Tải bản đầy đủ (.pdf) (56 trang)

Nghiên cứu hệ thống xử lý và tuần hoàn nước trong chế biến chà là tại Packing house 90 ở Moshav Ein yahav Arava Israel (Khóa luận tốt nghiệp)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 56 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THANH THẢO

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG XỬ LÍ VÀ TUẦN HOÀN NƢỚC
TRONG CHẾ BIẾN CHÀ LÀ TẠI PACKING HOUSE 90
MOSHAV EIN YAHAV, ARAVA, ISRAEL

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Niên khóa

:
:
:
:

Chính quy
Khoa học môi trƣờng
Môi trƣờng
2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THANH THẢO

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG XỬ LÍ VÀ TUẦN HOÀN NƢỚC
TRONG CHẾ BIẾN CHÀ LÀ TẠI PACKING HOUSE 90
MOSHAV EIN YAHAV, ARAVA, ISRAEL

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học
Giảng viên hƣớng dẫn

:
:
:
:
:

Chính Quy
Khoa học môi trƣờng
Môi trƣờng
2013 - 2017
TS.Dƣ Ngọc Thành


Thái Nguyên, năm 2017


i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt chương trình đào tạo trong nhà trường với phương
châm học đi đôi với hành, mỗi sinh viên sau khi ra trường cần phải chuẩn bị
cho mình lượng kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng.
Thời gian thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh
viên trong các trường đại học, nhằm hệ thống lại toàn bộ chương trình đã học,
vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. Qua đó sinh viên khi ra trường sẽ hoàn
thành về kiến thức, lý luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác, nhằm
đáp ứng nhu cầu của thực tiễn và nghiên cứu khoa học.
Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên, sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Môi trường và trung tâm
đào tạo phát triển Quốc tế. Đã cho em cơ hội được đi thực tập tại Israel với đề
tài nghiên cứu: “Nghiên cứu hệ thống xử lý và tuần hoàn nước trong chế
biến chà là tại Packing house 90 - ở moshav Ein-yahav, Arava, Israel”.Kết
thúc thực tập, hoàn thành đề tài tốt nghiệp cũng là hoàn thành khóa học, nhân
dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Môi
trường đã truyền đạt kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập và rèn
luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thầy giáo, TS. Dƣ Ngọc Thành
đã nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này. Mặc dù
bản thân đã có nhiều cố gắng, song do kiến thức và thời gian có hạn, bước đầu
làm quen với phương pháp nghiên cứu, nên khóa luận của em không tránh khỏi
những hạn chế và thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy,
cô giáo, bạn bè động viên để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 12 năm 2017

Sinh viên
Nguyễn Thanh Thảo


ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Các nguồn thải và phương pháp xử lý ............................................ 24
Bảng 2.2. Một số thành phần có trong nước thải ............................................ 25
Bảng 4.1. Lượng nước tuần hoàn sau xử lý .................................................... 38
Bảng 4.2. Kết quả phân tích các chỉ tiêu trước và sau khi xử lý .................... 39


iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bản đồ vùng Arava - Israel ............................................................. 13
Hình 2.2. Quy trình đóng gói .......................................................................... 23
Hình 3.1. Sơ đồ Cơ cấu tổ chức của packing .................................................. 30
Hình 4.1. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải chế biến chà làcủa packing
Tzur 90 ............................................................................................ 33
Hình 4.2: Biểu đồ thể hiện chỉ tiêu pH trước và sau khi xử lý ....................... 39
Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện chỉ tiêu COD trước và sau khi xử lý.................... 40
Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện chỉ tiêu BOD5 trước và sau khi xử lý .................. 40
Hình 4.5: Biểu đồ thể hiện chỉ tiêu TSS trước và sau khi xử lý ..................... 41


iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GTRT


:

Giảm thiểu rác thải

KSON :

Kiểm soátô nhiễm

LHQ

Liên hiệp quốc

:

PNON :

Phòng ngừaô nhiễm

SXSH

Sản xuất sạch hơn

:


v
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................. iv
MỤC LỤC ........................................................................................................ v
Phần 1:ĐẶT VẤN ĐỀ ..................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 3
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3
Phần 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 4
2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................... 4
2.1.1. Cơ sở lí luận ............................................................................................ 4
2.1.2. Cơ sở thực tiễn ........................................................................................ 5
2.2. Khái quát về vùng Arava- Israel .............................................................. 11
2.2.1. Vị trí địa lý ............................................................................................ 11
2.2.2. Đặc điểm tự nhiên ................................................................................. 13
2.3. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................... 14
2.3.1. Xã hội .................................................................................................... 14
2.3.2.Kinh tế .................................................................................................... 15
2.4. Một số phương pháp xử lý nước thải ....................................................... 16
2.4.1. Phương pháp cơ học (xử lý bậc 1) ........................................................ 16
2.4.2. Phương pháp sinh học ........................................................................... 17
2.4.3. Phương pháp hóa học ............................................................................ 19
2.4.4. Phương pháp hóa-lý .............................................................................. 19
2.4.5. Phương pháp bậc cao ............................................................................ 20
2.4.6. Phương pháp khử trùng ......................................................................... 20


vi
2.4.7. Phương pháp xử lý bùn ......................................................................... 20
2.5. Tổng quan về công nghệ chế biến và phương pháp xử lí, tuần hoàn
nước thải trong chế biến chà là tại packing house 90 ..................................... 22
2.5.1. Công nghệ chế biến, đóng hộp chà là ................................................... 22

