quái thai phức tạp ký sinh) - U phôi hay u quái (một khối u đa dạng
phát triển trên nền một thai bình thường, hay chỉ là một u hình thái kỳ quái) [2].
1.3.3.2. Phân loại theo thời kỳ phát triển phôi
Bệnh hợp tử : dị tật xảy ra ngay từ thời kỳ tiền phôi
Bệnh phôi
: dị tật xảy ra ở thời kỳ phôi (trong 8 tuần đầu)
Bệnh thai
: dị tật trong giai đoạn thai [2]
1.3.3.3. Phân loại dị tật bẩm sinh theo sinh bệnh học
Do các yếu tố di truyền: di truyền từ bố mẹ, tùy theo kiểu gene và kiểu di
truyền của gene bệnh ở bố mẹ; do đột biến mới của gene, của nhiễm sắc thể
trong quá trình tạo giao tử ở bố mẹ [2].
Do sai sót trong quá trình phát triển phôi thai: Dị dạng (hình thái một số
cơ quan hoặc một phần cơ thể bất thường, thực chất là biến đổi vật chất di
truyền); Gián đoạn phát triển (bất thường hình thái một cơ quan hoặc một phần
cơ thể vì quá trình phát triển bình thường bị gián đoạn, do tác nhân ngoài phôi
9
như nhiễm trùng, chấn thương, do rối loạn tuần hoàn máu mẹ ở tử cung); Biến
dạng (bất thường hình thái, vị trí một cơ quan hoặc một phần cơ thể do yếu tố
cơ học, ví dụ như tử cung bị đè ép làm vẹo bàn chân, hay yếu tố tại thai ví dụ
thai bất sản thận, nước ối ít, hạn chế cử động thai); Loạn sản (bất thường hình
thái do rối loạn phát triển và sắp xếp của các tế bào và mô hình thành cơ quan
đó ví dụ các chứng loạn sản não, loạn sản xương…) [2].
1.3.3.4. Phân loại DTBS theo hệ thống cơ quan
Để thuận tiện cho việc thống kê và so sánh về tỉ lệ DTBS, WHO-1992 đã
đưa ra hệ thống phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 - ICD 10 International Classification of Diseases [2], [17], DTBS được mã hóa từ Q00
đến Q99:
- Q 00 - Q 07: Dị tật của hệ thần kinh
- Q 10 - Q 18: Dị tật tai, mắt, mặt, cổ
- Q 20 - Q 28: Dị tật hệ tuần hoàn
- Q 30 - Q 34: Dị tật hệ hô hấp
- Q 35 - Q 37: Sứt môi - Hở vòm miệng
- Q 38 - Q 45: Dị tật hệ tiêu hóa
- Q 50 - Q 59: Dị tật hệ sinh dục
- Q 60 - Q 64: Dị tật hệ tiết niệu
- Q 65 - Q 79: Dị tật hệ cơ xương
- Q 80 - Q 89: Những dị tật khác
- Q 90 - Q 99: Những rối loạn nhiễm sắc thể (không xếp loại ở nơi khác)
- E 70 - E 90: Rối loạn chuyển hóa bẩm sinh
1.3.3.5. Tần số các loại dị tật bẩm sinh
Bảng sau liệt kê 22 loại DTBS được chọn là đối tượng theo dõi của
Trung tâm thông tin quốc tế cho hệ thống giám sát dị tật bẩm sinh và tần số
xuất hiện, tần số này được tính trên 10.000 lần sinh. Việc điều tra được thực
hiện tại Nhật Bản (theo Mitsushiro Kida 1997)
Bảng 1.2. Các loại dị tật bẩm sinh và tần số [4]
10
STT
Loại dị tật
1
Quái thai vô não (anencephaly)
2
Tật nứt đốt sống (spina bifida)
3
Thoát vị não (encephalocele)
4
Não úng thủy (hydrocephaly)
5
Tật tai nhỏ (microtis)
6
Chuyển vị các đại động mạch
7
Hội chứng giảm sản tim trái
8
Khe hở hàm ếch (cleft palate)
9
Khe hở môi hoàn toàn (total cleft lip)
10
Tật bít thực quản (esophageal altresia)
11
Tật trít hẹp hậu môn trực tràng
12
