BÁC HỒ - MỘT TÌNH YÊU BAO LA
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vĩ nhân đã in đậm dấu ấn vào lịch sử dân tộc và lịch
sử nhân loại. Dù đã mãi mãi đi xa, nhưng hình ảnh giản dị, tư tưởng và tấm gương
đạo đức sáng ngời của Người luôn sống mãi trong trái tim các thế hệ người Việt
Nam và bè bạn quốc tế. Chính vì vậy, nhiều năm qua, đã có rất nhiều nhà văn, nhà
thơ, nhạc sỹ, họa sỹ, nghệ sỹ trong và ngoài nước bắt nguồn cảm hứng sáng tạo từ
hình tượng của Người. Hầu hết các tác phẩm viết về Bác đều có sức sống lâu bền
cùng năm tháng. Hôm nay, tôi xin mạn phép sử dụng những câu nói, những bài thơ,
bài hát của các văn nghệ sỹ và những lớp người đi trước để viết lên những lời cảm
nhận chân thành nhất của một người Đảng viên, một người thanh niên thế hệ mới
về Người Cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam, vị anh hùng dân tộc, danh nhân
văn hoá thế giới, vị lãnh tụ vĩ đại – Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết rằng:
“Vì sao Trái đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Người: Hồ Chí Minh
Như một niềm tin, như dũng khí
Như lòng nhân nghĩa, đức hy sinh”...
Nói đến Việt Nam, bè bạn quốc tế đều biết đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, nói về
Người bằng tình cảm tôn trọng và khâm phục. Từ lâu hình ảnh của Người trong con
mắt họ đã là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ – một dân tộc anh hùng, mà ở đó
con người thật hiền hoà, chịu thương chịu khó trong lao động sản xuất, nhưng cũng
vô cũng dũng cảm, kiên gan trong đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho chính
mình. “Ở con người Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy biểu hiện của nhân vật cao
quý nhất, bình dị nhất và được kính yêu nhất trong gia đình mình… Hình ảnh của
Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái
của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lê-nin và tình cảm của một người
chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”.(“Trở thành người Bác
như thế nào?” - Ê-len Tuốc-me-rơ)
Đối với người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người thân trong
gia đình, “Người là Cha, là Bác, là Anh”… Cái giản dị trong phong cách sống của
Người đã tạo nên hình ảnh về một vị lãnh tụ rất đỗi gần gũi với dân. Trái tim Người
như cùng một nhịp với nhân dân. Vui với niềm vui của con người, buồn với nổi
buồn của con người. Cử chỉ ân cần, tình yêu thương trìu mến là nét đẹp trong cốt
cách của con người Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính vì lẽ đó toàn dân tộc Việt Nam
luôn dành nhiều tình cảm, tôn kính tới Người và tất cả đều gọi người bằng một cái
tên bình dị nhưng rất đỗi thân thương là Bác Hồ.
1
“Nơi đây sống một người tóc bạc
Người không con mà có triệu con
Nhân dân ta gọi Người là Bác
Cả đời người là của nước non”…
Trích “Quê hương Việt Bắc” - Nguyễn Đình Thi.
Công lao của Bác đối với dân tộc ta, đất nước ta là vô cùng to lớn, không gì
có thể so sánh được. Tìm hiểu về Bác, học tập Bác là một điều phải làm suốt cả
cuộc đời và cho cả nhiều thế hệ mai sau. Với một sự hiểu biết rộng lớn, một tâm
hồn bao la rộng mở, Bác đã để lại cho mọi người trên toàn thế giới sự ngưỡng mộ
và kính phục lớn lao.
