BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT
TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN
NGUYỄN THỊ PHƢỢNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.38.01.07
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ VĂN CƢƠNG
HÀ NỘI – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ, trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực.
NGƯỜI CAM ĐOAN
NGUYỄN THỊ PHƢỢNG
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện tại Viện đại học Mở Hà Nội. Để hoàn thành
được Luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của
các thầy cô giáo trong trường.
Trước hết, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS. Vũ Văn Cương đã hướng
dẫn tôi thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình.
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo đã đem lại cho tôi
những kiến thức bổ trợ vô cùng có ích trong thời gian học vừa qua.
Xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo Sau đại học,
Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động
viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Phƣợng
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài......................................................................................2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài......................................................................3
3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài...................................................................................3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài..................................................................................3
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài......................................................................4
4.1. Đối tượng nghiên cứu đề tài.................................................................................4
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài.....................................................................................4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu........................................................5
5.1. Phương pháp luận.................................................................................................5
5.2. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................5
6. Kết cấu của Luận văn...............................................................................................5
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN.............6
1.1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng .........6
1.1.1. Khái quát về lãi suất trong hợp đồng tín dụng................................................6
1.1.1.1. Khái niệm về hợp đồng tín dụng............................................................….6
1.1.1.2. Khái quát về lãi suất trong hợp đồng tín dụng...........................................9
1.1.2. Những vấn đề lý luận về tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng…….15
1.1.2.1. Khái niệm tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng.......................16
1.1.2.2. Đặc điểm tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng.........................16
1.1.2.3. Các loại tranh chấp về lãi suất chủ yếu trong hợp đồng tín dụng..............17
1.2. Những vấn đề lý luận về giải quyết các tranh chấp về lãi suất trong hợp
đồng tín dụng tại Tòa án..........................................................................................24
1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Tòa
án….............................................................................................................................24
1.2.2. Hệ thống pháp luật được áp dụng để giải quyết tranh chấp về lãi suất trong
hợp đồng tín dụng tại Tòa án…………………………………………………….…28
Kết luận Chƣơng 1...................................................................................................31
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM
....................................................................................................................................32
2.1. Thực trạng các quy định về lãi suất đƣợc sử dụng để giải quyết tranh chấp
về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Tòa án ở Việt Nam hiện nay……....…32
2.1.1. Quy định của pháp luật về lãi suất cho vay qua các thời kỳ………………32
2.1.2. Lãi suất cơ bản và lý do không sử dụng, tham chiếu lãi suất cơ bản trong
các quy định về lãi suất của Bộ luật Dân sự năm 2015………………..……..……45
2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Tòa
án ở Việt Nam…………………..…………………………………………………48
2.2.1. Đánh giá chung về việc giải quyết các tranh chấp lãi suất trong hợp đồng
tín dụng tại Tòa án……….………………………………….....…………………..48
2.2.2. Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lãi suất
trong hợp đồng tín dụng tại Tòa án ………………………………………………….….55
2.2.3. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc khi giải quyết tranh chấp lãi
suất trong hợp đồng tín dụng tại Tòa án……………………………………..………….60
Kết luận chƣơng 2.....................................................................................................65
Chƣơng 3
NHỮNG ĐỊNH HƢỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT
TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN..................................................66
3.1. Những định hƣớng cơ bản trong hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu
quả giải quyết tranh chấp về lãi suất trong quan hệ cho vay nói chung và hợp
đồng tín dụng nói riêng............................................................................................66
3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp về lãi suất trong
quan hệ cho vay nói chung và hợp đồng tín dụng nói riêng.......................................66
3.1.2. Những nguyên tắc cơ bản trong hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp
về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Tòa án ở Việt Nam ………………….………67
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp về lãi suất trong
quan hệ cho vay nói chung và hợp đồng tín dụng nói riêng………………..….68
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về nội dung trong giải quyết tranh
chấp về lãi suất trong quan hệ cho vay nói chung và hợp đồng tín dụng nói riêng.68
3.2.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục……………………………76
3.3. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về giải quyết tranh chấp về lãi suất
trong quan hệ cho vay nói chung và hợp đồng tín dụng nói riêng tại Tòa án..79
Kết luận chƣơng 3....................................................................................................84
KẾT LUẬN...............................................................................................................85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................86
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng Dân sự
2
BLDS
Bộ luật Dân sự
3
HĐTD
Hợp đồng tín dụng
4
KDTM
Kinh doanh thương mại
5
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
6
PBGDPL
Phổ biến giáo dục pháp luật
7
TAND
Tòa án nhân dân
8
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
9
TCKDTM
Tranh chấp kinh doanh thương mại
10
TCTD
Tổ chức tín dụng
11
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Lãi suất là một công cụ kinh tế quan trọng và nhạy cảm đối với mọi nền kinh
tế, nó đóng vai trò quan trọng giúp ổn định, thúc đẩy hoặc kìm hãm nền kinh tế phát
triển. Lãi suất có ảnh hưởng lớn đến hoạt động, lợi ích của các tổ chức tín dụng
(TCTD) và các tổ chức, cá nhân vay vốn. Hiện nay, số lượng các vụ tranh chấp về
hợp đồng tín dụng (HĐTD) có xu hướng gia tăng đặc biệt kể từ sau cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu. Nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp là do lãi suất cao
nên bên vay vốn không có khả năng để trả nợ cho TCTD. Tuy nhiên, tranh chấp về
lãi suất ít khi là nội dung chính của một vụ việc, mà thông thường chỉ khi khách
hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ và vụ việc được đưa ra giải quyết tại cơ quan chức
năng, những bất đồng quan điểm quanh vấn đề lãi suất mới phát sinh.