Không phát triển hay rối loạn phát triển thận
13
Tật lỗ đái lệch thấp (hypospadias)
14
Tật lỗ đái lệch trên (epispadias)
15
Tật lộ bàng quang (bladder exstrophy)
16
Tật thiếu tứ chi (limb reduction defect
17
Thoát vị cơ hoành (diaphragmatic hernia)
18
Tật khuyết thành bụng (abdominal wall defects)
19
Tật bọc rốn (omphalocele)
20
Tật lộ dạ dày (gastroschisis)
21
Sinh đôi dính nhau (conjoined twins)
22
Hội chứng Down (Down Syndrome)
1.3.4. Các nguyên nhân gây dị tật bẩm sinh
Tần số
4,78/10.000
6,13/10.000
1,20/10.000
4,34/10.000
1,77/10.000
2,01/10.000
1,39/10.000
5,82/10.000
10,00/10.000
2,10/10.000
3,24/10.000
1,62/10.000
15,10/10.000
0,58/100.000
2,76/100.000
5,00/10.000
2,15/10.000
3,53/10.000
2,01/10.000
0,99/10.000
1,31/100.000
10,70/10.000
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO 1992,1993,1996), DTBS là tất cả
những bất thường về cấu trúc, chức năng sinh hóa xuất hiện từ lúc mới sinh
bất kể các bất thường này được phát hiện ở thời điểm nào. DTBS có đặc điểm
đều có nguyên nhân trước sinh, dị tật có thể ở mức độ cơ thể, tế bào hay dưới
tế bào, dị tật có thể phát hiện ngay lúc mới sinh hay muộn hơn.
Theo Trịnh Văn Bảo [2] có 4 nhóm nguyên nhân gây DTBS:
1. Do rối loạn vật chất di truyền từ bố, mẹ truyền cho con.
2. Do sự tác động của một số tác nhân môi trường đến phôi thai.
3. Do bất thường ở cơ thể mẹ.
4. Do tác động phối hợp của di truyền và môi trường.
11
Beckman và Brend (1986) [17] có gợi ý phân loại nguyên nhân DTBS
theo nhóm nguyên nhân sau:
Bảng 1.3. Nguyên nhân gây DTBS theo Beckman và Brend (1986)
STT
1
Nguyên nhân
Di truyền - bất thường NST và đơn gen
Tỉ lệ (%)
20-25
2
Nhiễm trùng thai: cytomegalo virus, toxoplasma,
giang mai, rubella và các loại khác
3-5
3
Các bệnh của mẹ: đái đường, nghiện rượu, động
kinh, và các bệnh khác
<4
4
Thuốc và các chế phẩm của thuốc
5
Chưa biết rõ nguyên nhân
Tổng cộng
1.3.4.1. Nguyên nhân di truyền
<1
65-75
100
DTBS do yếu tố di truyền được chia thành 2 loại, các DTBS do bất
thường NST và bất thường đơn gen.
- Bất thường nhiễm sắc thể: Các nhà di truyền chia bất thường NST ra làm 3
nhóm: Bất thường về số lượng NST (Đơn bội thể, tam bội thể, tứ bội thể, lệch bội),
bất thường về cấu trúc NST (vật chất di truyền của NST bị mất một phần, thêm
hay chuyển một đoạn sang NST khác,…như mất đoạn, NST vòng nhẫn, chuyển
đoạn NST, đảo đoạn), khảm (là trường hợp một người có hai kiểu NST, thường
gặp trong hội chứng Down, hội chứng Turner, hội chứng Klinefelter,…) [23]
- Bất thường đơn gen (single gen defects): Tỉ lệ các DTBS do bệnh đơn
gen ở trẻ sơ sinh là 1% [2]. Tần suất bệnh đơn gen trong dân cư thì cao hơn
do nhiều bệnh không biểu hiện ở thời kỳ mới sinh. Đột biến đơn gen gây ra
các DTBS tuân theo quy luật di truyền của Menden, nên có thể tiên đoán khá
chính xác khả năng mắc bệnh của con cái hay các thế hệ say này của người
bệnh. Alec MC Evan (2003) nghiên cứu có hơn 5000 bệnh đơn gen ở người.