Thế hệ trẻ chúng tôi không ai may mắn được gặp Bác Hồ, nhưng hình ảnh về
Bác thì thật gần gũi. Những câu chuyện về người chúng tôi chỉ đươc tìm hiểu qua
sách vở, báo chí hoặc lời kể của những người đi trước. Khi nhỏ, đến trường chúng
tôi biết đến Năm điều Bác Hồ dạy, vào Đội, lớn lên phấn đấu được vào Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, rồi cao hơn nữa là được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Bất cứ khi
nào, thời điểm nào tấm gương đạo đức của Người luôn là tấm gương sáng để thế hệ
trẻ chúng tôi noi theo. Những mẫu chuyện kể về tấm gương đạo đức, những lời nói,
việc làm của Bác ngày qua ngày được truyền tụng, được kể lại như những bài học
về cách làm người, về chữ tài, chữ đức trong cuộc sống mọi thời đại. Mỗi khi được
nghe kể, ta lại được biết nhiều hơn, lại thấy yêu hơn, thấy kính và thương vô ngần
vị Chủ tịch Nước vĩ đại mà giản dị và gần gũi.“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông
đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch – Người anh hùng dân tộc vĩ đại. Và chính
Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta.” ( Lê Duẩn)
Cả cuộc đời, Bác đã dành trọn tình yêu thương của mình cho đồng loại, cho
dân tộc. Tình yêu thương con người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng, tình
cảm của Bác. Tư tưởng, tình cảm đó đã chi phối suốt cuộc đời của Người, một cuộc
đời đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập dân tộc, cho tự do và hạnh phúc của nhân
dân, cho sự giải phóng của cả loài người. Bác Hồ coi yêu thương con người là
phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Nó luôn đồng hành với mỗi chúng ta tạo nên nền
tảng phẩm chất đạo đức tốt đẹp khác của ,mỗi con người.
Tình yêu thương con người Bác vừa có tính khái quát rộng lớn vừa có tính
cụ thể sâu sắc. Điều đó được thể hiện trong tư tưởng của Người là luôn gắn giải
phóng dân tộc với giải phóng xã hội và giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn
với chủ nghĩa xã hội, vì tự do hạnh phúc của nhân dân. Điều đó đã trở thành lý
tưởng, hoài bão, ước mơ cao quý nhất trong suốt sự nghiệp cách mạng của Người:
“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm cho nước ta hoàn toàn độc
lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành.” Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không được tự do,
2
thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”; “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà
dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá
trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ.” Với tình yêu thương vô
hạn đó, trọn cuộc đời của mình, Người đã cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của
dân tộc, cho hạnh phúc của dân dân.
“Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân,
Cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam.
Bác thương các cụ già xuân về gửi biếu lụa,
Bác yêu đàn cháu nhỏ trung thu gửi cho quà.
Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng,
Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương.
Bác viết thư thăm hỏi gửi muôn vàn tình thương”…
(trích : “ Bác Hồ một tình yêu bao la” – NS: Thuận Yến)
Tấm lòng của Bác thật quảng đại, bao la! Với Bác, tất cả mọi người, từ cụ
già, em nhỏ, chị dân công, anh bộ đội đều là những thành viên trong gia đình. Với
Bác, chăm lo cho cuộc sống nhân dân, chính là đang chăm lo cho người thân của
mình. Người vạch đường, chỉ lối, khuyến khích, động viên, nhắc nhở mọi người;
chăm lo từng miếng ăn, giấc ngủ cho đồng bào, chiến sĩ… bằng cả tấm lòng.
Những năm kháng chiến, sống cùng nhân dân, khi các cháu nhỏ lở chốc, Bác đã
đem nước nóng rửa thật sạch chỗ bị thương, rồi lấy tro bếp nóng, gói lại ấp lên đầu
các cháu một cách cẩn thận, nên chỉ trong một thời gian ngắn, lở chốc trên đầu
cháu bé bay đi hết. Năm 1946, khi tham dự cuộc vận động “Mùa Đông binh sĩ”,
Bác đã cởi ngay chiếc áo len đang mặc để gửi cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Bác còn
dành cả tiền lương, nhuận bút, quần áo, khăn mặt để tặng các chiến sĩ, gia đình
chính sách, các cụ già, em thơ và những người nghèo khổ. Trong thư bác viết cho
bác sỹ Vũ Đình Tụng khi biết con của Bác sỹ hy sinh “ Ngài biết rằng, tôi không
có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả
thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt
một đoạn ruột”. Đọc xong thư Bác, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã bàng hoàng xúc động
vì không dám nghĩ rằng, giữa lúc Bác Hồ bận trăm nghìn việc quốc gia đại sự, ngay
cả họ hàng thân thuộc cũng không có thì giờ thăm hỏi. Thế mà Bác vẫn nghĩ đến
ông – một gia đình bé nhỏ đang có tang đau lòng. Bởi lẽ, Bác đã từng nói: “mỗi
người, mỗi gia đình đều có nỗi đau khổ riêng. Gộp cả những nỗi đau khổ ấy lại thì
thành nỗi đau khổ của tôi”. Hay trong câu chuyện “ Bác không thăm những người
như mẹ con thím thì còn thăm ai?...”Một vị Chủ Tịch nước bận rộn với trăm công
nghìn việc, giữa đêm 30 tết vẫn giành thời gian và tình cảm để đến với dân, đến với
3
người nghèo, lo cho niềm vui và hạnh phúc của dân mà quên cả hạnh phúc riêng tư.