Trong thực tiễn, vấn đề giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa
án tuy không nhiều như các tranh chấp HĐTD nói chung nhưng lại diễn ra rất phức
tạp, một phần nguyên nhân do pháp luật có quy định không thống nhất, không rõ
ràng dẫn đến việc hiểu và áp dụng pháp luật không đúng, không trúng, không mang
hiệu quả cao. Đặc biệt kể từ khi Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 được ban hành
có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 với nhiều thay đổi trong quy định về lãi suất cho
vay thì vấn đề này càng trở lên phức tạp. Trước những yêu cầu của thực tiễn đặt ra,
để hiểu đúng, áp dụng đúng pháp luật, hạn chế các tranh chấp phát sinh, việc nghiên
cứu đầy đủ có hệ thống các quy định của pháp luật về lãi suất để áp dụng thống nhất
trong giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án là cần thiết và có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn lớn. Qua đó đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm
nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án, góp
phần đảm bảo quyền và lợi ích của các bên khi ký kết HĐTD, góp phần bảo đảm
tính nghiêm minh của pháp luật. Đó là lý do để tôi chọn đề tài " Giải quyết tranh
chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Tòa án" làm nội dung nghiên cứu
Luận văn Thạc sỹ Luật kinh tế của mình.
1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài Luận
văn tôi nhận thấy: Nghiên cứu đề tài về tranh chấp HĐTD không phải là vấn đề mới
trong hoạt động nghiên cứu chuyên môn. Tuy nhiên, các công trình khoa học đã
công bố trong thời gian qua chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu về giải quyết những
tranh chấp phát sinh từ HĐTD nói chung. Việc nghiên cứu sâu về tranh chấp lãi
suất cho vay trong HĐTD cho đến nay mới có một vài công trình khoa học nghiên
cứu về nó, cụ thể: Luận văn cao học của tác giả La Hồng “Giải quyết tranh chấp về
lãi suất cho vay trong HĐTD của TCTD tại Tòa án” năm 2007, Đại học Luật TP.
Hồ Chí Minh và 01 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật của tác giả Phạm Lê Ninh
“Tranh chấp về lãi suất trong HĐTD - Thực trạng và giải pháp”. Trong các công
trình nghiên cứu khoa học nói trên mới chỉ tập trung nghiên cứu những quy định
của pháp luật về lãi suất trong HĐTD được quy định trong văn bản pháp luật về
ngân hàng và BLDS năm 2005, hiện nay các quy định trong các văn bản pháp luật
đó đã hết hiệu lực thi hành và được thay thế bằng các quy định mới. Tuy nhiên, các
công trình khoa học trên cũng nêu rõ những mâu thuẫn trong quy định của pháp luật
về lãi suất cho vay và việc áp dụng không nhất quán trong công tác xét xử tại Tòa
án và đưa ra những nhận định về việc giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD.
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết trên các tạp chí như: Tạp chí ngân hàng, Tạp
chí tài chính… cũng nghiên cứu về lãi suất nói chung và lãi suất cho vay trong
HĐTD nói riêng dưới góc độ kinh tế hoặc pháp lý. Với các công trình nghiên cứu
khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài, tôi coi đây là những kiến thức quan
trọng mà Luận văn có thể kế thừa trong quá trình nghiên cứu của mình.Tuy nhiên,
vấn đề giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án là một lĩnh vực
phức tạp, các công trình nghiên cứu đã thực hiện thời gian qua chỉ giải quyết một số
mặt chứ chưa đưa ra các giải pháp tổng thể để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu
quả công tác giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD. Mặt khác, nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn đang tiếp tục được đặt ra cần phải giải quyết mà chưa được cập
nhật trong pháp luật hiện hành. Đặc biệt từ ngày 01/01/2017, khi BLDS năm 2015
2
có hiệu lực thi hành, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật tạo lập khuôn khổ pháp lý mới về cho vay của TCTD đối với khách hàng
như: Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN quy định về
hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Thông tư số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN quy định cho vay tiêu
dùng của công ty tài chính… Cho đến hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu
chuyên sâu nào về vấn đề giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án.
Do đó, đề tài nghiên cứu này sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề giải quyết tranh chấp về
lãi suất trong HĐTD tại Tòa án, qua đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật
nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án,
góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của các bên khi ký kết HĐTD.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án, trên cơ
sở nghiên cứu quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành, Luận văn
hướng đến mục đích góp phần làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn trên cơ sở
đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết
tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích
của các bên khi ký kết HĐTD.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích trên, đề tài nghiên cứu cần thực hiện các nhiệm vụ cơ
bản sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về lãi suất trong HĐTD và giải quyết tranh
chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án.
- Từ các vụ án thực tế tại Tòa án, phân tích làm rõ vấn đề áp dụng pháp luật
khi giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án, từ đó phân tích những
bất cập, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật của Tòa
án.
3
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp về lãi suất trong
HĐTD, Luận văn đưa ra những định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật
nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án,
góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của các bên khi ký kết HĐTD.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ mục đích nêu trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan
điểm, lý luận về lãi suất trong HĐTD và giải quyết tranh chấp về lãi suất trong
HĐTD; Các quy định của pháp luật về lãi suất và giải quyết tranh chấp về lãi suất
trong HĐTD ở Việt Nam; Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về lãi
suất trong HĐTD tại Tòa án ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Giải quyết tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa án là một đề tài có
phạm vi nghiên cứu tương đối hẹp nhưng có tính chuyên sâu. Hơn nữa, do đề tài
được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật kinh tế. Bởi vậy, Luận văn sẽ tập
trung nghiên cứu chủ yếu là các quy định của pháp luật về nội dung ở Việt Nam liên
quan đến giải quyết các tranh chấp về lãi suất trong HĐTD, pháp luật về thủ tục chỉ
xem xét đến một số khía cạnh còn những khó khăn, bất cập trong giải quyết tranh
chấp về lãi suất trong HĐTD. Bởi vậy những nội dung được luận văn nghiên cứu
gồm:
- Nghiên cứu khái quát về lãi suất nói chung và lãi suất trong HĐTD giữa
TCTD với khách hàng.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật về lãi suất và việc áp dụng các quy
định của pháp luật đó để giải quyết các tranh chấp về lãi suất trong HĐTD tại Tòa
án ở Việt Nam.