Trong di truyền đơn gen có 3 kiểu di truyền gen trội trên NST thường, di
truyền gen lặn trên NST thường, di truyền gen liên kết NST giới tính X.
12
1.3.4.2. Nguyên nhân do môi trường
Vào khoảng 7% DTBS là do những tác nhân môi trường, theo Keith
L.Moore, 1988 có bảng nguyên nhân sau [4]:
Bảng 1.4. Nhân tố sinh dị tật bẩm sinh
Nhân tố
Dị tật bẩm sinh phát triển
Thuốc
Chậm lớn, chậm phát triển trí tuệ, tật đầu
Rượu
nhỏ và bất thường ở mặt
Não úng thủy, chậm lớn và chậm phát
Aminoptenrin và methotrexate
triển trí tuệ
Androgen và liều cao progestogen Nam tính hóa cơ quan sinh dục ngoài của
nam tính hóa
thai nữ
Chậm lớn, tật đầu nhỏ, chậm phát triển
Hydantoin (Dilantin)
trí tuệ
Lithium carbonate
Dị tật tim
Retionic acid và liều cao vitamin A Dị tật sọ - mặt, tật ống thần kinh
Tetracycline
Răng sẫm màu: thiểu sản men răng
Thalidomide
Tật không chi và tật biến dạng chi
Chậm phát triển, lông mày hình chữ V,
Trimethadione
sứt môi, hở hàm ếch
Thiểu sản sụn mũi, tật hệ thần kinh trung
Wafarin
ương
Hóa chất
Teo não, tật co cứng, động kinh, chậm
Methylmercury
phát triển trí tuệ
PCBs
Chậm phát triển, biến đổi màu da
Chất diệt cỏ trụi lá
Gây quái thai
Sẩy thai, thai chết lưu, đẻ non, chửa
2,4,5 - T
trứng
2,3,7,8 - TCD
Dị tật ở chi, mắt, mặt, miệng
Nhiễm khuẩn
Chậm lớn, chậm phát triển trí tuệ, mất
Cytomegalovirus
chức năng nghe
13
Tật đầu nhỏ, nhãn cầu nhỏ, loạn sản
võng mạc
Virus sởi
Đục thủy tinh thể, điếc, dị tật tim
Toxoplasma gondi
Mù, chậm phát triển trí tuệ, não nhỏ
Răng và xương bất thường, tật đầu nhỏ,
Syphilis
chậm phát triển trí tuệ
Varicella
Teo cơ, chậm phát triển trí tuệ
Venezuelan equine encephalitis
Đục thủy tinh thể, hoại não
Các yếu tố khác
Bướu cổ, chậm lớn và chậm phát triển trí
Thiếu iod
tuệ
Tật não nhỏ, chậm lớn và chậm phát
Liều cao bức xạ ion hóa
triển trí tuệ, hệ xương dị tật
Tật não nhỏ, chậm lớn và chậm phát
Acid phenylperuvic niệu
triển trí tuệ
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã xác định tỷ lệ và mối tương quan
Virus herpes
DTBS với các yếu tố môi trường [17].