Đây thực sự là một bài học về sự quan tâm của Lãnh tụ Đảng, Nhà nước với người
dân nghèo. Cái cách Bác đến với người lao động rất bình thường, không câu nệ,
ban ơn mà chân thành đầm ấm. Đó cũng là cách Bác tìm đến với sự thật. Người
từng nói: “ Một Đảng cầm quyền mà để cho người dân nghèo hết chổ để nghèo thì
đó là cái lỗi của Đảng với nhân dân”, ….. “ không có ăn thì chẳng làm dược việc
gì cả. Vì vậy chính sách của Đảng và chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời
sống của nhân dân. Nếu dấn đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng
và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là
Đảng và Chính phủ có lỗi”…( Trích trong “ Bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói” năm
1955)
Tình yêu thương con người của Bác thật giản dị mà cao quý. Tình yêu
thương đó không bằng lời nói cao sang hay những khẩu hiệu hô hào chung chung,
mà bằng chính hành động, lời nói và việc làm cụ thể. Sau cách mạng tháng Tám
(1945) thành công, nước ta đã trở thành một nước độc lập. Chính quyền cách mạng
non trẻ của nước ta ra đời trong thế “ngàn cân treo sợi tóc” vừa “thù trong, giặc
ngoài” vừa nạn đói hoành hành, ngân khố cạn kiệt.Với cương vị là người đứng đầu
Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đói nghèo cũng là một
thứ giặc nguy hiểm như giặc dốt và giặc ngoại xâm. Trong phiên họp đầu tiên của
Chính phủ ngày 03/9/1945, Người đã nêu sáu vấn đề cấp bách trong đó cứu đói là
một trong sáu nhiệm vụ cấp bách hàng đầu Người nói: “Một là, nhân dân đang đói
- Ngoài những kho chứa thóc mà Pháp, Nhật vơ vét của nhân dân, bọn Nhật, Pháp
còn bắt đồng bào chúng ta giảm bớt diện tích cấy lúa để trồng thầu dầu, đay và
những thứ cây khác cần thiết cho cuộc chiến tranh của chúng. Hơn nữa, chúng ta
còn tìm thấy hai kế hoạch của bọn cầm quyền Pháp với mục đích gây nạn đói, để
ngăn trở phong trào yêu nước và bắt buộc đồng bào chúng ta phải làm việc như nô
lệ. Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này. Vừa rồi
nạn lụt đã phá hoại tám tỉnh sản xuất lúa gạo. Điều đó càng làm cho tình hình
trầm trọng hơn. Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm
thế nào cho họ sống. ”. Người nêu ra biện pháp khắc phục trong bài kêu gọi “Sẻ
cơm nhường áo” đăng trên tờ Cứu Quốc: “Hỡi đồng bào yêu quý. Từ tháng Giêng
đến tháng bảy năm nay, ở Bắc bộ ta đã có hai triệu người chết đói. Kế đó lại nước
lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân càng khốn khổ. Lúc chúng ta nâng bát cơm
mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với
đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi
tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy thì
những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi
chết đói. Tôi chắc rằng đồng bào ta ai cũng sẵn lòng cứu khổ cứu nạn, mà hăng
hái hưởng ứng lời đề nghị nói trên. Tôi xin thay mặt dân nghèo mà cảm ơn các
đồng bào”. Người đã khởi xướng, đề xuất và gương mẫu thực hiện phong trào hũ
gạo cứu đói, với nghĩa cử cao đẹp mỗi tuần nhịn ăn một bữa, cùng với phong trào
4
''Tuần lễ vàng''. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, ở khắp các địa phương
trên cả nước, Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc vận động nhân dân
hưởng ứng lời kêu gọi. Một phong trào quyên góp, tổ chức “ngày đồng tâm”, “hũ
gạo cứu đói”... được phát động mạnh mẽ. Trên tinh thần “tình làng nghĩa xóm”,
hoạn nạn có nhau, chỉ sau một thời gian ngắn số lương thực cứu đói thu được khá
nhiều, giải quyết kịp thời nhu cầu bức thiết của đời sống nhân dân.
