Họ và tên học viên:
Lớp:
Môn học: Xã hội học tôn giáo
Đề bài: Quan điểm của K. Marx về tôn giáo? Rút ra ý kiến bản thân về
môn học XHH Tôn giáo?
BÀI LÀM:
“Xã hội học tôn giáo” (XHH TG) hay “xã hội học về các tôn giáo” là
một môn chuyên ngành của xã hội học, là ngành khoa học mang tính khách
quan, không đánh giá hiện tượng, tính đời sống của các tôn giáo mà nghiên
cứu các tôn giáo, hiện tương, sự kiện thuộc lĩnh vực tôn giáo hay có liên hệ
với tính thế tục của một xã hội dưới lăng kính xã hội học. XHH TG cố gắng
hiểu tôn giáo trong những sự biểu hiện đa dạng của nó như các thiết chế xã
hội, đảm bảo tính khách quan và thực nghiệm. Có rất nhiều cách tiếp cận tôn
giáo của các nhà xã hội học kinh điển. Theo Henri Lefèbre, nhà xã hội học
mác xít pháp: "Marx không phải là nhà xã hội học, nhưng người ta nhận thấy
có một môn xã hội học trong chủ nghĩa Mác”. Môn xã hội học này cho dù có
những giới hạn của nó, là một đóng góp quan trọng cho xã hội học về các
tôn giáo.
Sự phê phán chính trị và triết học ở Marx thường chiếm ưu thế hơn là
sự phân tích về tôn giáo với tư cách là sự kiện xã hội. Những yếu tố phân
tích của sự phê phán này đã ảnh hưởng đến nhiều cách tiếp cận xã hội học về
hiện tượng tôn giáo.
Trong phê phán chính trị về tôn giáo ông lưu ý tôn giáo là “ thuốc
phiện của nhân dân ”, nên chỉ có một câu trả lời duy nhất: phân tích xã hội lịch sử những tác động chính trị của tôn giáo. Phân tích này chỉ ra rằng, đặc
1
biệt là vào thời kỳ của Marx, tôn giáo đã đảm bảo sự cam kết vơí các chính
quyền đã được xác lập.
những buổi giảng kinh của các vị chủ lễ hay các buổi lễ ban thánh
thể,..đều khuyên răn các công dân hãy tự bằng lòng với số phận của họ.
Một số thỏa thuận ngầm giữa các uy quyền tôn giáo đã được xác lập
và giai cấp tư sản của xã hội công nghiệp là điều hiển nhiên (triết học Ánh
sáng).
Nhưng khi tập trung vào chức năng xác nhận của công giáo, Marx đã
xem nhẹ chức năng phản kháng, khả năng trở thành yếu tố truyền dẫn sự
phản kháng của nó trước quyền lực đã được xác lập.
Khi tuyên bố rằng: “ Sự khốn cùng tôn giáo, một mặt là biểu hiện của
sự khốn cùng hiện thực và, mặt khác, là sự phản kháng chống lại sự khốn
cùng hiện thực ”, Marx dẫu sao cũng đã thừa nhận chiều cạnh phản kháng
của tôn giáo.
Nhưng khi nhận định tôn giáo là “ hạnh phúc hư ảo của nhân dân ”,
ông đã không thể coi sự phản kháng này là quan trọng và cho rằng trong một
số tình huống, nó có thể góp phần đem lại “ hạnh phúc hiện thực ” cho nhân
dân.
Những tác động chính trị của một hệ tư tưởng, cho dù là mang tính
chính trị hay tôn giáo, đều ít khi được thể hiện rõ ràng. Bị lôi cuốn bởi sự phê
phán chính trị của mình, Marx đã quy bản chất của công giáo vào vai trò là
“ thuốc phiện của nhân dân ”, mà không phân tích lô-gic vốn có của truyền
thống tôn giáo này.
Nếu ông đã làm điều này, ông đã có thể nhận ra rằng trong một số tình
huống, công giáo cũng có thể nuôi dưỡng sự phản kháng xã hội và phi hợp
thức hóa trật tự đã được xác lập.