1.3.4.3. Do nguyên nhân khác ở cha, mẹ
- Tuổi mẹ:
Một số nghiên cứu khác cho thấy tuổi mẹ quá trẻ cũng tăng nguy cơ sinh
con DTBS, người ta giải thích là do cơ quan sinh dục của các bà mẹ trẻ phát
triển chưa hoàn thiện và không cân bằng hormone ảnh hưởng đến sự phát
triển bình thường của thai, nhưng tuổi mẹ cao cũng tăng nguy cơ đẻ con
DTBS [41], [44]. Theo điều tra ở Scotland (2001) cho thấy tăng rõ rệt nguy
cơ của 3 NST 21 cùng với tuổi mẹ [72]:
Bảng 1.5. Tỉ lệ mắc bệnh Down và tuổi mẹ
Tuổi mẹ
Đẻ thƣờng
Quí I
20
25
30
35
1:1530
1:1350
1:910
1:380
1:1065
1:950
1:625
1:250
40
1:112
1:70
14
- Các bất thường cơ thể mẹ khi mang thai: mẹ có u xơ tử cung, dải màng
ối dính vào thai, thiểu ối, đa thai, do sang chấn, áp lực chèn ép thai từ bên
ngoài quá lớn.
- Tầng lớp xã hội: thành phần lao động nghèo có tỉ lệ thai và trẻ sơ sinh
chết cao hơn tầng lớp trên, một số dị tật như thai vô sọ liên quan đến điều
kiện xã hội [4].
- Thứ tự lần sinh của trẻ: tật hẹp môn vị, lỗ đái thấp, thai vô sọ hay gặp ở
những đứa con đầu lòng [73].
- Yếu tố tâm lý, tinh thần, thực nghiệm cho thấy sự tăng các hormone
cortisone, thyroxin làm tăng tính dễ xúc cảm của mẹ do đó dễ gây DTBS [73].
- Chế độ dinh dưỡng của mẹ trong thời kỳ thai nghén: thiếu các yếu tố vi
lượng, thiếu vitamin như biotin có thể làm loạn dưỡng sụn, dính ngón, các tật
khác của hệ xương khớp.
- Các bệnh chuyển hóa của mẹ trong khi mang thai: đái tháo đường type
1 theo một số tác giả gây 8% DTBS; bệnh Phenylketon niệu (PKU) 25% con
chết lúc mới sinh, 10% dị tật tim, 90% chậm phát triển trí tuệ; mẹ nghiện
rượu, thuốc lá, ma túy làm tăng nguy cơ DTBS [47], [52].
1.4. SIÊU ÂM VÀ CÁC XÉT NGHIỆM SÀNG LỌC QUÝ 2 THAI KỲ
1.4.1. Siêu âm sàng lọc
Trong phương pháp siêu âm, các mô bên trong cơ thể quan sát được quét
bằng một chùm sóng dao động có tần số từ 3 đến 10 MHz mà tai người không
nghe thấy được. Siêu âm được ứng dụng trong sản khoa trên 25 năm, siêu âm
còn là phương tiện được sử dụng để hướng dẫn chọc ối, chọc sinh thiết tế bào
gai nhau, lấy máu thai nhi hay tiến hành can thiệp một số thủ thuật đối với
thai nhi khi còn trong tử cung [3], [8], [12], [44]. Siêu âm không ảnh hưởng
đến thai nhi và mẹ nên có thể siêu âm nhiều lần [13].