2.5.2. Các nguồn thải và phương pháp xử lý nước thải trong chế biến chà
là tại packing Tzur 90 ...................................................................................... 23
2.5.3. Một số thành phần có trong nước thải .................................................. 25
2.5.4. Đặc điểm của nước thải......................................................................... 26
Phần 3:ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ... 28
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 28
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 28
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 28
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu............................................................ 28
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 28
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 28
3.4.1. Phương pháp thu thập thông tin, kế thừa số liệu, tài liệu ..................... 28
3.4.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa ................................................ 29
3.4.3. Phương pháp tổng hợp và viết báo cáo ................................................. 29
3.4.3. Phương pháp chuyên gia ....................................................................... 29
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 30
4.1. Giới thiệu về packing ............................................................................... 30
4.1.1. Vị trí địa lí và lịch sử hoàn thành .......................................................... 30
4.1.2. Cơ cấu tổ chức của packing .................................................................. 30
4.1.3. Yêu cầu về kiểm soát nhiệt độ trong bảo quản ..................................... 31
4.1.4. Yêu cầu về bao gói và vật liệu bao gói ................................................. 31
4.1.5. Vệ sinh an toàn thực phẩm trong sản xuất ............................................ 32
4.2. Tìm hiều về sơ đồ hệ thống xử lý và tuần hoàn nước trong chế biến
chà là tại Packing............................................................................................. 33


vii
4.2.1. Thuyết minh công nghệ......................................................................... 34
4.3. Nguyên lý hoạt động và cơ chế xử lý nước thải của hệ thống ................. 35
4.3.1. Nguyên lý .............................................................................................. 35

4.3.2. Cơ chế xử lý của hệ thống .................................................................... 37
4.3.3. Khả năng tuần hoàn nước sau xử lý phục vụ sản xuất (đv: m3) ........... 38
4.3.4. Kết quả trước và sau khi xử lý nước thải trong chế biến chà là của
packing Tzur 90............................................................................................... 39
4.3.5. Hiệu suất xử lý nước thải của hệ thống xử lý trong packing 90 ........... 39
4.4. Báo cáo công việc đã làm tại Packing và đề xuất một số vấn đề về
sinh viên thực tập tốt nghiệp tại nước ngoài ................................................... 41
4.4.1. Báo cáo công việc đã làm tại Packing................................................... 41
4.4.2. Đề xuất một số vấn đề về sinh viên thực tập tốt nghiệp tại nước ngoài ... 42
Phần 5:KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................... 44
5.1. Kết luận .................................................................................................... 44
5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 47


1
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo LHQ, đến năm 2050 hơn 40% dân số thế giới sẽ bị thiếu nước.
Do đó, tình hình hiện tại mà nước được coi là một nguồn tài nguyên thiên
nhiên vô tận phải thay đổi. Các chính phủ và các tổ chức quốc tế đang tìm
kiếm các giải pháp đã được chứng minh và có hiệu quả, tạo ra sự quan tâm
đến ngành nước của Israel được coi là một trong những nước tinh vi và hiệu
quả nhất trên thế giới. Ngành công nghiệp nước ở Israel được đặc trưng bởi
một trình độ công nghệ và đổi mới cao. Mặc dù, và có lẽ do sự thiếu hụt tự
nhiên của lượng mưa và các nguồn nước thích hợp cho việc tưới tiêu và sinh
hoạt hàng ngày, Israel đã thành công trong việc biến mình thành siêu cường
trong ngành công nghiệp nước. Trái với các nước láng giềng trong khu vực
cũng phải giải quyết vấn đề thiếu nước, các công dân Israel được hưởng

nguồn cung cấp nước uống không đổi và đáng tin cậy và nông dân sẽ được sử
dụng nước phù hợp với nhu cầu của họ. Việc tạo ra một ngành nước ổn định
cho phép các khu vực khác nhau trong Israel (người tiêu dùng, nông dân,
công nghiệp và những người khác) tiêu thụ 2,2 tỷ m3 nước mỗi năm, mặc dù
lượng mưa trung bình hàng năm trong nước chỉ bằng 1,2 tỷ m3. Sự phát triển
của lĩnh vực này đã có thể thực hiện được nhờ tiến bộ và ứng dụng công nghệ
tiên tiến trong lĩnh vực khử muối, nước phục hồi nông nghiệp, lọc nước, hệ
thống vận chuyển nước hiệu quả và giảm lượng nước mất đi trong quá trình
vận chuyển. Danh tiếng của Israel như là một siêu cường trong lĩnh vực nước,
với sự chú trọng đến lĩnh vực nông nghiệp, từ lâu đã được công nhận trên
khắp thế giới nhờ phát triển phương pháp irrigatio nhỏ giọt được phát minh ra
ở Israel vào những năm 1960.
Ngày nay, Israel cũng được coi là nước dẫn đầu trong lĩnh vực khử
muối, tái chế nước, an ninh nước (không gian mạng) và nhiều hơn nữa. Các
đặc điểm độc đáo của Israel, kết hợp những thách thức trong giải quyết các