Những tiền giả định triết học trong cách tiếp cận của Marx đè nặng lên
sự phân tích của ông. Thực vậy,khi coi tôn giáo như một hiện thực thuộc cấu
trúc thượng tầng ít có tính tự trị so với cơ sở vật chất của đời sống xã hội,
2
Marx không coi tôn giáo là hệ thống biểu trưng tự trị, cũng như ông không
coi chính trị với tư cách là nó. Từ đó ở ông, có một sự quy giản của tính tôn
giáo vaò những ảnh hưởng xã hội chính trị có thể quan sát của nó ở đâu đó.
Sự phê phán duy lý về tôn giáo ở đây cũng phát huy mọi ảnh hưởng
của nó. Nếu tôn giáo chỉ là ảo tưởng gắn với sự tha hóa của con người trong
chế độ tư bản, thực sự khó có thể đem lại cho nó một tính cố kết nội tại nào
đó với tư cách hiện tượng xã hội.
Quan điểm của Marx năm 1844 thuộc phái Hegel trẻ cánh tả, nó tìm
thấy trong tôn giáo sự tha hóa của bản chất con người hơn là triết học Ánh
sáng vốn từ chối nó giản đơn như một sự mưu phản của giới tăng lữ (“ mô
hình Ai Cập ”).
Thực vậy khi Marx viết đoạn văn trên, ông vẫn còn là học trò của
Feurbach, một người theo phái Hégel trẻ. Phân tích về tôn giáo của ông vì
thế mang tính tiền-Marxist, chưa có sự quy chiếu vào các giai cấp xã hội, và
đúng hơn là phi lịch sử. Nhưng nó vẫn không kém phần biện chứng, vì nó
nhận ra cái đặc trưng mâu thuẫn của sự khốn cùng tôn giáo: khi thì hợp thức
hóa cái xã hội đang tồn tại, khi thì phản kháng chống lại nó. Chỉ về sau này
đặc biệt là trong Hệ tư tưởng Đức năm 1846 việc nghiên cứu hoàn toàn theo
chủ nghĩa Mác về tôn giáo với tư cách là một thực tại xã hội và lịch sử mới
bắt đầu. Yếu tố trung tâm của “phương pháp phân tích mới về các sự kiện
tôn giáo này - là xem xét chúng đồng thời với luật pháp, đạo đức, siêu hình
học và những ý tưởng chính trị,…v.v, như một trong rất nhiều hình thái của
ý thức hệ, tức sản xuất tinh thần (geistige Produktion) của một dân tộc, sự
sản xuất những ý tưởng , những biểu trưng, những hình thái của ý thức, tất
yếu bị chi phối bởi sản xuất vật chất và những quan hệ xã hội tương ứng.
Nếu đôi khi Marx nói về “sự phản ánh” - một thuật ngữ đã đưa nhiều
thế hệ các nhà Marxist đi vào ngõ cụt, cái ý tưởng trung tâm của văn bản,
nói đúng hơn là cần phải giải thích nguồn gốc của các hình thái khác nhau
của ý thức (tôn giáo, triết học, đạo đức,vv) từ các quan hệ xã hội, “khi đó nó
3
cho phép tái hiện một cách tự nhiên sự vật trong tính tổng thể của nó “và
cũng là để kiểm định hành vi tương tác giữa các khía cạnh khác nhau này”.
Một trường phái bất đồng chính trong xã hội học Mác xít về văn hóa
của Lukacs vốn ưu tiên cho phạm trù biện chứng về tính tổng thể hơn là về
sự phản ánh. Theo Lucien Goldman, nguyên tắc chính có tính phương pháp
của xã hội học mác xít là nguyên tắc của “tính tổng thể của hành vi con
người và mối liên hệ không thể tách rời giữa lịch sử của các sự kiện kinh tế
xã hội và lịch sử của các ý tưởng.