Siêu âm sàng lọc trong thai kỳ tuân thủ theo quy định quản lý thai nghén
chung: ba tháng đầu, ba tháng giữa và ba tháng cuối [5], [57]. Các thời điểm
thực hiện siêu âm sàng lọc là thời điểm được lựa chọn để việc kiểm tra, theo dõi
15
thai kỳ đạt hiệu quả cao nhất. Siêu âm sàng lọc quý 1 được thực hiện vào thời
điểm 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày [3], [14], [57], nhằm góp phần đánh giá nguy
cơ bất thường nhiễm sắc thể dựa trên sự phân tích tổng hợp các yếu tố: tuổi mẹ,
độ mờ da gáy, nhịp tim thai, sinh hóa máu mẹ và những dấu chỉ điểm trên siêu
âm [39]. Siêu âm sàng lọc quý 2 (18-23 tuần) để phát hiện các loại dị dạng dựa
trên siêu âm hình thái học (morphologic fetals) [65], vì nhiều dị dạng về cấu trúc
đòi hỏi phải được theo dõi sát trong thai kỳ hoặc đòi hỏi một đơn vị chăm sóc
chu sinh đầy đủ lúc sinh, nếu muốn cải thiện tỷ suất tử vong và tỷ suất DTBS thì
cần phát hiện được các dị dạng, phần lớn các bất thường thai nhi xảy ra ở phụ nữ
có nguy cơ thấp (tuổi <35, không tiền căn gia đình, không tiếp xúc với thuốc)
[41], [70]. Siêu âm sàng lọc quý 3 thai kỳ (28-32 tuần) nhằm theo dõi sự phát
triển của thai nhi, các phần phụ của thai, phát hiện một số các DTBS (tuổi thai
phát hiện dị tật bẩm sinh tuổi thai nhỏ nhất 12 tuần, lớn nhất 40 tuần [36]).
1.4.1.1. Siêu âm sinh trắc học thai nhi quý 2 thai kỳ
Sinh trắc học thai nhi (fetal biometry) là công cụ tốt nhất để sàng lọc thai
chậm phát triển trong tử cung (IUGR: intrauterine growth retardation) cũng
như nhiều DTBS [50], [70]. Việc đo đạc phải tuân theo một quy định chuẩn,
đo đạc đầy đủ đầu, bụng và xương đùi. Số đo chiều dài xương cánh tay ngắn
có giá trị chẩn đoán hội chứng Down hơn là số đo xương đùi ngắn [10], các tỷ
lệ giữa chiều dài xương đùi và đường kính lưỡng đỉnh có giá trị xác định thai
bình thường hay bất thường [9].
Bảng 1.6. Sinh trắc học thai nhi quý 2 và 3
BPD
FOD
HC
AC
Femur
weeks 5% 50% 95% 5% 50% 95% 5% 50% 95% 5% 50% 95% 5% 50% 95%
15
20
24
18
23
28
63
76
90
40
58
76
5
9
13
12
19
24
28
23
28
33
77
90
104 50
68
87
8
12
16
13
23
28
32
28
33
38
90 104 118 60
79
98
11
15
19
14
27
31
36
33
38
43 104 117 132 69
89
109 14
18
22
15
30
35
40
38
43
48 117 131 146 79
99
119 17
21
25
16
34
39
44
42
48
53 130 144 159 89 110 130 20
24
28
17
38
43
48
47
52
58 142 157 172 99 120 141 22
27
31
18
41
46
51
51
57
62 155 169 185 108 130 152 25
30
34
19
45
50
55
55
61
67 167 182 197 118 140 162 28
32
37
20
48
53
58
59
65
71 179 194 210 128 151 173 31
35
40
21
51
56
62
63
69
75 190 205 222 138 161 184 34
38
42
22
54
60
65
67
73
79 201 217 233 148 171 195 36
41
45
23
57
63
68
71
77
83 212 228 245 158 182 205 39
43
48
24
16
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
60
63
66
69
71
74
76
78
80
82
84
86
88
90
91
93
66
69
72
74
77
79
82
84
86
89
91
93
94
96
98
99
71
74
77
80
83
85
88
90
92
95
97
99
101
103
104
106
74
78
81
84
87
90
92
95
97
99
102
104
105
107
109
110
80
84
87
90
93
96
99
101
104
106
108
110
112
114
116
117
86
90
93
96
99
102
105
108
110
113
115
117
119
121
123
124
223
233
243
253
262
271
279
288
296
303
311
318
324
331
337
343
239
249
259
269
279
288
296
305
313
321
328
336
342
349
355
361
256
266
277
287
296
306
315
323
332
340
347
355
362
368
375
381
167
177
187
197
207
217
227
237
246
256
266
276
286
296
306
316
192
202
212
223
233
243
253
264
274
284
295
305
315
325
336
346
216
227
238
248
259
270
280
291
302
312
323
334
344
355
365
376
41
44
46
49
51
53
56
58
60
62
64
66
68
69
71
73
46
49
51
53
56
58
60
63
65
67
69
71
73
75
76
78
51
53
56
58
61
63
65
68
70
72
74
76
78
80
82
84
(Các giá trị bình thường theo Merz) [70].
