LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn đến ban lãnh đạo UBND thị
trấn Việt Lâm, đặc biệt là các cô các chị của phòng thống kê đã tận tình chỉ
bảo và giúp đỡ em trong thời gian vừa qua. Trong thời gian thực tập tại thị
trấn em đã học hỏi thêm đƣợc nhiều kinh nghiệm thực tế quý báu mà không
thể học đƣợc trên sách vở.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trƣờng Đại Học Lâm
Nghiệp đã hƣớng dẫn chỉ bảo tận tình cho em trong suốt thời gian học tập tại
trƣờng, đã trang bị và tích lũy cho em không ít kiến thức cũng nhƣ kinh
nghiệm để làm hành trang bƣớc vào đời. Và ngƣời mà em muốn cảm ơn nhiều
nhất là GVHD thực tập cho em là cô NGÔ THỊ THỦY, cô đã tận tình hƣớng
dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian khóa luận vừa qua để em có thể hoàn
thành tốt đƣợc khóa luận tốt nghiệp.
Bằng những hiểu biết của mình cùng với những kiến thức đã đƣợc
trang bị trong quá trình học tập em đã cố gắng hoàn thành báo cáo khóa luận
một cách tốt nhất. Tuy nhiên, với sự giới hạn trong kiến thức nên bài báo cáo
không tránh khỏi những sai sót và hạn chế. Vì vậy, em rất mong nhận đƣợc sự
nhận xét, góp ý và chỉ bảo của các thầy, cô cũng nhƣ các cô các chị trong thị
trấn. Em xin chân thành cảm ơn.
i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
MỤC LỤC ......................................................................................................... ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................. iv
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... v
DANH MỤC SƠ ĐỒ ........................................................................................ v
DANH MỤC HÌNH .......................................................................................... v
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài: ............................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu:..................................................................................... 3
2.1.Mục tiêu tổng quát: ..................................................................................... 3
2.2.Mục tiêu cụ thể: ........................................................................................... 3
3.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:................................................................. 4
3.1.Đối tƣợng nghiên cứu: ................................................................................ 4
3.2.Phạm vi nghiên cứu:.................................................................................... 4
4.Nội dung nghiên cứu: ..................................................................................... 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:.............................................................................. 4
5.1.Phƣơng pháp thu thập tài liệu, số liệu: ........................................................ 4
5.1.1.Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: ............................................................. 5
5.1.2.Thu thập số liệu sơ cấp: ........................................................................... 5
5.2.Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu: ..................................................... 6
5.2.1.Phƣơng pháp phân tích số liệu: ................................................................ 6
5.2.2.Phƣơng pháp xử lý số liệu: ...................................................................... 6
6. Kết cấu khóa luận: ......................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ ............... 7
1.1.Cơ sở lý luận của phát triển làng nghề:....................................................... 7
1.1.1.Một số quan điểm về phát triển làng nghề: .............................................. 7
1.1.2.Đặc điểm của làng nghề: ........................................................................ 11
1.1.3.Vị trí của làng nghề trong nền kinh tế: .................................................. 18
1.1.4.Vai trò của phát triển làng nghề: ............................................................ 18
1.1.5.Các yếu tố ảnh hƣởng đến hình thành và phát triển làng nghề:............. 24
CHƢƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THỊ TRẤN VIỆT LÂM ............. 30
2.1.Điều kiện tự nhiên: .................................................................................... 30
2.1.1.Vị trí địa lý: ............................................................................................ 30
ii
2.1.2.Địa hình: ................................................................................................. 31
2.1.3.Khí hậu, thủy văn: .................................................................................. 31
2.1.4.Tài nguyên đất đai: ................................................................................. 32
2.2.Đặc điểm kinh tế - xã hội thị trấn Việt Lâm ............................................. 32
2.2.1.Dân số, lao động thị trấn Việt Lâm: ....................................................... 32
2.2.2.Tình hình phát triển kinh tế của thị trấn Việt Lâm: ............................... 33
2.3.Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị trấn Việt
Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang: ........................................................... 34
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ CHỔI CHÍT TẠI
THỊ TRẤN VIỆT LÂM, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG ............. 35
3.1.Lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề chổi chít: ........................ 35
3.2.Tình hình sản xuất của làng nghề chổi chít: ............................................. 38
3.2.1.Quy trình sản xuất sản phẩm: ................................................................. 38
3.2.2.Các loại hình tổ chức sản xuất trong làng nghề chổi chít: ..................... 39
3.2.3.Cơ cấu các hộ của làng nghề chổi chít: .................................................. 39
3.2.4.Quy mô sản xuất của các hộ ở thị trấn Việt Lâm:.................................. 40
3.3.Tình hình tiêu thụ của làng nghề chổi chít thị trấn Việt lâm: ................... 41
3.4.Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất, tiêu thụ và phát
triển làng nghề: ................................................................................................ 43
3.5.Các yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển làng nghề chổi chít:........................ 45
3.5.1.Cơ chế chính sách và kết cấu hạ tầng: ................................................... 45
3.5.2.Yếu tố thị trƣờng: ................................................................................... 47
3.5.3.Yếu tố về vốn: ........................................................................................ 48
3.5.4.Nguồn nhân lực, trình độ chuyên môn:.................................................. 48
3.5.5.Yếu tố nguyên liệu đầu vào: .................................................................. 49
3.6.Một số định hƣớng nhằm phát triển làng nghề chổi chít: ......................... 50
3.7.Một số giải pháp nhằm phát triển làng nghề chổi chít: ............................. 51
KẾT LUẬN: .................................................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 55
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND
HTX
TTCN
CNH – HĐH
DNNVV
SXKD
XHCN
Ủy ban nhân dân
Hợp tác xã
Tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Sản xuất kinh doanh
Xã hội chủ nghĩa
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.2 Tình hình đất của thị trấn Việt Lâm: ............................................... 32
Bảng 2.3: Tình hình phát triển kinh tế của thị trấn Việt Lâm trong các năm
2015 - 2017...................................................................................................... 33
Bảng 3.4: Cơ cấu các hộ của thị trấn Việt Lâm giai đoạn 2015 – 2017 ......... 39
Bảng 3.5: Quy mô sản xuất của các hộ làm chổi chít trong giai đoạn............ 40
Bảng 3.6: Số lƣợng chổi chít đƣợc sản xuất của làng nghề trong các năm .... 41
Bảng 3.7: Thị trƣờng tiêu thụ chổi chít của thị trấn Việt Lâm trong giai đoạn
từ năm 2015 – 2017 ......................................................................................... 42
Bảng 3.8: Các tiêu chí khi bán 1 chiếc chổi chít. ............................................ 43
Bảng 3.9: Ý kiến của các hộ về các tiêu chí trong quá trình sản xuất, tiêu thụ
và phát triển làng nghề (sử dụng thông tin điều tra từ 40 hộ). ........................ 44
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.3: Quy trình sản xuất chổi chít........................................................... 38
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Địa giới hành chính thị trấn Việt Lâm ............................................. 30
Hình 3.1: Ông Tạ Quang Đới thực hiện công đoạn bó chổi chít .................... 36
Hình 3.2: Sản phẩm của HTX đƣợc trƣng bày tại Hội chợ ............................ 37
v
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Phát triển làng nghề là một nội dung chủ yếu của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nƣớc ta. Nhờ những chủ trƣơng, chính sách
của Đảng và Nhà nƣớc, trong những năm qua sự phát triển làng nghề đã đạt
đƣợc những kết quả to lớn, góp phần làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt nông
thôn. Sự phát triển làng nghề đã đem lại hiệu quả to lớn về nhiều mặt, không
chỉ góp phần phát triển kinh tế, mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân
tộc, bảo đảm an ninh trật tự xã hội. Ở một số tỉnh nhƣ Bắc Ninh, Hà Nam,
Thái Bình, Nam Định, Hà Nội,... làng nghề phát triển rất nhanh, đạt đƣợc
những kết quả to lớn.