2
vấn đề liên quan đến tình trạng thiếu nước, cùng với mức độ đổi mới cao, đầu
tư vào nghiên cứu và phát triển các ngành công nghệ cao, đã dẫn tới nhiều
phát triển công nghệ trong lĩnh vực nước được sử dụng trong cả hai thị trường
địa phương và xuất khẩu sang các nước trên thế giới. Các nhà chức trách tại
Isarel cũng đã rất thành công trong việc kết nối các mắt xích với nhau như
nhà nước với công dân, với doanh nghiệp công nghiệp, với doanh nghiệp
nông nghiệp trong vấn để xử lí nước thải và tái tuần hoàn nguồn nước. Tại
vùng Arava, Isarel, các doanh nghiệp nông nghiệp tại đây đã cho em thấy
được sự quan tâm đến nguồn nước của họ là như thế nào trong lĩnh vực nông
nghiệp. Họ sử dụng, xử lí và tái sử dụng nguồn nước triệt để. Bằng cách liên
kết các nhà máy chế biến rau quả với nhà máy xử lí nước, cũng như mang
lưới nước quốc gia để đưa nước tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín tận

dụng triệt để nguồn tài nguyên nước ít ỏi tại đây. Farm Tzur 90, Ein yahav,
Arava là một nhà máy chế biến rau quả lớn nhất tại đây cũng là một mắt xích
quan trọng trong vòng tuần hoàn nước này.
Ở Việt Nam hiện nay, việc liên kết các mắt xích như nhà nước với
doanh nghiệp, với người dân còn hạn chế trong vấn đền xử lí và tái tuần hoàn
nước. Vì nước ta có nguồn nước tự nhiên dồi dào và lượng mưa bình quân
hàng năm lớn.Hầu hết các nhà máy chế biến rau củ quả của Việt Nam đều
không có hệ thống xử lí và tái tuần hoàn nước đúng tiêu chuẩn. Họ thường
xây dựng nhà máy cạnh các sông hồ, ao, suối để có thể dẫn bỏ nước thải trực
tiếp ra môi trường gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đặc biệt là nguồn
nước sạch bị ảnh hưởng. Chính vị vậy em làm đề tài: “Nghiên cứu hệ thống
xử lý và tuần hoàn nước trong chế biến chà là tại Packing house 90 - ở
Arava, Israel”. Là mang tính cấp thiết cho các nhà máy sản xuất rau quả ở
Việt Nam ta. Chúng ta có thể học hỏi được kinh nghiệm quản lí và sử dụng
nguồn nước, tái sử dụng nguồn nước tiên tiến của Israel, để chống lại vấn đề ô
nhiễm nguồn nước đang ngày càng lan rộng hiện nay.


3
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu, đánh giá hệ thống xử lý nước thải, tuần hoàn nước và tái
sử dụng nước thải ở moshav Ein-yahav, Israel. Đề xuất các biện pháp để xử lý
chất thải, nước thải phù hợp với điều kiện của Việt Nam để đạt hiệu quả cao
hơn nhằm nâng cao công tácquản lý môi trường một cách khoa học và
bềnvững, kết hợp với việc bảo vệ môi trường góp phần nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Khái quát được Packing house 90 - ở Arava, Israel.
- Tìm hiều về sơ đồ hệ thống xử lý và tuần hoàn nước trong chế biến

chà là tại Packing house 90 - ở Arava, Israel.
- Tìm hiểu nguyên lý hoạt động, cơ chế xử lý của hệ thống xử lý và
tuần hoàn nước tại Packing house 90 - ở Arava, Israel.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
 Trong học tập và nghiên cứu khoa học:
- Đề tài sẽ là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế, là cơ hội tiếp
cậnvới thực tế và phương pháp quản lý môi trường nước thải trong sản xuất
chế biến ở Israel nói riêng và của nước ngoài nói chung để hiểu rõ hơn về
bản chất vấn đề.
- Nâng cao khả năng tự học tập, nghiên cứu và tìm tài liệu tham khảo.
 Trong thực tiễn:
- Đề tài là cơ sở để lựa chọn, áp dụng các biện pháp xử lý nước thải,
chất thải nói chung và nước thải nông nghiệp nói riêng sao cho phù hợp, có
chọn lọc ở Việt Nam mang lại hiệu quả cao.
-Đây có thể là một mô hình quản lí nước thải trong chế biến rau quả
mà nước ta có thể học tập. Từ đó đúc kết được các kinh nghiêm, cũng như
khúc mắc trong vấn đề xử lí và tái tuần hoàn nước trong chế biến rau quả ở
Việt Nam.


4
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Cơ sở lí luận
2.1.1.1. Một số khái niệm
* Môi trường: Trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày
23 tháng 06 năm 2014, định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu
tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của

con người và sinh vật” .
* Nước thải: Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng
của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
* Nước thải sinh hoạt: Là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt
động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở trường học khác.
* Nước thải thấm qua: Là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng
nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố
gas hay hố xí.
* Nước thải tự nhiên: Nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở
những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng.
* Tuần hoàn nước: là sự tồn tại và vận động của một lượng nước nhất
định trong một chu trình hoạt động (sinh hoạt, sản xuất…..)
*Tái sử dụng nước: Có thể xem như đồng nghĩa với thu hồi nước thải
và tái chế nước thải. Trong chu trình nước tự nhiên Trái Đất đã cấp nước tuần
hoàn và tái sử dụng nước thải hàng triệu năm. Khoảng 100 năm gần đây do
nhu cầu con người tăng cao nên hoạt động xả thải các chất ô nhiễm ra môi
trường khá lớn dẫn đến chu trình vòng tuần hoàn nước tự nhiên không kịp khả
năng làm sạch nguồn nước nên cần có sự can thiệp của con người.