Trong đó:
BPD (Biparietal diameter): đường kính lưỡng đỉnh
FOD (Frontooccipital diameter): đường kính chẩm trán
HC (Head circumference): chu vi đầu
AC (Abdominal circumference): chu vi bụng
Femur: xương đùi.
Một số hình ảnh siêu âm đo các đường kính đầu, bụng và các chi [70].
Hình 1.2. Hình ảnh đầu
thai nhi (mặt cắt ngang)
1. Vách trong suốt
2. Đồi thị
17
Hình 1.3. Hình ảnh bụng
(mặt cắt ngang)
1. Tĩnh mạch rốn
2. Dạ dày
3. Cột sống
Hình 1.4. Xương đùi thai nhi
- Các thành phần cần khảo sát ở não bộ: rãnh liên bán cầu não, liềm não,
lỗ giữa não thất, kênh não, vòm não, vách trong suốt, khoang vách trong suốt,
thể chai (là cấu trúc quan trọng kết nối hai bán cầu não, nếu thể chai không
phát triển sẽ không thấy vách trong suốt), khoang dưới nhện,…[3]. Các số đo
thường khảo sát:
Đường kính lưỡng đỉnh: ĐKLĐ của thai nhi lúc đầu phát triển nhanh,
sau đó giảm dần theo tuổi thai [9], [48], [56], [76].
Chu vi vòng đầu (CVĐ), đo ở cùng mặt phẳng đã đo ĐKLĐ. Đo vòng
theo bờ ngoài xương sợ hoặc tính theo công thức:
CVĐ = (ĐKLĐ + đường kính chẩm trán) x 1,62 [3], [28], [69]
Chỉ số đầu (cephalic index) đo ở cùng mặt cắt trên, là tỷ số giữa đường
18
kính lưỡng đỉnh và đường kính chẩm trán, trị số bình thường 75 - 85%.
Hai não thất bên: bình thường <10mm, trị số số đo này cố định trong
suốt thời gian tuổi thai từ 14 đến 40 tuần.
Bể lớn (hố sau) đo ở mặt cắt ngang qua tiểu não, đo từ bờ ngoài của thùy
nhộng đến bờ trong của xương sọ, bình thường <10mm .
- Vùng mặt - cổ: có các mặt cắt chính để khảo sát vùng này là mặt cắt
dọc giữa, mặt cắt trán, và mặt cắt ngang. Các số đo thường ghi nhận: đường
kính giữa hai hốc mắt thay đổi theo từng tuổi thai, khoảng cách giữa hai mắt,
đường kính hốc mắt, xương mũi (không thấy xương mũi ở 11-14 tuần tuổi
thai thường gặp trong 60-70% trường hợp thai bị Down và 2% trường hợp
thai nhi bình thường, ở quý 2 thai kỳ chiều dài xương mũi bình thường >
2,5cm), độ mờ da gáy (NT: nuchal translucency) đo ở tuổi thai 11 đến 13 tuần
6 ngày, trị số bình thường < 3mm, nếp gấp da gáy (NF: nuchal fold) đo ở tuổi
thai sau 14 tuần, ở mặt cắt ngang hơi thấp hơn mặt cắt ĐKLĐ để thấy được
xương chẩm và tiểu não (trị số bình thường ở quý 1 là < 3mm, ở quý 2 là <
6mm [3], [51], [77], [78])
- Cột sống thai nhi bắt đầu hóa xương ở tuần lễ thứ 10. Mỗi đốt sống có
3 trung tâm hóa xương: một ở phía trước tạo thành thân sống và hai ở phía
sau tạo thành cung sống kín. Cột sống cũng được khảo sát qua 3 mặt cắt: dọc,
ngang và trán.