Tuy nhiên nét đặc trƣng rõ nét của các làng nghề đều mang phƣơng
thức truyền thống, trong phạm vi quy mô làng, xóm, thôn, bản…Với các hạn
chế chủ yếu nhƣ quy mô sản xuất nhỏ, mối quan hệ tiếp cận thị trƣờng chƣa
đƣợc thƣờng xuyên, công nghệ ứng dụng không cao, chƣa chủ động trong
việc tìm kiếm nguyện liệu đầu vào. Bên cạnh đó lao động sử dụng trong làng
nghề mang tính chất không chuyên, truyền đạt tay nghề theo phƣơng thức
nghề dạy nghề, chƣa đƣợc đào tạo chính thống nên chất lƣợng cũng nhƣ tính
sáng tạo của các sản phẩm chƣa cao, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng
Trong quá trình phát triển hiện nay, thực tế đã chỉ rõ nguyên liệu
chính là yếu tố quyết định tới sự tồn tại và phát triển của các làng nghề. Bên
cạnh các thế mạnh hiện có, sự phát triển của các làng nghề còn đang gặp phải
rất nhiều khó khăn, đó là sự gia tăng liên tục giá cả đầu vào, thiếu vốn đầu tƣ
cho sản xuất, thiếu thông tin thị trƣờng và đặc biệt là thiếu nguyên liệu đủ
chất lƣợng phục vụ sản xuất cho các làng nghề trong thời gian gần đây. Vấn
đề cơ bản cần đặt ra hiện nay là cần phải lựa chọn những ngành nghề gắn với
điều kiện kinh tế - xã hội cũng nhƣ các nguồn lực sẵn có tại địa phƣơng nhằm
1
khai thác tận dụng các lợi thế sẵn có để sản xuất các sản phẩm nhằm đáp ứng
nhu cầu của thi trƣờng.
Huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang là một huyện miền núi kinh tế chƣa
phát triển, chủ yếu vẫn tập trung vào cây chè, diện tích và năng suất cây trồng
còn thấp, tình trạng thiếu việc làm còn nhiều, chƣa phát huy hết thế mạnh sẵn
có tại địa phƣơng. Tuy nhiên, bên cạnh đó đã xuất hiện các địa phƣơng tự chủ
động đi trên con đƣờng phát triển của mình bằng các hoạt động cụ thể nhằm
thiết thực nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân. Điều này đƣợc thể
hiện rất rõ thông qua việc đã có một số nghề phụ đƣợc thực hiện ở một số xã
của huyện Vị Xuyên và đã góp phần đáng kể cải thiện cuộc sống của ngƣời
dân. Nổi bật hơn cả là nghề sản xuất chổi chít ở thị trấn Việt Lâm, nghề này
đã và đang là nghề đem lại thu nhập ổn định cho ngƣời dân, tạo công ăn việc
làm cho ngƣời nông dân trong thời gian nhàn rỗi của nông vụ, góp phần ổn
định xã hội. Bên cạnh đó nghề sản xuất chổi chít đã sử dụng tận dụng đƣợc
nguồn tài nguyên phi gỗ của rừng làm nguyên liệu sản xuất, khi khai thác
nguồn tài nguyên này không những không làm ảnh hƣởng ñến công tác bảo vệ
rừng mà còn làm cho chất lƣợng của rừng ngày càng nâng cao, làm tăng giá
trị nguồn tài nguyên rừng và đây một trong những ƣu thế của nghề.
Xung quanh vấn đề phát triển các làng nghề đặc biệt là làng nghề sử
dụng nguyên liệu phi gỗ ở Việt Lâm còn nổi lên nhiều vấn đề cần đƣợc
nghiên cứu giải quyết nhƣ hầu hết các làng nghề đều phát triển tự phát chƣa
theo quyhoạch tổng thể của tỉnh, chƣa chú trọng đến vấn đề môi trƣờng và sự
phát triển bền vững của các làng nghề. Các làng nghề đang sản xuất ra các sản
phẩm mà sức cạnh tranh trên thị trƣờng còn hạn chế mà đặc biệt là thị trƣờng
quốc tế. Ngƣời sản xuất chƣa thực sự quan tâm tới mẫu mã, chất lƣợng sản
phẩm và nhu cầu thị trƣờng. Việc tìm kiếm thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm phải
qua nhiều đầu mối trung gian dẫn tới giá thành sản phẩm cao và đó là một
trong những yếu tố làm hạn chế quá trình tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó sự
suy thoái của nền kinh tế cũng làm cho các làng nghề lâm vào tình trạng khó
2
khăn, thiếu vốn, thiếu nguyên liệu sản xuất… Điều đó ảnh hƣởng rất lớn đến
sự phát triển của làng nghề.