Chúng ta có thể tóm tắt cách tiếp cận này bằng một bước chuyển “có
tính cương lĩnh” xuất hiện trong một bài báo được viết vài năm sau đó”, “rõ
ràng là mọi đảo lộn lịch sử của những điều kiện xã hội đồng thời kéo theo sự
đảo lộn của những quan niệm, những biểu trưng của con người và do đó cả
những biểu trưng tôn giáo của họ”.
Phương pháp phân tích xã hội vĩ mô này có ảnh hưởng lâu dài đến xã
hội học về các tôn giáo, thậm chí cả bên ngoài môi trường ảnh hưởng
Marxist.
Từ 1846 Marx không còn quan tâm đến tôn giáo như những vũ trụ văn
hóa, tư tưởng cụ thể. Người ta thực sự không thể tìm thấy trong tác phẩm
của ông bất cứ nghiên cứu sâu hơn về môt hiện tượng tôn giáo nào. Bởi vì
như ông nói trong bài báo năm 1844 sự phân tích tôn giáo phải trở thành sự
phê phán cái thung lũng của những giọt nước mắt và sự phê phán thần học
phải trở thành sự phê phán về chính trị, có vẻ như ông chuyển hướng sự chú
ý của mình ra khỏi lĩnh vực tôn giáo. Tuy nhiên, trong tập đầu tiên của bộ Tư
bản năm 1867 người ta lại thấy một loạt nhận xét khá thú vị từ một quan
điểm phương pháp luận, ngay cả khi chúng không quy chiếu vào tôn giáo
khi đang nói về chủ đề khác.
Trong một ghi chú nổi tiếng ở cuối trang, Marx trả lời lập luận của
những người nhận thấy tầm quan trọng của chính trị trong thời cổ đại và của
4
tôn giáo trong thời Trung cổ cái bằng chứng về sự không thích hợp của cách
giải thích duy vật chủ nghĩa về lịch sử :
“ Ngay cả thời Trung Cổ cũng không thể sống bằng Công giáo, cũng
như thời Cổ dại không thể sống bằng chính trị”.
Vì thế, trái lại, chính những điều kiện kinh tế giải thích tại sao ở đây là
công giáo và ở đó là chính trị đóng vai trò chính “Hauptrolle”. Marx không
bao giờ chứng minh bằng các nguyên nhân kinh tế cho tầm quan trọng của
tôn giáo thời trung cổ. Nhưng nhận xét này lại thú vị trên bình diện phương
pháp luận trong chừng mức nó thừa nhận rằng trong những điều kiện nhất
định, tôn giáo có thể ít nhiều giữ một vai trò chính trong đời sống của một xã
hội.
Dường như hiện tượng tôn giáo duy nhất làm ông quan tâm trong bộ
Tư bản và trong các bài viết khác về kinh tế là đạo tin lành được viết từ quan
điểm về mối quan hệ của nó với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nhưng
trái với những gì mà người ta có thể giả định, mối quan hệ này được kiểm
định dưới nhiều góc độ mà người ta không thể diễn giải nó từ một mô hình
nhân quả duy nhất.
Cách tiếp cận “ kinh điển ” nhất dĩ nhiên là cách tiếp cận coi Cải cách
tin lành là phản ánh của xã hội tư sản. Ví dụ trong đoạn văn sau: “Thế giới
tôn giáo chỉ là sự phản ánh của thế giới hiện thực. Một xã hội mà sản phẩm
của lao động mang hình thức của hàng hoá…một xã hội như vậy tìm thấy
trong công giáo với sự tôn thờ con người trừu tượng và chủ yếu trong các
quan hệ tư sản của nó, đạo tin lành, thần luận, vv, sự bổ sung tôn giáo phù
hợp nhất”.
Tuy nhiên ngay cả trong đoạn văn này người ta cũng nhận thấy một
tính linh hoạt nhất định : sự bổ sung không cùng ý nghĩa với sự phản ánh.
Marx dường như do dự giữa hai hình thái quan hệ lịch sử xã hội khá khác
nhau này.
