Tải bản đầy đủ (.pdf) (78 trang)

Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) thuần loài tại xã Vũ Loan huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn (Khóa luận tốt nghiệp)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.4 MB, 78 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN LỘC

NGHIÊN CƢ́U ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH KHỐI
CỦA RỪNG VẦU ĐẮNG (INDOSASA ANGUSTATA MC. CLURE)
THUẦN LOÀ I TẠI XÃ VŨ LOAN, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

:

Chính quy

Chuyên ngành :

Quản lý Tài nguyên rừng

Khoa

:

Lâm nghiêp̣

Lớp

:

K45-QLTNR-N01



Khóa học

:

2013 - 2017

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG VĂN LỘC

NGHIÊN CƢ́U ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ SINH KHỐI
CỦA RỪNG VẦU ĐẮNG (INDOSASA ANGUSTATA MC. CLURE)
THUẦN LOÀ I TẠI XÃ VŨ LOAN, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý Tài nguyên rừng

Khoa


: Lâm nghiêp̣

Lớp

: K45 – QLTNR – N01

Khóa học

: 2013 - 2017

Giảng viên hƣớng dẫn

: TS. Trần Công Quân

THÁI NGUYÊN - 2017


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu
và kết quả trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng
để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái nguyên, tháng 6 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA GVHD

NGƢỜI VIẾT CAM ĐOAN


Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!

TS. Trần Công Quân

Hoàng Văn Lộc

XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!


i

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng không thể thiếu đối với mỗi
sinh viên. Đó không chỉ là điều kiện cần thiết để mỗi sinh viên có thể hoàn
thành khóa học và tốt nghiệp ra trường mà đó còn là cơ hội cho mỗi sinh viên
ôn lại và áp dụng các kiến thức đã học vào thực tế, trau dồi những kiến thúc
quý báu để sau khi ra trường trở thành cán bộ vừa có trình độ lý luận, kiến
thức chuyên môn vững vàng, vừa có kiến thức thực tiến, tính sáng tạo trong
công việc. Đáp ứng nhu cầu xã hội.
Được sự đồng ý của khoa Lâm Nghiệp, trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên: Tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure)
thuần loài tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”. Để thực hiện đề tài
này, ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự giúp đỡ của quý thầy cô giáo
khoa Lâm Nghiệp,Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Công Quân, người hướng
dẫn đề tài tốt nhiệp cho tôi đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình

thực hiện. đề tài tốt nghiệp Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu nhà
trường, Khoá trước đại học, Khoa Lâm nghiệp cùng các thầy cô giáo trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp.
Xin cám ơn cán bộ UBND xã Vũ Loan, huyện Na Rì, Hạt Kiểm Lâm
huyện Na Rì, và một số hộ dân trên địa bàn nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong việc thu thập số liệu ngoài thực địa, để tôi thực hiện và hoàn
thành đề tài tốt nghiệp.
Qua đây cho phép tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả sự giúp đỡ quý báu trên,
mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do trình độ chuyên môn của bản thân, thời
gian có hạn nên không thể tránh khỏi những sai sót. Vì vậy tôi kính mong
nhận được sự góp ý của quý thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để bài của tôi
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2017
Tác giả
Hoàng Văn Lộc


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1.

Diê ̣n tích rừng Vầ u đắ ng của xã Vũ Loan .................................. 33

Bảng 4.2.

Hiện trạng về rừng Vầu tại xã Vũ Loan ..................................... 34


Bảng 4.3.

Bảng tổng hợp phân bố N/D ....................................................... 35

Bảng 4.4.

Bảng tổng hợp quy luật phân bố số cây theo chiều cao
(N\H) ........................................................................................... 37

Bảng 4.5.

Sinh khối tươi trung bình cây cá lẻ ở Vũ Loan .......................... 38

Bảng 4.6.

Đặc điểm sinh khối tươi cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ ......... 39

Bảng 4.7

Sinh khối tươi cây bụi, thảm tươi và vật rơi rụng ...................... 42

Bảng 4.8

Bảng tổng hợp đặc điểm sinh khối tươi lâm phần Vầu đắng
thuần loài .................................................................................... 44

Bảng 4.9.

Sinh khối khô trung bình cây cá lẻ ở Vũ Loan ........................... 46


Bảng 4.10. Sinh khối khô cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ ......................... 47
Bảng 4.11. Sinh khối khô của cây bụi, thảm tươi và vật rơi rụng trong
lâm phần Vầu đắng ..................................................................... 49


iii

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 4.1. Biểu đồ phân bố bình quân số cây Vầu Đắng theo cấp
đường kính. ................................................................................ 36
Hình 4.2. Biểu đồ phân bố mật độ số cây theo cấp chiều cao. ....................... 38
Hình 4.3. Biểu đồ lượng sinh khối tươi cây Vầu đắng theo 3 cấp mật độ ...... 41
Hình 4.4. Biểu đồ lượng sinh khối tươi của cây bụi, thảm tươi ..................... 43
Hình 4.5 Biểu đồ sinh khối tươi lâm phần rừng Vầu đắng tự nhiên
thuần loài ................................................................................... 45
Hình 4.6. Biểu đồ lượng sinh khối khô cây Vầu đắng 3 cấp mật độ .............. 48
Hình 4.7. Biểu đồ lượng sinh khối khô của cây bụi và thảm tươi .................. 50
Hình 4.8. Biểu đồ lượng sinh khối khô của vật rơi rụng ................................ 51
Hình 4.9. Biểu đồ sinh khối khô lâm phần Vầu đắng tự nhiên thuần loài ...... 53


iv

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CDM

: Clean Development Mechanism
(Cơ chế phát triển sạch)