Những tồn tại đó ảnh hƣởng đến hiệu quả và tính bền vững của các
làng nghề nói chung và làng nghề chổi chít nói riêng trên địa bàn thị trấn Việt
Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Vậy cần có các giải pháp nào nhằm
thúc đẩy sự phát triển của các làng nghề chổi chít để đạt hiệu quả cao và bền
vững. Với ý nghĩa, vai trò to lớn và các tồn tại của các làng nghề, việc nghiên
cứu hệ thống sản xuất, tiêu thụ của làng nghề chổi chít thị trấn Việt Lâm,
huyện Vị Xuyên nhằm đánh giá đúng thực trạng, vai trò của từng khâu, từng
công đoạn trong cả hệ thống, từ đó đề xuất những giải pháp toàn diện theo
quan điểm hệ thống nhằm thúc đẩy làng nghề ở Việt Lâm phát triển là cần
thiết.
Xuất phát từ các lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển làng
nghề chổi chít trên địa bàn thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà
Giang”.
2.Mục tiêu nghiên cứu:
2.1.Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu thực trạng phát triển làng nghề chổi chít ở thị trấn Việt
Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang; Trên cơ sở đó đề xuất định hƣớng và
giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề chổi chít trên địa bàn thị trấn
Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang trong thời gian tới
2.2.Mục tiêu cụ thể:
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển làng nghề.
- Đánh giá thực trạng phát triển của làng nghề chổi chít ở Thị trấn Việt
Lâm, huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang
- Xác định các yếu tố ảnh hƣởng tới phát triển làng nghề chổi chít ở Thị
trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang
3
- Đề xuất định hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển làng nghề
chổi chít tại thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang trong thời gian
tới.
3.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
3.1.Đối tƣợng nghiên cứu:
- Làng nghề sản xuất chổi chít trên địa bàn thị trấn Việt Lâm, huyện Vị
Xuyên, tỉnh Hà Giang.
3.2.Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu về phát triển làng
nghề chổi chít của thị trấn Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tập trung trên địạ bàn thị trấn
Việt Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
- Phạm vi về thời gian: Những thông tin, số liệu thu thập phục vụ đề tài
nghiên cứu thực trạng phát triển làng nghề chổi chít từ năm 2015 – 2017;
nghiên cứu đề xuất, phƣơng hƣớng và giải pháp phát triển làng nghề chổi chít
cho các năm tới.
4.Nội dung nghiên cứu:
- Cơ sở lý luận về phát triển làng nghề.
- Đặc điểm cơ bản của thị trấn Việt Lâm.
- Thực trạng phát triển làng nghề chổi chít.
- Giải pháp phát triển làng nghề chổi chít.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
5.1.Phƣơng pháp thu thập tài liệu, số liệu:
Thu thập số liệu từ các tài liệu, hồ sơ, các báo cáo về dân số, các báo
cáo về phát triển kinh tế - xã hội và các số liệu khác của UBND thị trấn Việt
Lâm…
4
5.1.1.Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp:
Tài liệu thứ cấp (số liệu đã công bố) là nguồn số liệu quan trọng mà
thiếu nó thì đề tài nghiên cứu sẽ mất đi tính hiện thực. Để thu thập đƣợc
nguồn số liệu quan trọng này nhằm phục vụ đề tài tôi đã tham khảo qua
nhiều sách báo, tài liệu và sử dụng các báo cáo thống kê của thị trấn Việt
Lâm (phòng thống kê thị trấn, phòng công thƣơng, phòng nông nghiệp,
phòng tài chính kế hoạch thị trấn); số liệu thứ cấp của Sở, Ban, Ngành cấp
huyện, tỉnh của một số Bộ, Ngành liên quan.
STT
Loại thông tin
Nguồn thu nhập
1
Số liệu cơ sở lý
luận, thực tiễn ở
trong nƣớc và
trên thế giới
Sách, báo, tạp chí,
nguồn từ internet,
văn bản pháp luật,
chính sách của nhà
nƣớc.
Phòng thống kê
thị trấn Việt Lâm
2
3
Số liệu địa bàn
nghiên cứu: dân
số,lực lƣợng lao
động, tình hình
phát triển kinh tế
xã hội qua 3 năm,
điều kiện cơ sở
hạ tầng, ….
Số liệu về đề án
phát triển sản
xuất chổi chít
Văn phòng
UBND thị trấn
Việt Lâm
Các báo cáo,
nghiên cứu khoa
học đã công bố.
4
Các nghiên cứu
có liên quan
5.1.2.Thu thập số liệu sơ cấp:
Phƣơng pháp thu
thập
Đọc, chọn lọc, tìm
kiếm
Tìm hiểu, xử lý
tổng hợp, phân
tích số liệu từ các
báo cáo
Tìm hiểu, khảo
sát, tổng hợp
Phân tích thông
tin
Thông tin số liệu sơ cấp là những số liệu chƣa đƣợc công bố, đƣợc thu
thập bằng cách sử dụng phiếu điều tra để phỏng vấn trực tiếp.
Để đánh giá đƣợc những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất
chổi chít, em tiến hành điều tra ngẫu nhiên 40 hộ chuyên sản xuất chổi chít tại
4 tổ 7, 8, 9, 10 của thị trấn Việt Lâm.
5
5.2.Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu:
5.2.1.Phương pháp phân tích số liệu:
+) Phƣơng pháp thống kê kinh tế:
Phƣơng pháp phân tổ thống kê để chia các nhóm hộ theo tiêu chí khác
nhau để phân tích, so sánh những nhân tố ảnh hƣởng đến thu nhập nhằm đƣa
ra những giải pháp phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân.
Nhƣ đã trình bày ở trên, tiến hành phân ra làm hai nhóm hộ theo tiêu chí hình
thức sản xuất: Hộ chuyên, hộ kiêm.
+) Phƣơng pháp thống kê mô tả:
Sử dụng các công thức thống kê: số tuyệt đối, số tƣơng đối, số bình
quân…để phân tích các kết quả nghiên cứu. Từ đó nhận định quy mô, tốc độ
phát triển, hiệu quả sản xuất kinh doanh của hộ nông dân.
+) Phƣơng pháp thống kê so sánh:
So sánh sự phát triển của làng nghề qua các năm, giữa các khu vực,
giữa các hình thức tổ chức sản xuất dựa trên các nhóm chỉ tiêu về sản xuất,
tiêu thụ, hiệu quả và kết quả. Từ đó tìm đƣợc mặt tích cực, hạn chế của hiện
tƣợng và đƣa ra các giải pháp khắc phục. So sánh các chỉ tiêu kinh tế giữa các
nhóm hộ điều tra với nhau để thấy đƣợc những mặt mạnh, mặt yếu của từng
nhóm hộ.