Tình yêu bao la của người cũng được thể hiện qua sự quan tâm tới Thương
binh và gia đình liệt sỹ. Không chỉ thăm hỏi, động viên các thương binh, gia đình
liệt sỹ, tình cảm đặc biệt mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho thương binh, liệt sỹ
còn được thể hiện trong các bài nói, bài viết của Người.Trong thư gửi Ban Thường
trực Ban Tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc” 27/7/1947, Bác viết: “Đang khi
Tổ quốc lâm nguy, giang san, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà thờ của tổ tiên ta bị
uy hiếp; cha mẹ, anh em, vợ con, thân thích, họ hàng ta bị đe đọa; của cải, ruộng
nương, nhà cửa, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập; ai là người xung phong trước
hết để chống cự quân thù, để giữ gìn đất nước cho chúng ta? Đó là những chiến sỹ
mà nay một số thành ra thương binh”.
Theo Bác, thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương
máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của đồng
bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải
giúp đỡ những người anh hùng ấy và ngày 27/7 là dịp để đồng bào ta tỏ lòng hiếu
nghĩa bác ái và tỏ lòng yêu mến thương binh.Bác viết trong thư: “Tôi xin xung
phong gửi một chiếc áo lót lụa mà chị em phụ nữ đã biếu tôi, một tháng lương của
tôi, một bữa ăn của tôi và của các nhân viên tại Phủ Chủ tịch, cộng là một nghìn
một trăm hai mươi bảy đồng (1.127,00)”.Gửi thư thăm anh em thương binh và
bệnh binh tháng 7/1948, Bác viết: “Các đồng chí đã hy sinh một phần xương máu
vì Tổ quốc, chẳng may bị thương, bị bệnh trước khi quân thù hoàn toàn bị tiêu diệt,
kháng chiến được hoàn toàn thành công.Chắc các đồng chí không khỏi phân vân.
Nhưng các đồng chí nên một mặt nuôi lại sức khỏe, một mặt cố gắng học tập. Khi
đã khôi phục sức khỏe, các đồng chí sẽ hăng hái tham gia công tác tăng gia sản
xuất, để giúp ích cho Tổ quốc, cũng như các đồng chí đã anh dũng giữ gìn non
sông, các đồng chí sẽ trở nên những người chiến sĩ kiểu mẫu ở hậu phương cũng
như các đồng chí đã làm người chiến sĩ kiểu mẫu ở ngoài mặt trận. Tôi cùng đồng
bào luôn nhớ đến các đồng chí”.
Bác rất quan tâm, lưu ý các cơ quan có trách nhiệm chăm lo tới đời sống
thương binh. Trong thư gửi cụ Vũ Đình Tụng, Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu
binh phát động phong trào đón thương binh về làng tháng 7/1951, Người nhắc:
“Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo vệ
đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân. Anh em đã làm tròn nhiệm vụ,
5
anh em không đòi hỏi gì cả. Song đối với những người con trung hiếu ấy. Chính
phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng?”.
Bác gợi ý: “Mỗi xã phải tùy theo sự cố gắng và khả năng chung mà đón một
số anh em thương binh. Giúp lâu dài, chứ không phải chỉ giúp một thời gian (…).
Như thế thì đồng bào mỗi xã được thỏa mãn lòng ao ước báo đáp anh em thương
binh, mà anh em thương binh thì được yên ổn về vật chất và vui vẻ về tinh thần và
có dịp tham gia hoạt động có ích cho xã hội”.
Trong buổi lễ đặt vòng hoa ở Đài Liệt sỹ ở Ba Đình (Hà Nội) ngày
31/12/1954, Người nói: “Các liệt sỹ hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt
sỹ đã ghi sâu vào lòng toàn dân và non sông đất nước. Các liệt sỹ đã hy sinh,
nhưng chí khí dũng cảm của các liệt sỹ thấm nhuần vào tâm hồn của toàn quân và
dân ta trong cuộc đấu tranh đặng giành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ
trong nước. Máu nóng của các liệt sỹ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm
thắm đỏ. Tiếng thơm của các liệt sỹ muôn đời lưu truyền sử xanh”.
Trong Di chúc thiêng liêng, Bác Hồ đã căn dặn nhiều điều hệ trọng về công
tác lao động, thương binh và xã hội. Bác viết: “Đối với những người đã dũng cảm
hy sinh một phần xương máu của mình, Đảng, Chính phủ và đồng bào ta phải tìm
mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy
nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.