- Về không gian: Nghiên cứu hoạt động giải quyết tranh chấp về lãi suất
trong HĐTD tại Tòa án trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
- Về thời gian: Số liệu khảo sát thực tiễn từ năm 2014 đến tháng 6/2017.
4
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong quá trình giải quyết tranh chấp về lãi suất trong
HĐTD tại Tòa án.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu trong đề tài bao gồm các
phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học
pháp lý nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, hệ thống
hóa pháp luật, suy luận logic, nghiên cứu đề tài, nghiên cứu bản án, quy nạp, diễn
dịch, kế thừa thành quả nghiên cứu trước đó, khảo sát tình hình thực tiễn hoạt động
xét xử tại Tòa án nhằm đưa ra những kiến nghị và giải pháp phù hợp. Trên cơ sở so
sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới về vấn đề này, xem xét sự phù hợp
với điều kiện Việt Nam nhằm hướng tới hoàn thiện các quy định của pháp luật về
HĐTD Ngân hàng ở Việt Nam...Các phương pháp được sử dụng phù hợp với từng
nội dung của các phần trong Luận văn nhằm đảm bảo các kết quả nghiên cứu là
khách quan và có độ tin cậy cao.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp về
lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Tòa án;
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp về lãi suất
trong hợp đồng tín dụng tại Tòa án ở Việt Nam;
Chương 3: Những định hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm
nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng tại Tòa
án.
5
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP VỀ LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TẠI TÒA ÁN
1.1. Những vấn đề lý luận về tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái quát về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
1.1.1.1. Khái niệm về hợp đồng tín dụng
Theo từ điển tiếng Việt thì “Tín dụng” là sự vay mượn tiền mặt và vật tư,
hàng hóa. [66, tr.960].
Theo đó khoản 16 Điều 4 Luật các TCTD năm 2010, Điều 2 Thông tư
39/2016/TT-NHNN có định nghĩa: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên
cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục
đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn
trả cả gốc và lãi.
TCTD cung cấp vốn trên cơ sở niềm tin khách hàng sẽ hoàn trả được nợ
vay. Do đó, người cho vay đòi hỏi người đi vay phải có sự cam kết hoàn trả cả vốn
lẫn lãi. Trên thực tế sự cam kết này thực chất là HĐTD. Đây là cơ sở pháp lý xác
định trách nhiệm của hai chủ thể trong quan hệ tín dụng.
HĐTD có thể được hiểu là sự cam kết giữa người cho vay và người đi vay về
việc trả nợ vay cả gốc và lãi. Cách lý giải đó đúng nhưng chưa đủ vì thực tế một
HĐTD còn rất nhiều vấn đề phức tạp mà đòi hỏi mỗi chủ thể tham gia vào giao dịch
đó phải hết sức thận trọng, tỉ mỷ trước khi thống nhất ý chí để đi đến ký kết hợp
đồng đúng luật cả về nội dung lẫn hình thức. Khi nói đến hợp đồng thì ta nghĩ ngay
đến sự thỏa thuận bằng lời nói hay bằng văn bản giữa hai hay nhiều chủ thể có năng
lực pháp luật và năng lực hành vi nhằm xác lập thực hiện hay chấm dứt các quyền
và nghĩa vụ pháp lý nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.
Từ nhận thức đó đồng thời căn cứ vào bản chất của HĐTD ta có thể đưa ra một định
nghĩa về HĐTD như sau:
“ HĐTD là thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (gọi là bên cho vay) với
khách hàng là tổ chức, cá nhân (gọi là bên vay), theo đó TCTD thỏa thuận ứng
6
trước một số tiền cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều
kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm”. [60, tr.161-162] .
Với định nghĩa này, thì HĐTD bao gồm hai yếu tố:
Về phương diện hình thức: Sự thỏa thuận giữa TCTD và khách hàng phải
được thể hiện bằng văn bản. (Điều này được ghi nhận tại Điều 23 Thông tư
39/2016/TT-NHNN: Thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản). Mọi HĐTD
đều phải được lập thành văn bản thì mới có giá trị pháp lý. Sở dĩ pháp luật quy định
như thế là có lý do, một trong những lý do đó là:
- HĐTD được ký kết bằng văn bản nó sẽ là bằng chứng cụ thể hợp thức hoá
sự thỏa thuận của các bên. Chính HĐTD bằng văn bản buộc các bên tôn trọng nó
một cách nghiêm túc dựa trên những quyền và nghĩa vụ đã quy định. Đồng thời nó
là cơ sở để giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD.
- Việc ký kết HĐTD bằng văn bản cũng có nghĩa rằng bên cho vay và bên
vay đã công bố công khai, chính thức về mối quan hệ pháp lý. Từ đó, người thứ ba
biết rõ về việc lập khế ước đó mà có phương cách xử sự hợp lý, an toàn nhất trong
giao dịch với họ.