5.2.2.Phương pháp xử lý số liệu:
- Xử lý bằng MS Office Excel, Word để tính toán các số liệu thu thập đƣợc
(cộng, trừ, nhân, chia,…), tính tỷ trọng (%),..
6. Kết cấu khóa luận:
Kết cấu gồm 3 chƣơng chính:
- Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển làng nghề
- Chƣơng 2: Đặc điểm cơ bản của thị trấn Việt Lâm
- Chƣơng 3: Thực trạng phát triển làng nghề chổi chít tại thị trấn Việt
Lâm, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
1.1.Cơ sở lý luận của phát triển làng nghề:
1.1.1.Một số quan điểm về phát triển làng nghề:
1.1.1.1.Quan điểm về phát triển:
* Quan điểm về phát triển:
Trong thời đại ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển.
Raaman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm
tăng trƣởng mức sống con ngƣời và phân phối công bằng những thành quả
tăng trƣởng trong xã hội” .
Ngân hàng thế giới đƣa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm
những thuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con ngƣời, đó
là: “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công
dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con ngƣời trong các mối quan hệ
với Nhà nƣớc, với cộng đồng...”
Phát triển là một quá trình tăng trƣởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành
khác nhau nhƣ kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hoá vv...
Phát triển (development) hay nói một cách đầy đủ hơn là phát triển
kinh tế xã hội (socio- economic development) của con ngƣời là một quá trình
nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần bằng phát triển sản xuất, tăng
cƣờng chất lƣợng các hoạt động văn hoá.
Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhƣng tựu trung lại các ý kiến
đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh
thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con ngƣời. Mục tiêu chung của phát
triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và quyền
tự do công dân của mọi ngƣời dân.
7
1.1.1.2.Quan điểm về làng nghề:
* Quan điểm về làng:
- Làng trong hệ thống hành chính trƣớc đây và ngày nay theo nhiều tài liệu
lịch sử để lại, hệ thống hành chính của các triều đại phong kiến nƣớc ta gồm:
+ Chính quyền phong kiến trung ƣơng, gọi là triều đình, đứng đầu là
vua (chúa) và dƣới vua chúa có triều đại có tể tƣớng , có triều đại không và
lục bộ ( bộ binh, bộ lĩnh, bộ hình, bộ hộ, bộ công và bộ lễ)
+ Chính quyền địa phƣơng có tỉnh (châu). Đứng đầu tỉnh là quan tuần phủ.
+ Dƣới tỉnh có huyện hoặc phủ. Đứng đầu phủ có quan tri phủ, đứng
đầu huyện có quan tri huyện. Sở dĩ dƣới tỉnh có đặt ra các phủ là do điều kiện
giao thông vận tải khó khăn, nên trong một số tỉnh chia ra một số phủ, ngƣời
đứng đầu huyện (tri huyện) ở địa phƣơng đƣợc chọn gọi là tri phủ có trách
nhiệm giúp tuần phủ theo dõi giám sát một số phủ, cũng nhƣ chuyển công văn
giấy tờ từ tỉnh về huyện và ngƣợc lại.
+ Dƣới huyện có các làng, đứng đầu làng là có chức lý trƣởng làm chức
năng quản lý Nhà nƣớc trong làng (quản lý đinh, tiền, thu thuế, trật tự an
ninh). Đặc trƣng cho mỗi làng đều có đình làng.
Từ những năm 1945 khi nƣớc ta giành độc lập, theo Hiến pháp 1946,
1959, 1980 và đặc biệt là hiến pháp 1992 đã quy định rõ hệ thống chính
quyền 4 cấp: trung ƣơng, tỉnh, huyện, xã. Dƣới xã tổ chức thành các thôn,
xóm, bản, hoặc phƣờng và khái niệm làng để chỉ địa danh của một cụm dân
cƣ gồm nhiều thôn, bản hợp thành.
Từ những lý giải trên đây chúng ta có thể rút ra kết luận khái niệm
“làng “ là một phạm trù lịch sử và văn hóa có sự thay đổi từ thời đại này sang
thời đại khác.
8
* Quan điểm về nghề:
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, hầu hết dân cƣ sống ở vùng nông
thôn đều có hoạt động thêm một số nghề thủ công với mục đích ban đầu sản
xuất ra một số hàng gia dụng phục vụ cho nhu cầu đời sống và sản xuất của
hộ gia đình, mang tính chất tự cung tự cấp trên cơ sở sử dụng nguồn nguyên
liệu sẵn có. Nhƣng qua một quá trình dài phát triểndo có sự khác nhau về tay
nghề, phát triển và kinh nghiệm tích lũy đƣợc ở từng địa phƣơng nhất định đã
có sự chuyên môn hóa và các sản phẩm làm ra bắt đầu đƣa ra thị trƣờng trao
đổi nhƣ những loại hàng hóa khác. Đó là quá trình chuyên môn hóa lâu đời và
các sản phẩm của địa phƣơng đó không những bền đẹp mà giá thành rẻ nên
đƣợc xã hội chấp nhận. Song vấn đề quan tâm ở đây là những hoạt động
ngành nghề nào đƣợc gọi là nghề. Theo quan điểm chung, các hoạtđộng sản
xuất tiểu thủ công nghiệp ở địa phƣơng nào đó đƣợc gọi là nghề khi nào phải
tạo ra đƣợc một khối lƣợng sản phẩm chiếm lĩnh thị trƣờng thƣờng xuyên và
những ngƣời sản xuất, hoặc hộ sản xuất đó lấy nghề đang làm làm nguồn thu
chủ yếu thì mới đƣợc xem là có nghề.
* Quan điểm về làng nghề:
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cƣ cấp thôn, ấp, bản,
làng,buôn,... hoặc các điểm dân cƣ tƣơng tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có
các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản
phẩm khác nhau. Tiêu chí công nhận làng nghề nhƣ sau:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động
ngành nghề nông thôn.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời
điểm đề nghị công nhận.
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
Làng có nghề là làng sản xuất nông nghiệp, trong đó một số ngƣời hay
một số gia đình làm nghề thủ công theo hình thức chuyên nghiệp hoặc thời
gian nông nhàn.
9
Nhiều ý kiến hiện nay đã thống nhất phân chia các ngành nghề thủ
công truyền thống thành các nhóm chính là:
- Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ nhƣ: gốm sứ mỹ
nghệ, sơn mài, thêu, ren, khảm, thảm, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá,chạm mạ
vàng bạc, dệt tơ tằm, thổ cẩm, mây tre đan các loại,....
