MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ......................................................................................................................1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỊ TRƯỜNG NHÀ Ở CHO SINH VIÊN THUÊ....5
1.1. Tổng quan về thị trường bất động sản................................................5
1.1.1. Khái niệm và phân loại thị trường bất động sản.............................5
1.1.2. Đặc điểm của thị trường bất động sản.............................................6
1.2.3. Vai trò của thị trường bất động sản..............................................10
1.2. Thị trường Nhà ở cho sinh viên thuê.................................................12
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm về nhà ở cho sinh viên..............................12
1.2.2 Vai trò của thị trường nhà ở cho sinh viên.....................................13
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường nhà ở cho sinh viên..........14
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG NHÀ Ở CHO SINH VIÊN THUÊ TẠI
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN...........................................................18
2.1. Quá trình phát triển trường Đại học Kinh tế quốc dân..................18
2.2. Thực trạng về thị trường nhà ở cho sinh viên thuê Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân.................................................................................20
2.2.1 Thực trạng về cầu.............................................................................20
2.2.2. Thực trạng về cung..........................................................................23
2.2.3. Thực trạng về giá cả........................................................................28
2.3. Đánh giá thực trạng về nhà ở cho sinh viên trường Đại học Kinh tế
Quốc dân...............................................................................................32
2.3.1. Những kết quả đạt được..................................................................32
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân......................................................33
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG NHÀ Ở CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN TRONG THỜI GIAN TỚI41
3.1. Dự báo nhu cầu nhà ở cho sinh viên trường Đại học Kinh tế quốc
dân trong thời gian tới.........................................................................41
3.2.Giải pháp phát triển thị trường nhà ở cho sinh viên Trường Đại học
Kinh Tế Quốc Dân...............................................................................42
3.2.1. Giải pháp ở tầm vĩ mô....................................................................42
3.2.2. Giải pháp ở tầm vi mô..................................................................44
3.2.3. Điều kiện để thực hiện các giải pháp.............................................49
3.3. Kiến nghị..............................................................................................49
KẾT LUẬN........................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................53
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Biểu đồ 1: Chỉ tiêu tuyển sinh của Đại học Kinh tế quôc dân giai đoạn
2005 - 2009..................................................................................................20
Biểu đồ 2: Tỷ lệ các mức chu cấp của gia đình sinh viên ..............................22
Bảng 1: Thống kê tỷ lệ % các khoảng cách từ nơi trọ đến trường.................21
Bảng 2: Khả năng đáp ứng chỗ ở cho tân sinh viên trường Đại học kinh tế
quốc dân giai đoạn từ 2005-2009.....................................................27
Bảng 3: Thống kê về tỷ lệ các mức giá...........................................................29
Bảng 4: Thống kê tỷ lệ của các diện tích phòng trọ........................................30
Bảng 5: Thống kê tỷ lệ các mức giá nước.......................................................31
Bảng 6: Thống kê tỷ lệ mức giá điện..............................................................31
Bảng7: Thống kê tình hình an ninh khu nhà trọ sinh viên trường Đại học
Kinh tế quốc dân...............................................................................37
Bảng 8: Thống kê tỷ lệ các chỉ tiêu về điều kiện vệ sinh khu phòng trọ.........37
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Mỗi năm có hàng trăm ngàn sinh viên học sinh theo học tại các trường đại
học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội
(phần lớn là sinh viên ngoại tỉnh). Đặc biệt những năm gần đây nhiều trường
liên tục tăng chỉ tiêu tuyển sinh, nhưng việc xây dựng ký túc xá lại bị bỏ ngỏ.
Vì vậy, vấn đề chỗ trọ luôn là nỗi bức xúc và ám ảnh của hầu hết sinh viên.
“Nhà trọ sinh viên” luôn là mối quan tâm của toàn xã hội, nhà ở ngày càng
tăng nhu cầu ngày càng bức thiết nhưng đến nay vẫn chưa tìm được hướng đi
thiết thực cho việc xây nhà ở cho sinh viên. Theo báo cáo mà các trường đại
học trong cả nước thống kê và gửi trình lên bộ Giáo dục & Đào tạo thì hiện
nay quỹ ở ký túc xá của các trường mới chỉ đáp ứng được 20 - 25% số lượng
sinh viên có nhu cầu về chỗ ở. Gần 80% số lượng sinh viên còn lại cả nước
chủ yếu vẫn phải sống tản mác ở ngoài với nhiều hình thức như: ở với gia
đình, với họ hàng, bà con và ở trọ ngoài. Bên cạnh đó, mỗi một mùa đối với
sinh viên ngoại tỉnh, khi niềm vui đỗ đạt chưa trọn, họ đã phải đối mặt với
một cuộc “vượt rào” khác : làm sao kiếm được một chỗ ở ký túc xá, hoặc
kiếm đâu ra một chỗ trọ học, vừa hợp túi tiền vừa phù hợp với việc đèn sách.
Tất cả chỉ tập trung vào một vấn đề về cuộc sống của sinh viên trong những
năm tháng gắn bó với giảng đường đại học. Nhà ở sinh viên từ bao năm nay
vẫn là vấn đề làm đau đầu các nhà đầu tư phát triển nhà, Chính phủ và toàn xã
hội. Chúng ta có một lần chứng kiến cuộc sống thực của sinh viên mới biết
được những nỗi khổ mà họ phải gánh chịu. Thêm vào đó là những khó khăn
của các nhà đầu tư trong lĩnh vực xây nhà cho sinh viên. Khó khăn của chính
phủ trong việc điều tiết các mối quan hệ xã hội có liên quan đến sinh viên và
cuộc sống của họ.
2
Mỗi năm có thêm hàng vạn học sinh tốt nghiệp phổ thông đến với giảng
đường đại học. Họ trở thành sinh viên, cùng với niềm vui đó hầu hết các bạn
ở tỉnh xa đều phải đối mặt với một nỗi lo rất lớn, đó là nỗi lo về nơi ăn chốn ở
trong thời gian đi học. Vấn đề này hiện nay đang rất bức xúc và đòi hỏi có sự
quan tâm của tất cả mọi người.