- Đồng thời, với việc ký kết HĐTD bằng văn bản mới có thể khiến cho các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện công vụ được tốt hơn. Tuy nhiên, hình
thái vật chất của văn bản HĐTD như thế nào mới được xem là hợp pháp vẫn còn là
vấn đề bỏ ngõ trong pháp luật hiện hành của Việt Nam. Trong khi xã hội ngày càng
phát triển và có vô số những hình thái vật chất khác nhau như văn bản viết tay, văn
bản dưới dạng điện tử.... Về ý kiến văn bản viết tay thì có ý kiến cho rằng HĐTD
nên bằng văn bản viết, có chữ ký viết tay và có con dấu (nếu có) của các bên tham
gia HĐTD thì mới hợp pháp và có giá trị pháp lý. Họ đưa ra ý kiến này là phòng
ngừa các rủi ro pháp lý cho các bên HĐTD bị sửa đổi bất hợp pháp mà không phát
hiện được. Còn ý kiến HĐTD nên chấp nhận cả văn bản điện tử có chữ ký điện tử
của các bên tham gia HĐTD: Họ cho rằng, hiện nay rất nhiều hợp đồng dân sự, kinh
doanh thương mại ( KDTM) đã áp dụng hình thức văn bản điện tử. Cho nên, HĐTD
dưới hình thức văn bản điện tử cũng có thể được chấp nhận. Cùng với sự ra đời của
7
Luật giao dịch điện tử, việc áp dụng Luật giao dịch điện tử dưới dạng văn bản điện
tử là phù hợp. Thế nhưng, việc áp dụng loại hình văn bản điện tử có thể dẫn đến các
rủi ro pháp lý cho các bên, chẳng hạn khi văn bản điện tử bị xâm nhập rồi sửa đổi
thì việc chứng minh văn bản gốc là cực kỳ khó khăn. Nếu có tranh chấp phát sinh
thì việc giải quyết nó cũng là điều rất phức tạp. Tóm lại, việc cơ quan lập pháp quy
định mọi HĐTD phải được ký kết bằng văn bản là một trong những biện pháp bảo
đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia HĐTD. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện
nay, việc xác định thế nào là một văn bản là vấn đề cần phải được minh bạch hóa.
Về phương diện nội dung: Bên cho vay thỏa thuận để bên vay được sử dụng
một số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả, dựa trên sự
tín nhiệm.
Từ phương diện hình thức và nội dung vừa phân tích ở trên thì ta thấy có một
số dấu hiệu đặc trưng khác để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao lưu
dân sự và thương mại, ngoài những dấu hiệu chung của mọi loại hợp đồng:
Thứ nhất, về mặt chủ thể thì một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là
TCTD đủ điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật với tư cách là bên cho
vay. Chủ thể bên kia của hợp đồng (khách hàng) có thể là pháp nhân, cá nhân, bao
gồm: Pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhân được thành
lập ở nước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; Cá nhân có quốc tịch Việt
Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài [29, tr.1].
Thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành về quy chế
cho vay của TCTD đối với mọi khách hàng vay.
Thứ hai, về mặt đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền. Trong đó tiền
phải được xác định cụ thể do các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng.
Thứ ba, HĐTD có tính rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vay, theo các
nhà quản lý kinh tế, thì HĐTD luôn đối mặt với rủi ro trong quan hệ tín dụng. Về lý
luận, rủi ro trong HĐTD được xem là khả năng khách hàng không trả được nợ vay
và lãi. Từ đó hoạt động kinh doanh của TCTD sẽ gặp khó khăn. Sở dĩ như vậy là vì
trong HĐTD các bên cam kết là sau một thời hạn nhất định thì bên đi vay mới hoàn
8
trả nợ. Tuy nhiên, nếu thời hạn vay càng dài thì nguy cơ xảy ra rủi ro và bất trắc
càng lớn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân xảy ra tranh chấp phát sinh từ
HĐTD. Do đó, có thể thấy số lượng và tỷ lệ tranh chấp liên quan đến HĐTD cũng
lớn hơn các loại hợp đồng khác.
Thứ tư, về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên. Trong HĐTD,
nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) bao giờ cũng phải thực hiện
trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đó,
chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo
đúng HĐTD cho bên vay, thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực
hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụng tiền vay
đúng mục đích, nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng thời hạn cả gốc và lãi,…)
1.1.1.2. Khái quát về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
* Khái niệm lãi suất:
Khái niệm lãi suất được đề cập trong nhiều tài liệu với những khía cạnh khác
nhau, nhưng nhìn chung khái niệm lãi suất tương đối thống nhất và không có quá
nhiều khác biệt.
Theo Từ điển Tiếng Việt: Lãi suất là tỉ lệ phần trăm giữa lãi so với vốn. [66,
tr.517].
Các nhà nghiên cứu về kinh tế cho rằng: Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng
một đơn vị vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định như ngày, tuần, tháng hay
năm. Lãi suất được hình thành trên cơ sở giá trị sử dụng chứ không phải trên cơ sở
giá trị. Giá trị sử dụng của khoản vốn vay là khả năng mang lại lợi nhuận cho người
đi vay khi sử dụng vốn vay trong hoạt động kinh doanh hoặc mức độ thỏa mãn một
hoặc một số nhu cầu nào đó của người đi vay. Khác với giá cả hàng hóa, lãi suất
không được biểu diễn dưới dạng số tuyệt đối mà dưới dạng tỷ lệ phần trăm (%). Lãi
suất cũng được xem là tỷ suất sinh lời mà người chủ sở hữu thu được từ khoản vốn
cho vay. [62, tr.245].
9
Lãi suất là tỷ lệ mà theo đó tiền lãi được người vay trả cho việc sử dụng tiền
mà họ vay từ một người cho vay. Cụ thể, lãi suất là phần trăm tiền gốc phải trả cho
một khoảng thời gian (thường được tính theo năm).
Bên cạnh khái niệm “lãi suất” cần phân biệt với khái niệm “tiền lãi” vì là hai
khái niệm khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
“ Tiền lãi được hiểu là khoản tiền bên vay, bên huy động vốn hoặc bên thuê
trả cho bên cho vay, bên gửi tiền hoặc bên cho thuê về việc sử dụng vốn vay, vốn
huy động hoặc tài sản cho thuê”. [15, tr.1].