5
Đôi khi Marx gợi ra một mối quan hệ nhân quả ở chỗ tôn giáo sẽ là
một nhân tố tích cực trong sự hình thành của chủ nghĩa tư bản, để hỗ trợ cho
khẳng định: "đạo Tin Lành về bản chất là một tôn giáo tư sản”, ông đề cập
đến vai trò của phong trào Cải cách ở Anh trong sự cướp đoạt tài sản Giáo
Hội và đất đai của công xã : đã đem lại “ một thúc đẩy mới và khủng khiếp
cho sự trưng dụng có tính bạo lực quyền sở hữu tài sản của người dân trong
thế kỷ XVI, cái tôn giáo mới này đã ủng hộ sự tích lũy nguyên thủy của tư
bản.
Một cách rõ ràng hơn, ông khẳng định trong một đoạn văn khác :
“Đạo Tin Lành qua việc nó biến gần như tất cả các ngày lễ thành ngày làm
việc đã đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành của tư bản”. Thú vị
hơn so với giá trị thực nghiệm của các phân tích lịch sử này là ý nghĩa
phương pháp luận của chúng: đó là sự công nhận các tôn giáo như một
trong những nguyên nhân quan trọng của những biến đổi kinh tế dẫn đến sự
hình thành của hệ thống tư bản hiện đại
Dù kết luận đó là phản ánh hay nguyên nhân? Câu hỏi này dường như
không làm Marx quá bận tâm: điều căn bản đối với ông là làm sáng tỏ các
liên hệ mật thiết và hiệu quả giữa hai hiện tượng.
Trong bối cảnh này điều đặc biệt thú vị là trở về với một đoạn văn của
“Phác thảo” (Grundrisse )1857-1858 mà nó cho thấy một liên kết nội tại
giữa đạo tin lành và chủ nghĩa tư bản.
Sự tôn thờ vàng có thuyết khổ hạnh, những kiêng kỵ và các lễ hiến
sinh của nó: tiết kiệm, sự thanh đạm, sự khinh thường những thú vui trần
thế, trần tục và thoáng qua: đó là sự săn tìm kho báu vĩnh cửu.
Vì thế việc kiếm tiền ở trong quan hệ (Zusammenhang) với Thanh
giáo của người Anh và đạo Tin Lành của người Hà Lan. Sự song hành giữa
các luận đề này của Marx (nhưng không đồng nhất) với các luận đề của
Weber là điều đáng ngạc nhiên, nhất là khi Weber đã không thể đọc bản thảo
của Marx chỉ được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1940.
6
Marx nghiên cứu tôn giáo theo quan điểm xung đột. Theo đó, ông cho
rằng, mẫu thuẫn tôn giáo cũng gay gắt, quyết liệt, đẫm máu như mâu thuẫn
giai cấp, mâu thuẫn chính trị. Mặc dù tôn giáo tạo ra sự gắn kết giữa các thành
viên nhưng trong nhiều trường hợp tôn giáo vẫn có liên quan hoặc tạo ra
nhiều sự xung đột xã hội. Tôn giáo liên quan sự phân biệt rất quan trọng giữa
người theo cùng một tôn giáo với người theo tôn giáo khác hoặc người không
theo tôn giáo nào.
Xung đột xuất hiện khi một số quan điểm tôn giáo cho rằng chỉ tôn
giáo của họ là tôn giáo hợp pháp và duy nhất, họ không chấp nhận, không
khoan dung đối với những quan điểm khác, tôn giáo khác. Ví dụ, đạo thiên
chúa tin chúa trời là tối thượng còn Đạo Hồi thờ thánh Ala, thánh Ala là tối
cao nhất, Giêsu, chúa Kitô, Đức Phật cũng là sự xuất hiện khác nhau của
Ala, hiện thân của Ala. Oử Việt Nam có đạo Cao Đài, Hòa Hảo thờ tất cả các
vị thần thánh.
Xung đột tôn giáo còn diễn ra trong nội bộ tôn giáo khi:
- Nảy sinh sự tranh giành quyền lực, trành giành lãnh đạo. Ví dụ: Đạo Hồi: mâu
thuẫn giữa dòng Sunny và Shite, người kế vị Môhamét phải cận huyết và
phe kia ngược lại (Khalin).