5
* Tiêu chuẩn môi trường: Trong Luật Bảo vệ môi trườngđã được
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, thông qua
ngày 23 tháng 06 năm 2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2015, định nghĩa như sau: “Là giới hạn cho phép của các thông số về chất
lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất
thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định làm căn cứ để quản lý và
bảo vệ môi trường”.
*Phòng ngừa ô nhiễm: Hai thuật ngữ SXSH và phòng ngừa ô nhiễm
(PNON) thường được sử dụng thay thế nhau. Chúng chỉ khác nhau về mặt địa

lý thuật ngữ PNON được sử dụng ở Bắc Mỹ trong khi SXSH được sử dụng ở
các khu vực còn lại trên thế giới.
*Giảm thiểu rác thải: Khái niệm về giảm thiểu rác thải được đưa vào
năm 1988 bởi Cục Bảo vệ Môi trường của Hoa Kỳ. GTRT tập trung vào việc
tái chế rác thải và các phương tiện khác để giảm thiểu lượng rác thải bằng
việc áp dụng nguyên tắc 3P và 3R.
*Kiểm soát ô nhiễm: Sự khác nhau cơ bản của KSON và SXSH là vấn
đề thời gian. KSON là một cách tiếp cận từ phía sau, giống như xử lý cuối
đường ống, trong khi sản xuất sạch hơn là cách tiếp cận từ phía trước, mang
tính chất dự đoán và phòng ngừa.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
2.1.2.1. Hiện trạng ô nhiễm nước thảitrên Thế giới
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với
nhịp độ đáng lo ngại. Tiến độ ô nhiễm nước phẩn ánh trung thực tiến độ phát
triển kỹ nghệ.
Ở Anh Quốc: đầu thế kỷ XIX sông Tamise rất sạch. Nó trở thành ống
cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự
trước khi người ta đưa ra biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.


6
Nước Pháp rộng lớn hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng
vẫn đề không khác bao nhiêu. Dân Pari còn uống nước sông Seine đến cuối
thế kỷ XVIII. Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nơi không
còn dùng làm nước sinh hoạt nữa, 5000 km sông Pháp bị ô nhiễm mãn tính.
Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người,
là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạ cháy nhà máy thốc Sandoz ở Bale năm
1986) thêm vào các nguồn nước ô nhiễm thường xuyên.
Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng
khác. Vùng Đại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt

nghiêm trọng
2.1.2.2. Hiện trạng ô nhiễm nước thải tại Việt Nam
Thực trạng ô nhiễm nguồn nước ở Việt Nam hiện đang rất báo động
bởi nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có một phần nguyên nhân rất lớn
bởi các nhà máy chế biển rau quả, thực phẩm như nhà mày sản xuất mía
đường, nhà máy sản xuất mì chính, nhà mày chế biển rau quả đóng hộp... Các
dòng nước thải của các nhà máy này đều chứa một lượng lớn protein. Khi các
dòng nước thải chỉ được xử lí sơ qua hoặc hoàn toàn không được xử lí thải ra
môi trường trực tiếp. Các dòng chất thải protein này nhanh chóng bị phân hủy
cho ra các acid amin, acid béo, acid thơm, H2S, nhiều chất chứa S và P, có
tính độc và mùi khó chịu phát tán ra môi trường xung quanh. Ngoài ra trong
chất thải này còn có dư lượng hàm lượng chất vô cơ nông nghiệp trong nông
sản các chất này sẽ quay về đất gây ra ô nhiễm nguồn đất rất đáng lo ngại.
Nước ta có nền công nghiệp chưa phát triển mạnh, các khu công nghiệp
và đô thị chưa đông lắm nhưng tình trạng ô nhiễm nước đã sảy ra ở nhiều nơi
với mức độ nghiêm trọng khác nhau.
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất cho tưới lúa và hoa
màu, chủ yếu là ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng. Việc
sử dụng nông dược và phân bón hóa học ngày càng góp thêm phần làm ô
nhiễm môi trường nông thôn.