Tiền lãi trong quan hệ tín dụng được tính toán căn cứ vào số vốn cho vay,
thời gian sử dụng vốn và lãi suất. Như vậy, tiền lãi là khoản giá trị chênh lệch mà
bên cho vay được hưởng, là khoản dôi ra so với giá trị được chuyển giao lúc đầu.
Lãi trong quan hệ tín dụng chính là giá cả của khoản vay.
Từ phân tích trên cho thấy: “Lãi” và “Lãi suất” là hai khái niệm khác nhau.
Việc phân biệt và sử dụng đúng đắn hai thuật ngữ này có ý nghĩa quan trọng trong
quá trình nghiên cứu và áp dụng quy định pháp luật.
* Khái niệm về lãi suất trong HĐTD:
Lãi suất trong HĐTD là tỉ lệ nhất định mà bên vay phải trả thêm vào số tiền
đã vay tính theo đơn vị thời gian dựa trên sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD
với bên vay có đủ điều kiện theo luật định.
* Đặc điểm lãi suất trong HĐTD
Là một công cụ để tính lợi nhuận nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh
thần của cả bên cho vay và bên vay, lãi suất có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, lãi suất trong HĐTD chính là lãi suất cho vay của TCTD với khách
hàng vay được phát sinh trong các hợp đồng HĐTD. Lãi suất cho vay là lãi suất mà
TCTD đưa ra để thu từ người vay tiền. “Lãi suất cho vay phải bao gồm tất cả các
chi phí huy động vốn, đủ bù đắp các chi phí quản lí và thực hiện khoản cho vay,
trang trải được các loại rủi ro, lãi suất cho vay phải chứa đựng phần lợi nhuận hợp
lí” [61, tr.44]. Ngoài ra, lãi suất cho vay còn chịu sự chi phối của kì hạn vay, kì hạn
càng dài lãi suất càng cao. Như vậy, lãi suất cho vay là lãi suất tính trên số vốn mà
10
bên vay phải trả kèm theo gốc tiền vay. Thỏa thuận về lãi suất là một điều khoản
chủ yếu trong HĐTD, đó là cơ sở để tính phần giá trị tăng thêm mà TCTD được
nhận từ khoản cho vay, cũng chính là một phần thu nhập của TCTD.
Lãi suất cho vay ở Việt Nam chủ yếu có ba loại: Lãi suất cho vay của NHNN
đối với các TCTD; Lãi suất cho vay giữa các TCTD; Và lãi suất cho vay của TCTD
với khách hàng. Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này, khi nói đến lãi suất
trong HĐTD nghĩa là nói đến lãi suất cho vay của TCTD với khách hàng đi vay.
Thứ hai, lãi suất trong HĐTD không được phát sinh một cách độc lập, nó chỉ
hình thành do thoả thuận của các bên sau khi đã thoả thuận được số tiền vay. Bản
chất của lãi suất là tỉ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức thu được trong một thời gian
với tổng số vốn bỏ ra cho vay trong cùng thời gian đó, như vậy chỉ tồn tại tỉ lệ phần
trăm này khi tồn tại số tiền gốc mà các bên thỏa thuận. Lãi suất trong HĐTD hình
thành trên cơ sở cạnh tranh giữa các TCTD… Tính cạnh tranh của lãi suất càng
được thể hiện rõ khi hệ thống các tổ chức tham gia và cấp tín dụng ngày càng nhiều.
Mức lãi suất phải hấp dẫn thì mới thu hút được khách hàng tham gia. Do vậy, mỗi
TCTD muốn phát triển được hệ thống của mình đều phải đưa ra được một mức lãi
suất có khả năng cạnh tranh đối với các TCTD khác nhằm lôi kéo khách hàng về
phía mình.
Thứ ba, lãi suất được tính dựa trên số vay gốc và thời hạn vay (thời gian
vay): Như đã phân tích ở trên, lãi suất tỉ lệ thuận với vốn gốc và thời hạn vay. Do
đó, tương ứng với số nợ gốc nhiều hay ít, thời hạn vay dài hay ngắn mà các bên có
thể thoả thuận mức lãi suất cho phù hợp. Lãi suất tín dụng hình thành một cách linh
hoạt, nhạy bén, thích ứng với mọi hoàn cảnh, đối tượng. Sự thay đổi thường xuyên
của chính sách tín dụng phù hợp với sự biến đổi của cung, cầu về vốn vay, tỷ lệ lạm
phát, thu chi Ngân sách Nhà nước, yếu tố tâm lý của người đi vay và người cho vay
trên thị trường tài chính.
* Các loại lãi suất trong HĐTD
Lãi suất được chia thành nhiều loại dựa trên những tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào loại hình cho vay của TCTD thì có các loại lãi suất sau:
11
Lãi suất cho vay kinh doanh, vay tiêu dùng, vay trả góp, vay qua thẻ tín
dụng… Hoặc thời hạn cho vay như: Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, với
mỗi thời hạn tín dụng sẽ có từng loại lãi suất cụ thể tương ứng. Hoặc theo mức độ
tín nhiệm trong quan hệ giữa TCTD và khách hàng và sự thỏa thuận giữa hai bên có
lãi suất khác nhau.
- Căn cứ vào giá trị thực của tiền lãi thu được lãi suất trong HĐTD có các
loại lãi suất sau:
+ Lãi suất danh nghĩa (nominal interest rate) là lãi suất được tính theo giá trị
danh nghĩa, không kể đến tác động của lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thường được
công bố chính thức trên HĐTD.
+ Lãi suất thực tế (real interest rate) là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng
theo những thay đổi về lạm phát. Vì vậy, lãi suất thực tế còn được định nghĩa là lãi
suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát.