Đối với các liệt sỹ, thì mỗi địa phương cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ
niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu
nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sỹ) mà thiếu
sức lao động và túng thiếu thì chính quyền địa phương phải giúp đỡ họ có công ăn
việc làm thích hợp, quyết không để họ bị đói rét...” (Bản viết tháng 5/1968).
Tấm lòng nhân ái, hết lòng vì con người của Bác không chỉ dành riêng cho
dân tộc Việt Nam mà còn cho cả nhân loại cần lao. Chuyện kể rằng: Khi làm phụ
bếp ở bên Anh, Bác để riêng thức ăn còn thừa gói lại mang về cho những người
nghèo khổ ăn xin ngoài đường. Bôn ba khắp năm châu, bốn biển tìm đường cứu
nước, Bác đã không cầm nổi nước mắt khi chứng kiến cảnh thực dân Pháp tại cảng
Đaca bắt người lao động da đen nhảy xuống biển bị sóng nhấn chìm. Người cũng
khóc khi đọc báo biết một nhà yêu nước Ailen tuyệt thực đến chết… Năm 1946,
Bác sang nước Pháp với tư cách là thượng khách, khi dự tiệc Bác lấy một quả táo
bỏ vào túi, làm cho mọi người có mặt ở đó đều ngạc nhiên, ra ngoài thấy có bà mẹ
bế đứa bé trên tay, Bác liền cho em bé quả táo…
Vượt lên trên tất cả, tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh còn được
dành cho những người nô lệ mất nước và những người cùng khổ trên khắp thế gian,
6
cho những người da đen – nạn nhân của nạn phân biệt chủng tộc, cho cả những
người da trắng bần cùng, cho những phụ nữ Pháp, Mỹ có chồng con bị đưa sang
Việt Nam làm “bia đỡ đạn”. Và cho chính cả những người lính trong các cuộc chiến
tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc thực dân. Người viết: “Tôi vô cùng công
phẫn trước những tổn thất và tàn phá do quân Mỹ gây ra cho nhân dân và đất
nước chúng tôi, tôi cũng rất xúc động thấy ngày càng có nhiều thanh niên Mỹ chết
vô ích ở Việt Nam” và “Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau”.
Tấm lòng nhân ái hết mực vì con người ở Bác còn gắn với tấm lòng vị tha,
khoan dung và nhân hậu đối với những người mắc phải khuyết điểm. Người nâng
niu khuyến khích mặt tốt, mặt thiện trong con người, lấy đó là biện pháp giúp đỡ
những người có thói hư tật xấu vươn lên. Bởi theo Bác “Người đời ai cũng có chỗ
tốt, chỗ xấu, ta phải khéo nâng chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ”, “Ta phải
biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần
xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Đối với cán bộ, đảng viên
mắc phải khuyết điểm, bao giờ Bác cũng mong muốn và tạo điều kiện để họ sửa
chữa khuyết điểm, sai lầm. Đối với những người lầm đường, lạc lối, Bác vẫn đặt
niềm tin vào phần tốt đẹp, phần thiện trong mỗi con người đó. Người nói: “Năm
ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài. Nhưng ngắn dài đều họp nhau lại nơi bàn
tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này thế khác
đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Đối với những
đồng bào lầm đường lạc lối, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ” để họ hối cải
trở về với Tổ quốc và nhân dân. Đối với kẻ thù, trong một bức thư gửi người Pháp,
Người nói: “Trước lòng bác ái thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người Pháp
hay là người Việt đều là người”. Đối với những tù binh và thường dân Pháp bị ta
bắt trong chiến tranh, Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ ta phải nêu cao lòng
chính nghĩa, nhân đạo; phải đối xử khoan hồng đối với họ, giúp họ nhận ra chân
lý… Chính từ tấm lòng khoan dung, độ lượng của Bác đã làm thất bại mọi âm mưu
chia rẽ của kẻ thù; cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức, kể cả các quan lại cao cấp
của chế độ cũ, không quản ngại gian khổ, hy sinh để đi theo cách mạng và kháng
chiến.
