Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập ở Vụ Kinh tế Dịch vụ thuộc Bộ kế hoạch và Đầu tư,
tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của vụ trưởng và toàn thể đội ngũ CBCC tại
Bộ cùng với sự hướng dẫn tận tâm của giáo viên hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc
Sơn. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và kiến thức nên khóa luận này của tôi
không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp bổ sung để bài
chuyên đề thực tập được hoàn thiện.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên
: Đỗ Thị Thanh Thuỷ
MSV
: CQ482872
Lớp
: Kế hoạch 48A
Khoa
: Kế hoạch và phát triển
Chuyên đề thực tập của em là: “Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt
Nam thời kỳ hậu khủng hoảng”
Em xin cam đoan những gì em viết trong chuyên đề không sao chép từ bất kỳ
một tài liệu nào. Những phần trích dẫn và tham khảo đều đúng theo quy định của
Nhà trường. Nếu sai em xin chịu trách nhiệm.
Sinh viên
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
MỤC LỤC
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
5
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn hai mươi năm đổi mới, kể từ năm 1986, Việt Nam đã đạt được những
thành tựu đáng khích lệ trong mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, ngoại giao…
đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Đến nay, Việt Nam đã ký kết gần 70 hiệp định
thương mại song phương, kim ngạch thương mại tăng ở mức kỷ lục.Tổng kim
ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá trong năm 2008 đạt 143,4 tỷ USD, tăng 28,9% so
với năm 2007, trong đó xuất khẩu đạt 62,69 tỷ USD, tăng 29,1% so với năm trước,
vượt 7% kế hoạch năm và nhập khẩu là 80,71 tỷ USD, tăng 28,8%, thấp hơn tốc độ
tăng xuất khẩu.Như vậy, nền kinh tế Việt Nam đã trở thành một trong những nền
kinh tế mở và hội nhập ở mức độ cao. Thành tựu này có được là do sự phối hợp, nỗ
lực hết mình của toàn bộ nền kinh tế, và chính phủ trong việc phân bổ nguồn lực
hợp lý, tập trung phát triển các ngành trọng điểm, mũi nhọn, dẫn dắt nền kinh tế,
đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp. Trong giai đoạn 2001- 2005, tốc độ tăng
trưởng của ngành công nghiệp liên tục được duy trì ở tốc độ cao( năm 2001- 14,6%,
năm 2002- 14.8%, năm 2005- 17.1%), các năm 2006, 2007 đều đạt tốc độ 10%.
Trong đó, Dệt May được coi là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn,
chiếm trên 10% giá trị sản phẩm công nghiệp, đóng góp 8% vào GDP, chiếm 16%
tổng kim ngạch xuất trong cả nước. Phải nói rằng, ngành dệt may Việt Nam là
ngành được Chính phủ rất quan tâm. Điều này không chỉ do tốc độ tăng trưởng cao,
tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu mà quan trọng hơn cả là đã tạo ra trên 2
triệu chỗ làm với 6 triệu người ăn theo. Những đóng góp cho xã hội đó đã nâng cao
vị thế của ngành dệt may trong nền kinh tế đất nước.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra đã làm kinh tế Việt Nam
có những thay đổi đáng kể đặc biệt đối với cán cân xuất nhập khẩu.Cụ thể, kim
ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2009 đạt 56,6 tỷ USD, giảm 9,7% so với năm
2008.Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá đạt 68,8 tỷ USD, giảm 14,7% so với năm
2008.Trước những bất lợi đó,Ngành Dệt may Việt Nam cũng chịu những ảnh hưởng
không nhỏ. Hàng dệt may xuất khẩu sang thi trường chính là Mỹ đạt 4,9 tỷ USD,
giảm 3% so với năm 2008; tiếp theo là EU đạt 1,7 tỷ USD, giảm 3,1%; Nhật Bản
930 triệu USD, tăng 12%.Sự giảm sút kim ngạch xuất khẩu đó là do ngành Dệt May
hiện nay phụ thuộc rất lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, nguồn nhân lực thiếu
trình độ,chưa am hiểu thị trường xuất khẩu và mới chỉ chủ yếu tham gia vào khâu
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
6
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
gia công sản xuất sản phẩm cuối cùng, đây cũng là khâu có gíá trị gia tăng thấp
nhất.
Trong khi đó, mục tiêu phát triển của ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam
đến năm 2020 là trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi
nhọn về xuất khẩu, thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo nhiều
việc làm cho xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu
vực và thế giới; từng bước đưa ngành Dệt May thoát khỏi tình trạng gia công sản
xuất.
Do đó, để đạt được mục tiêu đã định, việc nghiên cứu thực trạng của ngành
Dệt may cũng như giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Dệt may là việc làm cần thiết và
mang tính thực tiễn cao.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “ Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
dệt may Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng”
Đề tài được thực hiện với mục đích nghiên cứu lý luận và ứng dụng vào thực
tiễn ngành công nghiệp Dệt May Việt Nam qua đó xem xét thực trạng xuất khẩu của
Dệt May Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu
nhằm thúc đẩy xuất khẩu Dệt may Việt Nam trong thời gian tới.
Trên cơ sở mục đích, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, nội dung của đề tài
nghiên cứu được chia là ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Sự cần thiết thúc đẩy dệt may thời kỳ hậu khủng hoảng.
Chương 2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu dệt may Việt Nam.
Chương 3. Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam thời kỳ hậu
khủng hoảng
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn đã giúp tôi hoàn thành bài nghiên cứu này.
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
7
Chuyên đề tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT THÚC ĐẨY DỆT MAY THỜI KỲ
HẬU KHỦNG HOẢNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU
1. Khái niệm về xuất khẩu
Xuất khẩu hay xuất cảng, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng
hóa và dịch vụ cho nước ngoài, trong cách tính toán cán cân thanh toán quốc tế theo
IMF là việc bán hàng hóa cho nước ngoài.
Xuất khẩu là hình thức xâm nhập nước ngoài ít rủi ro và chi phí thấp nhất.Với
các nước có trình độ kinh tế thấp như các nước đang phát triển thì xuất khẩu đóng
vai trò rất lớn đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu.
Trong tính toán tổng cầu, xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài (ngoại
nhu). Mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vào xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa
giá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân. Đối với những nền kinh tế mà cầu nội
địa yếu, thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế. Chính vì
thế, nhiều nước đang phát triển theo đuổi chiến lược công nghiệp hóa hướng vào
xuất khẩu. Tuy nhiên, vì xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm
bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững, IMF thường khuyến nghị các nước
phải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa
2. Các hình thức xuất khẩu
2.1. Xuất khẩu trực tiếp.
Xuất khẩu trực tiếp là hoạt động bán hàng trực tiếp của công ty cho các khách
hàng của mình ở nước ngoài.
Thông qua hoạt động xuất khẩu trực tiếp,công ty sẽ đáp ứng nhanh chóng và
phù hợp với nhu cầu khách hàng ở trong nước và qua đó công ty cũng kiểm soát
được yếu tố đầu ra của sản phẩm để điều chỉnh yếu tố đầu vào để mang lại lợi ích
cao nhất.