Trường Đại học Kinh tế quốc dân là một trường đầu ngành trong lĩnh vực
kinh tế và quản trị kinh doanh. Hàng năm có hàng nghìn sinh viên đăng ký
tham gia thi tuyển. Niềm vui vì đỗ đại học còn chưa kịp hưởng trọn thì các tân
sinh viên lại phải đối mặt với muôn vàn thử thách của cuộc sống mới, mà vấn
đề bức xúc nhất chính là làm thế nào để ổn định chỗ ở, đảm bảo việc học hành
của mình. Ký túc xá luôn luôn là điểm đến đầu tiên cho mọi sinh viên ngoại
tỉnh khi lên theo học tại trường. Tuy nhiên với qui mô với khoảng 200 phòng
ở, mỗi phòng có sức chứa từ 8 -10 người thì ký túc xá trường Đại học Kinh tế
quốc dân mới chỉ đáp ứng được 15- 20% nhu cầu về nhà ở cho sinh viên. Vậy
một tỷ lệ lớn sinh viên không được ở ký túc xá thì sẽ ra sao? Có ở trong
trường vào thời điểm tuyển sinh đại học và bắt đầu vào năm học mới mới thấy
hết được sự vất vả của việc tìm kiếm nhà trọ của các tân sinh viên. Thông tin
về nhà ở cho sinh viên của trường hầu như rất hiếm và không đầy đủ. Các nhà
trọ tự phát của người dân ở khu vực quanh trường hầu như đều đã kín chỗ và
giá cả cũng rất cao. Nhiều sinh viên đã phải tìm nhà ở rất xa trường học, đi lại
khó khăn, đặc biệt là đối với những sinh viên năm thứ nhất. Nhiều sinh viên
lâm vào tình trạng khóc dở mếu dở vì không có chỗ ở hoặc chỗ ở không đáp
ứng được nhu cầu tối thiểu cho sinh hoạt, thậm chí có sinh viên trong vòng
một tháng đã phải chuyển chỗ ở đến 2-3 lần do điều kiện sinh hoạt quá tồi tàn,
hoặc giá nhà trọ quá cao không đủ trang trải.
Mục tiêu phát triển của trường Đại học Kinh tế quốc dân là mở rộng quy
mô và nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên để việc đào tạo đạt chất lượng
3
tốt thì phải đảm bảo được cuộc sống ổn định cho sinh viên, trong đó có việc
đảm bảo về nơi ăn chốn ở cho sinh viên. Xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn và
những bất cập trong vấn đề nhà ở cho sinh viên thuê nhóm nghiên cứu đã lựa
chọn đề tài: “Giải pháp phát triển thị trường nhà ở cho sinh viên trường
Đại học Kinh Tế Quốc Dân” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào giải quyết các vấn đề cơ bản sau:
- Làm rõ cơ sở khoa học về thị trường nhà ở cho sinh viên, những khó
khăn và bất cập trong vấn đề nhà ở cho sinh viên hiện nay.
- Phân tích thực trạng thị trường nhà ở cho sinh viên trường Đại học
Kinh tế quốc dân hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn và bất cập
trong vấn đề nhà ở cho sinh viên và phát triển thị trường nhà ở ổn định cho
sinh viên trường Đại học Kinh tế quốc dân trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thị trường nhà ở cho sinh viên trường
Đại học Kinh tế quốc dân trong giai đoạn từ 2005 đến nay.
Vấn đề nhà ở sinh viên là lĩnh vực được rất nhiều người quan tâm nhưng
cho đến nay nó vẫn đang là vấn đề nan giải. Đặc biệt là ở các trường đại học
lớn. Trong phạm vi đề tài này chúng tôi sẽ tập trung đi sâu, mô tả toàn cảnh
thực trạng nhà ở sinh viên ở trường Đại học Kinh tế quốc dân và đề ra các giải
pháp mang tính kịp thời giải quyết nhu cầu trước mắt và những giải pháp
mang tính chiến lược.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở nền tảng của phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và sử
dụng kết hợp nhiều phương pháp đặc biệt là phương pháp khảo cứu tài liệu để
4
kế thừa, khai thác các thông tin có sẵn, tổng hợp rút ra các kết luận nghiên
cứu mới.
Ngoài ra còn sử dụng một số các phương pháp tiếp cận sau:
-
Phương pháp điều tra thống kê số liệu
-
Phương pháp dự báo
Sử dụng các tài liệu cho việc làm đề tài như: Internet, sách báo, tạp chí và
các tài liệu có liên quan khác.
5. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các tài liệu nghiên cứu thì nội dung chính
bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về thị trường nhà ở cho sinh viên.
Chương 2: Thực trạng thị trường nhà ở cho sinh viên trường Đại học
Kinh Tế Quốc Dân hiện nay.
Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường nhà ở cho sinh viên trường
Đại học Kinh tế quốc dân trong thời gian tới.
5
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỊ TRƯỜNG NHÀ
Ở CHO SINH VIÊN THUÊ
1.1. Tổng quan về thị trường bất động sản:
1.1.1. Khái niệm và phân loại thị trường bất động sản:
1.1.1.1. Thị trường bất động sản:
Có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về thị trường bất động sản,
song các quan niệm cùng có một điểm chung khái quát về thị trường bất động
sản là tổng hòa các quan hệ giao dịch về bất động sản được thực hiện thông
qua các quan hệ hàng hóa tiền tệ diễn ra trong một không gian và thời gian
nhất định. Tức là quan hệ giao dịch giữa người mua và người bán, giữa cung
và cầu và thực hiện các quan hệ chuyển dịch về giá trị bất động sản.
Thị trường bất động sản chỉ ra đời khi mà trong xã hội có sự trao đổi mua
bán, giao dịch về bất động sản.
Theo dòng lịch sử thì đất đai là loại hàng hóa bất động sản đầu tiên. Khi
chế độ sở hữu đất đai được xác lập, khi mà các hoạt động kinh tế phát triển,
nhu cầu sử dụng đất để phục vụ sản xuất và đời sống tăng lên thì quan hệ về
đất đai cũng phát triển và đất đai cũng trở thành hàng hóa. Trên thực tế nội
dung cơ bản của thị trường bất động sản và cũng là cách quan niệm phổ biến
hiện nay về thị trường bất động sản theo nghĩa hẹp, đó là thị trường nhà đất.