Là một người giàu lòng nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, nên suốt cả
cuộc đời, Bác luôn day dứt với một suy nghĩ là chưa làm tròn trách nhiệm, nghĩa vụ
với dân, với nước. Vì thế, Người đã từ chối mọi danh hiệu, phần thưởng cao quý
mà Đảng, Nhà nước, nhân dân, bạn bè quốc tế dành riêng cho mình. Cho đến
những giây phút cuối của cuộc đời người chỉ: “…chỉ tiếc là tiếc rằng không được
phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” và “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân
yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi
đồng”
7
Ngày nay, kinh tế thị trường ngày càng phát triển nó mang lại cho chúng ta
nhiều thành tựu đáng kể nhưng nó cũng đồng nghĩa với một vấn nạn của kinh tế thị
trường đó là sự phân hoá ngày càng sâu sắc giữa hai tầng lớp giàu và nghèo. Mặt
khác trong những năm gần đây thiên tai lũ lụt liên tiếp xẩy ra gây khó khăn cho
nhiều người dân trong mọi vùng miền của tổ quốc. Thì tình yêu thương và lòng
nhân ái của dân tộc ta lại làm dấy lên phong trào “ Lá lành dùm lá rách” chia sẻ khó
khăn hổ trợ bà con đồng bào vùng gặp thiên tai lũ lụt. Nhiều chương trình của quốc
gia được triển khai để “xoá đói giảm nghèo”; xây nhà tình nghĩa, xoá mái tranh
nghèo…. Và các hoạt động từ thiện khác ngày càng trở thành một nghĩa cử cao đẹp
trong tấm lòng yêu thương nhân ái của mỗi con người Việt Nam ta.
Chúng ta đang từng bước hội nhập với thế giới, có nhiều luồng văn hóa độc
hại du nhập vào nước ta. Trong đó, thanh thiếu niên là lớp người chịu ảnh hưởng
nhiều nhất. Cùng với sự phát triển ngày càng cao của đời sống vật chất thì điều
đáng buồn là truyền thống tốt đẹp ấy lại mai một dần và chúng ta đang phải đối mặt
với một căn bệnh tinh thần đáng sợ đang lan truyền trong một bộ phận không nhỏ
của giới trẻ. Đó là “bệnh vô cảm”. Nó như một bệnh dịch lây lan trong toàn xã hội
và rất nhiều người mắc phải, không nặng thì nhẹ. Đó là sự thờ ơ trước niềm vui
hoặc nỗi buồn của những người xung quanh, là thái độ lạnh lùng đến tàn nhẫn trước
những đau thương, mất mát của đồng loại như trẻ em mồ côi, người già không nơi
nương tựa, người khuyết tật, nạn nhân của thiên tai bão lụt… “Bệnh vô cảm” hiện
nay khá phổ biến trong xã hội và biểu hiện dưới nhiều hình thức, mức độ khác
nhau. Một thanh niên không nhường chỗ cho cụ già trên xe buýt. Một học sinh lớn
thấy một em nhỏ té ngã mà không đỡ dậy. Đường bị kẹt mà nhiều người cứ cố tình
luồn lách, không biết nhường nhau, vi phạm luật lệ giao thông. Thấy người bị tai
nạn mà không giúp đỡ. Quay lưng ngoảnh mặt trước tình cảnh đau thương của
đồng bào bị thiên tai, bão lụt, trước số phận bất hạnh của hàng ngàn trẻ thơ mồ côi,
người già không nơi nương tựa…….Thái độ ấy rất đáng phê phán và lên án. Nếu
không, nó sẽ thành hiện tượng bình thường được xã hội chấp nhận và cứ thế lan
rộng mãi như một bệnh dịch nguy hiểm.Ở mức độ cao hơn, bệnh vô cảm đồng
nghĩa với thái độ vô trách nhiệm, gây ra tác hại không nhỏ cho xã hội, cho đất
nước. Mặt khác, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước đang trong
tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, xa rời quần chúng
nhân dân, cơ hội, tham nhũng, thu vén cho bản thân mình mà quên mất mình là
“đầy tớ phục vụ nhân dân” như lời Bác đã dạy.
Cuộc vận động tìm hiểu và học tập tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí
Minh đã và đang có một tác động sâu rộng với mọi tầng lớp nhân dân. Đó là một
trong những giải pháp nhằm ngăn chặn và từng bước đẩy lùi những thực trạng trên.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ
rất quan trọng, cần thiết, góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của
Người thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây
8
dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.