Hai hình thức chủ yếu mà công ty sử dụng để thâm nhập thị trường quốc tế
thông qua xuất khẩu trực tiếp là:
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
8
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
- Đại lý bán hàng : Là hình thức bán hàng mà người bán không mang danh nghĩa
của mình mà lấy danh nghĩa của người khác( người ủy thác) nhằm nhận lương và
một số hoa hồng trên cơ sở giá trị hàng hóa bán được.Do đó họ không phải chịu
trách nhiệm chính về mặt pháp lý. Nhưng trên thực tế, đại diện bán hàng hoạt động
như một nhân viên bán hàng của công ty của thị trường nước ngoài. Công ty đã ký
với khách hàng tại thị trường nước đó.
- Đại lý phân phối là người mua hàng hóa, dịch vụ của công ty để bán theo kênh
tiêu thụ ở khu vực mà công ty phân định. Công ty khống chế phạm vi, kênh phân
phối ở thị trường nước ngoài. Còn đại lý phân phối sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ rủi
ro liên quan đến việc bán hàng ở thị trường đã phân định và thu lợi nhuận từ chênh
lệch giữa giá mua và giá bán.
2.2. Xuất khẩu gián tiếp
Là hoạt động bán hàng hóa và dịch vụ của công ty ra nước ngoài thông qua
trung gian (thông qua người thứ ba ).Các trung gian mua bán không chiếm hữu
hàng hóa của công ty mà trợ giúp công ty xuất khẩu hàng hóa sang thị trường nước
ngoài. Các trung gian xuất khẩu như : Đại lý, công ty quản lý xuất nhập khẩu và
công ty kinh doanh xuất nhập khẩu.
2.3. Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công
Gia công quốc tế là một hình thức cần thiết trong điều kiện phát triển của phân
công lao động quốc tế và do sự khác biệt về điều kiện tái sản xuất giữa các quốc gia.
Nó được phân chia thành hai loại hình chủ yếu tùy theo vai trò của bên đặt hàng và
bên nhận gia công. Khi trình độ phát triển của một quốc gia còn thấp, thiếu vốn,
thiếu công nghệ, thiếu thị trường thì các doanh nghiệp thường vào vị trí nhận gia
công thuê cho nước ngoài. Nhưng khi trình độ phát triển ngày càng cao thì nên
chuyển qua hình thức thuê nước ngoài gia công cho mình. Hoạt động gia công
mang tính chất công nghiệp nhưng chu kỳ gia công thì rất ngắn, đầu vào và đầu ra
của nó gắn liền với thị trường nước ngoài nên nó được coi là một bộ phận của hoạt
động ngoại thương
2.4. Tái xuất khẩu
Trong hoạt động tái xuất khẩu người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa
từ bên ngoài vào sau đó lại tiến hành xuất khẩu qua một nước thứ ba. Như vậy ở
đây có cả hoạt động mua và bán nên mức rủi ro có thể lớn và lợi nhuận có thể cao.
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
9
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
2.5. Xuất khẩu tại chỗ
Trong trường hợp này hàng hóa và dịch vụ có thể chưa vượt qua ngoài biên
giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tụ như hoạt động xuất khẩu. Đó là
việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc
tế…Hoạt động xuất khẩu tại chỗ có thể đạt được hiệu quả cao do giảm bớt chi phí
bao bì đóng gói, chi phí bảo quản, chi phí vận tải, thời gian thu hồi vốn nhanh, trong
khi vẫn có thể thu được ngoại tệ.
2.6. Xuất khẩu theo nghị định thư.
Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu hàng hóa theo chương
trình đã được ký kết theo nghị định thư của hai chính phủ và thường là chương trình
trả nợ giữa hai chính phủ. Hình thức này đảm bảo khả năng thanh toán.
3. Nội dụng của hoạt động xuất khẩu
3.1. Nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường bao gồm tất cả các phương pháp nhằm đánh giá xem thị
trường nước ngoài nào mang nhiều tiềm năng nhất cho sản phẩm của doanh
nghiệp. Nghiên cứu thị trường đòi hỏi phải có sự đầu tư về thời gian và tiền bạc.
Nhiều công ty hiện vẫn thực hiện hoạt động xuất khẩu theo phương thức “tự trang
trải”, nghĩa là , bắt đầu xuất khẩu sau đó sử dụng lợi nhuận thu được từ việc bán sản
phẩm trên các thị trường này để tiến hành đầu tư lại. Điều này không thể áp dụng
đối với nghiên cứu thị trường. Ở đây cần phải đầu tư một khoản tiền để nghiên cứu
thị trường trước khi giới thiệu sản phẩm và điều đó sẽ giúp doanh nghiệp tránh phải
trả giá đắt cho những sai lầm trên thị trường mục tiêu sau này.
3.1.1 Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu
Lựa chọn mặt hàng là khâu quan trọng trong nội dung hoạt động xuất khẩu.
Các doanh nghiệp cần định xem mình nên xuất khẩu mặt hàng gì để phát huy hết
những lợi thế so sánh của mình để từ đó sản xuất ra những sản phẩm có tính cạnh
tranh cao đáp ứng được nhu cầu trên thị trường xuất khẩu.
3.1.2 Lựa chọn thị trường xuất khẩu
Lựa chọn thị trường là chìa khóa đề xác định khả năng thành công của doanh
nghiệp ở một thị trường xuất khẩu. Lựa chọn thị trường cần hướng tới ang tin tri
thức về thị trường. Đó là những ang tin chiến lược được tồng hợp và phân tích bằng
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
10
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
cách ang kết các xu hướng hoặc sự kiện trên thị trường đế giúp doanh nghiệp xác
định các cơ hội thị trường mới. Mức độ sẵn sàng xuất khẩu của bạn cũng là một yếu
tố xác định tiềm năng của bạn ở thị trường nước ngoài. Việc đánh giá chính xác liệu
bạn đã sẵn sàng thâm nhập thị trường toàn cầu hay chưa về mặt nguồn lực và kiến
thức sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian, nỗ lực và nguồn lực quý giá cho phát triển xuất
khẩu.
3.1.3
Lựa chọn bạn hàng xuất khẩu
Có lẽ đây là phần công việc khó khăn nhất trong các hoạt động chuẩn bị xuất
khẩu. Một đối tác tốt có thể giúp doanh nghiệp thâm nhập thị trường thuận lợi và
hiệu quả, trong khi một đối tác tồi có thể làm hỏng tất cả. Đó là giai đoạn quyết định
trong hoạt động của doanh nghiệp. Các nhà xuất khẩu đều cho rằng nhiệm vụ này
vô cùng quan trọng vì đó là một nhiệm vụ rất tinh tế. Nhiều doanh nghiệp đã sử
dụng bản liệt kê tiêu chí để mời tổ chức hỗ trợ kinh doanh (BSO) hoặc Đại sứ quán
của họ tại thị trường mục tiêu giúp họ sàng lọc một danh sách sơ khảo các đối tác có
tiềm năng. Đôi khi công việc đó diễn ra suôn sẻ, nhưng hầu như không được như ý
muốn. Việc thuê các nhà tư vấn giúp doanh nghiệp lựa chọn đối tác có thể sẽ đem
đến thành công hơn, nhưng các hiệp hội ngoại thương có thể sẽ giúp họ khi họ cũng
có nhu cầu tìm các nhà cung cấp mới. Hoặc các tổ chức xúc tiến nhập khẩu như Tổ
chức xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang phát triển của Hà Lan (CBI) có thể giúp
các doanh nghiệp với điều kiện họ là thành viên tham gia chương trình phát triển
xuất khẩu (EDP) của CBI. Việc cố gắng có được tên của các đối tác kinh doanh
thường rất khó khăn và doanh nghiệp sẽ cần phải có sự sáng tạo và kiên nhẫn để có
thể đi đến thành công. Nhưng ít nhất doanh nghiệp sẽ nhận biết được một đối tác tốt
bằng cách so sánh họ với danh sách tiêu chí của doanh nghiệp. Có khi doanh nghiệp
phải đàm phán với một đối tác thứ ba, không phải chỉ về lợi ích kinh doanh của các
bên mà còn cần trách nhiệm và sự tin cậy giữa các bên.