Cs

: Cộng sự

D 1.3

: Đường kính ngang ngực bình quân

D1.3

: Đường kính ngang ngực

H dc

: Chiều cao dưới cành

H vn

: Chiều cao vút ngọn

H vn

: Chiều cao vứt ngọn bình quân

HĐND

: Hội đồng nhân dân

IPCC


: Intergovernmental Panel on Climate - Ủy ban
Quốc Tế về Biến đổi khí hậu

N

: Mật độ

LHQ

: Liên hợp quốc

ODB

: Ô dạng bản

OTC

: Ô tiêu chuẩn

SKK

: Sinh khối khô

SKT

: Sinh khối tươi

UBND

: Ủy ban nhân dân



v

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH ...................................................................... iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học ...................................... 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài..................................................................... 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................................... 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 4
2.1.1. Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu ......................................... 4
2.1.2. Quá trình quang hợp ở thực vật .............................................................. 5
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam ............................................ 6
2.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới .............................................................. 6
2.2.2. Những nghiên cứu ở trong nước .......................................................... 12
2.2.3. Nghiên cứu về cây Vầu đắng ................................................................ 16
2.2.4 Nhận xét chung ...................................................................................... 19
2.4. Tổng quan về khu vực nghiên cứu ........................................................... 20
2.4.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên.......................................................... 20
2.4.2. Các nguồn tài nguyên ............................................................................ 21
2.4.3. Điều kiện kinh tế - xã hội ...................................................................... 21
PHẦN 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 24

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 24


vi

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................ 24
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 24
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 24
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 24
3.4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu .............................................. 25
3.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài .................................................. 25
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể ............................................................ 26
PHÂN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CƢ́U VÀ THẢO LUẬN........................... 33
4.1. Hiện trạng phân bố của rừng Vầu đắng trên các dạng lập địa chủ yếu
tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn ................................................... 33
4.1.1. Diện tích và phân bố rừng Vầu đắng ở khu vực nghiên cứu ................ 33
4.2. Đặc điểm cấu trúc rừng Vầu đắng khu vực nghiên cứu (cấ u trúc mâ ̣t
đô ̣, cấ u trúc số cây theo tuổ i (N - A), quy luật phân bố N/D1.3, N/Hvn ........... 34
4.2.1 Quy luật phân bố N/D ............................................................................ 34
4.2.2. Quy luật phân bố N/H ........................................................................... 36
4.3.2. Đặc điểm sinh khối khô lâm phần Vầu đắng thuần loài ....................... 46
4.4. Đề xuất một số giải pháp góp phần quản lý bền vững trong rừng
Vầu đắng ......................................................................................................... 53
4.4.1. Các giải pháp quản lý ở địa phương ..................................................... 53
4.4.2. Các giải pháp quản lý ở cấp cộng đồng ................................................ 54
PHẦN 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ................................... 55
5.1. Kết luận .................................................................................................... 55
5.3. Kiến nghị .................................................................................................. 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC)
đã được ký tại Rio de Janeiro - Brazil năm 1992 với sự tham gia của gần 160
quốc gia trên toàn thế giới . Nghị định thư Kyoto ra đời nhằm đạt được sự
thỏa thuận về giảm phát thải khí nhà kính của các nước . Để nhằm chố ng la ̣i
biế n đổ i khí hâ ̣u toàn cầ u có h

iệu quả hơn , chương trình “ Giảm phát thải

thông qua việc hạn chế mất rừng và suy thoái rừng” (REDD) và tăng cường
đa dạng sinh học (REED+) bởi các nhà khoa ho ̣c nhâ ̣n đinh
̣ rằ ng mấ t rừng và
suy thoái rừng tự nhiên đóng góp khoảng

20% lươ ̣ng k hí CO 2 phát thải ra

khí quyển.
Viê ̣t Nam là mô ̣t trong 47 quố c gia đầ u tiên đươ ̣c Liên Hiê ̣p Quố c lựa
chọn để thí điểm triển khai chương trình hợp tác của Liên hiệp quốc về giảm
phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng ở các nước đang phát triển (UNREDD) với tổ ng số vố n viê ̣n trơ ̣ trong giai đoa ̣n I là

4,38 triê ̣u USD (giai

đoa ̣n 2009 - 2011). Giai đoạn II của Chương trình UN-REDD triển khai

trong vòng 3 năm từ năm 2013 đến năm 2015 được thực hiện theo Kế hoạch
hành động Quốc gia REDD+ ở 6 tỉnh Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Tĩnh, Bình
Thuận, Lâm Đồng, Cà Mau, với khoản ngân sách tài trợ không hoàn lại
khoảng 100 triệu USD.
Một loạt các văn bản pháp lý như Nghị định 48/2007/NĐ-CP ngày
28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp định giá các loại
rừng; Quyết định 380-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về thí
điểm cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP
ngày 24/9/2010 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Quyết định
158/QĐ-TT ngày 02/12/2008 của Thủ tướng chính phủ về chương trình