Chư Prông là huyện biên giới nằm về phía Tây Nam của tỉnh Gia Lai cách
trung tâm thành phố Pleiku khoảng 35 km, phía Đông giáp huyện Chư Sê, phía
Tây giáp Cam Pu Chia, phía Nam giáp huyện Ea Súp ( ĐakLak) , phía Bắc giáp Tp
Pleiku và huyện Đức Cơ. Huyện có diện tích tự nhiên 1687,5 km 2 với 19 dân tộc
cùng sinh sống, dân tộc Jarai là sống lâu đời nhất. Toàn huyện có 19 xã và 1 thị
trấn, với 180 thôn làng, tổ dân phố. Dân số khoảng 128.056 khẩu. Là một huyện có
địa bàn chiến lược hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng trên biên
giới phía Tây Nam của tỉnh Gia Lai. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội cơ bản được ổn định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ - Chính quyền huyện, nền
kinh tế đã có bước tăng trưởng và phát triển đáng kể. Văn hóa - xã hội có nhiều
chuyển biến, đời sống của đại bộ phận nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy vậy vẫn
còn một bộ phận nhân dân đời sống gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí và trình
độ kinh tế còn ở mức thấp. Những năm gần đây thời tiết diễn biến thất thường, tình
hình thiên tai như: hạn hán, bão lụt, gió lốc, lũ quét, hỏa hoạn…liên tiếp xảy ra gây
thiệt hại lớn về đời sống kinh tế của nhân dân.Các đối tượng xã hội như : Phong
cùi, người già không nơi nương tựa, trẻ em mồ côi, người tàn tật cũng có tỷ lệ khá
cao. Đặc biệt là địa phương trong chiến tranh đã phải hứng chịu nhiều đợt rải chất
độc màu da cam của Mỹ, di chứng chất độc da cam qua thống kê sơ bộ còn nhiều
đối tượng.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu rất rõ về các phong trào nhân
đạo và cứu trợ quốc tế. Vì thế, Bác đã sớm ủng hộ việc thành lập Hội Hồng thập tự
Việt Nam (nay là Hội Chữ thập đỏ Việt Nam) và nhận làm chủ tịch danh dự đầu
tiên của Hội. Mỗi lời nói, hành động của Bác, đều thể hiện tình yêu thương nhân
dân sâu sắc, bởi với Người, khi dân chưa đủ ăn, áo chưa đủ mặc, mọi người còn
khổ thì Bác ăn không ngon, ngủ không yên. Tấm lòng luôn hướng về nhân dân, đặc
biệt là người dân nghèo đã trở thành tấm gương sáng để tập thể Cán bộ, Hội viên,
thanh thiếu niên, tình nguyện viên Hội Chữ thập đỏ noi theo.
Thấm nhuần lời dạy của Bác: “Cán bộ, hội viên chữ thập đỏ phải xuất phát
từ tình yêu thương nhân dân tha thiết mà góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân và
làm mọi việc có thể làm được để giảm bớt đau thương cho họ”, “ Người Hội viên
Chữ thập đỏ phải thực sự vì lợi ích của nhân dân mà phục vụ, không nên vì hình
thức, tránh thái độ ban ơn” những năm qua, các cấp hội Chữ thập đỏ huyện Chư
Prông không ngừng nỗ lực đẩy mạnh thực hiện các cuộc vận động, phong trào thi
đua thiết thực chăm lo cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, góp phần
cùng Đảng bộ và nhân dân trong huyện thực hiện tốt công tác an sinh xã hội.
9
Trong những năm qua, mặc dù còn nhiều khó khăn thử thách, phong trào
Chữ thập đỏ huyện luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Thường vụ Hội Chữ
thập đỏ Gia Lai; Huyện ủy, UBND huyện thường xuyên lãnh chỉ đạo, sự phối hợp
tích cực của các ban, ngành, đoàn thể, chính quyền giúp đỡ tạo nhiều điều kiện để
phong trào vươn lên chủ động hoàn thành nhiệm vụ. Bên cạnh đó là sự đồng hành
của các nhà Tài trợ, các nhà hảo tâm cùng với sự nhiệt tình, có trách nhiệm trong
công việc của toàn thể cán bộ, hội viên toàn huyện vượt qua mọi khó khăn để thực
hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước giao cho.