1.1.1.2. .Phân loại:
Tùy theo mục tiêu nghiên cứu và tiếp cận, người ta có thể phân chia thị
trường bất động sản theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Dựa vào loại hàng hóa bất động sản, người ta có thể phân chia thị trường
bất động sản thành các thị trường đất đai, thị trường nhà ở; thị trường bất
6
động sản dùng trong dịch vụ; thị trường bất động sản dùng cho văn phòng,
công sở; thị trường bất động sản công nghiệp.
Dựa vào tính chất các mối quan hệ xuất hiện trên thị trường, người ta phân
chia thị trường bất động sản thành thị trường mua bán; thị trường thuê và cho
thuê; thị trường thế chấp và bảo hiểm. Việc phân chia dựa vào tính chất quan
hệ về bất động sản giúp cho các nhà kinh doanh lựa chọn hướng đầu tư kinh
doanh sao cho phù hợp khả năng và điều kiện của mình.
Dựa vào trình tự tham gia, người ta có thể phân chia thị trường bất động
sản thành thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giao đất, cho thuê
đất) còn gọi chung là thị trường đất đai; thị trường xây dựng các công trình
bất động sản để bán và cho thuê (thị trường sơ cấp); Thị trường bán hoặc cho
thuê lại bất động sản (thị trường thứ cấp).
Dựa vào mức độ kiểm soát, người ta phân chia thị trường bất động sản
thành thị trường chính thức hay thị trường có kiểm soát và thị trường phi
chính thức, hay thị trường không được kiểm soát.
1.1.2. Đặc điểm của thị trường bất động sản:
Hàng hóa bất động sản là loại hàng hóa đặc biệt, khác với các loại hàng
hóa thông thường nên thị trường bất động sản cũng có những đặc điểm riêng.
Thứ nhất, Tính cách biệt giữa hàng hóa với địa điểm giao dịch.
Đối với hàng hóa thông thường, địa điểm giao dịch thường là nơi hiện diện
của hàng hóa giao dịch, còn đối với hàng hóa bất động sản địa điểm giao dịch
lại cách biệt với hàng hóa bất động sản giao dịch. Đó là do đặc điểm của hàng
hóa bất động sản có vị trí cố định, không thể di dời được. Do vậy, hoạt động
giao dịch bất động sản thường được tiến hành trên các chợ hàng hóa bất động
sản ảo. Các chợ này rất đa dạng, có thể là các trung tâm giao dịch lớn(chợ địa
ốc), cũng có thể là tại nhà riêng, tại nhà hàng, quán nước, qua mạng
internet…đều tạo nên chợ giao dịch bất động sản.
7
Thứ hai, thị trường bất động sản thực chất là thị trường giao dích các
quyền và lợi ích chứa đựng trong bất động sản.
Đặc điểm này là do đặc điểm của đất đai quy định. Đặc điểm của đất đai là
không hao mòn hay không mất đi (trừ các trường hợp đặc biệt) và người có
quyền sở hữu hay có quyền sử dụng đất đai không sử dụng đất đai như các
hàng hóa khác. Điều mà họ mong muốn là các quyền hay các lợi ích do đất
đai mang lại. Do đó, khi xem xét giá cả đất đai, không thể xác định giá trị
của nó như xác định giá trị của các hàng hóa thông thường mà phải xác định
dựa trên khả năng sinh lợi của đất đai và khả năng sinh lợi của vốn đầu tư
vào đất đai.
Thứ ba, thị trường bất động sản mang tính vùng và tính khu vực sâu sắc.
Bất động sản có đặc điểm là không thể di dời được, gắn liền với những
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, từng khu vực. Do đó, cung
và cầu bất động sản ở các vùng, các khu vực rất phong phú và đa dạng, từ số
lượng, kiểu cách, mẫu mã, chất lượng đến quy mô và trình độ phát triển. Mặt
khác, bất động sản còn có đặc điểm là phụ thuộc vào tâm lý, tập quán, thị
hiếu, do đó, mỗi vùng, mỗi khu vực cùng có những đặc trưng riêng về cung
cầu bất động sản. Người ta không thể di dời bất động sản từ nơi này sang nơi
khác, cũng như không thể di chuyển tâm lý, tập quán thị hiếu từ vùng này
sang vùng khác, do đó thị trường bất động sản mang tính vùng và tính khu
vực sâu sắc. Từ đó cho thấy sự biến động các quan hệ giao dịch bất động sản
thường chỉ diễn ra ở từng vùng, quan hệ cung cầu giá cả bất động sản chỉ ảnh
hưởng trong một vùng, một khu vực nhất định, ít có ảnh hưởng hoặc có ảnh
hưởng rất chậm tới thị trường bất động sản của các vùng, các khu vực khác.
Thứ tư, thị trường bất động sản là thị trường không hoàn hảo.
Sở dĩ như vậy là do các thông tin về hàng hóa bất động sản và thị trường
bất động không đầy đủ và phổ biến rộng rãi như các loại hàng hóa khác. Bất
động sản mang tính vùng và tính khu vực sâu sắc, chúng không liền kề nhau
8
và không phải bao giờ cũng tìm được bất động sản cùng loại để so sánh cạnh
tranh một cách đầy đủ. Hơn nữa, số lượng người tham gia cung và cầu về mỗi
loại bất động sản đều có số lượng nhỏ, không đảm bảo tiêu chí cho cạnh tranh
hoàn hảo.
Thứ năm, cung về bất động sản phản ứng chậm hơn so với biến động về
cầu và giá cả bất động sản.