2

mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó việc giảm lượng
CO2 phát thải . Mặc dù hành lang pháp lý cho việc thực hiện chi trả dịch vụ
môi trường rừng bao gồm cả khả năng lưu trữ các bon là đã có cơ sở ở
nước ta , nhưng việc thực thi còn rất nhiều cản trở do chúng ta chưa có đủ
cơ sở khoa học cũng như thực tiễn cho việc xác định khả năng lưu trữ các
bon của từng loại rừng.
Ở Việt Nam hiện nay các công trình nghiên cứu mới chỉ tập trung
nghiên cứu sinh khối và khả năng lưu trữ các bon của một số dạng rừng trồng.
Rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng vầu , tre nứa là đối tượng có cấu trúc rất phức
tạp, do vậy việc nghiên cứu sinh khối và khả năng lưu trữ các bon cho đối
tượng rừng này là rất khó khăn và cho tới nay chưa được tiến hành hoặc tiến
hành nhỏ lẻ thiếu hệ thống.
Rừng Vầu đắng là loại rừng thứ sinh hình thành sau khi rừng gỗ
nguyên sinh bị phá hoại. Vầu đắng là loài tre không gai, thân ngầm dạng
roi, thân tre mọc phân tán từng cây, phát triển rất tốt dưới tán thưa của rừng
cây gỗ nhất là ở các khe hẻm, thung lũng. Vầu đắng là loài điển hình cho

nhóm mọc tản, có kích thước thân lớn của nước ta. Kích thước cây trung
bình: Thân cao 18m, đường kính 10cm, lóng dài 35cm, vách thân dầy 1 cm,
thân tươi nặng 28.5kg
Vầu đắng mọc tự nhiên và có nhiều ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà
Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Nguyên, cũng có và có thể phát
triển ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Sơn La, Hoà Bình, Thanh Hoá.
Vũ Loan là một xã thuộc huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn có diện tích 7.963,71
ha, địa hình khá phức tạp chủ yếu là đồi núi. Với diện tích rừng tự nhiên là
7.487,61 ha chiếm 94% chủ yếu là rừng thứ sinh. Hiện nay rừng vầu đắng cũng
chỉ được thừa nhận về giá trị kinh tế, phòng hộ.... về cấu trúc và giá trị môi
trường chưa có nghiên cứu đánh giá về cấu trúc sinh khối để làm cơ sở cho phát


3

triển và xác định giá trị đích thực của rừng vầu đắng đem lại để có các giải pháp
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Vầu đắng trong thời gian tới.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc và sinh khối của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure)
thuần loài tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” được đặt ra là thật
sự cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
1.2. Mục tiêu của đề tài
Xác định được đặc điểm cấu trúc rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Vũ
Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
Xác định được sinh khối cây cá thể và lâm phần rừng Vầu đắng tại xã
Vũ Loan, huyện, Na Rì, tỉnh Băc Kạn.
Đề xuất được các giải pháp quản lý rừng nhằm nâng cao lượng các bon
tích lũy trong rừng Vầu đắng tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Cung cấp thêm những kết quả nghiên cứu về sinh khối của rừng Vầu
đắng tại xã Vũ Loan, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
Là tài liệu học tập và những nghiên cứu tiếp theo là cơ sở cho những đề
tài nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan.
Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, biết vận dụng vào thực tiễn
nghiên cứu khoa học phục vụ cho quá trình công tác trong tương lai.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đưa ra các giải pháp quản lý bền vững, bảo vệ và phát triển rừng
Vầu đắng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho các
cấp, các ngành trong việc xác định cấu trúc sinh khối trong thực tiễn sản
xuất rừng vầu đắng tại địa phương nói riêng và cho tất cả các địa phương
có rừng Vầu đắng nói chung.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Công ước Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
Đó là hiệp định LHQ làm ổn định các khí nhà kính trong khí quyển ở
một mức mà có thể ngăn chặn và hạn chế những biến đổi xấu của khí hậu.
Công ước LHQ về biến đổi khí hậu đó được thông qua trong hội nghị thượng
đỉnh về trái đất được tổ chức tại Rio de Janerio, 1992. Để đưa công ước này
vào hoạt động, tháng 12/1997 Nghị định thư Kyoto đã được đưa ra bàn về
giới hạn khí gây hiệu ứng nhà kính, và hiện nay công ước này đang được cụ
thể hoá.
Nghị định thư Kyoto cho phép các nước phát triển đạt được mục
tiêu/chỉ tiêu phát thải thông qua 3 cơ chế linh hoạt, gồm: Buôn bán lượng chi

tiêu phát thải giữa các nước phát triển với nhau; cùng tham gia thực hiện
(chuyển nhượng các chi tiêu phát thải giữa các nước phát triển, được kết nối
với các dự án giảm phát thải cụ thể); cơ chế phát triển sạch: (CDM - Clean
Development Mechanism) là một trong 3 cơ chế linh hoạt của Nghị định thư
Kyoto. Một trong những nội dung của Nghị định thư Kyoto là đưa vào áp
dụng các cơ chế gồm: “Cơ chế Đồng thực hiện (JI - Joint Implementation)”;
“Cơ chế phát triển sạch (CDM - Clean Development Mechanism)”, và “Cơ
chế thương mại phát thải (ET - Emissions trading)”(dẫn theo Phạm Xuân
Hoàn (2005) [11].
Mục đích của CDM là giúp các bên không thuộc (các nước đang phát
triển) đạt được sự phát triển bền vững và đóng góp vào mục tiêu của Công
ước, đồng thời giúp các nước phát triển đạt được sự tuânthủ các chỉ tiêu giảm
phát thải khí nhà kính. Cơ chế CDM cho phép các nướcđang phát triển đạt
được một phần mục tiêu giảm phát thải bắt buộc của họ thông qua các dự án