3.1.4
Lựa chọn phương thức giao dịch
Phương thức là những cách thức doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các mục
tiêu và kế hoạch kinh doanh của mình trên thị trường thế giới. Hiện nay có rất nhiều
phương thức giao dịch khác nhau như: giao dich thông thường, giao dich qua trung
gian, giao dich thông qua hội trợ triển lãm. Tùy vào khả năng của mỗi doanh nghiệp
mà lựa chọn phương thức giao dịch sao cho đảm bảo các mục tiêu của sản xuất
kinh doanh.
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
3.2.
11
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Đàm phán và ký kết hợp đồng
Trong khi đàm phán, người mua và người bán phải thống nhất các điều kiện,
điều đó sẽ phản ánh năng lực thương lượng trong đàm phán của mỗi bên. Thông
thường, họ sẽ thống nhất ở điểm nào đó khi cân nhắc giữa chi phí và rủi ro, giữa
quyền lợi và nghĩa vụ của người mua và người bán, có thể nghiêng nhiều hoặc ít về
một bên. Họ sẽ tìm thấy sự cân bằng làm thoả mãn cả hai bên. Khi có thiệt hại xảy
ra, hoặc người mua hoặc người bán phải chịu trách nhiệm (hoặc hãng vận chuyển,
người đóng vai trò trong vận chuyển hàng hoá) hoặc bên thứ ba, thường là công ty
bảo hiểm, người chi trả những rủi ro không kiểm soát được. Nếu người mua và
người bán không thống nhất về trách nhiệm với thiệt hại đó, họ có thể giải quyết
tranh chấp tại hội đồng trọng tài hoặc toà án. Thông thường, sự điều tra của bên thứ
ba (giám định viên) sẽ cung cấp bằng chứng về thực trạng của hàng hoá ở những
đầu mối trong mạng lưới phân phối.
3.3 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán
Sau khi hợp đồng mua bán ngoại thương đã được ký kết, đơn vị kinh doanh
XNK - với tư cách là một bên ký kết - phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Đây là
một công việc rất phức tạp. Nó đòi hỏi phải tuân thủ luật quốc gia và quốc tế, đồng
thời bảo đảm được quyền lợi quốc gia và đảm bảo uy tín kinh doanh của đơn vị.
Về mặt kinh doanh, trong quá trình thực hiện các khâu công việc để thực hiện
hợp đồng, đơn vị kinh doanh XNK phải cố gắng tiết kiệm chi phí lưu thông, nâng
cao tính doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ giao dịch. Để thực hiện một
hợp đồng xuất khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các khâu công việc sau đây:
Giục mở L/C và kiểm tra L/C (nếu hợp đồng quy định sử dụng phương thức tín
dụng chứng từ), xin giấy phép xuất khẩu, chuẩn bị hàng hoá, thuê tàu hoặc lưu
cước, kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hoá, làm thủ tục hải quan, giao hàng lên tàu,
mua bảo hiểm, làm thủ tục thanh toán và giải quyết khiếu nại (nếu có).
Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, đơn vị kinh doanh phải tiến hành các
khâu công việc sau đây: Xin giấy phép nhập khẩu, mở L/C (nếu hợp đồng quy định
thanh toán bằng L/C), thuê tàu hoặc lưu cước, mua bảo hiểm, làm thủ tục hải quan,
nhận hàng chở từ tàu chở hàng, kiểm tra hàng hoá (kiểm dịch và giám định), giao
hàng cho đơn vị đặt hàng nhập khẩu, làm thủ tục thanh toán, khiếu nại (nếu có) về
hàng hoá bị thiếu hụt hoặc tổn thất.
4. Vai trò của hoạt động xuất khẩu
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
12
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
4.1. Đối với Nhà nước
Xuất khẩu là hàng hoá sản xuất trong nước được mang ra nước ngoài tiêu thụ.
Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại cơ bản, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển. Xuất khẩu có cai trò cực kỳ quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển nền
kinh tế
Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu: Để phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, cần phải có một nguồn vốn lớn để nhập
khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại. Nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu từ các
nguồn: xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, vay vốn,viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, các
dịch vụ có thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động... Xuất khẩu là nguồn vốn chủ yếu để
nhập khẩu
Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế,thúc đẩy sản xuất phát
triển. Xuất khầu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển. Xuất khẩu không chỉ
tác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho việc gia tăng nhu cầu sản
xuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác. Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng
thị trường tiêu thụ,giúp cho Sản xuất ổn định và kinh tế phát triển vì có nhiều thị
trường=>Phân tán rủi ro do cạnh tranh. Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng
cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước.Thông qua
cạnh tranh trong xuất khẩu, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sản
xuất, tìm ra những cách thức kinh doanh sao cho có hiệu quả, giảm chi phí và tăng
năng suất
Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người
dân. Xuất khẩu làm tăng GDP, làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân, từ đó có tác
động làm tăng tiêu dùng nội địa->nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng. Xuất
khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm trong nền kinh tế, nhất là trong ngành
sản xuất cho hàng hoá xuất khẩu, xuất khẩu làm gia tăng đầu tư trong ngành sản
xuất hàng hoá xuất khẩu ->Là nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng
Xuất khẩu tạo ra khả năng thị trường tiêu thụ cũng như cung cấp đầu vào cho
sản xuất nhằm phát huy tối đa năng lực sản xuất trong nước phục vụ thị trường.
Ngoài ra,xuất khẩu còn tạo điều kiện cho các ngành liên quan phát triển.Vì
sản xuất là chuỗi hoạt động tính móc xích với nhau cho nền phát triển của ngành
này sẽ kéo theo sự phát triển của ngành khác.
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
13
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Xuất khẩu làm tăng dự trữ ngoại tệ. Nguồn ngoại tệ thu về lớn hơn ( cán cân
thanh toán thăng dư ) là điều kiện để duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái theo
hướng có lợi cho xuất khẩu nhưng lại không tổn hao đến nhập khẩu vì vậy sẽ tạo
điều kiện phát triển kinh tế.
Xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ đối ngoại của đất nước.