Với vai trò là một tổ chức nhân đạo mang tính xã hội, Huyện hội luôn coi
công tác cứu trợ xã hội là trọng tâm trong các phong trào hoạt động của hội. Nội
dung, phương thức hoạt động từng bước đổi mới, mang đậm nét nhân văn và đã trở
thành phong trào thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Các cấp Hội đã
phối hợp mở nhiều đợt vận động để chăm lo đời sống cho người nghèo và nạn nhân
chất độc da cam trong toàn huyện tạo điều kiện để họ vượt qua lúc khó khăn vươn
lên trong cuộc sống như: Phong trào “Tết vì người nghèo, người khuyết tật và nạn
nhân chất độc da cam”, vận động giúp đỡ cho các gia đình không may bị hỏa hoạn
hoặc tai nạn rủi ro, phối hợp với các ban ngành của địa phương vận động quyên
góp, thăm hỏi tặng quà gia đình thương binh, liệt sỹ nhân ngày 27/7, gia đình nạn
nhân chất độc da cam nhân ngày 10/8, phong trào Toàn dân tham gia hiến máu tình
nguyện; cuộc vận động “Mỗi tổ chức, cá nhân gắn với một địa chỉ nhân đạo”,
chương trình “ Thùng gạo tình thương tại cơ sở xay xát”….. . Ngoài việc giúp đỡ
những gia đình khó khăn trong huyện, các cơ sở Hội cũng tích cực vận động quyên
góp để giúp đỡ đồng bào trong và ngoài nước bị thiên tai, bão lũ.
Hội đã tập trung chỉ đạo các cấp Hội theo hệ thống của mình không ngừng
tuyên truyền, vận động trong các tầng lớp nhân dân về các giá trị nhân đạo, giáo
dục truyền thống nhân ái cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hiểu về ý
nghĩa, vai trò của người làm công tác nhân đạo, từ thiện xã hội với mục đích hoạt
động tự nguyện, không vụ lợi nhằm trợ giúp cho các đối tượng và cộng đồng dễ bị
tổ thương trên cơ sở tuân thủ Điều lệ Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, hiến pháp và
pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của phong trào Chữ thập đỏ, Trăng lưỡi liềm đỏ
quốc tế; vì mục tiêu chung nhân đạo, hòa bình, hữu nghị, góp phần thực hiện tốt
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Là người con của huyện Chư Prông, tôi may mắn được phân công công tác
tại Hội Chữ thập đỏ. Trong quá trình công tác tôi được tiếp xúc thường xuyên với
người dân, những người nghèo khó, những người dễ bị tổn thương, nạn nhân bị ảnh
hưởng chất độc da cam. Từ khi về nhận nhiệm vụ tôi luôn tìm tòi, học hỏi, tập
trung tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, quần chúng nhân dân tham gia
hưởng ứng tốt các phong trào và các cuộc vận động do Hội cấp trên phát động .
10
Vận động các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm, tổ chức tôn giáo trong và ngoài
tỉnh ủng hộ tiền và vật chất chăm lo cho người nghèo ở địa phương mình.
Là Đảng viên, tôi ý thức và xác định rõ trách nhiệm và nhiệm vụ của mình,
luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; tích cực nghiên cứu, học tập các
Nghị quyết của Đảng các cấp, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước;Thường xuyên nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi dưỡng chuyên
môn để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác. Tích cực học hỏi để thích ứng với
những đổi mới trong công tác. Thường xuyên trau dồi chuyên môn để có kiến thức
sâu rộng, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ tin vào công tác. Luôn
luôn giữ vững quan điểm, lập trường tư tưởng vững vàng, kiên định mục tiêu chủ
nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Học tập và nghiên cứu các chuyên đề
về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của
đảng pháp luật Nhà nước, vận động gia đình và người thân thực hiện tốt các quy
định của địa phương nơi cư trú, thực hiện tốt lối sống lành mạnh, giản dị, trung
thực, luôn giữ gìn đoàn kết nội bộ, tiếp thu và lắng nghe ý kiến đóng góp đồng chí
trong đơn vị; Luôn khắc phục khó khăn, đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn
thành tốt công việc được giao. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các
biểu hiện tiêu cực quan liêu, tham nhũng…pháp lệnh cán bộ, công chức, nội quy và
quy chế làm việc tại đơn vị.
11
BÀI VIẾT CÓ SỬ DỤNG TÀI LIỆU
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000, t.4.
2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2000, t.7.
3. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, , Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2004.
4. 117 chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Trung tâm Thông tin Công
tác tư tưởng-Ban Tuyên giáo Trung ương, Hà Nội-2007.
5. Trang thông tin điện tử của Ban dân vận. ( Danvan.vn)
6. Các văn bản hiện hành của Chính phủ về Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phát hành
năm 1997.
7. Trang thông tin điện tử UBND huyện Chư Prông.
8. Báo cáo nhiệm kỳ 2011 - 2016 Hội Chữ thập đỏ huyện Chư Prông.
12