- Các ngành nghề sản xuất sản phẩm nhƣ: rèn sắt, làm cầy bừa,
nông cụ đóng thuyền,...
- Các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêu dùng thôngthƣờng
nhƣ: dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, nong, nia, sọt, bồ,chổi..; bện thừng,
chạo dệt vải.
- Các ngành nghề phục vụ cho sản xuất và đời sống nhƣ: nề, mộc,hàn,đúc,
đồng, gang, sản xuất vật liệu xây dựng,....
- Các ngành nghề chế biến lƣơng thực, thực phẩm nhƣ: xay xát làmbún,
bánh, đƣờng mật, làm đậu tƣơng, đậu phụ, miến, nấu rƣợu, chế biến hảisản
các loại,....
Sự xuất hiện các ngành nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là
ngành nghề phụ trong các gia đình tiểu nông, chủ yếu đƣợc tiến hành trong
lúc nông nhàn. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, các ngành nghề thủ
công tách dần khỏi nông nghiệp nhƣng lại phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp
và khi đó có một số thợ thủ công không còn làm nông nghiệp nữa, song họ
vẫn gắn chặt với làng quê. Số lƣợng ngƣời chuyên làm nghề thủ công nghiệp
ngày càng tăng lên, tách rời hẳn khỏi nông nghiệp và hộ sinh sống bằng chính
nguồn thu nhập từ nghề đó, diễn ra ngay trong các làng quê. Tiêu chí thƣờng
đƣợc dùng để xem xét khi đƣa ra khái niệm làng nghề gắn với số hộ (hoặc số
ngƣời) chuyên làm nghề và thu nhập từ nghề đó.... Những làng đƣợc gọi là
làng nghề khi những ngƣời chuyên làm nghề thủ công nghiệp sống bằng
chính nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong dân số
(hoặc lao động) của làng. Qua khảo sát thực tiễn ở một số làng nghề
nàythƣờng có từ 35 - 40% số hộ (hoặc lao động) chuyên làm nghề thủ công
nghiệp trở lên.
10
Nhƣ vậy, có thể quan niệm làng nghề là làng ở nông thôn có một (hoặc
một số) nghề thủ công nghiệp tách hẳn ra khỏi nông nghiệp và kinh doanh
độc lập.
* Quan điểm về làng nghề truyền thống:
Làng nghề truyền thống là làng có nghề thủ công trên 50 năm, sản
phẩm của làng nghề truyền thống có nét đặc trƣng riêng thƣờng tên của sản
phẩm gắn với tên làng. Làng nghề truyền thống có thể đang phát triển, có thể
đang bị mai một hoặc không còn làm nghề nữa.
Làng nghề có nghề truyền thống đƣợc hình thành từ lâu đời. Làng nghề
truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống
theo quy định tại Thông tƣ 116/2006/TT- BNN.
Đối với những làng chƣa đạt tối thiểu 30% tổng số hộ và 2 năm sản
xuất kinh doanh ngành nghề ổn định nhƣng có ít nhất một nghề truyền thống
đƣợc công nhận theo quy định của Thông tƣ 116/2006/TT-BNN thì cũng
đƣợc công nhận là làng nghề truyền thống.
1.1.1.3.Quan điểm về phát triển làng nghề:
Phát triển làng nghề là tạo dựng làng nghề phù hợp với điều kiện sẵn có
của địa phƣơng.
Phát triển làng nghề là tiếp tục mở rộng và phát triển trên cơ sở nghề đã
hình thành. Bao gồm cả sự phát triển về số lƣợng làng nghề và chất lƣợng
hoạt động của làng nghề. Sự phát triển này sẽ nâng cao đƣợc đời sống vật chất
và tinh thần cho ngƣời lao động, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã
hội của địa phƣơng và không gây những tác động, ảnh hƣởng tiêu cực tới môi
trƣờng.
1.1.2.Đặc điểm của làng nghề:
Khi nói đến làng nghề, thƣờng có sự so sánh đặc điểm của nó với làng
thuần nông hoặc phố nghề (tiểu thủ công nghiệp ở đô thị). Trong lịch sử phát
11
triển, do xuất phát điểm từ nền nông nghiệp tự túc và nông thôn phát triển ở
trình độ thấp, có thể thấy những đặc điểm nổi bật của làng nghề hiện nay là:
ra đời phát triển ở nông thôn và có mối quan hệ chặt chẽ với nông nghiệp; lao
động mang nặng tính chất thủ công; hộ gia đình là hình thức tổ chức sản xuất
chủ yếu; đa số sản phẩm đƣợc sản xuất có tính chất đơn chiếc và nhiều sản
phẩm mang bản sắc văn hoá của vùng, từng dân tộc. Cùng với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và quá trình phát triển đô thị,
làng nghề cũng không ngừng biến đổi. Có thể thấy những đặc điểm sau đây
của làng nghề:
- Đặc điểm nổi bật nhất của làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó
chặt chẽ với nông nghiệp.
+ Các ngành nghề thủ công nghiệp tách dần khỏi nông nghiệp nhƣng
không rời khỏi nông thôn. Sản xuất nông nghiệp và sản xuất kinh doanh thủ
công nghiệp trong làng nghề đan xen lẫn nhau. Ngƣời thợ thủ công trƣớc hết
và đồng thời là ngƣời nông dân. Các gia đình nông dân vừa làm ruộng vừa
làm nghề sản xuất thủ công nghiệp. Sự ra đời của làng nghề đầu tiên là do nhu
cầu giải quyết lao động phụ, lao động dƣ thừa nhàn rỗi giữa các mùa vụ và
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của từng gia đình và từng làng xã. Trong làng
nghề, ngƣời nông dân thƣờng tự sản xuất đáp ứng phần lớn nhu cầu ít ỏi về
hàng tiêu dùng của mình. Về sau, khi xuất hiện những hộ chuyên sản xuất làm
cơ cấu ngành nghề thủ công nghiệp thì sản phẩm của họ chủ yếu cũng phục
vụ trực tiếp cho nhu cầu của những ngƣời nông dân trƣớc hết ở trong làng, xã
mình và ở các làng, xã lân cận trong vùng. Mặt khác trong làng nghề, đại bộ
phận các hộ chuyên làm nghề sản xuất thủ công nghiệp vẫn còn tham gia sản
xuất nông nghiệp ở mức độ nhất định và đặc biệt là hầu hết là các hộ đều giữ
đất nông nghiệp để tự mình trồng trọt hoặc thuê mƣớn ngƣời làm nông nghiệp
cho mình.