Xuất khẩu là hoạt động ra đời sớm nhất trong các hoạt động kinh tế, khi có hoạt
động xuất khẩu thì các nước có quan hệ với nhau trên cơ sở các bên đều có lợi. Do
vậy các quốc gia sẽ xây dựng quan hệ kinh tế nhằm đẩy mạnh hoạt động này. Hai
hoạt động này có mối quan hệ qua lại với nhau và dựa vào nhau để phát triển. Do
đó,các quốc gia sẽ chú trọng phát triển đồng thời để đảm bảo sự cân xứng tạo điều
kiện để phát triển nhanh nhất.
Nói chung, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong sụ phát triển của các quốc
gia,do vậy các quốc gia đều đẩy mạnh xuất khẩu để khai thác tối đa lợi ích của hoạt
động này trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
4.2. Đối với doanh nghiệp
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty. Mục đích của các
công ty khi thực hiện xuất khẩu là:
Tăng doanh số bán hàng: Khi thị trường trong nước trở nên bão hòa thì xuất
khẩu là hoạt động tăng doanh số bán hàng của các công ty khi mở rộng thị trường
quốc tế.
Đa dạng hóa thị trường đầu ra: Đa dạng hóa thị trường đầu ra sẽ giúp cho các
công ty có thể ổn định luồng tiền thanh toán cho các nhà cung cấp.Việc đa dạng hóa
thị trường sẽ tạo ra nguồn thu cho công ty và nguồn thu này công ty có thể đầu tư
tiếp tục đa dạng hóa thị trường nào đó hay tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường đầu
vào của doanh nghiệp.
Thu được các kinh nghiệm quốc tế: Các nhà doanh nghiệp và các nhà quản lý
sẽ tham gia kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh và các nhà quản lý hoạt động
trong các môi trường kinh tế xã hội, kinh tế chính trị khác nhau. Điều nay đòi hỏi
các nhà kinh doanh quản lý phải học hỏi,do đó kiến thức của họ cũng phong phú
hơn và qua quá trình hoạt động lý luận sẽ được kiểm chứng trong thực tế. Do đó họ
sẽ tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm hoạt động của mình trong quá trình kinh
doanh quốc tế. Trong đó hoạt động xuất khẩu là hoạt động mang lại kinh nghiệm
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
14
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
với chi phí và rủi ro thấp nhất.
Tóm lại, hoạt động xuất khẩu là hoạt động kinh tế quốc tế ra đời sớm nhất và
có kinh phí cũng như rủi ro thấp nhất. Do đó,đây là hoạt động của các quốc gia kinh
doanh quốc tế chủ yếu của các công ty ở các quốc gia đang phát triển (vì yếu tố về
vốn,về công nghệ, về con người còn yếu kém nên xuất khẩu là biện pháp hữu hiệu
nhất trong các hoạt động kinh doanh quốc tế. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh
đơn giản nhất trong hoạt động kinh doanh quốc tế. Do đó các giao dich và rủi ro khi
có sự biến động về môi trường chính trị, kinh tế,văn hóa xã hội…sẽ thấp nhất so với
hoạt động khác.
II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI XUẤT KHẨU
1. Các yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến kinh doanh xuất khẩu,hơn nữa các
yếu tố này rất rộng nên các doanh nghiệp có thể lựa chọn và phân tích các yếu tố
thiết thực nhất để đưa ra các biện pháp tác động cụ thể.
1.1. Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là phương tiện so sánh về mặt giá trị tương đối giữa các ngoại
tệ và từ đó có tác động như một công cụ trong cạnh tranh trong quan hệ kinh tế
quốc tế. Một nền kinh tế càng mở ra bên ngoài bao nhiêu, quy mô và vị trí của nền
kinh tế đó càng mở rộng và tăng trưởng trong phân công lao động quốc tế bao nhiêu
thì vai trò của đồng tiền nước đó, sức mua của nó so với các đồng tiền khác trong
quan hệ kinh tế quốc tế càng lớn bấy nhiêu. Khi tỷ giá hối đoái tăng lên,có nghĩa là
đồng nội tệ có giá trị giảm xuống so với đồng ngoại tệ,trong điều kiện các nhân tố
khác không đổi,sẽ có tác động bất lợi cho nhập khẩu nhưng lại có lợi cho xuất
khẩu.Trong trường hợp này,tỷ giá tăng lên có tác động khuyến khích xuất khẩu vì
cùng một lượng ngoại tệ thu được do xuất khẩu có thể đổi lại được nhiều hơn đồng
nội tệ,hàng xuất khẩu rẻ hơn,để cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Tuy nhiên khi tỷ giá hối đoái tăng lên,hàng nhập khẩu đắt hơn,nên các nhà
nhập khẩu hạn chế kinh doanh hàng nhập,gây nên tình trạng khan hiếm nguyên
liệu,vật tư,hàng hóa ngoại nhập,làm tăng giá các mặt hàng này, gây khó khăn cho
các nhà sản xuất trong nước, nhất là những cơ sở chỉ sử dụng nguyên vật liệu nhập.
Đồng thời lưu thông ngoại tệ vận chuyển vào trong nước có xu hướng tăng lên, khối
lượng dụ trữ ngoại tệ dồi dào, tạo điều kiện cho sự ổn định cán cân thương mại
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
15
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
quốc tế.
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống có tác động hạn chế xuất khẩu vì
cùng một lượng ngoại tệ thu được do xuất khẩu sẽ đổi được ít hơn đồng nội tệ. Tuy
nhiên,đây là cơ hội tốt cho các nhà nhập khẩu, nhất là nhập khẩu nguyên liệu,máy
móc để phuc vụ cho nhu cầu sản xuất trong nước. Đồng thời lưu thông ngoại tệ
chuyển vào trong nước có xu hướng giảm xuống làm cho khối lượng dự trữ ngoại tệ
ngày càng bị xói mòn vì khuynh hướng gia tăng nhập khẩu để có lợi nhuận,có thể
gây lên tình trạng mất cân đối cán cân thương mại quốc tế.
1.2 Mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế
Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có thể đưa
ra các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất khẩu. Chẳng hạn như chiến lược
phát triển kinh tế theo hướng CNH-HĐH đòi hỏi phải xuất khẩu để thu ngoại tệ đáp
ứng nhu cầu nhập khẩu các trang thiết bị máy móc phục vụ sản xuất,mục tiêu bảo
hộ sản xuất trong nước đưa ra cùng các chính sách khuyến khích xuất khẩu và hạn
chế nhập khẩu hàng tiêu dùng…
1.3. Thuế quan và trợ cấp đến xuất khẩu
Xét trên góc độ quốc gia đánh thuế thì thuế quan sẽ mang lại thu nhập thuế
cho nước đánh thuế. Nhưng đứng trên giác độ toàn bộ nền kinh tế, thuế quan lại làm
giảm phúc lợi chung do nó làm giảm hiệu quả khai thác nguồn lực của nền kinh tế
thế giới. Nó làm thay đổi cán cân thương mại, điều tiết hoạt động xuất khẩu và nhập
khẩu của một quốc gia.