Đối với hàng hóa bất động sản, khi cầu tăng, cung bất động sản không thể
phản ứng tăng nhanh như các loại hàng hóa khác. Đó là do đặc điểm của bất
động sản cần có thời gian để tạo ra chúng, để xây dựng các công trình cần
phải có thời gian để tìm hiểu thông tin về đất đai, làm thủ tục chuyển nhượng,
xin phép xây dựng, thiết kế thi công. Cung bất động sản là có giới hạn và cầu
bất động sản lại luôn luôn tăng, cung cầu được coi là không co giãn so với giá
cả. Do vậy trong thị trường bất động sản, sự thay đổi về giá bất động sản
thường bắt nguồn từ sự thay đổi mất cân đối cung cầu, hay nói cách khác giá
cả là do quan hệ cung cầu quyết định. Sự biến động của giá cả thường bắt đầu
do sự thay đổi của cầu. Khi giá giảm, cầu ít co giãn so với giá bởi vì khi giá
giảm nhưng giảm không đến mức để người mua tăng thêm một đơn vị bất
động sản. Ngược lại, khi giá tăng thì bản thân do nhu cầu tăng trong khi cung
không phản ứng theo kịp làm giá tăng. Khi giá tăng nhưng cung không co
giãn vì tổng nguồn bất động sản, nhất là đất đai là có giới hạn, việc đầu tư
phát triển mới phải mất nhiều thời gian nên khi cầu tăng cung không tăng
ngay. Giá cả bất động sản do cung cầu bất động sản quyết định, ngược lại, giá
cả lại ít ảnh hưởng điều tiết của giá cả theo hướng tăng lên, hình thành những
cơn sốt giá bất động sản.
Thứ sáu, thị trường bất động sản là thị trường khó thâm nhập.
Sở dĩ như vậy là vì hàng hóa bất động sản không bày bán trên thị trường
như các loại hàng hóa khác, người mua và người bán bất động sản không
có cơ hội và đủ lượng thông tin để lựa chọn được thị trường phù hợp với
9
bất động sản cần giao dịch. Hơn nữa, vì bất động sản thường có giá trị lớn,
người mua và người bán bất động sản thường có ít kinh nghiệm vì họ ít có
cơ hội mua hoặc bán (trừ những người mua bán chuyên nghiệp). Do vậy,
khi thực hiện các giao dịch trên thị trường bất động sản cần phải có các nhà
tư vấn, môi giới, đó là những người được đào tạo cơ bản, có kiến thức kinh
doanh và am hiểu pháp luật. Với sự tham gia của họ, các giao dịch bất động
sản sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Thứ bảy, thị trường bất động sản chịu sự chi phối của yếu tố pháp luật.
Bất động sản là loại tài sản có giá trị lớn, do đó việc quản lý của Nhà nước
đối với chúng bằng pháp luật là cơ sở để đảm bảo an toàn cho các giao dịch
bất động sản. Mọi bất động sản đều được Nhà nước quản lý như đăng ký, cấp
giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng, cũng như các biến động của
chúng. Mọi giao dịch bất động sản phải có sự giám sát của Nhà nước, đặc biệt
trong khâu đăng ký pháp lý.
Thứ tám, thị trường bất động sản có mối lien hệ mật thiết với thị trường vốn.
Đặc điểm này bắt nguồn từ đặc điểm của bất động sản là có giá trị lớn, do
đó, mọi giao dịch đầu tư kinh doanh bất động sản đòi hỏi một lượng vốn lớn.
Lượng vốn này phải được huy động từ thị trường vốn. Thực tế cho thấy nếu
không có một thị trường vốn phát triển lành mạnh và ổn định thị trường bất
động sản bất động sản cũng không thể phát triển lành mạnh và ổn định được.
Khi bất động sản sụt giá nhanh sẽ dẫn đến sự gia tăng các khoản nợ khó đòi,
vì thế có thể kéo theo các tổ chức tài chính tín dụng vào vòng xoáy của cơn
khủng hoảng.
Thứ chín, thị trường bất động sản là thị trường ma việc tham gia hoặc
rút ra khỏi thị trường là vấn đề khó khăn, phức tạp và cần phải có nhiều
thời gian.
10
Vì bất động sản thường là có giá trị lớn,người mua trên thị trường này
không đông, việc mua bán không thể đơn giản và nhanh chóng như đối với
các loại hàng hóa khác. Bất động sản là những yếu tố vật chất lâu bền, khó
chuyển đổi công năng và tính chất, do vậy không dễ dàng gì thay đổi định
hướng đầu tư khai thác các công trình bất động sản.
1.2.3. Vai trò của thị trường bất động sản:
Thứ nhất, phát triển thị trường bất động sản góp phần thúc đẩy sản xuất
phát triển.
Thị trường bất động sản là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu về bất động sản, là
cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng về bất động sản. Đó chính là nơi thực hiện
quá trình tái sản xuất và các yếu tố sản xuất đáp ứng cho các hoạt động kinh
doanh bản thân bất động sản. Khi thị trường bất động sản phát triển, tốc độ
luân chuyển vốn nhanh sẽ tạo điều kiện tốt cho người sản xuất kinh doanh bất
động sản đẩy mạnh sản xuất, đồng thời, người tiêu dùng bất động sản cũng
nhờ đó mà đẩy mạnh sản xuất của mình.
Thứ hai, phát triển thị trường bất động sản góp phần huy động vốn cho
đầu tư phát triển.
Khi thị trường bất động sản góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển thì bản
thân nó đã là quá trình tăng vốn đầu tư cho phát triển bởi vì sự phát triển của
nó chính là sự tăng lên của tài sản cố định trong xã hội, và đó chính là nguồn
vốn đầu tư phát triển quan trọng.
Khi thị trường bất động sản phát triển, tốc độ chu chuyển của vốn nhanh
hơn, đó chính là một cách bổ sung thêm vốn cho đầu tư phát triển.
Các giao dịch thế chấp bất động sản để vay vốn, góp vốn lien doanh bằng
bất động sản là những giao dịch làm tăng thêm vốn cho đầu tư phát triển.
11
Thứ ba, phát triển thị trường bất động sản góp phần tăng thu cho ngân
sách Nhà nước.