12
- Công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong làng nghề, đặc biệt là
làng nghề truyền thống thƣờng rất thô sơ, lạc hậu, cộng với thói quen của
ngƣời sản xuất tiểu nông nên công nghệ chậm đƣợc cải tiến và thay thế.
+ Công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công,
công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc. Nhiều loại sản phẩm có công nghệ kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của ngƣời thợ. Có một
số nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ mà chính bản thân ngƣời thợ trong
các làng nghề có thể tự sản xuất ra đƣợc. Mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hóa
và điện khí hóa từng bƣớc trong công nghệ - kỹ thuật sản xuất ở các làng nghề
nhƣng cho tới nay cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới
hóa đƣợc một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm.
+ Trong làng nghề chổi chít các công đoạn sản xuất cũng thể hiện tính
thủ công rất cao, tất cả đều đƣợc thực hiện bởi đôi bàn tay khéo léo của ngƣời
lao động. Thậm chí các công cụ tham gia sản xuất đều do chính ngƣời lao
động tự chế tạo thiết kế cho phù hợp với tính chất công việc. Tính chất cơ giới
hoá và vận dụng máy móc vào sản xuất không áp dụng đƣợc vì các công đoạn
sản xuất tƣơng đối đơn giản, dễ áp dụng, dễ thực hiện đối với ngƣời lao động
nông thôn.
- Đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thƣờng là tại chỗ,
sẵn có ở địa phƣơng.
+ Hầu hết các làng nghề đƣợc hình thành xuất phát từ sẵn có nguồn
nguyên liệu tại chỗ, trên địa bàn địa phƣơng. Đặc biệt, các nghề truyền thống
sản xuất những sản phẩm tiêu dùng nhƣ đan lát mây, tre, cây chít (rổ, rá, nong
nia, sọt, bồ, chổi chít…) hay chế biến lƣơng thực, thực phẩm (làm bún, làm
bánh, xay xát gạo, làm tƣơng, làm đậu phụ, nƣớc mắm…), sản xuất vật liệu
xây dựng… nguyên liệu thƣờng có tại chỗ, trên địa bàn địa phƣơng. Một số
ngành nghề còn có thể tận dụng cả những phế liệu, phế phẩm, phế thải trong
công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt để làm nguyên liệu sản xuất, nên
13
chúng lại càng sẵn có trên địa bàn. Thậm chí, đối với một số mặt hàng
thủcông mỹ nghệ cao cấp chủ yếu phục vụ cho xuất khẩu nhƣ gốm mỹ nghệ,
sơn mài, chạm khắc gỗ, đá, vàng bạc… cũng có thể khai thác đƣợc các nguồn
nguyên vật liệu tại chỗ, địa phƣơng, trong nƣớc. Cũng có thể có một số
nguyên vật liệu phải nhập khẩu từ nƣớc ngoài nhƣ một số loại chỉ thêu, thuốc
nhuộm, chất ngâm tẩm… song không nhiều.
+ Đặc điểm này cũng đƣợc thể hiện rất rõ trong làng nghề chổi chít.
Sựhình thành nghề sản xuất chổi chít ban đầu xuất phát từ vùng nguyên liệu
rất rộng lớn, dồi dào của núi rừng Đông Bắc. Cây chít có thể mọc rải rác trên
khắp các triền đồi và sức sống rất lớn. Và loại cây hoang dại này đã trở thành
nguyên liệu làm giàu cho nghề sản xuất chổi chít tại thị trấn Việt Lâm.
- Phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ
thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và đầy tính sáng
tạo của ngƣời thợ, của các nghệ nhân. Phƣơng pháp dạy nghề chủ yếu đƣợc
thực hiện theo phƣơng thức truyền nghề.
+ Lao động trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống,
chủ yếu là lao động thủ công nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo. Trƣớc kia,
do trình độ khoa học và công nghệ chƣa phát triển thì hầu hết các công đoạn
trong quy trình sản xuất đều là lao động thủ công, giản đơn. Ngày nay cùng
với sự phát triển của khoa học-công nghệ, việc ứng dụng khoa học – công
nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất làng nghề, đã giảm bớt lực
lƣợng lao động thủ công giản đơn. Tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có
một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động
thủ công, tinh xảo.
+ Hầu hết các làng nghề dù hình thành bằng con dƣờng nào đi chăng
nữa thì chúng đều phải có các nghệ nhân làm nòng cốt và là ngƣời thầy hƣớng
dẫn để phát triển các làng nghề. Vai trò nghệ nhân rất quan trọng đối với các
làng nghề. Mỗi làng đều có một tổ nghề chính là ngƣời thầy đầu tiên dạy
14
nghề, truyền nghề, đem bí quyết nghề nghiệp ở nơi khác về truyền cho làng
mình. Việc dạy nghề trƣớc đây chủ yếu theo phƣơng thức truyền nghề trong
các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. Các
nghề thƣờng đƣợc bảo tồn trong từng gia đình, từng dòng họ, ít đƣợc phổ biến
ra bên ngoài, thậm chí có những bí quyết nghề nghiệp không đƣợc truyền cho
con gái nhằm để giữ bí quyết nghề nghiệp chỉ khuôn lại trong từng gia đình,
từng dòng họ, từng làng, phƣờng hội. Vì vậy, các nghề chỉ đƣợc lƣu truyền
trong phạm vi từng làng nghề. Sau hòa bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh
và hợp tác xã (HTX) làm các nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho
phƣơng thức truyền nghề và dạy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa
dạng và phong phú hơn. Một số cơ sở sản xuất kinh doanh hàng thủ công
truyền thống của quốc doanh và tập thể đã tổ chức các lớp học dạy nghề tập
trung đã làm cho các bí quyết nghề nghiệp không còn đƣợc giữ bí mật nhƣ
trƣớc nữa. Trong những năm đổi mới với việc phát triển mạnh kinh tế tƣ nhân
và hộ gia đình có thể trong các làng nghề đã phục hồi phƣơng thức dạy nghề
theo lối truyền nghề, kèm cặp của ngƣời thợ cả đối với thợ phụ và thợ học
việc. Ngay nhƣ trong các cơ sở đào tạo nghề tập trung thì phƣơng thức dạy
nghề theo lối kết hợp vừa học vừa làm là chủ yếu. Cho nên, phƣơng thức đào
tạo nghề trong các làng nghề theo lối truyền nghề kèm cặp mang tính chủ đạo.
- Sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề truyền thống mang tính
đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc mỗi một
sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật. Các sản phẩm của các làng nghề vừa có
giá trị sử dụng vừa có giá trị mỹ thuật cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục
vụ nhu cầu tiêu dùng vừa là vật trang trí trong nhà, đền, chùa, công sở nhà
nƣớc… Các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phƣơng pháp thủ công tinh xảo
với sự sáng tạo nghệ thuật. Các hàng thủ công truyền thống thƣờng mang tính
cá biệt và có sắc thái riêng của mỗi một làng nghề. Cùng là đồ gốm sứ, nhƣng
ngƣời ta vẫn có thể phân biệt đƣợc đâu là gốm sứ BátTràng (Hà Nội), Thổ Hà
(Bắc Ninh) với Đông Triều (Quảng Ninh). Từ những con rồng chạm trổ ở các
15
đình chùa, hoa văn trên các trống đồng, màu men vàcác tiết họa trên đồ gốm
sứ đến những nét chấm phá trên các bức thêu… tất cả đều mang vóc dáng dân
tộc, quê hƣơng, chứa đựng ảnh hƣởng về văn hóa tinh thần, quan niệm về
nhân văn và tín ngƣỡng tôn giáo của dân tộc.
- Thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa
phƣơng, tại chỗ, nhỏ hẹp.
+ Sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt đối với các làng nghề truyền
thống là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các
địa phƣơng. Ở mỗi làng nghề hoặc cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm
nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề. Cho đến nay, thị
trƣờng làng nghề về cơ bản vẫn là thị trƣờng địa phƣơng, là tỉnh hay liên tỉnh.
Thói quen chỉ thích hàng tiểu thủ công nghiệp (TTCN) ở một vùng nhất định,
theo một mùa vụ nhất định đã hạn chế sức tiêu thụ hàng TTCN ở nông thôn.
Làng nghề thủ công nghiệp trong một thời gian dài đã phát triển theo một lối
mòn là đáp ứng thị hiếu quen thuộc và nhỏ hẹp, yếu tố cạnh tranh hầu nhƣ
không có. Vì vậy, khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị
trƣờng, các làng nghề nhất là làng nghề truyền thống đã đứng trƣớc những
khó khăn không nhỏ và nhiều làng nghề đã lâm vào thời kỳ điêu đứng. Tuy
nhiên, các sản phẩm thuộc nhóm hàng thủ công mỹ nghệ có thị trƣờng tiêu
thụ phong phú, đa dạng và rộng lớn. Sản phẩm của các làng nghề sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của ngƣời dân địa
phƣơng trong nƣớc, trong đó nhu cầu để xuất khẩu và bán cho khách tham
quan du lịch thƣờng chiếm tỷ trọng lớn.
- Hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu ở quy mô hộ
gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tƣ
nhân.
+ Trong lịch sử cũng nhƣ hiện nay, hình thức tổ chức sản xuất – kinh
doanh phổ biến trong các làng nghề là hộ gia đình. Với hình thức này, hầu
16
nhƣ tất cả các thành viên trong hộ đều đƣợc huy động vào làm những công
việc khác nhau của quá trình sản xuất - kinh doanh. Ngƣời chủ gia đình
thƣờng đồng thời là ngƣời thợ cả, mà trong số họ có không ít là nghệ nhân.
Tuỳ theo nhu cầu công việc, hộ gia đình có thể thuê mƣớn thêm lao động
thƣờng xuyên hoặc thời vụ. Tổ chức sản xuất - kinh doanh theo hộ gia đình
đảm bảo đƣợc sự gắn bó giữa quyền lợi và trách nhiệm, huy động đƣợc mọi
lực lƣợng có khả năng lao động tham gia sản xuất - kinh doanh, tận dụng
đƣợc thời gian và nhu cầu đầu tƣ thấp (sử dụng ngay nhà ở làm nơi sản xuất).
Đây là hình thức tổ chức thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ. Tuy nhiên, mô
hình này lại hạn chế rất nhiều đến khả năng phát triển sản xuất - kinh doanh.
Mỗi gia đình không đủ sức nhận hợp đồng lớn, không mạnh dạn cải tiến sản
phẩm, không đủ tầm nhìn để định hƣớng nghề nghiệp hoặc vạch ra chiến lƣợc
kinh doanh.
+ Tổ sản xuất là hình thức hợp tác, liên kết một số hộ gia đình cùng sản
xuất - kinh doanh một mặt hàng. Đây chính là hình thức sản xuất cũng đƣợc
phát triển trong các làng nghề, vì nó làm tăng sức mạnh cho từng thành viên
để phát triển sản xuất - kinh doanh. Các HTX đƣợc phát triển mạnh ở các làng
nghề trong thời kỳ tập trung - bao cấp trƣớc đây và đã bị tan rã hầu hết trong
những năm đầu chuyển sang cơ chế thị trƣờng. Hiện nay một số HTX đƣợc
thành lập lại hoặc chuyển đổi hình thức hoạt động mới, chỉ đảm nhiệm công
việc dịch vụ đầu vào và đầu ra cho sản xuất của các hộ gia đình, đồng thời
đứng ra bảo trợ, giúp đỡ trong phạm vi hạn chế để các hộ gia đình có thể tiếp
cận đƣợc với các nguồn vốn tín dụng chính thức.
+ Các doanh nghiệp tƣ nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH),
công ty cổ phần đƣợc phát triển từ một số tổ sản xuất, hoặc một số hộ gia đình
sản xuất kinh doanh khá đã bắt đầu hình thành ở nhiều làng nghề. Ở một số
làng nghề, hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh này tuy không chiếm tỷ
trọng lớn về số lƣợng lao động, nhƣng lại đóng vai trò là trung tâm liên kết
mà các hộ gia đình là các vệ tinh, thực hiện các hợp đồng đặt hàng với các hộ
17
gia đình, giải quyết đầu ra đầu vào, nơi sản xuất của các làng nghề với các thị
trƣờng tiêu thụ khác nhau.
1.1.3.Vị trí của làng nghề trong nền kinh tế:
Những năm qua, các làng nghề truyền thống của Việt Nam có tốc độ
phát triển khá mạnh mẽ.