- Căn cứ vào loại tiền cho vay trong HĐTD có các loại lãi suất:
+Lãi suất nội tệ là lãi suất cho vay và đi vay đồng nội tệ;
+ Lãi suất ngoại tệ là lãi suất cho vay và đi vay đồng ngoại tệ;
- Căn cứ vào thời hạn áp dụng lãi suất trong HĐTD thì có 2 loại lãi suất sau:
+ Lãi suất trong hạn: Mặc dù không được quy định cụ thể về khái niệm
trong văn bản pháp luật, nhưng có thể hiểu là lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng
dùng làm căn cứ để tính giá trị lãi mà khách hàng vay phải trả cho TCTD tính trên
số tiền đã vay tương ứng với thời hạn mà các bên đã thoả thuận.
+ Lãi suất quá hạn chỉ phát sinh khi tồn tại khoản nợ quá hạn. Do đó, trước
khi tìm hiểu về lãi suất quá hạn, có hai vấn đề cần quan tâm là nợ quá hạn và thời
điểm chuyển khoản nợ từ trong hạn sang quá hạn.
Trong Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng có giải thích rõ: “Nợ
quá hạn là những khoản nợ mà khi đến thời hạn trả nợ gốc hoặc lãi khách hàng
không trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kì hạn nợ gốc hoặc lãi, không
được gia hạn nợ gốc hoặc lãi”. [17]
12
Thời điểm chuyển nợ quá hạn được xác định như sau: “Đối với khoản nợ vay
không trả đúng hạn, được TCTD đánh giá là không có khả năng trả nợ đúng hạn và
không chấp thuận cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ thì số dư nợ gốc của HĐTD đó là
nợ quá hạn và TCTD thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ, việc phạt chậm trả đối
với nợ quá hạn và nợ lãi vốn vay do hai bên thoả thuận trên cơ sở quy định của
pháp luật.”
Dù cho vay ở hình thức nào thì TCTD cũng đều đưa ra mức lãi suất trong
hạn và lãi suất quá hạn. Hai mức lãi suất này không chỉ có ý nghĩa đối với việc xác
định nghĩa vụ trả lãi của khách hàng vay mà còn đóng vai trò quan trọng khi cơ
quan chức năng giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.
- Căn cứ vào mức độ ổn định của lãi suất cho vay trong HĐTD có các loại
lãi suất sau:
+ Lãi suất cố định là lãi suất được ấn định một mức cụ thể trong HĐTD,
không chịu tác động của những biến động lãi suất thị trường. Lãi suất này không
thay đổi trong suốt thời gian vay vốn tại TCTD, thông thường áp dụng trong cho
vay ngắn hạn.
+ Lãi suất thả nổi là lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kì, biến đổi theo
thời gian. Mức điều chỉnh và kì điều chỉnh lãi suất sẽ theo thỏa thuận giữa khách
hàng và TCTD được quy định rõ trong HĐTD. Thông thường lãi suất thả nổi được
áp dụng trong cho vay trung và dài hạn.
* Vai trò của lãi suất trong HĐTD
Lãi suất là một trong những biến số được quan tâm chặt chẽ nhất trong nền
kinh tế, bởi lãi suất không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của mỗi tổ chức, cá
nhân mà còn là một chỉ số đo lường sức khỏe của nền kinh tế. Có thể khái quát vai
trò của lãi suất qua 2 nội dung là vai trò vĩ mô và vai trò vi mô:
- Vai trò vĩ mô: Một trong những vai trò mang tính vĩ mô của lãi suất là vai
trò kiểm soát. Theo đó, lãi suất có vai trò trung tâm trong chính sách tiền tệ của
Chính phủ, được sử dụng như một công cụ quan trọng để tác động vào nền kinh tế,
kiểm soát lượng cung ứng tiền tệ. Khi mức cung ứng tiền tăng lên, nếu đem số tiền
13
tạm thời thừa ra cho vay, đầu tư thì lãi suất sẽ hạ xuống. Như vậy khi nền kinh tế rơi
vào tình trạng suy thoái và trì trệ, NHNN có thể hạ lãi suất nhằm tăng cung tiền và
kích cầu để thúc đẩy kinh tế phát triển vượt qua tình trạng suy thoái. Khi lãi suất
giảm, giá thành đầu tư giảm theo, các doanh nghiệp lại tăng đầu tư, nhu cầu đầu tư
và tiêu dùng tăng lên, lãi suất lại tăng lên. Do đó, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng
lạm phát cao có ảnh hưởng không tốt, NHNN có thể nâng lãi suất lên nhằm hạn chế
và rút bớt cung tiền góp phần giảm tỉ lệ lạm phát.
Ngoài ra, lãi suất còn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các chủ thể
kinh doanh, điển hình là các doanh nghiệp, bởi lẽ lãi suất phải trả cho khoản vay là
khoản chi phí của nhà kinh doanh. Do vậy lãi suất thấp sẽ khuyến khích các cá
nhân, tổ chức vay vốn đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh. Ngược lại, lãi suất cho
vay cao sẽ thu hẹp hoạt động đầu tư của các đối tượng này. Mặt khác, lãi suất là
công cụ buộc các cá nhân, tổ chức phải sử dụng hiệu quả khi mà những ưu đãi lãi
suất về điều kiện vay vốn và thanh toán là cách thức để Nhà nước khuyến khích các
doanh nghiệp đầu tư vào các ngành nghề, sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược
phát triển kinh tế.