7
Công nghiệp là ngành làm ô nhiễm nước quan trọng, mỗi ngành có một
loại nước thải khác nhau. Khu công nghiệp Thái nguyên thải nước biến sông
Cầu thành màu đen, mặt nước sủi bọt trên chiều dài hàng chục cây số. Khu
công nghiệp Việt Trì xả mỗi ngày hàng trăm mét khối nước thải của nhà máy
hóa chất, thuốc trừ sâu, giấy, dệt… xuống sông Hồng làm nước bị nhiễm bẩn
đáng kể. Khu công nghiệp Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh taọ ra nguồn
nước thải công nghiệp và sinh hoạt rất lớn, làm nhiễm bẩn cả các sông rạch ở

đây và cả vùng phụ cận.
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số
và các đô thị. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải của các cơ
sở tiểu thủ công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị
nước ta.
Điều đáng nói là các loại nước thải đều được trực tiếp thải ra môi
trường, chưa qua xử lý gì cả, vì nước ta chưa có hệ thống xử lý nước thải nào
đúng nghĩa như tên gọi.
Nước ngầm cũng bị ô nhiễm, do nước sinh hoạt hay công nghiệp, nông
nghiệp. Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm mặn và
nhiễm phèn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sông Thái Bình, sông
Cửu Long, ven biển miền Trung.
Nước thải sinh hoạt là một vấn đề quan trọng cho những thành phố lớn
và đông dân cư, nhất là đối với các quốc gia đã phát triển. Hiện nay ở Việt
Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện
chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước
là vấn đề rất đáng lo ngại , vì hệ thống cống rãnh thoát nước còn trong tình
trạng thô sơ, không hợp lý cũng như không theo kịp đà phát triển dân số
nhanh như trường hợp ở các thành phố ở Việt Nam như Hà Nội, Sài Gòn, Hải
Phòng, Nha Trang, Đà Nẵng, Cần Thơ v.v…, việc giải quyết và xử lý nước
thải này hầu như không thể thực hiện được. Nước thải sau khi qua mạng lưới


8
cống rãnh được chảy thẳng vào sông rạch và sau cùng đổ ra biển cả mà không
qua giai đoạn xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt
quá tiểu chuẩn cho phép, các thông số chất lơ lửng (SS), BOD; COD; Ôxy
hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần TCCP.
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông
nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là

nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc
không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô
nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung
bình biến đổi từ 1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông
Hậu, tăng lên tới 3800-12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu.
Từ hiện trạng trên,chúng em đi đến nghiên cứu đề tài này để xử lý nước
thải góp phần làm giảm thiểu ô nhiễm.
2.1.2.3. Hiện trạng ô nhiễm nước thải tại Isarel
Ô nhiễm nước và sông từ dải Gaza
COGAT phải thực hiện tất cả các biện pháp cần thiết để cho phép hoạt
động của WWTP phía Bắc trong dải Gaza vào năm 2017, bao gồm cả việc
đẩy nhanh việc lập quy hoạch và xây dựng đường dây điện cho nhà máy xử lý
nước thải với sự hỗ trợ của tất cả các cơ quan có liên quan. Nói chung, trong
việc xem xét phê duyệt việc thành lập cơ sở hạ tầng tại Dải Gaza, COGAT
phải xem xét các mối nguy về môi trường và sức khoẻ của ô nhiễm nước giữa
Dải Gaza và Israel. Vì mục đích này, họ phải thu thập dữ liệu và thông tin và
tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn như Bộ Bảo vệ Môi trường,
Cơ quan Quản lý Nước và Bộ Y tế. Ngoài ra, trong bối cảnh rủi ro sức khoẻ
mà các công dân Israel phải đối mặt từ cuộc khủng hoảng nước đang ngày
càng tồi tệ tại dải Gaza, COGAT và Bộ Y tế phải hợp tác đánh giá rủi ro liên
quan đến vấn đề này.


9
Bộ Quốc phòng phải lập ngay kế hoạch nhiều năm bao gồm lịch trình
chi tiết và ngân sách để kết nối tất cả các trại của IDF với các cơ sở xử lý
nước thải và nước thải trong những năm tới. Các khoảng trống dữ liệu bất hợp
lý liên quan đến lượng nước thải của người Palestine được xử lý Cơ quan
quản lý nước, Cơ quan quản lý thiên nhiên và vườn quốc gia Israel và Bộ bảo

vệ môi trường phải hợp tác để kiểm tra và chỉnh sửa dữ liệu theo cách có
được một cơ sở dữ liệu đáng tin cậy. Trong khuôn khổ này, khả năng lắp đặt
đồng hồ nước cung cấp dữ liệu chính xác nhất về số lượng nước thải Palestine
được xử lý ở Israel phải được kiểm tra càng sớm càng tốt.
Tình trạng ô nhiễm nước giữa Nhà nước Israel và các vùng lãnh thổ
của Judea, Samaria và Dải Gaza là mối nguy hiểm nghiêm trọng nhất đối với
môi trường vượt qua Green Line mà Nhà nước Israel đã đối mặt. Nó làm hại
Israel, nước láng giềng của người láng giềng, sức khoẻ cộng đồng và chất
lượng cuộc sống. Do tình hình địa chính trị ở Judea và Samaria và Dải Gaza,
vấn đề này cũng ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và tình hình an
ninh của Israel trên toàn thế giới. Chính phủ Israel chưa xây dựng chính sách
quản lý môi trường xuyên biên giới với các nước láng giềng, bao gồm cả
trong lĩnh vực nước, và không có chính sách liên quan đến những mối nguy
hiểm vượt qua Green Line và biên giới với Dải Gaza. Ngoài ra, chính phủ
không xác định một thực thể duy nhất có tầm nhìn tổng thể để dẫn dắt vấn đề
này. Vì vậy, trong nhiều năm, các giải pháp cho các mối nguy về môi trường
đang diễn ra trầm trọng, đôi khi vi phạm pháp luật và gây hại cho sức khoẻ
cộng đồng và các lợi ích chính trị quan trọng của Israel.
Thông tin này phản ánh bức tranh ảm đạm về hoạt động của các cơ
quan chính phủ và hành vi của họ về ô nhiễm nguồn nước giữa Israel và
Judea, Samaria và Dải Gaza. Có một loạt các thất bại và rào cản chức năng:
việc ngưng hoạt động của Ủy ban Nước Liên hợp; Các rào cản để thúc đẩy và
khởi xướng các dự án với các tổ chức quốc tế; Điểm yếu trong phối hợp hoạt