Sự phát triển thị trường bất động sản có thể diễn ra theo 2 hướng: một là
tăng lượng hàng hóa bất động sản trên thị trường giao dịch; hai là mở rộng
phạm vi quan hệ giao dịch, làm tăng quan hệ giao dịch sẽ làm cho khối lượng
giao dịch nhiều hơn do quá trình mua đi, bán lại, thuê đi, thuê lại…
Cả 2 hướng phát triển đó của thị trường bất động sản đều dẫn đến góp
phần tăng cho thu ngân sách nhà nước thông qua thuế.
Thứ tư, phát triển thị trường bất động sản góp phần mở rộng các thị
trường trong và ngoài nước, mở rộng quan hệ quốc tế.
Thị trường chung của mỗi quốc gia là một thể thống nhất của các loại thị
trường vốn, thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường bất động sản.
Do đó, sự phát triển của thị trường bất động sản có ảnh hưởng đến tất cả các
thị trường đó và thị trường chung của mỗi quốc gia.
Sự phát triển thị trường bất động sản góp phần mở rộng thị trường ngoài
nước bằng cách vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, tạo điều kiện cho các chủ thể
là người nước ngoài tham gia giao dịch bất động sản trong nước, đồng thời
còn cho phép họ đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư kinh doanh và thậm chí có
thể cư trú và sinh sống tại đó.
Thứ năm, thị trường bất động sản góp phần vào sự ổn định xã hội.
Ở bất cứ quốc gia nào, thị trường bất động sản cũng là thị trường quan
trọng bởi lẽ nó góp phần tạo ra sự ổn định xã hội. Thị trường bất động sản
phát triển không lành mạnh (đặc biệt là thị trường đất đai) là do chính sách
đất đai không phù hợp, sẽ dẫn đến sự rối loạn của thị trường, gia tăng nạn đầu
cơ, buôn bán, lũng đoạn giá cả làm cho giá cả lên xuống thất thường… Thị
trường bất động sản hoạt động lành mạnh sẽ góp phần điều hòa cung cầu,
bình ổn giá cả bất động sản, do đó sẽ góp phần làm cho xã hội được ổn định
hơn.
12
Thứ sáu, thị trường bất động sản góp phần nâng cao đời sống của nhân dân.
Thị trường bất động sản là một bộ phận của thị trường xã hội, do đó, sự
phát triển của thị trường này sẽ tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của thị
trường vốn, thị trường sức lao động, thị trường hàng hóa, và nói chung là tác
động tốt đến sự phát triển thị trường chung đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa
dạng của con người, qua đó mà nâng cao đời sống của nhân dân.
Thứ bảy, phát triển thị trường bất động sản góp phần đổi mới chính sách,
trong đó có chính sách đất đai, chính sách về bất động sản.
Quan hệ đất đai là quan hệ kinh tế, là quan hệ xã hội, được thực hiện chủ
yếu qua thị trường, do đó, từ thị trường đất đai, Nhà nước sẽ thấy rõ những
bất cập của các chính sách của hệ thống quản lý đối với đất đai. Qua đó, Nhà
nước sẽ đổi mới, bổ sung và hoàn thiện, không chỉ các chính sách mà còn cả
các công tác quản lý đất đai, quản lý bất động sản.
1.2. Thị trường Nhà ở cho sinh viên thuê:
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm về nhà ở cho sinh viên:
1.2.1.1. Khái niệm:
Để hiểu thế nào về thị trường nhà ở của sinh viên trước hết ta phải hiểu thế
nào là nhà ở. Nhà ở là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống của con
người. Nhà ở là phương tiện để bảo vệ con người trước các hiện tượng thiên
nhiên như nắng, mưa, gió, bão... Từ đây ta có thể hiểu thế nào là nhà ở của
sinh viên. Nhà ở của sinh viên cũng là một phương tiện để bảo vệ con người,
có diện tích nhỏ, kết cấu và kiến trúc không đòi hỏi phức tạp, được xây dựng
để có thể tiết kiệm được tối đa diện tích đất. Nhà ở sinh viên được xây dựng
phải được chú ý đến yêu cầu thoáng mát, đủ ánh sáng để đảm bảo cho sinh
hoạt học tập của sinh viên. Nhà ở sinh viên còn có các sân thể dục thể thao,
khu cây xanh để rèn luyện sức khỏe, nghỉ ngơi thư giãn đảm bảo điều kiện tốt
nhất cho sinh viên học tập và nghiên cứu.
Ngoài ra, đối với các ký túc xá, làng sinh viên còn cần thiết phải có khu
13
vực nhà ăn, căng tin và các dịch vụ khác phục vụ sinh viên.
1.2.1.2. Đặc điểm:
- Nhà ở sinh viên có diện tích nhỏ, số lượng vừa, tập trung đông ở những
nơi có trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp.
- Chất lượng của nhà ở tùy thuộc vào từng khu vực, nhưng chủ yếu vẫn
đạt tiêu chuẩn cơ bản.
- Kiến trúc xây dựng rất đơn giản, xây dựng theo các dãy nhà, dãy tầng
chiếm ít diện tích đất.
- Tiện nghi đủ để phục vụ sinh hoạt hàng ngày.
- Giá thuê phòng và an ninh trật tự bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội.
1.2.2 Vai trò của thị trường nhà ở cho sinh viên:
1.2.2.1. Vai trò của thị trường nhà ở nói chung:
Nhà ở có vai trò hết sức quan trọng đối với con người. Vai trò đầu tiên
không thể thiếu là nhà ở là nơi trú ngụ của con người, bảo vệ con người tránh
khỏi những ảnh hưởng xấu của thiên nhiên. Xã hội từ khi hình thành con
người đã tự tìm cho mình nơi cư trú. Là những hang đá, hốc đá để che mưa,
che nắng, gió bão…. Và đây cũng là hình thức nhà ở đầu tiên của con người.
Cùng với sự phát triển của xã hội các hình thức nhà ở cũng phát triển theo.
Nhà ở còn thể hiện mức sống của dân cư mỗi vùng, mỗi quốc gia. Những
vùng dân cư có mức thu nhập cao dẫn đến nhu cầu ngày càng cao về nhà ở.
So sánh bề ngoài của những ngôi nhà và những tiện nghi bên trong của chúng
sẽ phản ảnh phần nào mức sống của người dân những khu vực khác nhau.