Thuế quan có thể có những ảnh hưởng tiêu cực. Thuế quan cao sẽ ảnh hưởng
đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa và do đó làm giảm lượng hàng hóa được tiêu
thụ. Thuế quan cao cũng sẽ kích thích tệ nạn buôn lậu. Thuế quan càng cao, buôn
lậu càng phát triển. Thuế xuất khẩu làm tăng giá hàng hóa trên thị trường quốc tế và
giữ giá thấp hơn ở thị trường nội địa. Điều đó có thể làm giảm lượng khách hàng ở
nước ngoài do họ sẽ cố gắng tìm kiếm các sản phẩm thay thế. Đồng thời nó cũng
không khích lệ các nhà sản xuất trong nước áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và
công nghệ để tăng năng xuất, chất lượng và giảm giá thành.
Tuy nhiên, nếu khả năng thay thế thấp, thuế quan xuất khẩu sẽ không làm
giảm nhiều khối lượng hàng hóa xuất khẩu và vẫn mang lại lợi ích đáng kể cho
nước xuất khẩu. Thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng trong việc bảo hộ thị trường
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
16
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
nội địa, đặc biệt là bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ. Thuế quan nhập khẩu sẽ
làm tăng giá hàng hóa, do vậy sẽ khuyến khích các nhà sản xuất trong nước. Tuy
nhiên, điều đó cũng sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong
nước.
Thuế nhập khẩu có thể giúp cải thiện thương mại của nước đánh thuế. Có thể
có nhiều sản phẩm mà giá của chúng không tăng đáng kể khi bị đánh thuế. Đối với
loại hàng hóa này thuế quan có thể khuyến khích nhà sản xuất ở nước ngoài giảm
giá. Khi đó lợi nhuận sẽ được chuyển dịch một phần cho nước nhập khẩu. Tuy
nhiên, để đạt được hiệu ứng đó, nước nhập khẩu phải là nước có khả năng chi phối
đáng kể đối với cầu thế giới của hàng hóa nhập khẩu.
Chính sách thuế quan trong điều kiện hội nhập: Nhìn chung chính sách thuế
quan của các quốc gia trong điều kiện hiện nay đều có ảnh hưởng nới lỏng sự hạn
chế thương mại, từng bước giảm dần các mức thuế trên cơ sở các hiệp định đa
phương và song phương. Thương lượng trong việc xây dựng biểu thuế quan được
coi như là một đặc trưng cơ bản của chính sách thuế xuất nhập khẩu trong những
thập kỷ gần đây. Sự hình thành của các liên minh thuế quan đã có những ảnh hưởng
nhất định đến lượng hàng hóa được trao đổi giữa các nước trong liên minh và các
nước ngoài liên minh. Chính sách liên minh thuế quan đã có tác động làm tăng đáng
kể khối lượng thương mại giữa các nước thuộc liên minh trong khi đó nó tạo ra một
hàng rào ngăn cản hàng hóa của các nước ngoài liên minh. Điều này dường như đã
trở thành một xu hướng trong việc hoạch định chính sách thuế quan hiện nay nhằm
tự do hóa thương mại giữa các nước trong khu vực và bảo hộ thị trường khu vực
trước sự cạnh tranh của hàng hóa đến từ bên ngoài.
Trong trường hợp tự do hóa thương mại, lợi ích thương mại cho các thành
viên không còn là điều phải tranh cãi vì mỗi quốc gia nhờ đó sẽ tận dụng triệt để
những nguồn lực có thế mạnh, loại bỏ những ngành sản xuất không hiệu quả, đồng
thời người dân cũng sẽ được tiêu dùng những sản phẩm rẻ hơn với chất lượng tốt
hơn. Trong trường hợp bảo hộ thị trường khu vực, nếu chỉ xét trong một ngành duy
nhất, có thể có một số nước sẽ lâm vào tình trạng bất lợi do phải nhập khẩu những
sản phẩm của các nước trong liên minh với giá cao hơn giá quốc tế. Tuy nhiên, liên
minh thuế quan là một thỏa thuận hợp tác giữa các nước tham gia. Do vậy, nếu như
một nước chịu thiệt hại về một ngành nào đó thì đổi lại nó sẽ được lợi từ một ngành
khác trên cơ sở cân bằng về lợi ích giữa các thành viên.
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
17
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Trợ cấp xuất khẩu là sự ưu đãi về tài chính hay cung cấp tiền bổ trợ của Chính
phủ một nước, công đoàn cùng nghề hay tổ chức độc quyền quốc tế cho doang
nghiệp xuất khẩu nhằm giảm giá hàng hoá xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh
trên thị trường thế giới.
Có hai phương thức trợ cấp: một loại là trực tiếp bổ trợ, tức là trực tiếp chi
tiền bổ trợ cho doanh nghiệp xuất khẩu, một loại khác là gián tiếp bổ trợ, tức là ưu
đãi về tài chính cho người doanh nghiệp xuất khẩu một số hàng hoá xuất khẩu nào
đó (vd: hoàn lại hay miễn giảm thuế trong nước, miễn giảm thuế xuất khẩu cho một
số hàng hoá xuất khẩu). TCXK là biện pháp khuyến khích xuất khẩu cổ xưa nhất,
bắt đầu từ thời kỳ chủ nghĩa trọng thương cho đến nay.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, thì nó trở thành thủ đoạn trọng yếu của tư bản
độc quyền nhằm chiếm đoạt thị trường thế giới, tiến hành bán tháo hàng hoá. Hiện
nay, các nước đang phát triển hay thông qua TCXK nhằm nâng đỡ một số ngành sản
xuất để phát triển nền kinh tế dân tộc.
WTO quy định, trợ cấp là "những lợi ích mà Chính phủ đem lại cho một đối
tượng nhất định và có thể lượng hoá về mặt tài chính". WTO có hai bộ tiêu chuẩn
về trợ cấp. Một bộ áp dụng cho nông sản, được đề cập trong Hiệp định Nông nghiệp
(AoA – agreement on agriculturer). Một bộ áp dụng cho sản phẩm phi nông nghiệp,
được quy định trong Hiệp định về Trợ cấp và Biện pháp đối kháng (SCM Subsidies Countervailing Measures).
2. Các yếu tố xã hội
Hoạt động của con người luôn luôn tồn tại trong một điều kiện xã hội nhất
định. Chính vì vậy, yếu tố xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của con người.
Các yếu tố xã hội là đối tượng rộng, do vậy để làm sáng tỏ ảnh hưởng của yếu tố
này có thể nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố văn hóa, đặc biệt là trong ký kết hợp
đồng
Nền văn hóa tạo nên cách sống của mỗi cộng đồng sẽ quyết định cách thức
tiêu dùng, thú tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn được thỏa mãn và cách thỏa mãn
của con người sống trong đó. Chính vì vậy văn hóa là yếu tố chi phối lối sống nên
nhà xuất khẩu luôn luôn phải tìm hiểu quan tâm đến yếu tố văn hóa ở thị trường
mình xuất khẩu.