Nếu nhƣ năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ mới
đạt 274 triệu USD, thì năm 2006 đã đạt khoảng 650 triệu USD, năm 2008 ƣớc
tính đạt xấp xỉ 1 tỉ USD. Các mặt hàng đƣợc bán trên 100 nƣớc và vùng lãnh
thổ, chƣa kể 2 ngành gỗ, da giày xuất khẩu mỗi năm đạt giá trị hàng tỉ USD
đều có đóng góp rất lớn của các làng nghề. Ƣớc tính các làng nghề Việt Nam
đang sử dụng trên dƣới 1,5 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và từ 4 – 5 triệu
lao động thời vụ.
Rõ ràng làng nghề có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, trực tiếp giải
quyết việc làm ở nông thôn. Các làng nghề còn góp phần gìn giữ và phát triển
văn hóa truyền thống, tạo ra diện mạo đô thị hóa mới cho nông thôn, để và
làm giàu trên quê hƣơng mình.
Hiện nay, thu nhập của ngƣời lao động hƣởng lƣơng mỗi tháng ở các
làng nghề phổ biến khoảng 5 - 6 triệu đồng nói chung cao hơn nhiều so với
những ngƣời làm ruộng lúa, đặc biệt là ở vùng đất hẹp ngƣời đông nhƣ đồng
bằng sông Hồng. Đặc biệt, khu vực kinh tế làng nghề còn có thể sử dụng đƣợc
lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận.
1.1.4.Vai trò của phát triển làng nghề:
1.1.4.1.Giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở nông thôn:
Giải quyết việc làm cho ngƣời lao động là vấn đề bức xúc hiện nay đối
với cả nƣớc nói chung và ở Hà Giang nói riêng, bởi dân số và lao động tăng
nhanh, diện tích đất canh tác trên đầu ngƣời ngày càng thu hẹp, khả năng thu
hút lao động hiện rất thấp, tỷ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp cao (tỷ lệ thất
nghiệp hiện chiếm trên 6% và tỷ lệ lao động không có việc làm thƣờng xuyên
18
chiếm khoảng 30%). Đặc biệt khu vực nông thôn với gần 80% dân số và lao
động đang sinh sống ở đó, thì vai trò của các làng nghề đóng góp vào giải
quyết việc làm cho ngƣời lao động là rất quan trọng. Trong các ngành nghề
thủ công truyền thống, lao động sống thƣờng chiếm tỷ lệ tới 60 - 65% giá
thành sản phẩm, việc phát triển các làng nghề sẽ phù hợp với yêu cầu giải
quyết việc làm cho ngƣời lao động đang ngày càng dƣ thừa ở nông thôn.
Không những thu hút lao động dƣ thừa ở gia đình mình, làng xã mình, mà còn
thu hút nhiều ngƣời lao động từ các địa phƣơng khác đến làm thuê. Không
những thế, ngành chế biến lƣơng thực- thực phẩm tạo điều kiện cho ngành
chăn nuôi phát triển. Ngành sản xuất tái chế các sản phẩm tạo điều kiện cho
mạng lƣới thu gom nguyên liệu, phế liệu phát triển.
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội nhập
kinh tế thế giới, đặc biệt khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của
Tổ chức thƣơng mại quốc tế (WTO), sức ép dƣ thừa lao động ở nông thôn và
sự chuyển dịch lao động ra thành phố ngày càng lớn, chênh lệch về thu nhập
giữa nông thôn và thành thị có nguy cơ ngày một gia tăng, trong bối cảnh đó,
việc phát triển các làng nghề và ngành nghề nông thôn không chỉ ngày càng
quan trọng đối với khu vực nông thôn mà còn góp phần phát triển bền vững
nền kinh tế xã hội chung của cả nƣớc.
Đến nay mặc dù chƣa có số liệu nào chính thức tổng kết đóng góp của
các làng nghề (đƣợc định nghĩa theo thông tƣ 116/2006/TT-BNN của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đối với sự phát triển của kinh tế xã hội
của đất nƣớc, tuy nhiên theo kết quả của dự án điều tra lập bản đồ ngành nghề
thủ công năm 2002 (MARD-JICA), Việt Nam có 2017 làng nghề (theo tiêu
chí trên 20% số hộ trong làng tham gia sản xuất, không bao gồm các làng
nghề chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản, vật liệu xây dựng…), trong đó
làng nghề mây tre đan chiếm số lƣợng lớn nhất với 713 làng (24%), sau là dệt
vải với 432 làng (14,5%), chế biến gỗ 342 làng (11,5%), thêu ren 341
làng(11,5%)… Các làng nghề tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng
19
(chiếm 80%), tạo thêm việc làm và lao động cho khoảng 1,4 triệu lao động.
Sản phẩm của làng nghề Việt Nam đƣợc tiêu thụ cả trong nƣớc và xuất khẩu
sang 136 quốc gia trên thế giới với kim ngạch lên tới 750 triệu USD (năm
2007).
1.1.4.2.Tăng giá trị tổng sản phẩm hàng hóa cho nền kinh tế:
Tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp nông thôn nói chung và các làng
nghề nói riêng, hàng năm luôn sản xuất ra một khối lƣợng sản phẩm hàng hóa
lớn, đóng góp vào tăng trƣởng nền kinh tế quốc dân nói chung, cho từng địa
phƣơng nói riêng. Sản phẩm của các làng nghề là nhân tố quan trọng thúc đẩy
phát triển sản xuất hàng hóa ở nông thôn.
Tỷ trọng sản phẩm hàng hóa ở các làng nghề cao hơn rất nhiều so với
các làng thuần nông. Ở những địa phƣơng có nhiều làng nghề thì kinh tế hàng
hóa ở nông thôn phát triển hơn so với các địa phƣơng không có làng nghề
hoặc có ít làng nghề hơn.
1.1.4.3.Góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Các làng nghề ngày càng phát triển, mở rộng góp phần quan trọng đối
với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hƣớng công nghiệp
hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH), làm cho tỷ trọng lao động và sản phẩm nông
nghiệp ngày càng giảm xuống, tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ
ngày càng tăng lên. Đồng thời, nó còn đóng vai trò tích cực trong việc thay
đổi tập quán từ sản xuất nhỏ, độc canh, mang tính tự túc tự cấp sang sản xuất
hàng hóa, hoặc tiếp nhận công nghệ mới có liên quan đến nghề có nhiều thuận
lợi so với nông dân ở các làng thuần nông.
Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
trong các làng nghề cũng thuận lợi, bởi ngƣời dân ở đây đã quen với tập quán
kinh doanh, với kinh tế hàng hóa, sản xuất vì nhu cầu của thị trƣờng. DNNVV
trong các làng nghề dễ dàng tiếp cận với kinh doanh lớn, công nghiệp lớn
20