10
động giữa các cơ quan chính phủ; Mức độ tham gia thấp của khu vực chính trị
vào vấn đề và không đưa ra quyết định về các vấn đề quan trọng; Hành vi
không dựa trên các chương trình xác định mục đích và thời gian biểu để giải
quyết các vấn đề khác nhau.

Những sự cố và chướng ngại này có liên quan trực tiếp đến việc xây
dựng và làm trầm trọng thêm một loạt các mối nguy hiểm, tổn hại, môi
trường và các vấn đề khác ở cả hai bên của Green Line, những điểm nổi bật
là: Dòng suối Sharon - suối Alexander và suối Nablus; Ô nhiễm sông
Hebron; Ô nhiễm dòng suối Michmash, Prat và Qelt; và ô nhiễm biển và
suối từ Dải Gaza. Các cơ quan chính phủ - ICA, COGAT, Cơ quan Cấp
nước, Bộ Bảo vệ Môi trường, Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao và Bộ Hợp tác Khu
vực - cũng như chính quyền địa phương và các công ty nước liên quan phải
hành động, trong lĩnh vực của mình, để sửa các khuyết tật như được mô tả
chi tiết trong báo cáo này.
Tuy nhiên, ngoài hành động cần thiết của từng yếu tố nêu trên, kết quả
của báo cáo này đòi hỏi một hành động có tính hệ thống sẽ dẫn đến việc xây
dựng một kế hoạch hành động toàn diện sẽ đảm bảo giảm đáng kể mức độ ô
nhiễm và thiệt hại trong những năm tới và càng sớm càng tốt. Với tính phức
tạp của chủ đề và vô số các nhân tố liên quan, cần phải có sự điều phối, hợp
tác giữa các bên và hội nhập công việc của họ. Văn phòng Kiểm soát Nhà
nước khuyến cáo rằng chính phủ thành lập một nhóm liên bộ, cùng với các bộ
của chính phủ và các cơ quan liên quan, do một bộ của chính phủ lãnh đạo,
dẫn dắt nhân viên làm việc về quản lý môi trường xuyên biên giới;
Việc khắc phục những thiếu sót và thực hiện các khuyến nghị trong báo
cáo này sẽ là một bước quan trọng trong việc giảm ô nhiễm nguồn nước giữa
Israel, Judea, Samaria và Dải Gaza và khuyến khích các dự án về bảo vệ môi
trường, sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống trong khu vực, trong khi
khai thác các thực thể quốc tế có liên quan để hỗ trợ quảng bá các chủ đề này.


11
Báo cáo đầy đủ (bằng tiếng Do Thái) có thể được đọc tại trang web
của Kiểm soát viên Nhà nước; xem trang 1.481 cho các vấn đề nước xuyên
biên giới.

2.2. Khái quát về vùng Arava- Israel
2.2.1.Vị trí địa lý
Israel một quốc gia nhỏ, hẹp, bán khô hạn ở Tây Á nằm trên bờ biển
phía đông của Địa Trung Hải. Phía bắc giáp với Lebanon, phía đông bắc giáp
với Syria, phía đông giáp với Jordan và phía tây nam giáp với Ai Cập. Israel
có các đặc điểm địa lý đa dạng trong khu vực tương đối nhỏ, bên cạnh đó là
Bờ Tây ở phía đông và dải Gaza tới tây nam.Các điều kiện khu vực thay đổi
đáng kể, với mùa hè ẩm ướt và mùa đông ôn hòa ở bờ biển; mùa hè khô và
mùa đông lạnh giá ở vùng đồi núi (bao gồm cả Jerusalem), mùa hè khô nóng
và mùa đông dễ chịu trong Thung lũng Jordan; và các điều kiện nửa sa mạc
quanh năm ở Negev. Mặc dù thực tế là hơn một nửa diện tích đất đai là sa
mạc, khí hậu và thiếu nguồn tài nguyên nước không thích hợp cho nông
nghiệp, nhưng Israel lại là nước xuất khẩu sản phẩm tươi sống và là nhà tiên
phong trong công nghệ nông nghiệp.
Trung ương Arava là một khu vực ở miền Nam Israel được biết là khu
vực xa nhất và xa xôi nhất trong cả nước. Đây là một phần của rạn nứt của
Syria-Châu Phi và nằm cách nửa giữa Biển Chết và Biển Đỏ và phần lớn khu
vực này nằm dưới mực nước biển, khoảng 130 km từ trung tâm đô thị gần nhất
(Eilat ở phía Nam hoặc Beer-Sheva ở phía Bắc).Ngày nay, Arava là một trong
những vùng nông nghiệp hàng đầu của Israel với 6% đất của Israel và chỉ có
0,04% dân số của đất nước. Hơn 60% rau củ và cây trồng của đất nước này
được trồng ở Arava, trong đó 90% dưa được xuất khẩu từ đó. Hầu hết nông dân
trong vùng vẫn phụ thuộc vào ớt, trong khi những người khác đang bắt đầu
trồng nhiều loại cây trồng khác nhau ngày tháng như nho, xoài, guava, bưởi, đu
đủ, lựu, hoa, zucchinis, cà tím, dưa, hành, cà chua, và cà chua anh đào.