- Do thái độ đối với những thành viên có hành vi được coi là lệch lạc trong
nhóm, khi người ta không dung thứ cho hành vi lệch lạc đó thì xung đột xảy
ra. Ví dụ: thế kỉ XVI-XVII cải cách tôn giáo ở châu Âu, phản ứng lại của
một nhóm giáo sĩ chống lại tầng lớp trên (sai giáo sĩ bán phiếu giải tội) ở
Đức, Anh, Thụy Sĩ. Nền tảng quay trở lại những giá trị gốc, nguyên bản.
Các cấp xung đột tôn giáo:
- Xung đột giữa tôn giáo này với tôn giáo kia. Ví dụ: Đạo Hồi mâu thuẫn với
đạo Thiên chúa ở Ai cập. Phật giáo mâu thuẫn với Hồi giáo ở Malayxia, Đạo
Hồi mâu thuẫn với thiên chúa giáo ở Philippin.
- Xung đột nội bộ tôn giáo: xung đột giáo phái Sunny với Shite.
- Xung đột nhóm tôn giáo với toàn bộ phần còn lại của xã hội.
7
Luận điểm 1: Theo K.Marx tôn giáo là sự tha hóa:
Các quan điểm của K.Marx được rút ra từ tác phẩn của Thần học triết.
Những quan điểm của K.Marx về tôn giáo được nêu ra không phải khi ông
nghiên cứu trên thực địa mà là khi ông đọc các tác phẩm của các nhà thần
học, triết học nghiên cứu về tôn giáo. Lý thuyết của ông về tôn giáo là minh
chứng cụ thể hóa và minh họa cho lý thuyết tổng quát của ông về sự tha hóa.
Tôn giáo là một minh chứng, một biểu hiện cụ thể của con người.
Theo quan điểm K.Marx, tha hóa gắn liền với phương thức tư bản chủ nghĩa
và con người làm ra của cải, vật chất nhưng chỉ làm thuê, bán sức lao động
thu về tiền công và tiền lương nên không có quyền, không có tiếng nói với
sản phẩm họ làm ra, sản phẩm xa lạ với chính họ.
Trong lịch sử loài người đặc biệt vào thời nguyên thủy, khi con người
tạo ra tôn giáo thì người ta xuất phát từ việc họ không hiểu, không lý giải
được hiện tượng tự nhiên, con người tạo ra tôn giáo để giải thích chúng.
Khi sở hữu tư nhân phát triển, những lý giải của tôn giáo cũng như cơ
cấu quyền lực của nó dần dần rơi vào tay một nhóm người và nhóm này chỉ
là thiểu số trong xã hội, khi đó tôn giáo trở thành sự biện minh cho quyền lợi
của nhóm, thiểu số, cho quyền lợi của giai cấp thống trị. Như vậy, tôn giáo
từ chỗ là sản phẩm của con người nói chung đã trở thành công cụ phục vụ
lợi ích cho một nhóm thiểu số trong xã hội. Đa số con người còn lại không
có quyền gì với tôn giáo nữa. Vậy, sản phẩm mà con người tạo ra đã trở nên
xa lạ, tách biệt, độc lập với họ, không chịu sự kiểm soát của họ, thậm chí trở
lại kiểm soát họ.
Luận điểm 2: Tôn giáo đánh lạc hướng những suy nghĩ và hành động
của con người xuất phát từ quan điểm: Tôn giáo là sự phản ánh, không thật,
mị dân. Nó an ủi con người ở thế giới hiện thực, mơ tưởng về khiếp sau, thủ
tiêu sự đấu tranh, thui chột sự phát triển.
Bằng cách tập trung những suy nghĩ của họ về kiếp sau, xui họ cam
chịu ở kiếp này dù nó bất công và ngang trái đến đâu.Tôn giáo là ảo tưởng
8
để làm giảm bớt nỗi đau bị áp bức, bóc lột và đó là sự bóp méo hiện thực.