3. Các yếu tố chính trị và pháp luật
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
18
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường quốc tế phải đối mặt với
vô số những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình. Một trong những yếu tố nan
giải nhất là pháp luật và chính trị. Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp
trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu các
chính sách, các luật lệ của nước sở tại hay không. Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâu
cũng bị ảnh hưởng của hệ thống luật pháp, thể chế chính trị và các chính sách của
chính phủ nước đó. Thất bại trong việc nghiên cứu yếu tố môi trường pháp luật,
chính trị và các ảnh hưởng của nó đến các hoạt động kinh doanh của mình sẽ dẫn
đến những hậu quả không lường trên thị trường quốc tế. Các yếu tố chính trị pháp
luật ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu.Các công ty kinh doanh xuất khẩu
đều phải thực hiện đúng qui định mà chính phủ tham gia vào các tổ chức quốc tế
trong khu vực và trên thế giới cũng như các thông lệ quốc tế:
- Các quy định của luật pháp đến hoạt động xuất khẩu :( thuế,qui định về mặt
hàng xuất khẩu,qui định quản lý về ngoại tệ…)
- Các hiệp ước,hiệp định thương mại mà quốc gia có doanh nghiệp xuất khẩu
tham gia.
- Các quy định nhập khẩu của các quốc gia mà doanh nghiệp có quan hệ làm ăn.
- Các vấn đề về pháp luật và tập quán quốc tế có liên quan đến xuất khẩu(công ước
viên 1980,Incoterm 2000…)
- Qui định về giao dịch hợp đồng, về bảo hộ quyền tác giả,quyền sở hữu trí tuệ.
- Qui định về cạnh tranh độc quyền, về các loại thuế.
- Qui định về vấn đề bảo vệ môi trường, tiêu chuẩn chất lượng, giao hàng,
thực hiện hợp động.
Ngoài các vấn đề nói trên chính phủ còn thực hiện còn thực hiện các chính
sách ngoại thương khác như : Hàng rào phi thuế quan, ưu đãi thuế quan…
Chính sách ngoại thương của chính phủ trong mỗi thời kỳ có sự thay đổi. Sự
thay đổi đó là một trong những rủi ro lớn đối với nhà làm kinh doanh xuất khẩu.Vì
vậy họ phải nắm bắt được chiến lược phát triển kinh tế của đất nước dể biết được xu
hướng vận động của nền kinh tế và sự can thiệp của Nhà nước.
4. Các yếu tố về tự nhiên và công nghệ
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
19
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Khoảng cách địa lý giữa các nước sẽ ảnh hưởng đến chi phí vận tải,tới thời
gian thực hiện hợp đồng, thời điểm ký kết hợp đồng,do vậy nó ảnh hưởng tới lựa
chọn nguồn hàng, lựa chọn thị trường, hợp đồng xuất khẩu…
Sự phát triển của khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin cho phép
các nhà doanh nghiệp nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc theo dõi, điều khiển hàng hóa xuất khẩu,tiết kiệm chi
phí, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu. Đồng thời yếu tố công nghệ còn tác
động đến quá trình sản xuất,gia công chế biến hàng xuất khẩu,các lĩnh vực khác có
liên quan như vận tải, ngân hàng,…
5. Các yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu
Các yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến
xuất khẩu như
Hệ thống giao thông,đặc biệt là hệ thống cảng biển: Mức độ trang bị,hệ thống
xếp dỡ,kho hàng,…hệ thống cảng biển nếu hiện đại sẽ giảm bớt thời gian bốc
dỡ,thủ tục giao nhận cũng như đảm bảo an toan cho hàng hóa xuất khẩu.
Hệ thống ngân hàng: Sự phát triển của hệ thống ngân hàng cho phép cá nhà
kinh doanh xuất khẩu thuận lợi trong việc thanh toán,huy động vốn. Ngoài ra ngân
hàng là một nhân tố đảm bảo lợi ích cho nhà kinh doanh bằng các dịch vụ thanh
toán qua ngân hàng.
Hệ thông bảo hiểm kiểm tra hàng hóa cho phép các hoạt động sản xuất được
thực hiện một cách an toàn hơn,đồng thời giảm bớt được thiệt hại khi rủi ro xảy
ra…
6. Ảnh hưởng của tình hình kinh tế-xã hội và quan hệ quốc tế
Trong xu thế khu vực hóa,toàn cầu hóa thì sự phụ thuộc giữa các nước ngày
càng tăng. Chính vì thế mà mỗi biến động của tình hình kinh tế xã hội trên thế giới
đều ít nhiều ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nền kinh tế trong nước.Lĩnh vực
xuất khẩu hơn bất cứ một hoạt động nào khác bị chi phối mạnh mẽ nhất,ở đây cũng
do một phần tác động của mối quan hệ kinh tế quốc tế. Khi xuất khẩu hàng hóa từ
nước này sang nước khác,người xuất khẩu phải đối mặt với hàng rào thuế quan,phi
thuế quan. Mức độ lỏng lẻo hay chặt chẽ của các hàng rào này phụ thuộc chủ yếu
vào quan hệ kinh tế song phương giữa hai nước nhập khẩu và xuất khẩu.
Ngày nay đã và đang hình thành rất nhiều liên minh kinh tế với các mức độ
khác nhau,nhiều hiệp định song phương và đa phương được ký kết với mục tiêu đẩy
mạnh hoạt động thương mại quốc tế. Nếu quốc gia nào tham gia vào liên minh kinh
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
20
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
tế này hoặc ký kết các hiệp định thương mại thì sẽ có nhiều thuận lợi cho hoạt động
xuất khẩu của mình. Ngược lại,đó cũng là rào cản cho xuất khẩu vào thị trường khu
vực đó.
7.
Nhu cầu và thị trường nước ngoài
Do khả năng sản xuất của các nước nhập khẩu không đủ để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng trong nước,hoặc do các mặt hàng trong nước sản xuất không đa dạng nên
không thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng nên nhu cầu và thị trường nước
ngoài cũng là một nhân tố để thúc đẩy xuất khẩu của các nước có khả năng đáp ứng
được của cả nhu cầu trong nước và nhu cầu nước ngoài
8.
8.1
Các nhân tố thuộc về doanh nghiệp
Tiềm lực tài chính
Là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối
lượng (nguồn) vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh,khả năng
phân phối ( đầu tư ) có hiệu quả các nguồn vốn. Khả năng quản lý có hiệu quả cá
nguồn vốn trong kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện qua các chỉ tiêu
Vốn chủ sở hữu
Vốn huy động
Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận
Khả năng trả nợ ngắn hạn và dài hạn
Các tỷ lệ về khả năng sinh lời
8.2.
Tiềm năng con người
Trong kinh doanh đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại dịch vụ,hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu,con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm bảo
thành công. Chính con người với năng lực thực sự của họ mới lựa chọn đúng được
cơ hội và sử dụng súc mạnh khác mà họ đã và sẽ có: vốn, tài sản, kỹ thuật, công
nghệ,…Một cách có hiệu quả để khai thác và vượt qua cơ hội.
8.3
Tiềm lực vô hình
Chúng ta thường coi là có 5 loại tài sản vô hình được định danh và loại 6 là
những tài sản vô hình khác. Đó là: 1. Các sáng chế, phát minh, công thức, quy trình,
mô hình, kỹ năng; 2. Bản quyền và các tác phẩm văn học, âm nhạc, nghệ thuật; 3.