5

trồng rừng tại các nước đang phát triển, mà sẽ làm giảm lượng phát thải hoặc
hấp thụ khí CO2 từ khí quyển.
Đến năm 2004 đã có 16 dự án về cố định cacbon qua việc trồng mới và
tái trồng rừng được thực hiện, trong đó châu Mỹ - Latinh có 4 dự án, châu
Phi có 7 dự án, châu Á có 5 dự án và 1 dự án liên quốc gia được thực hiện tại
các nước Ấn Độ, Brazil, Jordan và Kenya (FAO, 2004) [26].
Tại Mexico một dự án đang được thực hiện, mục tiêu của dự án là cung
cấp 18.000 tấn CO2/năm với giá 2,7 USD/tấn, dự án đã tập hợp trên 400
thành viên thuộc trên cộng đồng của 4 nhóm dân tộc thiểu số tham gia với
nhiều hệ thống nông-lâm kết hợp khác nhau. Kết quả của dự án đã làm tăng
lượng cacbon tích luỹ, tăng cường năng lực cộng đồng, khuyến khích phát
triển các hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững và góp phần bảo tồn đa

dạng sinh học (Phạm Xuân Hoàn, 2005) [11].
Tại Ấn Độ, một dự án nâng cao cố định cacbon đang được thực hiện
trong thời gian 50 năm, theo tính toán, khi kết thúc dự án có thể cố định được
từ 0,4-0,6 Mt cacbon, trong đó sau 8 năm, mỗi ha có thể cố định được 25,44
tấn, sau 12 năm có thể cố định được 41,2 tấn và sau 50 năm có thể cố định
được 8,8 tấn (tương đương khoảng 3 tấn C/ha). Tây Phi thông qua việc tăng
cường khả năng cố định cacbon của tràng cỏ Savannah (FAO, 2004) [26].
Nhìn chung, mục tiêu của các dự án về khả năng cố định cacbon biến
động rất lớn, từ 7 tấn/ha trong dự án tại vườn quốc gia Noel Kempf Mercado
ở Bolivia đến 129 tấn/ha trong dự án thực hiện tại vùng Andean ở Ecuador
(FAO, 2004) [26].
2.1.2. Quá trình quang hợp ở thực vật
Quang hợp là quá trình biến đổi chất vô cơ thành chất hữu cơ cấu thực
vật có diệp lục. Dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời. Phương trình quang hợp
của thực vật như sau: 6CO2 + 6H2O = C6H12O6 + 6O2 + Q. Đây chính là


6

phương trình chứng minh khả năng hấp thụ khí CO2 của thực vật có chứa
diệp lục.
Quang hợp là quá trình mà cơ thể thực vật biến đổi năng lượng ánh
sáng mặt trời thành năng lượng hóa học dưới dạng hợp chất hữu cơ. Bản chất
của quá trình quang hợp là sự khử khí CO2 đến Hydratcacbon với sự tham gia
của năng lượng ánh sáng mặt trời do sắc tố của thực vật hấp thu.
Ý nghĩa cơ bản của quá trình quang hợp là lấy năng lượng tự do từ môi
trường xung quanh rồi tích lũy nó dưới dạng các phân tử hữu cơ bền vững.
Vai trò có một không hai của quang hợp là làm cho CO2 (sản phẩm cuối cùng
của sự phân giải các hợp chất hữu cơ) quay trở lại đi vào chu trình các chất
trong tự nhiên tạo thành chất hữu cơ ban đầu. Không có điều đó thì không tồn

tại sự sống.
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam
2.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới
2.2.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc
Các nghiên cứu về cấu trúc sinh thái của rừng mưa nhiệt đới đã được
Richards P.W, Baur. G (1976), Odum (1971),... tiến hành. Các nghiên cứu
này đã đưa ra các quan điểm, khái niệm và mô tả định tính về tổ thành loài,
dạng sống và tầng phiến của rừng. Đây là những công trình nghiên cứu cơ sở
rất quan trọng và hệ thống giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cấu trúc của rừng,
đặc biệt là về cấu trúc hình thái và ngoại mạo.
Baur G. (1976), đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói
chung và về cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó
tác giả đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt
lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ đó tác giả đã đưa ra những tổng
kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại
rừng cơ bản đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện
rừng mưa [1].