12
Hội đồng vùng Trung Arava được thành lập vào năm 1978. Khu vực
thuộc thẩm quyền của Hội đồng là 371.000 mẫu Anh (1,5 triệu Dunam), hay

6% đất của Israel. Nó bao gồm bảy cộng đồng. Năm cộng đồng nông nghiệp
(Moshavim): Idan, Hatzeva, Ein-Yahav, Tzofar và Paran.
Giới thiệu Moshav Ein-yahav
Ein Yahav là 1 trong các Moshav ở Israel, nằm dưới 100m so với mực
nước biển, cách Hatzeva 12 km về phía Nam và nằm ở giữa suối Yahav và
Nikrot. Ein-Yahav là moshav nông nghiệp lâu đời nhất ở vùng Trung Arava
với khoảng 165 gia đình và 650 cư dân. Mỗi gia đình của nông dân có khoảng
45 dunam (45,000m2) đất canh tác. Các loại cây trồng chính là ớt, chà là, dưa
hấu, dưa lưới, bí ngòi, hoa, cà chua để xuất khẩu. Moshav tổng cộng sản xuất
khoảng 34.000 tấn ớt, dưa hấu, dưa vàng, cà chua và các loại rau khác.
Đặc biệt cánh đồng chà là ở Moshav này đã tận dụng được nước thải
sinh hoạt để dùng cho tưới tiêu thay vì sử dụng nước sạch.


13

Hình 2.1. Bản đồ vùng Arava- Israel
2.2.2. Đặc điểm tự nhiên
Israel nằm giữa 29° -33° bắc của đường xích đạo, được mô tả là một
vùng cận nhiệt đới, giữa vùng ôn đới và vùng nhiệt đới. Các vùng phía Bắc và
duyên hải của Israel cho thấy khí hậu Địa Trung Hải đặc trưng bởi mùa hè
nóng và khô và mùa đông mát mẻ mùa mưa. Trường hợp như các khu vực
phía nam và phía đông của Israel được đặc trưng bởi một khí hậu khô cằn.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 10 đến đầu tháng 5, và lượng mưa đạt đỉnh
trong tháng 12 đến tháng 2. Lượng mưa thay đổi đáng kể theo vùng từ Bắc
vào Nam. Lượng mưa lớn nhất được quan sát ở miền Bắc và khu vực trung
tâm của đất nước và giảm ở phần phía nam của Israel, từ sa mạc Negev đến
Eilat, nơi lượng mưa không đáng kể.



14
Tuyết rơi dày chỉ ở phần phía Bắc trên đỉnh núi Hermon từ tháng 12
đến tháng 3 năm sau. Còn ở những địa điểm khác trên đất nước này thì hiếm
khi có thể nhìn thấy tuyết.
Trung ương Arava là một món tráng miệng khô cằn với sự thay đổi khí
hậu sắc nét và điều kiện địa hình khắc nghiệt, với chỉ khoảng 30 mm lượng
mưa hàng năm. Vào mùa hè nhiệt độ thường xuyên vượt quá 40°C, trong khi
độ ẩm khá thấp. Nhiệt độ mùa đông hầu như nhẹ.
Hầu hết các ngày đều sáng với bức xạ cao và không có đám mây.
Arava nằm ở thung lũng Rift của Dead Sea tạo ra các điều kiện khí hậu sa
mạc khác với các khu vực khác của Israel. Mùa hè dài với nhiệt độ trung bình
là 40 độ trong ngày và 25 độ vào ban đêm. Ngủ mùa đông, nhiệt độ trung
bình 25 độ trong ngày và đêm lạnh đến dưới 0.
2.3. Điều kiện kinh tế xã hội
2.3.1. Xã hội
Israel là quốc gia duy nhất trên thế giới của nước Jishisha với dân số
khoảng 7,5 triệu người, trong đó khoảng 5,7 triệu người Do thái. Nhóm dân
tộc thiểu số lớn nhất là phân đoạn được mệnh danh là công dân Ả rập của
Israel, trong khi các nhóm tôn giáo thiểu số bao gồm người Hồi giáo, Kitô
hữu, Druze, Samaritan.
Israel là quê hương của hai loại cộng đồng nông nghiệp độc đáo, là
kibbutz và moshav, được phát triển bởi người Do Thái từ khắp nơi trên thế
giới đã di dân đến đất nước này và bắt tay vào một doanh nghiệp tiên phong.
Phần lớn nền nông nghiệp của Israel dựa trên các nguyên tắc hợp tác phát
triển vào đầu thế kỷ XX. Hai hình thức độc đáo của các khu định cư nông
nghiệp; Kibbutz, cộng đồng tập thể, trong đó các phương tiện sản xuất thuộc
sở hữu của cộng đồng và công việc của mỗi thành viên đều có lợi; Và
moshav, một ngôi làng nông nghiệp, nơi mỗi gia đình duy trì gia đình và làm
việc trong vùng đất của mình, trong khi mua bán và tiếp thị được tiến hành