Đối với NHNN thì lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Sự biến động
của lãi suất trong quá trình điều chỉnh của NHNN tác động đến nhiều mặt của nền
kinh tế như đầu tư, tiêu dùng, tiết kiệm, tỷ giá…qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến các
mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước. Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng
và các doanh nghiệp có thể tiến hành bất cứ việc gì nếu họ muốn trong khuôn khổ
pháp luật, miễn là họ có phương tiện thanh toán.Vì vậy bằng cách kiểm soát giá bán
và mua quyền sử dụng tiền tức lãi suất, NHNN ở bất kì quốc gia nào cũng có thể chi
phối được sự tăng trưởng nền kinh tế. Bằng cách tăng lãi suất, NHNN có thể làm
yếu đi khả năng cho vay của các Ngân hàng thương mại và do đó thực hiện chính
sách tiền tệ, giảm bớt khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinh
doanh và chi tiêu của người tiêu dùng. Cũng như vậy, bằng cách sử dụng lãi suất,
NHNN có thể tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Muốn kìm hãm tốc độ phát
triển hay đẩy mạnh phát triển một ngành nào đó, NHNN có thể tăng hoặc giảm lãi
14
suất cho vay để thu hẹp hay mở rộng đầu tư ở ngành này. Bên cạnh vai trò hướng
dẫn điều hành nền kinh tế, lãi suất tín dụng còn đóng vai trò tích cực trong kìm chế
lạm phát.
Tóm lại, lãi suất có tác động đến nhiều mặt đến nền kinh tế, đến sự phát triển
và tăng trưởng kinh tế. Một chính sách lãi suất hợp lý sẽ vừa là điều kiện thu hút
các khoản vốn nhàn rỗi, vừa để thúc đẩy đầu tư trong nền kinh tế, giúp cho nền kinh
tế tăng trưởng ổn định.
-Vai trò vi mô: Lãi suất là yếu tố thúc đẩy kinh doanh có hiệu quả của các
doanh nghiệp, bù đắp chi phí và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng: Doanh nghiệp
vay vốn của ngân hàng phải hoàn trả đúng kì hạn cả vốn lẫn lãi. Vì vậy, muốn đảm
bảo có nguồn vốn trả nợ, doanh nghiệp phải quan tâm thực sự đến kết quả sản xuất
kinh doanh của mình. Nếu hoàn trả nợ không đúng kì hạn, lãi suất quá hạn cao hơn
lãi suất đúng hạn (bằng 1,5 lần lãi suất đúng hạn) điều này thúc đẩy các doanh
nghiệp phải cố gắng kinh doanh tốt, đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn. Hoạt động
kinh doanh của TCTD là huy động vốn để cho vay. Khi huy động vốn, TCTD phải
trả lãi cho người gửi, khi cho vay sẽ thu lãi của người vay. TCTD phải tính toán
mức lãi suất cho vay và đi vay hợp lý để bù đắp các khoản chi phí nghiệp vụ và có
lợi nhuận cho mình. Mặt khác, lãi suất chính là công cụ để cạnh tranh giữa các
TCTD. Trong kinh tế thị trường, do yêu cầu của quy luật cạnh tranh, mọi thành
phần kinh tế đều có sự cạnh tranh quyết liệt vì sản phẩm tiêu thụ, giá bán, phương
thức phục vụ, dịch vụ bán hàng…. Đứng vững được trong quá trình cạnh tranh đó là
điều không đơn giản. Với phương châm đi vay để cho vay, hoạt động huy động và
sử dụng vốn của ngân hàng có liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, các ngân hàng
thương mại đều phải đổi mới phương thức phục vụ và huy động vốn để huy động
được vốn tối đa đồng thời cũng phải đẩy mạnh cho vay. Ngoài ra, các TCTD khác
cũng cần phấn đấu hạ thấp chi phí, tạo cơ sở hạ thấp lãi suất đầu ra để thu hut được
nhiều khách hàng đến mở tài khoản và vay vốn.
1.1.2. Những vấn đề lý luận về tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín
dụng
15
1.1.2.1. Khái niệm tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
Tranh chấp phát sinh từ HĐTD được hiểu là tình trạng pháp lý của quan hệ
HĐTD, trong đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những
quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích phát sinh từ HĐTD, nguyên nhân trực tiếp hoặc gián
tiếp dẫn đến tranh chấp là sự bất đồng ý chí về các thỏa thuận trong HĐTD. Một
HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về phương diện
quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài (mặt khách quan) thông qua
những bằng chứng cụ thể và xác định được.
Theo cách hiểu như trên thì: Tranh chấp về lãi suất trong HĐTD là những
mâu thuẫn phát sinh từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ có liên quan đến lãi suất
trong HĐTD giữa TCTD với khách hàng.
1.1.2.2. Đặc điểm tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng
Thứ nhất, tranh chấp lãi suất trong HĐTD là một loại tranh chấp HĐTD mà
cụ thể là tranh chấp về điều khoản lãi suất cho vay trong hợp đồng ký kết giữa
TCTD cho vay với khách hàng vay. Phần tranh chấp không hẳn là toàn bộ số tiền
lãi mà bên vay phải trả mà có thể là một phần của số tiền lãi mà thôi. Giá trị tranh
chấp thường không quá lớn so với số tiền gốc và tiền lãi không có tranh chấp mà
người vay phải trả.
Thứ hai, tranh chấp về lãi suất trong HĐTD thường được giải quyết theo
phương thức thương lượng, hòa giải giữa các bên tranh chấp hơn là giải quyết bằng
con đường Tòa án. Pháp luật quy định tôn trọng quyền định đoạt của các bên trong
quan hệ dân sự, vì thế các bên có quyền chọn lựa phương thức giải quyết tranh chấp
thuận lợi hơn. Số lượng vụ việc được giải quyết thông qua Tòa án là không nhiều,
vì giá trị tranh chấp không lớn và thời gian tố tụng kéo dài. Hai bên phải trực tiếp
hoặc cử đại diện của mình tham gia vào quá trình tố tụng trong khi hoạt động sản
xuất, kinh doanh thì không thể dừng lại và khả năng thắng kiện cũng không phải là
tuyệt đối. Do đó, phương thức thương lượng, hòa giải vẫn được lựa chọn nhiều hơn
vì các bên có thể chủ động trong việc giải quyết và tiết kiệm chi phí.