Những ngôi nhà ở nông thôn mặc dù đã khang trang nhưng vẫn mang đặc
trưng riêng: dân dã, bình dị ... ở đô thị, những khu chung cư hay nhà chia lô
mang kiểu cách mới, sang trọng, lịch sự...
Nhà ở là nơi đáp ứng các nhu cầu của con người cả về vật chất lẫn tinh
thần. ở đó con người sẽ được thỏa mãn phần nào nhu cầu của mình : ăn , ngủ,
14
nghỉ ngơi...rồi mới có thể hoàn thành công việc, học tập và cao hơn là tham
gia các hoạt động xã hội, văn hóa , chính trị, nghệ thuật...
1.2.2.2. Vai trò của nhà ở đối với sinh viên nói riêng:
Nhà ở sinh viên có những vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc học tập
và sinh hoạt của sinh viên.
Là nơi tạo cho sinh viên một chốn ổn định để đảm bảo môi trường học tập
tốt nhất. Từ đó sinh viên mới có thể an tâm học tập nghiên cứu.
Giúp cho sinh viên tiết kiệm được thời gian và tiền bạc trong việc tìm
kiếm nhà trọ. Bởi lẽ hiện nay, khi cung nhà ở không đáp ứng đủ cầu những
sinh viên không đuợc ở ký túc xá hay vì một lý do nào đó họ phải đi tìm nhà
trọ, đó là một cảnh tượng phổ biến đặc biệt ở Hà Nội hiện nay.
Với nhu cầu nhà ở như hiện nay thì nhà ở cho sinh viên còn có vai trò
quan trọng trong việc giảm cơn sốt cầu nhà ở và bình ổn giá cả trên thị trường
nhà cho thuê.
Với đặc điểm tập trung đông thì nhà ở cho sinh viên giúp cho việc quản
lý sinh viên được tiến hành hiệu qủa hơn. Không kể đến ký túc xá, việc quản
lý sinh viên ngoại trú bao lâu nay vẫn là một vấn đề nan giải của các trường
đại học, cao đẳng. Hiện nay, ký túc xá của các trường chỉ đáp ứng được một
phần rất nhỏ nhu cầu sinh viên ở nội trú.
Tạo cho sinh viên những cơ hội gặp gỡ, giao lưu, học hỏi và kết bạn từ
khắp các tỉnh trên cả nước, có điều kiện gíup đỡ nhau trong học tập. Các sinh
viên có thể trao đổi kiến thức giảng giải cho nhau về mọi vấn đề: Các vấn đề
xã hội, các vấn đề liên quan đến bài giảng...
Từ những đặc điểm và vai trò của nhà ở là điểm đáng chú ý trong tình
hình phát triển như hiện nay. Tất cả các ngành, các lĩnh vực đều cần đến đất
đai mà quỹ đất thì có hạn nên thường xảy ra mâu thuẫn. Do đó nhà ở cho sinh
viên vẫn còn rất nhiều hạn chế cần được giải quyết:
15
- Do tập trung đông sinh viên trong ký túc xá hoặc làng sinh viên cũng dẫn
đến khó khăn trong việc quản lý nếu ta không có hệ thống quản lý chặt chẽ.
- Nếu xảy ra bệnh dịch thì bệnh dịch sẽ lây lan và khó kiểm soát, sinh viên
là đối tượng có nguy cơ cao trong việc lây nhiễm bệnh dịch.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường nhà ở cho sinh viên:
1.2.3.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu nhà ở cho sinh viên:
Cầu nhà ở cho sinh viên chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như sự gia
tăng số người học bậc đại học, sự phát triển về qui mô đào tạo của các trường,
mức trợ cấp mà sinh viên nhân được…..
Hằng năm các trường đại học nói chung hay trường đại hoc Kinh Tế Quốc
Dân nói riêng đều có xu hướng gia tăng tỷ lệ sinh viên tuyển sinh vào trường.
Sự gia tăng sinh viên của các trường tăng nhanh chóng trong khi đó quy mô
của ký túc xá không thay đổi nhiều, dịch vụ nhà cho sinh viên thuê không
tăng nhanh dẫn đến tình trạng thiếu trầm trọng nhà ở cho sinh viên. Cụ thể chỉ
tiêu tuyển sinh của các trường đại học, cao đẳng năm sau đều cao hơn năm
trước trong khi các trường này chỉ đáp ứng được 25% đến 30% chỗ ở nội trú
(ký túc xá) cho sinh viên. Đối tượng để được ở ký túc xá cũng rất hạn chế, chỉ
những sinh viên thuộc diện gia đình chính sách, vùng sâu vùng xa, hộ nghèo
rồi mới đến thí sinh đỗ điểm cao mới được xét duyệt, số còn lại phải tự túc
chỗ ở. Bên cạnh đó không phải chỉ tiêu tuyển sinh của các trường đều tăng
mỗi năm, mà số sinh viên đã tốt nghiệp ai cũng muốn có việc làm và bám trụ
lại đất Hà Thành, cùng với đó là công chức nhà nước, người lao động tự do
ngoại tỉnh tràn về mưu sinh ngày một tăng trong khi quỹ đất này của thành
phố ngày càng thu hẹp cho đô thị hoá chính là nguyên nhân cầu nhà ở cho
sinh viên tăng lên cao chóng mặt như hiện nay.
Xã hội ngày càng càng phát triển con người luôn vươn tới trình độ phát
triển cao nhất có thể phù hợp với bản thân mình. Theo xu hướng phát triển đó
16
trường Kinh Tế Quốc Dân cũng kết hợp nhiều hệ đào tạo bên cạnh đào tạo
riêng hệ chính quy, hệ tại chức, khóa ngắn hạn, liên kết với nước ngoài...để
đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng cả trong nước lẫn nước ngoài. Với sự
tăng thêm của các hệ đào tạo đó làm số lượng sinh viên tăng thêm, vấn đề giải
quyết nhu cầu nhà ở cho sinh viên càng thêm nhức nhối.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế trong nước
cũng đạt được sự tăng trưởng nhất định. Sự tăng trưởng đó được thể hiện qua
sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng thu nhập bình
quân trên một đầu người. . Thu nhập tăng lên, ảnh hưởng đến tiêu dùng do có
sự gia tăng nhu cầu về nâng cao mức sống vật chất. Khi đó mức trợ cấp sinh
viên nhân được từ gia đình tăng lên, nhu cầu về tiêu dùng cho những vật
phẩm thiết yếu đã được đảm bảo thì một phần thu nhập sẽ được dùng để giải
quyết nhu cầu nhà ở. Do vậy nhu cầu về nhà ở cho sinh viên càng tăng lên.