15
hợp tác. Cả hai cộng đồng này đều cung cấp phương tiện không chỉ để thực
hiện giấc mơ của những người tiên phong để có các cộng đồng nông thôn dựa
trên bình đẳng xã hội, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau mà còn để đạt được sản
lượng nông nghiệp bằng phương tiện hiệu quả. Ngày nay, giữa kibbutzim và
moshavim, 76% sản phẩm tươi của cả nước được sản xuất, cũng như nhiều
sản phẩm thực phẩm chế biến.
2.3.2.Kinh tế
Israel là nước dẫn đầu thế giới về nghiên cứu và phát triển nông nghiệp,
dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng và chất lượng cây trồng của đất
nước này.
Nông nghiệp ở Israel là một ngành công nghiệp phát triển cao: Israel là
nước xuất khẩu sản phẩm tươi sống và là nước dẫn đầu thế giới về công nghệ
nông nghiệp mặc dù địa lý của Israel không có lợi cho nông nghiệp. Hơn một
nửa diện tích đất đai là sa mạc, khí hậu và thiếu nguồn nước không có lợi cho
nông nghiệp. Chỉ có 20% diện tích đất canh tác tự nhiên. Nông nghiệp hiện
nay chiếm 2,5% GDP và 3,6% xuất khẩu. Trong khi nông nghiệp chỉ chiếm
3,7% lực lượng lao động, Israel sản xuất 95% nhu cầu lương thực của chính
mình, bổ sung cho việc này với việc nhập khẩu ngũ cốc, hạt có dầu, thịt, cà
phê, ca cao và đường.
Một trong những khía cạnh tuyệt vời của Arava, thung lũng dài và dài
của Israel giữa Biển Chết và Eilat là mặc dù chủ yếu là sa mạc, 90% dân cư
của nó là nông dân thành công!
Nông dân Arava đã lấy những gì mà họ đã xử lý - đất nước mặn và
nước và nắng nóng - và làm việc với nó, sản xuất, trong số các loại cây trồng
khác, ớt, chà là, cà chua, dưa hấu, hoa, nho, cá… Chất dinh dưỡng và lượng
nước chính xác được phân phối bằng công nghệ máy tính thậm chí có thể tái
chế nước tưới. Cây trồng trên đồng ruộng được trồng trong cả nước bao gồm
lúa mì, lúa miến và ngô. Trên 215.000 ha đất, các loại cây trồng này được

trồng, trong đó 156.000 ha là vụ đông.


16
Trái cây và rau được trồng bao gồm cam quýt, bơ, quả Kiwi và xoài từ
các vườn cây nằm trên đồng bằng Mediterraneancoastal. Cà chua, dưa chuột,
ớt và dưa chuột được trồng phổ biến trên cả nước, trong khi dưa hấu được
trồng trong những tháng mùa đông ở các thung lũng. Các vùng cận nhiệt đới
trong cả nước sản xuất chuối và ngày, trong khi ở các hẻm núi phía Bắc, quả
lê và quả anh đào được trồng. Hơn nữa, cây nho được tìm thấy trên khắp đất
nước, vì ngành công nghiệp rượu vang của đất nước đã phát triển vượt bậc.
Không chỉ sản xuất ra được các loại rau, quả đạt chất lượng để xuất
khẩu mà Israel còn sản xuất ra được một lượng lớn hoa để xuất khẩu. Xuất
khẩu hoa trong năm 2000 vượt quá 50 triệu USD. Các loài hoa phổ biến nhất
là hoa cát tường, tiếp theo là hoa hồng được trồng trên 214 héc-ta đất, hoa lily
và hoa tulip.
2.4. Một số phƣơng pháp xử lý nƣớc thải
2.4.1. Phương pháp cơ học (xử lý bậc 1)
Nhằm loại bỏ khỏi nước thải và các chất phân tán thô, vô cơ (cát,
sỏi…) các chất lơ lửng có thể lắng được bằng cách gạn, lọc, lắng được thực
hiện qua các công trình như: song chắn rác, bể lắng cát, bể tách dầu mỡ, bể
điều hòa, bể làm thoáng…
 Song chắn rác được ứng dụng để loại bỏ khỏi nước thải các loại rác
và các tạp chất có kích thước lớn hơn 5mm.Đối với các tạp chất nhỏ hơn
thường sử dụng các loại lưới lược rác với nhiều cỡ mắc lưới khác nhau.
 Bể lắng cát được thiết kế nhằm loại bỏ các tạp chất vô cơ mà chủ yếu
là cát có trongnước thải.
 Bể tách dầu mỡ thường được ứng dụng trong xử lý nước thải công
nghiệp có chứa dầu mỡ, các chất nhẹ hơn nước và các dạng nước thải khác.
Đối với các dạng nước thải khác, do hàm lượng dầu mỡ không lớn nên có thể

tách chúng ngay ở bể lắng đợt I nhờ các thanh gạt thu hồi dầu mỡ, chất nổi
trên bề mặt bể lắng.


×