7

Một vấn đề nữa có liên quan đến cấu trúc rừng là phân loại rừng theo
cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái. Cơ sở phân loại rừng theo xu
hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số
đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng. Đại diện cho hệ thống
phân loại này có Humbold (1809), Schimper (1903), Aubreville (1949),
UNESCO (1973),…trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này
khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật không tách rời khỏi hoàn cảnh
của nó và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạo sinh thái.
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc ngoại mạo chủ yếu mô

tả rừng ở trạng thái tĩnh, trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động
Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự
biến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau
trong quá trình phát sinh và phát triển của rừng. Nghiên cứu này đã chỉ rõ các
biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào rừng cũng cần tiến hành theo các
giai đoạn khác nhau tùy theo sự biến đổi cấu trúc nội tại của rừng.
Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả đã có
ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng,
kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi. Richards (1952) phân rừng ở
Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6 - 12 m, 12 - 18 m, 18 - 24
m, 24 - 30 m, 30 - 36 m và 36 - 42 m. Thực chất việc phân tầng này chỉ là
phân chia rừng thành các lớp chiều cao khác nhau một cách cơ giới (mỗi
tầng cách nhau 6 m). Odum E. P (1971) chưa thống nhất với ý kiến cho
rằng có sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600 m ở Puecto Rico và
cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả.
Li Yiqing (1929), đã nghiên cứu dự đoán động thái cấu trúc đường kính
loài Pinus yunnaensis trên những ô mẫu định vị và cho biết: Theo điều kiện
sinh trưởng của các cây cá thể được chia ra 4 loại như tăng trưởng đường kính


8

2 cm/năm, 1 cm/năm, đình trệ sinh trưởng và chết. Hai chỉ số độ lệch đường
kính bình quân và mật độ được sử dụng để mô hình hóa phân bố đường kính,
tác giả cũng đã đưa ra mô hình phỏng theo phân bố đường kính của loài với
đối tượng rừng tự nhiên [27].
Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N/Di) là quy luật cấu trúc cơ
bản và quan trọng nhất của lâm phần. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu mô tả quy
luật này, có thể dẫn ra một số tác giả với các công trình nghiên cứu sau đây.
Roemisch (1975) (theo Phạm Ngọc Giao), 1996) [8] đã nghiên cứu

khả năng dùng hàm Gammar để mô phỏng sự biến đổi theo tuổi của phân bố
đường kính cây rừng, xác lập quan hệ của tham số Beta với tuổi, đường kính
trung bình, chiều cao tầng trội và đi đến khẳng định quan hệ giữa tham số
Beta và chiều cao tầng trội là chặt chẽ nhất. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đó
tác giả đã đề nghị mô hình xác định tham số Beta cho phân bố N/D của lâm
phần sau khi tỉa thưa như sau:
 '  a0  a1 .  a2 . 2  a3 .n  a4 .n 2  a5 . .n  a6 . .n 2

với  ' : Tham số phân bố Gamma sau tỉa thưa;  : Tham số phân bố
Gamma trước tỉa thưa; n là tỷ lệ phần trăm số cây tỉa thưa.
Kennel, R (1971)(chỉ dẫn Phùng Ngọc Lan (1986) xác định các đại
lượng đường kính nhỏ nhất (Dm), đường kính lớn nhất (DM) và mật độ (N)
thông qua quan hệ trực tiếp với tuổi theo dạng phương trình:
2

2

Dm = a0 + a1.A + a2.A ; DM = a0 + a1.A+ a2.A ; N = e

( a0 

a1 a2
 )
A A2

Giữa chiều cao và đường kính thân cây luôn có mối quan hệ chặt chẽ.
Đây là một trong những quy luật cấu trúc cơ bản và quan trọng. Đã có nhiều
tác giả dùng phương pháp giải tích toán học để tìm ra các quy luật này như:
Naslund, M (1929); Prodan, M (1944); Assmann, E (1936); Hohenadl, W
(1936); Meyer, H.A (1952). Đã đề nghị các dạng phương trình sau:



9

H = a + b1.D + b2.D2;

H = a + b1.D + b2.D 2 + b3.D 3

H = a + b.logD;

H = a + b1.logD + b2.logD; H = k.Db

Khi nghiên cứu sự biến đổi theo tuổi của quan hệ giữa chiều cao và
đường kính ngang ngực, tác giả Vagui, A.B (1955) khẳng định “đường cong
chiều cao thay đổi và luôn dịch chuyển lên phía trên khi tuổi tăng lên”, và
Tiurin, A.V (1972) (dẫn theo Phùng Ngọc Lan (1986), cũng đưa ra kết luận
tương tự. Prodan, M (1965); Haller, K.E (1973) cũng phát hiện ra quy luật:
“Độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi tăng lên”.
Curis, R.O (1967) đã mô phỏng quan hệ giữa chiều cao với đường kính và
theo tuổi theo dạng phương trình:
LogH = D + b1.

1
1
1
+ b2 . + b 3 .
D
A
D. A


Ionikas (1980); Lebedinski (1972) đã sử dụng và đo tính thể tích tán lá
cây sống để nghiên cứu năng suất rừng. Qua nghiên cứu nhiều tác giả đã đi
đến kết luận giữa đường kính tán và đường kính thân cây có mối quan hệ mật
thiết như nghiên cứu của Zieger; Erich (1928), Comer, O.A.N; Tuỳ theo loài
cây và các điều kiện khác nhau, mối liên hệ này được thể hiện khác nhau
nhưng phổ biến nhất là dạng phương trình đường thẳng:
DT = a + b.D1.3
Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi
các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu
lâm phần. Rollet B. L. (1971) đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và
đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường
kính tán bằng các dạng phân bố xác suất, Balley (1973) sử dụng hàm Weibull
để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông,...[32]
2.2.1.2. Nghiên cứu về sinh khối
“Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc
số lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng”. Sinh khối là