Thương hiệu, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá; 4. Quyền kinh doanh, giấy phép,
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
21
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
hợp đồng; 5. Phương pháp, chương trình, hệ thống, thủ tục, khảo sát, nghiên cứu,
dự báo, dự toán, danh sách khách hàng, các số liệu kỹ thuật; 6. Các loại tài sản vô
hình khác (như đội ngũ nhân lực, vị trí kinh doanh...).
8.4 Khả năng kiểm soát, chi phối, độ tin cậy của nguồn cung cấp hàng hoá và
dự trữ hợp lý hàng hoá của doanh nghiệp
Yếu tố này ảnh hưởng đến đầu vào của doanh nghiệp và tác động mạnh mẽ
đến kết quả thực hiện các chiến lược kinh doanh cũng như ở khâu tiêu thụ sản
phẩm. Không kiểm soát hoặc không đảm bảo được sụ ổn định,chủ động về nguồn
cung ứng hàng hóa cho doanh nghiệp thì việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu
không thể đảm bảo,có thể phá vỡ hoặc làm hỏng hoàn toàn kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp.
8.5
Trình độ tổ chức quản lý
Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường.
Bất kỳ một doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh nào đều phải lựa chọn cho doanh
nghiệp, tổ chức kinh doanh của mình một cơ cấu tổ chức quản lý riêng. Thực tế cho
thấy, nhiều doanh nghiệp, tổ chức làm ăn thua lỗ, phá sản, phát triển chậm đều là do
cơ cấu tổ chức quản lý chưa hợp lý, chưa phù hợp với thực tiễn. Vì vậy vấn đề đặt
ra cho các doanh nghiệp, tổ chức là làm sao tìm cho mình một cơ cấu tổ chức quản
lý hợp lý(tối ưu). Bởi lẽ khi có một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý thì mới cho phép
sử dụng tốt các nguồn lực, giúp cho việc ra các quyết định đúng đắn và tổ chức thực
hiện có hiệu quả các quyết định đó, điều hoà phối hợp các hoạt động nhằm đạt được
mục đích chung đề ra.
8.6 Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ và bí quyết công nghệ của
doanh nghiệp
Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ và bí quyết công nghệ của
doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí, giá thành và chất lượng
hàng hóa được đưa ra đáp ứng khách hàng trong và ngoài nước.
Nếu doanh nghiệp có trang thiết bị công nghệ tốt và hiện đại thì sẽ làm giảm
được năng suất lao động, chi phí giá thành, không những thế nó còn tăng được chất
lượng của hàng hóa. Bên cạnh đó, bí quyết công nghệ lại giúp cho doanh nghiệp sản
xuất ra được những sản phẩm mang tính khác biệt, có tính cạnh tranh cao.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có được trang thiết bị công nghệ hiện đại
cũng như không có trong tay những bí quyết công nghệ thì chắc chắn doanh nghiệp
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
22
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
đó sẽ khó có thể phát triển lâu dài được.
8.7 Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
Cơ sở vật chất kỹ thuật phản ánh nguồn tài sản cố định doanh nghiệp có thể
huy động vào kinh doanh: thiết bị, nhà xưởng,…Nếu doanh nghiệp có cơ sở vật
chất càng đầy đủ và hiện đại thì khả năng nắm bắt thông tin cũng như việc thực hiện
các hoạt động kinh doanh xuất khẩu càng thuận lợi và có hiệu quả. Cơ sở vất chất
kỹ thuật cũng đóng vai trò khá quan trọng trong việt ký kết hợp đồng bởi một số
công ty khi chấp nhận ký kết hợp đồng họ sẽ xem xét đến cả yếu tố này để đi đến
việc ký kết.
9. Yếu tố cạnh tranh
Tùy thuộc vào sản phẩm mà các yếu tố cạnh tranh sẽ khác nhau. Ngành kinh
doanh khác nhau có yếu tố cạnh tranh khác nhau. Trong một số các lĩnh vực giá là
yếu tố cạnh tranh quan trọng nhất. Cạnh tranh một mặt thúc đẩy cho doanh nghiệp
đàu tư máy móc thiết bị,nâng cấp chất luongj và hạ giá thành sản phẩm…Nhưng
một mặt nó dễ dàng đẩy lùi các doanh nghiệp không có khả năng phản ứng hoặc
chậm phản ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh. Các yếu tố cạnh tranh
có thể kể đến là:
• Đối thủ mới tiềm năng
• Nhà cung cấp
• Người mua
• Các mặt hàng và các dịch vụ thay thế
• Cạnh tranh giữa các công ty hiện tại
Từ đây các doanh nghiệp có thể thấy được các mối đe dọa hay thách thức với
cạnh tranh với các doanh nghiệp trong ngành là trung tâm. Xuất phát từ đây doanh
nghiệp có thể đề ra các chiến lược hợp lý nhằm hạn chế đe dọa và tăng khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp mình.
- Sự đe dọa của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng: các đối thủ này chưa có kinh
nghiệm trong việc xâm nhập vào thị trường quốc tế song nó có tiềm năng lớn về
vốn, công nghệ, lao động và lợi thế của người đi sau, do đó dễ khắc phục được
nhũng điểm yếu của các doanh nghiệp hiện tại để có khả năng chiếm lĩnh thị
trường. Chính vì vậy một doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư vốn, trang bị thêm
máy móc thiết bị hiện đại để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm nhưng
mặt khác phải tăng cường quảng cáo, áp dụng các biện pháp hỗ trợ và khuếch
trương sản phẩm giữ gìn thị trường hiện tại, đảm bảo lợi nhuận dự kiến.
- Sức ép của người cung cấp: nhân tố này có khả năng mở rộng hoặc thu hẹp
khối lượng vật tư đầu vào,thay đổi cơ cấu sản phẩm, hoặc sẵn sàng liên kết với nhau
để chi phối thị trường nhằm hạn chế khả năng của doanh nghiệp hoặc làm giảm lợi
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
23
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
nhuận dự kiến, gây ra rủi ro khó lường trước cho doanh nghiệp.Vì thế hoạt động
xuất khẩu có nguy cơ gián đoạn.
- Sức ép người tiêu dùng : Trong cơ chế thị trường, khách hàng được coi là
“thượng đế”. Khách hàng có khả năng mở rộng qui mô hoặc hay thu hẹp chất lượng
sản phẩm mà không được nâng giá bán sản phẩm. Một khi nhu cầu của khách hàng
thay đổi thì hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói
riêng cũng phải thay đổi theo sao cho phù hợp.
- Các yếu tố cạnh tranh trong nội bộ ngành: Khi hoạt động trên thị trường quốc
tế, các doanh nghiệp thường khó có cơ hội giành được vị trí độc tôn trên thị trường
mà thường bị chính các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp các sản phẩm tương tự
cạnh tranh gay gắt. Các doanh nghiệp này có thể là doanh nghiệp của quốc gia các
nước sở tại, quốc gia chủ nhà hoặc quôc gia thứ ba cùng tham gia xuất khẩu mặt
hàng đó. Trong một số trường hợp các doanh nghiệp sở tại này được chính phủ bảo
hộ do đó doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh được với họ.