- Các mặt cắt khảo sát ngực thai nhi phải quan sát được khung sườn và
khoang ngực. Trong khoang ngực, tim chiếm 1/3 thể tích lồng ngực, phần còn
lại là 2 lá phổi nằm cân xứng trong lồng ngực. Cơ hoành được thấy ở mặt cắt
dọc thân thai nhi, có phản âm kém, phân cách khoang ngực và bụng thai nhi.
Các số đo được ghi nhận ở vùng ngực:
Đường kính ngang ngực có tỷ số số đo so với đường kính ngang bụng cố
định từ sau 16 tuần đến cuối thai kỳ [3];
Chu vi vòng ngực = (đường kính trước sau + đường kính ngang) x 1,57.
Tỷ số đường kính ngang ngực/đường kính ngang bụng = 0,77 - 1,01.
19
Tim được khảo sát với hai mặt cắt ngang và dọc để quan sát 4 buồng tim
và các đại động mạch, nhịp tim thường 120-160lần/phút, thường đều đặn, có
nhịp chậm sinh lý.
- Khảo sát vùng bụng chủ yếu là các cơ quan của hệ tiêu hóa, hệ tiết
niệu. Các số đo thường ghi nhận:
Đường kính ngang bụng: đo qua mặt cắt có cột sống, dạ dày và một phần
tĩnh mạch cửa gan, đo từ bờ ngoài - ngoài.
Chu vi vòng bụng (CVB) = (Đường kính trước sau + đường kính ngang)
x 1.57 [3].
Các cơ quan hệ tiêu hóa cần quan sát: gan, mật, tụy, dạ dày, ruột non,
ruột già. Các cơ quan hệ tiết niệu cần quan tâm: thận (bể thận bình thường
đường kính trước sau < 3mm), bàng quang, tuyến thượng thận.
- Các chi của thai nhi: thấy được đầy đủ các đoạn gần, đoạn giữa, bàn
tay, bàn chân và các ngón ở tuổi thai 10 tuần. Các chi cần được đánh giá các
yếu tố liên quan như: hình dáng, chiều dài, mật độ xương, tư thế xương,…
Xương đùi được coi như là đại diện cho các xương dài và chỉ cần ghi
nhận số đo chiều dài xương đùi (CDXĐ) để so sánh tỷ lệ cân xứng với
ĐKLĐ, và có thêm yếu tố xác định tuổi thai ở thai <20 tuần. CDXĐ phát triển
chậm ở giai đoạn đầu thai nghén, sau đó phát triển nhanh dần [9]. Ở tuần lễ
thứ 14-17 xương cánh tay dài hơn xương đùi; ở tuần 18,19 xương đùi phát
triển nhanh nên có chiều dài bằng xương cánh tay; ở tuần 20 trở đi xương đùi
càng phát triển và đến tuần 30 tỷ lệ chiều dài xương cánh tay trên xương đùi
là 0,87 [10].
- Giới tính của thai nhi ngoài nhu cầu của những người có liên quan, còn
có giá trị trong chẩn đoán một số bệnh lý liên quan đến nhiễm sắc thể giới
tính, những trường hợp cần chẩn đoán song thai 1 bánh rau,…Chỉ nên chẩn
đoán khi nhận diện rõ những phần của cơ quan sinh dục: nam (bìu và dương
vật, hai tinh hoàn chỉ thấy được khi đã xuống túi bìu, thường ở đầu tam cá
nguyệt 3), nữ (thấy được 2 môi lớn và âm vật).