Việc thực hiện các dự án cải tạo cơ sở hạ tầng tại các khu vực gần trường
kinh tế có thể tác động nhanh chóng làm tăng mức cầu về nhà ở của sinh viên.
Đây là nhân tố chủ yếu quyết định nhu cầu nhà ở.
1.2.3.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến cung nhà ở cho sinh viên:
Xét về mặt lý thuyết, mức cung nhà ở gắn liền với các nhân tố hữu hạn
(diện tích, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị....) nhưng trong thực tế sự
thay đổi mức cung nhà ở phụ thuộc rất nhiều vào các biến số khác như : chi
phí đầu vào và chi phí xây dựng, chính sách tài chính..
Các chính sách phát triển nhà ở cho sinh viên hiện nay co xu hướng làm
cho cung nhà ở tăng lên. Như mới đây, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số
155/2005/QĐ-TT về việc phê duyệt đề án giải quyết chỗ ở cho Sinh viên các
trường đại học và cao đẳng đến năm 2010. Mục tiêu của đề án là phấn đấu
đến năm 2010 đảm bảo chỗ ở cho khoảng 60% tổng số sinh viên hệ dài hạn
tập trung có nhu cầu ở nội trú của các trường đại học, cao đẳng, với diện tích
17
chỗ ở và sinh hoạt bình quân khoảng 3m 2/sinh viên. Cùng với các định hướng
phát triển: Xây dựng ký túc xá sinh viên đảm bảo có đủ các điều kiện cần
thiết đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và học tập của sinh viên. Quy mô và địa điểm
xây dựng ký túc xá sinh viên phù hợp với quy hoạch phát triển từng trường,
với quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng, phù hợp với quy
hoạch xây dựng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương đã được phê duyệt. Theo đề án, tổng diện tích ký túc xá
sinh viên cần xây dựng mới khoảng 970.000 m 2, diện tích kí túc xá sinh viên
cần cải tạo nâng cấp khoảng 730.000 m2, với mức vốn đầu tư khoảng 3.500 tỷ
đồng lấy từ ngân sách Nhà nước, đầu tư của địa phương, của các doanh
nghiệp, tư nhân, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, kinh phí của nhà
trường. Như vậy sẽ làm tăng lên rất nhiều số nhà ở cung cấp cho sinh viên
thuê.
Các yếu tố nguyên liệu đầu vào cũng có vai trò rất quan trọng đến lượng
cung về nhà ở. Nếu giá các nguyên vật liệu xây dựng hạ thì giá thành xây
dựng hạ và khả năng cung về nhà ở với giá hạ sẽ được mở rộng thêm. Các
yếu tố này còn cho phép tạo nguồn cung về nhà ở các cấp độ khác nhau tạo
thêm tính phong phú về cơ cấu nguồn cung.
Sự phát triển của kết cấu hạ tầng và các điều kiện tiếp cận cũng thường
dẫn đến sự thay đổi cung nhà ở. Kết cấu hạ tầng có thể làm thay đổi công
dụng và giá trị hiện có của nhà ở. Nếu không có kết cấu hạ tầng thì cung nhà
ở cũng coi như gần bằng không. Bên cạnh đó sự phát triển của khoa học ,
công nghệ làm chất lượng nhà ở , khả năng đáp ứng, thời gian xây dựng nâng
cao cũng góp phần làm tăng lượng cung nhà ở.
18
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG NHÀ Ở CHO SINH VIÊN THUÊ
TẠI ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
2.1. Quá trình phát triển trường Đại học Kinh tế quốc dân:
Trường Đại học Kinh tế quốc dân được thành lập theo Nghị định số 678TTg ngày 25 tháng 1 năm 1956 với tên gọi ban đầu là kinh tế tài chính. Lúc
đó trường được đặt trong hệ thống Đại học nhân dân Việt Nam trực thuộc Thủ
tướng Chính phủ.
Trải qua một quá trình phát triển, trường đã được nhiều lần đổi tên cho phù
hợp với mục đích đào tạo và nhu cầu phat triển, đến ngày 22 tháng 10 năm
1985, trường được đổi tên là trường Đại học Kinh tế quốc dân theo quyết định
số 1443/QĐ-KH của bộ trưởng bộ đại học và trung học chuyên nghiệp( nay là
Bộ giáo dục và đào tạo)
Năm 1989, trường Đại học Kinh tế quốc dân được chính phủ giao thực
hiện 3 nhiệm vụ chính là:
- Tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô
- Đào tạo về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh ở bậc đại học và sau
đại học
- Đào tạo cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế.
Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, trường Đại học Kinh tế
quốc dân luôn luôn giữ vững vị trí là một trong những trung tâm đào tạo và
bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinnh doanh lớn nhất ở Việt
Nam. Trường hện có hơn 45.000 sinh viên, 1.167 cán bộ, giảng viên, công
nhân viên ( trong đó có 697 giảng viên, 19 giáo sư, và 105 phó giáo sư, 107
tiến sĩ và 398 thạc sĩ), ở bậc đại học đào tạo 45 chuyên ngành thuộc 8 khối
19
chuyên ngành khác nhau đó là: kinh tế, quản trị kinh doanh, ngân hàng-tài
chính, hệ thống, thông tin kinh tế, luật học, khoa học máy tính và ngoại ngữ
kinh tế, ở bậc cao họcđào tạo 2 nhóm ngành kinh tế và kinh doanh và quản lý
với 33 chuyên ngành hẹp, và bậc nghiên cứu sinh đào tạo 14 mã số chuyên
ngành với 22 chuyên ngành hẹp.