Bóp méo hiện thực xã hội, đánh lạc hướng con người.
Luận điểm 3: Marx cho rằng xã hội tương lai (làm theo năng lực,
hưởng theo nhu cầu) sẽ không còn sự bóc lột và tha hóa nữa. Lực lượng sản
xuất được công hữu hóa, các thành viên trong xã hội làm chủ vận mệnh của
mình thì tôn giáo sẽ không còn tồn tại trong xã hội tương lai vì những lí do
và điều kiện sản sinh ra nó đã mất đi.
Theo em hiểu, xã hội học tôn giáo là ngành khoa học nghiên
cứu của các hiện tượng tôn giáo (không phải nghiên cứu các tôn giáo như
Tin Lành, Kitô giáo hay Chính thống giáo): Việt Nam có trung tâm đi tìm hài
cốt liệt sĩ, tục thờ cúng tổ tiên,… được coi là hiện tượng tôn giáo mang màu
sắc tôn giáo, có yếu tố tôn giáo; nghiên cứu các thông điệp tôn giáo tức là
các hiện tượng tôn giáo đều có thông điệp của nó nên xã hội học nghiên cứu
thông điệp đó nói lên điều gì. Ngoài ra, XHH TG còn nghiên cứu mối quan
hệ tương quan giữa thông điệp tôn giáo với người truyền bá (linh mục, mục
sư, nhà sư, cha sứ,…) và người tiếp nhận (tín đồ tôn giáo). Qua đó, XHH TG
đi đo tác động xã hội lên hiện tượng đó, sử dụng các công cụ và phương
pháp của môn xã hội học.
Xã hội học về tôn giáo tiếp tục phát triển trên toàn thế giới, thông qua
đó giúp mọi người hiểu thêm về các khía cạnh tôn giáo như niềm tin tôn
giáo, nghi lễ tôn giáo, các cảm nghiệm tôn giáo và cộng đồng tôn giáo.
Trong đó:
Niềm tin tôn giáo là những hiểu biết về giáo lý, các quy tắc và chuẩn
mực hành vi. Ví dụ: Đạo Thiên Chúa người ta tin rằng đứa trẻ sinh ra có tội
tông truyền nên nó phải được thực hiện nghi lễ rửa tội. Khi ấy, đứa bé trở
thành tín đồ chính thức.
Mỗi tôn giáo đều cần hành vi thờ cúng tuân theo những niềm tin và
giáo lý nhất định – hành vi đó được gọi là nghi lễ tôn giáo. Nói cách khác,
nghi lễ tôn giáo là hành động thể hiện ý niệm tôn giáo. Ví dụ: Đạo Thiên
9
chúa nghi lễ được tiến hành theo lịch: vào ngày 25/12 là lễ Giáng sinh, 15/8
lễ Đức Mẹ.
Cảm nghiệm tôn giáo là cảm nghiệm của cá nhân, mang tính chủ quan.
Ví dụ: Gọi hồn: Bà Phan Thị Bích Hằng có thể nói chuyện với người âm, người
chết.
Cộng đồng tôn giáo là toàn thể những người có cùng 1 niềm tin, nhu
cầu tôn giáo giống nhau và thường thực hiện nghi lễ tập thể với nhau.
Môn học này đem lại cho em cái nhìn khái quát về các khái niệm tôn
giáo kể trên, các cách tiếp cận, các truyền thống XHH và hiện tượng tôn
giáo, cách tiếp cận lý thuyết như thuyết chức năng luận, lý thuyết trao đổi và
lý thuyết sự lựa chọn hợp lý. Đồng thời, qua cách tiếp cận của K.Marx về
tôn giáo mà những vấn đề về tôn giáo theo quan điểm xung đột được phân
tích một cách thấu đáo, dễ hiểu.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài giảng Xã hội học Tôn giáo, TS. Nguyễn Đức Truyến
2. Từ điển Xã hội học Oxford, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2012.
3. Dự thảo 4: Luật Tín ngưỡng-Tôn giáo, QH13.
4. Trang tin điện tử:
/>
10