10

một chỉ tiêu quan trọng thể hiện năng suất của rừng, sinh khối được dùng để
nghiên cứu một số chỉ tiêu khác như dinh dưỡng hoặc các chỉ tiêu về môi
trường rừng. Khi cơ chế phát triển sạch (CDM) xuất hiện, nghiên cứu sinh
khối giữ vai trò quan trọng hơn, được dùng để xác định lượng carbon hấp thụ
bởi thực vật rừng, góp phần định lượng giá trị môi trường do rừng mang lại.
Các nhà sinh thái rừng đã dành sự quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu sự
khác nhau về sinh khối rừng ở các vùng sinh thái, trên cơ sở đó nhằm xác
định, lượng hóa được khả năng hấp thụ CO2 tại các trạng thái rừng đó. Tuy
nhiên, việc xác định đầy đủ sinh khối rừng không dễ dàng, đặc biệt là sinh
khối của hệ rễ, trong đất rừng, nên việc làm sáng tỏ vấn đề trên đòi hỏi nhiều

nỗ lực hơn nữa mới đưa ra được những dẫn liệu mang tính thực tiễn và có sức
thuyết phục cao. Hệ thống lại có 3 cách tiếp cận để xác định sinh khối rừng
như sau:
Tiếp cận thứ hai để xác định sinh khối rừng là đo trực tiếp quá trình
sinh lý điều khiển cân bằng Carbon trong hệ sinh thái. Cách này bao gồm việc
đo cường độ quang hợp và hô hấp cho từng thành phần trong hệ sinh thái
rừng (lá, cành, thân, rễ), sau đó suy ra lượng CO2 tích luỹ trong toàn bộ hệ
sinh thái (Woodwell và Botkin, 1970) [36].
Tiếp cận thứ ba được phát triển trong những năm gần đây với sự hỗ trợ
của kỹ thuật vi khí tượng học (micrometeological techniques). Phương pháp
phân tích hiệp phương sai dòng xoáy đã cho phép định lượng sự thay đổi của
lượng CO2 theo mặt phẳng đứng của tán rừng. Căn cứ vào tốc độ gió, hướng
gió, nhiệt độ, số liệu CO2 theo mặt phẳng đứng sẽ được sử dụng để dự đoán
lượng Carbon đi vào và đi ra khỏi hệ sinh thái rừng theo định kỳ từng giờ, từng
ngày, từng năm. Kỹ thuật này đã áp dụng thành công ở rừng thứ sinh Harward
- Massachusetts. Tổng lượng Carbon tích luỹ dự đoán theo phương pháp phân
tích hiệp phương sai dòng xoáy là 3,7 megagram/ha/năm. Tổng lượng Carbon


11

hô hấp của toàn bộ hệ sinh thái vào ban đêm là 7,4 megagram/ha/năm, điều đó
nói lên rằng tổng lượng Carbon đi vào hệ sinh thái là 11,1 megagram/ha/năm
(Wofsy và cs, 1993) [35].
Lieth (1964) [28] đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ
năng suất,đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “IBP”
(1964) và chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động mạnh
mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối. Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập
trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh.
Canell (1982) đã cho ra đời cuốn sách “Sinh khối và năng suất sơ cấp

của rừng thế giới”, cho đến nay nó vẫn là tác phẩm quy mô nhất. Tác phẩm đã
tổng hợp 600 công trình nghiên cứu được tóm tắt xuất bản về sinh khối khô,
thân, cành, lá và một số thành phần sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần
thuộc 46 nước trên thế giới.
Theo Canell (1981)mặc dù rừng chỉ che phủ 21% diện tích bề mặt trái
đất, nhưng sinh khối thực vật của nó chiếm đến 75% so với tổng sinh khối
thực vật trên cạn và lượng tăng trưởng sinh khối hàng năm chiếm 37% [25].
2.2.1.3. Đặc trưng về phân bố và sinh thái của tre trúc
Có nhiều nghiên cứu về phân bố và sinh thái của tre trúc. Các nghiên
cứu tập trung tới nhân tố khí hậu, vĩ độ, địa hình, đất đai và xác định được
vùng phân bố của tre trúc trên thế giới, với trung tâm phân bố tập trung vào
dải nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc,
Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và
một phần nhỏ ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên không thấy đề cập có sự phân bố của chi
vầu (indosasa) ở Việt Nam.
Đặc trưng sinh thái của một số loài tre mọc cụm đã được một số tác giả
đề cập như ưa ấm, thích hợp nơi trồng đất dày, nhiều mùn hay một số loài
khác chi phân bố ở vùng núi cao ưa khí hậu ẩm mát quanh năm.


12

Đặc trưng sinh thái của loài Trúc núi đá (Drepanostachyum
luodianense) đã được nghiên cứu ở mức độ các tiểu sinh cảnh: Mặt đất, mặt
đá, rãnh đá, kẽ đá, hốc đá, mức độ quần thể, quần xã nơi có loài này phân bố.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy ở mỗi kiểu tiểu sinh cảnh khác nhau đã
có những đặc trưng sinh thái khác nhau và ảnh hưởng tới kết cấu hình thái và
sinh trưởng của loài.
Kết quả nghiên cứu về quần thể loài của tác giả đã đưa ra một số đặc
trưng thích ứng như: Ở rừng Trúc núi đá tự nhiên khi tỉ số ra măng nhiều thì