Cho đến nay trường đại học kinh tế quốc dân đã đào tạo được nhiều thế hệ
cán bộ quản lý chính quy, năng động và dễ thích nghi với nền kinh tế thị
trường và có khả năng tiếp thu các công nghệ mới. Trong số những sinh viên
tốt nghiệp của trường nhiều người hiện đang giữ những chức vụ quan trọng
trong các cơ quan của Đảng, quốc hội, chính phủ và các doanh nghiệp.
Đại học Kinh tế quốc dân đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn và đã
được trao tặng nhiều danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước như: huân
chương lao động hạng 3 trong giai đoạn 1961-1972, hạng 2 năm 1978, hạng
nhất năm 1983, huân chương độc lập hạng 3 năm 1986, hạng hai năm 1991 và
hạng nhất năm 1996, danh hiệu anh hùng lao động năm 2001, huân chương
hữu nghị của nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào năm 2008.
Với một bề dày lịch sử phát triển và những thành tích to lớn trong giáo dục
và đào tạo, trường Đại học Kinh tế quốc dân luôn là sự lựa chọn của các bậc
phụ huynh cũng như sinh viên trong quá trình học tập. Hàng năm trường thu
hút hàng nghìn sinh viên đến theo học ở tất cả các hệ. Mục tiêu từ nay đến
năm 2020 là phấn đấu trở thành trường đại học hiện đại, với quy mô và chất
lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi nhà trường
phải không ngừng nâng cấp hệ thống hạ tầng, phòng học và trang thiết bị,
đảm bảo cho nhu cầu học tập của sinh viên. Bên cạnh đó việc đảm bảo ổn
định cuộc sống về tinh thần và vật chất cho sinh viên cũng được nhà trường
hết sức quan tâm. Đặc biệt là việc tạo lập nơi ăn chốn ở và các điều kện vật
chất sinh hoạt cho sinh viên. Tuy nhiên với số lượng sinh viên như hiện nay
và sự đáp ứng nhu cầu về chỗ ở hiện tại thì vấn đề nhà ở cho sinh viên tại
20
trường đại học kinh tế quốc dân thực sự đang là một vấn đề hết nan giải và
khó khăn.
2.2.Thực trạng về thị trường nhà ở cho sinh viên thuê trường Đại học
Kinh tế Quốc dân:
2.2.1 Thực trạng về cầu:
Hiện nay nhu cầu nhà ở cho sinh viên thuê ngày càng tăng.
Như đã nói ở trên thì nhu cầu về nhà ở là vô cùng cấp thiết. Đặc biệt đối
với chúng ta là sinh viên thì nhu cầu về nhà trọ là cấp bách. Theo thống kê thì
mỗi năm tỷ lệ sinh viên tuyển mới vào các trường đaị học, cao đẳng tăng từ
6% - 9%/ năm trong đó có tới 60% - 80% là sinh viên ngọai tỉnh. Điều đó kéo
theo nhu cầu thuê nhà ngày một tăng cao. Dạo quanh một vòng trên địa bàn
thành phố Hà Nội hầu hết ký túc xá hiện nay của các trường đều chặt cứng.
Theo ông Phùng Khắc Bình vụ trưởng vụ công tác học sinh, sinh viên,bộ giáo
giục đào tạo thì các ký túc xá chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu của sinh viên,
còn 80% là trọ ngoài và mới có khoảng 10% các trường đáp ứng 100% nhu
cầu chỗ ở của sinh viên ( các trường Quân Đội, An Ninh ).
Biểu đồ 1: Chỉ tiêu tuyển sinh của Đại học Kinh tế quôc dân giai đoạn
2005 - 2009
21
(Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự điều tra thống kê)
Theo số liệu tự điều tra thì tổng sinh viên toàn trường hiện nay khoảng
15.270 sinh viên hệ chính quy, mà trong khi đó ký túc xá chỉ đáp ứng được
khoảng 2.810 chỗ chiếm khoảng 20% tổng số sinh viên. Còn lại khoảng 80%
số lượng sinh viên phải đi thuê nhà trọ ngoài. Vì vậy nhu cầu tìm nhà trọ của
sinh viên hiện nay là rất cao.
Mặc dù cầu về nhà ở trong những năm gần đây đã được đáp ứng một phần
song nhu cầu về nhà ở cho sinh viên thuê ngày càng gia tăng. Nhiều sinh viên
có nhu cầu cải thiện chỗ ở, đặc biệt là những sinh viên gia đình khá giả có
điều kiện.
Phần lớn các gia đình khá giả có con em theo học đại học có nhu cầu cải
thiện điều kiện ở rất lớn. Điều này nói nên rằng những những sinh viên gia
đình có khả năng kinh tế hiện nay có nhu cầu mở rộng diện tích và các điều
kiện ở, còn những sinh viên có gia đình kinh tế thuộc diện bình thường và khó
khăn cũng có nhu cầu cao. Vì nhà ở của rất nhiều sinh viên này chủ yếu là
loại nhà tạm, nhà “ổ chuột”, lại thiếu nguồn nước sạch và các điều kiện cần
thiết phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày.
22
Một số nhu cầu thiết yếu của sinh viên khi tìm nhà trọ :
- Đa số sinh viên có nhu cầu tìm nhà gần trường hoặc tiện xe bus, tiện với
những sinh hoạt mua bán thường ngày.
Bảng 1: Thống kê tỷ lệ % các khoảng cách từ nơi trọ đến trường
Khoảng cách (km)
Dưới 2
2–5
5–8
Trên 8
Tỷ lệ ( % )
32,81
39,06
23,44
4,69
(Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự điều tra)
- Bên cạnh đó giá nhà phải tương đối phù hợp với mức chu cấp bình
quân của từng gia đình.
(Nguồn : Nhóm nghiên cứu tự điều tra thống kê)
Theo điều tra thống kê thì bình quân hàng tháng sinh viên nhận tiền chu
cấp của gia đình khoảng từ 1.200.000 – 1.500.000 đồng chiếm tỷ lệ lớn nhất