16
Thứ ba, tranh chấp về lãi suất trong HĐTD thường có nguyên nhân khách
quan, do quan hệ tín dụng thường là quan hệ kinh doanh diễn ra trong khoảng thời
gian khá dài có nhiều yếu tố tác động đến lãi suất cho vay của các TCTD như: Sự
biến động của thị trường tài chính, tiền tệ, chính sách điều tiết kinh tế của Nhà
nước… Không phải mọi tranh chấp về lãi suất cho vay đều do ý chí chủ quan của
các bên, mà để đảm bảo hoạt động kinh doanh hoặc nhu cầu tiêu dùng của mình,
các chủ thể trong quan hệ tín dụng có thể không tuân thủ quy định của pháp luật dẫn
đến tranh chấp. Mặt khác, tranh chấp cũng có thể xảy ra do lãi suất trong HĐTD ở
thời điểm trước khi có sự thay đổi về chính sách trở nên không còn phù hợp với quy
định của pháp luật sau khi NHNN có những điều chỉnh về lãi suất cho vay.
Thứ tư, tranh chấp về lãi suất thông thường phát sinh khi HĐTD đã được
thực hiện và một trong hai bên có sự vi phạm nghĩa vụ. Bản chất tranh chấp về lãi
suất không phát sinh đơn lẻ, hay nói cách khác chỉ vì thỏa thuận lãi suất mà dẫn đến
tranh chấp giữa hai bên. Thông thường bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bên cho
vay khởi kiện ra Tòa án, sau đó trong quá trình hòa giải các bên có thỏa thuận về
việc điều chỉnh lãi suất nhưng không thành công. Cũng có những tranh chấp do
trong quá trình thực hiện, chịu sự tác động của các yếu tố khách quan hoặc chủ
quan, một trong hai bên có yêu cầu điều chỉnh lãi suất nhưng không đạt được sự
đồng thuận từ phía bên kia.
Thứ năm, số lượng tranh chấp về lãi suất chiếm một tỉ lệ không nhiều trong
số các tranh chấp về HĐTD và càng nhỏ hơn nữa trong tổng số các tranh chấp kinh
tế hoặc dân sự. Mặc dù vậy có thể thấy rằng trong thời gian qua, Tòa án đã giải
quyết hậu quả của việc NHNN thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ trong bối cảnh
khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 – 2009, số lượng tranh chấp về lãi suất tăng
đáng kể.
1.1.2.3. Các loại tranh chấp về lãi suất chủ yếu trong hợp đồng tín dụng
* Căn cứ vào thời điểm phát sinh tranh chấp về lãi suất trong HĐTD thì
tranh chấp về lãi suất trong HĐTD chia thành các loại tranh chấp sau:
17
Thứ nhất: Tranh chấp về lãi suất phát sinh ngay trong giai đoạn đầu thực
hiện HĐTD mà chưa đến hạn thanh toán nợ gốc hoặc lãi.
Thông thường người vay sẽ trả nợ vay khi khoản vay đến hạn theo thỏa
thuận ghi trong hợp đồng. Nhưng trên thực tế có một số trường hợp vì lý do khác
nhau mà người vay muốn trả nợ vay trước hạn hoặc do người vay vi phạm các cam
kết trong hợp đồng buộc TCTD tuyên bố đơn phương chấm dứt HĐTD và thu hồi
nợ vay trước hạn. Việc thu hồi vốn vay trước hạn có thể ảnh hưởng đến kế hoạch
kinh doanh hoặc lợi ích của TCTD. Đặc biệt với TCTD khi đang có nguồn vốn huy
động dồi dào đang có nhu cầu mở rộng tín dụng, hoặc là khi lãi suất cho vay đang
xuống thấp, người vay muốn trả nợ trước hạn vì lãi suất cho vay trong HĐTD mà
họ đã vay là cố định và cao hơn nhiều với lãi suất cho vay mà TCTD đang áp dụng
cho khách hàng hiện tại. Họ trả nợ vay cũ, sau đó ký hợp đồng vay mới để được
hưởng mức lãi suất thấp. Chính vì điều này, TCTD thường tính mức lãi suất hoặc
thu 1 khoản phí nhất định với khoản vay mà người vay trả nợ trước hạn. Nhiều khi
khách hàng không chấp nhận cách tính lãi suất hoặc phí trả nợ trước hạn dẫn đến
tranh chấp.
TCTD có yêu cầu nâng lãi suất cho vay: Điều khoản về lãi suất trong HĐTD
là điều khoản vô cùng quan trọng. Thông thường để hạn chế rủi ro lãi suất, TCTD
không thỏa thuận lãi suất cố định với hợp đồng trung – dài hạn mà quy định trong
HĐTD lãi suất cho vay tính bằng lãi suất tiền gửi cộng một biên độ và thay đổi định
kì. Trong một số hợp đồng vay ngắn hạn, lãi suất cho vay được thỏa thuận là lãi
suất cố định trong suốt thời gian vay. Khi thị trường có những biến động khiến
TCTD phải nâng lãi suất huy động để thu hút nguồn vốn trong dân cư, việc cho vay
với lãi suất thấp hơn (ở những HĐTD kí kết từ trước đó nhưng vẫn trong quá trình
giải ngân) so với lãi suất huy động hiện tại sẽ khiến TCTD mất đi một phần lợi
nhuận. Vì vậy, không ít TCTD đã yêu cầu khách hàng chấp nhận tăng lãi suất cho
vay mới tiếp tục giải ngân. Đây chính là tình trạng xảy ra rất nhiều trong thời gian
giữa năm 2008 khi áp dụng chính sách điều hành lãi suất “thắt chặt” của NHNN, lãi
suất huy động và lãi suất cho vay được đẩy lên rất cao. Tình trạng này không chỉ
18