số măng bị thoái hóa và chết sẽ cao dẫn tới tỉ lệ mọc thành cây thấp. Tác giá
đã giải thích nguyên nhân của sự thoái hóa trên chính là do không gian dinh
dưỡng không đủ. Trong rừng tự nhiên, tuổi quẩn thể có kết cấu tăng trưởng
tăng lên nhưng theo xu thế ổn định.
Liu Jiming cũng đã nghiên cứu những đặc trưng sinh thái của quần xã
như: thành phần loài cây gỗ, cây tái sinh, cây bụi thảm tươi,kết cấu tầng thứ,
chỉ số đa dạng sinh học và nhận định môi trường từng khu vực có ảnh hưởng
rõ rệt đến quần xã.
2.2.2. Những nghiên cứu ở trong nước
2.2.2.1.Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [13] thì cấu trúc rừng là một khái niệm
dùng để chỉ quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần xã
thực vật rừng theo không gian và thời gian. Cấu trúc rừng bao gồm cấu trúc
sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc tuổi.
Nghiên cứu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở nước ta, Thái
Văn Trừng (1963, 1970, 1978) (Nguyễn Tuấn Dũng 2005) đã đưa ra mô hình
cấu trúc tầng thứ như: Tầng vượt tán (A1), tầng ưu thế sinh thái (A2), tầng
dưới tán (A3), tầng cây bụi (B), tầng cỏ quyết (C). Ông đã vận dụng và cải
tiến, bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt đứng của Davit - Risa để nghiên


13

cứu cấu trúc rừng Việt Nam, trong đó tầng cây bụi thảm tươi được phóng đại
với tỷ lệ nhỏ hơn và ký hiệu thành phần loài cây của quần thể đối với những
đặc trưng sinh thái và vật hậu cùng biểu đồ khí hậu, vị trí địa lý, địa hình. Bên
cạnh đó tác giả này còn dựa vào tiêu chuẩn để phân chia các kiểu thảm thực
vật rừng Việt Nam, đó là dạng sống ưu thế của thực vật trong tầng cây lập
quần, độ tàn che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng
thái mùa của tán lá. Với những quan điểm trên, Thái Văn Trừng đã phân chia

các kiểu thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu. Như vậy, các nhân tố
cấu trúc rừng được vận dụng triệt để trong phân loại rừng theo quan điểm sinh
thái phát sinh quần thể [29].
Trần Văn Con (1991) đã tiến hành nghiên cứu khả năng ứng dụng mô
phỏng toán để nghiên cứu một vài đặc trưng cấu trúc và động thái của hệ sinh
thái rừng khộp Tây Nguyên. Tác giả đã đi đến mốt số kết luận: Hệ sinh thái
rừng khộp có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học dưới dạng các mô hình lý
thuyết, có thể ứng dụng các mô hình này để mô phỏng định lượng các đặc
trưng cấu trúc của quần thụ rừng khộp; cấu trúc tổ thành rừng khộp có thể mô
phỏng bằng hàm h = H’(1- exp(-ks)) của Stocker và Bergmann (1977), từ đó
tác giả đã chia ra 16 kiểu ưu hợp thường gặp ở rừng khộp; cấu trúc N/D của
rừng khộp tuân theo luật phân bố Weibull [3].
Việc mô hình hóa cấu trúc đường kính D1.3 được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu và biểu diễn chúng theo các dạng phân bố xác suất khác nhau, nổi
bật là các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Hải Tuất (1982,
1986) đã sử dụng hàm phân bố giảm phân bố khoảng cách để biểu diễn cấu
trúc rừng thứ sinh và áp dụng quá trìnhPoisson vào nghiên cứu cấu trúc quần
thể rừng [22].
Trần Văn Con (1990) đã áp dụng hàm Weibull để mô phỏng cấu trúc
đường kính cho rừng khộp ở Đắk Lắk; Phùng Ngọc Lan (1986) đã nghiên cứu


14

cấu trúc rừng phòng hộ ở đầu nguồn lâm trường Sông Đà ở trạng thái rừng
IIA1, IIIA1 và rừng trồng làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây trồng [13].
. Nguyễn Văn Trương (1973 - 1986) đã nghiên cứu về phương pháp
thống kê cây đứng, cấu trúc 3 chiều rừng gỗ hỗn loài và đề xuất các mô hình
cấu trúc mẫu định lượng bằng toán học phục vụ công tác khai thác, nuôi
dưỡng rừng. Theo tác giả đây là những mô hình hoàn thiện nhất đã có trong

thiên nhiên và trên cơ sở khắc phục những tồn tại lớn mà sự ngẫu nhiên của
thiên nhiên mang lại [20].
Những nghiên cứu về cấu trúc rừng trên cho thấy trong thời gian qua,
việc nghiên cứu cấu trúc rừng ở nước ta đã có những bước phát triển nhanh
chóng và có nhiều đóng góp nhằm nâng cao hiểu biết về rừng, nâng cao hiệu
quả trong nghiên cứu cũng như sản xuất kinh doanh rừng. Tuy nhiên, các
nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về việc mô hình hoá các quy
luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động vào rừng
thường thiếu yếu tố sinh thái nên chưa thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh
rừng ổn định lâu dài.
2.2.2.2. Nghiên cứu về sinh khối
Ở Việt Nam, mặc dù là người đi sau trong lĩnh vực nghiên cứu về sinh khối
và khả năng tích lũy carbon nhưng chúng ta đã có những thành công nhất định.
Với quan điểm kế thừa có chọn lọc các phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa
học đi trước chúng ta đã vận dụng linh hoạt những phương pháp nghiên cứu đó
vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Một số nghiên cứu điển hình gồm:
Sử dụng phương pháp “cây mẫu” của Newboul D.J (1967), Hà Văn Tuế
(1994) đã nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng nguyên
liệu giấy tại vùng trung du Vĩnh Phúc. Lê Hồng Phúc (1996), khi Đánh giá
sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối và năng suất rừng Thông ba lá (Pinus
keysia Royle ex Gordon) vùng Đà Lạt - Lâm Đồng đã tìm ra quy luật tăng