III. SỰ CẦN THIẾT THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU DỆT MAY SAU KHỦNG HOẢNG
1. Khái niệm về hàng dệt may
Dệt may là ngành đáp ứng các nhu cầu về sản phẩm tiêu dùng bao gồm các
loại quần áo, chăn ga, gối đệm, các loại đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như: rèm
cửa, vải bọc đồ dùng, khăn các loại…Mặt khác, sản phẩm của ngành dệt may cũng
được sử dụng trong ngành kinh tế khác như vải kỹ thuật dùng để lót đường, thi công
đê điều, các loại vải làm bọc đệm ô tô, làm vật liệu lọc vật liệu chống thấm. Sản
phẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo, vải vóc và các vật dụng quen thuộc
như khăn bàn, khăn tắm, chăn mền, nệm, rèm, thảm, đệm ghế, ô dù, mũ nón v.v. mà
còn cần thiết cho hầu hết các ngành nghề và sinh hoạt: lều, buồm, lưới cá, cần câu,
các loại dây nhợ, dây thừng, dây chão, các thiết bị bên trong xe hơi, xe lửa, máy
bay, tàu bè (một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17 kí sợi vải), vòng đai cua-roa,
vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì, và nói chung mọi vật liệu dùng để đóng gói, bao bọc,
để lót, để lọc, để cách nhiệt, cách âm, cách điện, cách thuỷ, và cả những dụng cụ y
khoa như chỉ khâu và bông băng
Để có được một sản phẩm dệt may cuối cùng cần trải qua một chuỗi các hoạt
động tạo ra giá trị. Thể hiện trong hình 3. Theo hình trên ta thấy chuỗi giá trị của
ngành dệt may bao gồm rất nhiều công đoạn khác nhau từ sản xuất xơ đến khéo sợi
dệt vải nhuộm in hoa ,hoàn tất cắt và may. Trong xu hướng toàn cầu hóa các hoạt
động trong chuỗi giá trị toàn cầu sẽ được phân bổ đến những nơi tạo ra giá trị gia
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A
24
Chuyờn tt nghip
GVHD: PGS.TS. Nguyn Ngc Sn
tng cao nht v hot ng hiu qu nht
Hỡnh 1 : Quy trỡnh sn xut v hon tt sn phm dt may
Sản phẩm phụ trợ
Phâ
n bón, thuốc
phòng dịch bệnh
Các laoij phụ tù ng
kim khívà phi kim
loại
Các loại phụ tù ng
kim khívà phi kim
loại
Các loại thuốc
nhuộm và hóa chất
phụ trợ
Công nghệdệt may
Sản xuất xơ
sợ i tổng hợ p
Sản xuất
bông
Kéo sợ i
Dệt vải mộc
Nhuộm - In hoa
Các loại hóa chất
phụ trợ
Hoàn tất
Các loại phụ liệu
may
Cắtmay
Công nghệphụ trợ
Công nghệhóa dầu
Công nghệcơkhí,
chếtạo và điều
khiển tự động
Công nghệcơkhí,
chếtạo và điều
khiển tự động
Công nghệcơkhí,
chếtạo và điều
khiển tự động
Công nghệcơkhí,
chếtạo và điều
khiển tự động
Công nghệthiết kế
thời trang
Tiêu dù ng
Ngun: Quy hoch phỏt trin dt may Vit Nam n nm 2020
2. S cn thit thỳc y xut khu hng dt may Vit Nam sau khng hong
2.1.Xut phỏt t tỏc ng cuc khng hong n th trng ca ngnh dt may
Th Thanh Thu
Lp: K hoch 48A
Chuyên đề tốt nghiệp
25
GVHD: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sơn
Trước đây, các nước Nam Á và Đông Nam Á nổi lên như một nguồn cung
quan trọng với khách hàng Âu- Mỹ. Nhập khẩu hàng dệt may của cả Mỹ, EU từ các
nước sản xuất hàng giá rẻ ở châu Á đều tăng trưởng khá mạnh, và mang lại sự khởi
sắc của không ít nền kinh tế.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi vị thế của nhiều
nền kinh tế lấy xuất khẩu làm động lực tăng trưởng, thậm chí có trường hợp đã đẩy
một vài nền kinh tế theo xu hướng đó xuống tình trạng trượt dốc. Cămpuchia là một
vị dụ đáng quan tâm.
Trước khủng hoảng kinh tế, Cămpuchia tăng trưởng mạnh nhờ 80% kim
ngạch thu được từ xuất khẩu quần áo giá rẻ sang Mỹ. Nhưng khi kinh tế Mỹ suy
thoái, chỉ trong mấy tháng (từ tháng 9/2008 đến đầu năm 2009), 50.000 công nhân
may (tức 17% lao động) mất việc làm.
Nền kinh tế Cămpuchia đã từng tăng trưởng 10% năm 2007, đến nay, theo dự
báo của WB chỉ còn 1%. Nêu ví dụ này để thấy, riêng trong ngành dệt may, tác
động của cuộc khủng hoảng là rất lớn. Việc thu hẹp tiêu dùng và dựng lên những
rào cản kỹ thuật ở cac thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản… đã khiến ngành dệt
may Việt Nam gặp không ít khó khăn.
Thị trường Mỹ là thị trường số 1 của Việt Nam, với thị phần tới 55% kim
ngạch. Nhưng từ tháng 8/2008, Quốc hôi Mỹ đã thông qua luật mới về an toàn đối
với sản phẩm nhập khẩu vào nước này. Theo đó, tất cả các sản phẩm dệt may vào
Mỹ sẽ phải tuân thủ các quy định mới từ tháng 2/2009. Ủy ban giám sát của Mỹ sẽ
tăng cường giám sát nghiêm ngặt hơn nữa các quy định an toàn sản phẩm như tính
dễ cháy của vải. Cấm tuyệt đối các sản phẩm có dây thắt ở vùng cổ áo, đặt biệt là áo
cho trẻ em. Mức phạt đối với nhà nhập khẩu hàng dệt may vi phạm sẽ tăng lên đến
15 triệu USD so với tối đa 3 triệu USD trước đây. Trong tình thế như vậy, các nhà
nhập khẩu Mỹ sẽ đặt ra những yêu cầu cao hơn về chất lượng và độ an toàn của sản
phẩm.
Trong khi đó, sự biến động giá hàng hóa thế giới theo chiều hướng giảm đã
ảnh hưởng tới việc sản xuất và xuất khẩu của ngành dệt may các nước. Hơn thế, các
cuộc cạnh tranh giữa các nước này sẽ càng gay gắt. Mặt khác, sự sụt giá của đồng
USD khiến cho thị trường Mỹ tăng trưởng chậm hơn các năm trước.
Năm 2004, trị giá hàng dệt may nhập khẩu vào Mỹ dạt 46,93 tỷ USD, đến
năm 2007 đã tăng lên 53,12 tỷ USD. Nhưng trong thời khủng hoảng, 6 tháng đầu
Đỗ Thị Thanh Thuỷ
Lớp: Kế hoạch 48A