15

trưởng sinh khối, cấu trúc thành phần tăng trưởng sinh khối thân cây, tỷ lệ
sinh khối tươi/khô của các bộ phận thân, cành, lá, rễ, lượng rơi rụng, tổng
sinh khối cá thể và quần thể rừng Thông ba lá [15].
Vũ Văn Thông (1998) đã nghiên cứu cơ sở xác định sinh khối cây cá thể
và lâm phần Keo lá tràm (Acacia auriculiformis Cunn) tại tỉnh Thái Nguyên

thông qua viêc lập các bảng tra sinh khối tạm thời phục vụ cho công tác điều
tra kinh doanh rừng [18].
Theo Hoàng Xuân Tý (2004), nếu tăng trưởng rừng đạt 15 m3/ha/ năm,
tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt được xấp xỉ 10 tấn/ha/năm
tương đương 15 tấn CO2/ha/năm [24].
Kết quả nghiên cứu Nguyễn Tuấn Dũng (2005), khi tiến hành nghiên
cứu sinh khối lâm phần Thông mã vĩ và lâm phần Keo lá tràm trồng thuần
loài tại Hà Tây đã cho thấy: Thông mã vĩ ở tuổi 20 có tổng sinh khối khô là
173,4 - 266,2 tấn và rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh
khối khô là 132,2 - 223,4 tấn/ha [4].
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường
Vân (2004) đã sử dụng biểu quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối (Biomass)
để tính toán sinh khối cho một số loại rừng [14].
Nguyễn Duy Kiên (2007), khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO2 rừng trồng
Keo tai tượng (Acacia mangium) tại Tuyên Quang đã cho thấy sinh khối tươi
trong các bộ phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn định, sinh khối tươi tầng
cây cao chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75-79%; sinh khối cây bụi thảm tươi chiếm tỷ
trọng 17- 20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ trọng 4-5% [12].
Kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu ”Nghiên cứu sinh khối và khả năng
cố định carbon của rừng Mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên
Quang và Phú Thọ” cho thấy, cấu trúc sinh khối cây cá thể Mỡ gồm 4 phần
thân, cành, lá và rễ, trong đó sinh khối tươi lần lượt là 60%, 8%, 7% và 24%;


16

tổng sinh khối tươi của một ha rừng trồng mỡ dao động trong khoảng từ 53,4
- 309 tấn/ha, trong đó: 86% là sinh khối tầ ng cây g ỗ, 6% là sinh khối cây bụi
thảm tươi và 8% là sinh khối của vật rơi rụng (Lý Thu Quỳnh, 2007) [16].
Võ Đại Hải và các cộng sự (2009) khi nghiên cứu về sinh khối 4 loại

rừng trồng cho kết quả: Rừng trồng Thông mã vĩ từ 5 - 30 tuổi sinh khối từ
21,12 - 315,05 tấn/ha; rừng trồng Thông nhựa từ 5 - 45 tuổi có sinh khối từ
20,79 - 174,72 tấn/ha; rừng trồng Keo lai từ 1 - 7 tuổi có sinh khối từ 4,09 138,13 tấn/ha; rừng trồng Bạch đàn urophylla từ 1-7 tuổi có sinh khối từ 5,67
- 117,92 tấn/ha; rừng trồng Mỡ từ 6-18 tuổi có sinh khối từ 35,08 - 110,44
tấn/ha; rừng trồng Keo lá tràm từ 2 - 12 tuổi có sinh khối từ 7,29 - 113,56
tấn/ha. Bên cạnh đó tác giả thiết lập các phương trình tương quan giữa sinh
khối với các nhân tố điều tra lâm phần: đường kính D1.3, Hvn, N/ha, tuổi lâm
phần, mối quan hệ giữa sinh khối tươi và sinh khối khô, sinh khối trên mặt đất
và dưới mặt đất theo các cấp đất [10].
2.2.3. Nghiên cứu về cây Vầu đắng
Sau đây là một số nghiên cứu cụ thể về cây Vầu đắng:
* Phân loại:
Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) Vầu đắng có tên khoa
học là Indosasa sinica C.D. Chu & C.S. Chao thuộc họ Hòa Thảo Poace
Barnh, phân họ Tre Bambusoideae và thuộc chi Vầu đắng Indosasa.
Vũ Dũng sau khi thu nhập mẫu mô tả, đối chiếu với tài liệu và trao đổi
với chuyên gia Trung Quốc đã đề nghị thống nhất và sửa lại tên là Indosasa
angustata McClure (2001) [5].
* Đặc điểm hình thái:
Vầu đắng là loài Tre mọc tản, thân ngầm lan rộng trong đất, đường kính
1 - 3 cm. Thân khí sinh cao 17 - 20m, đường kính 10 - 12cm; cây to nhất có
thể tới 20 cm; thân non màu lục nhạt, phủ lông mềm, thưa, màu trắng, sau


×