Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

TIỂU LUẬN TÌNH HUỐNG GIẢI QUYẾT VẤN NẠN KHAI THÁC CÁT TRÁI PHÉP TRÊN SÔNG CẦU TẠI XÃ A, HUYỆN B, TỈNH BẮC NINH, NĂM 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.4 KB, 23 trang )

BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
NGẠCH CHUYÊN VIÊN

TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ

GIẢI QUYẾT VẤN NẠN KHAI THÁC CÁT TRÁI PHÉP TRÊN
SÔNG CẦU TẠI XÃ A, HUYỆN B, TỈNH BẮC NINH, NĂM 2018

Họ và tên: Lê Đăng Thắng
Ngày tháng năm sinh: 23/08/1993
Nơi sinh: Yên Phong, Bắc Ninh
Đơn vị công tác: UBND xã Tam Giang
huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh

Hà Nội - 2018


BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

LỚP BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
NGẠCH CHUYÊN VIÊN

TÌNH HUỐNG QUẢN LÝ

GIẢI QUYẾT VẤN NẠN KHAI THÁC CÁT TRÁI PHÉP TRÊN
SÔNG CẦU TẠI XÃ A, HUYỆN B, TỈNH BẮC NINH, NĂM 2018


Họ và tên: Lê Đăng Thắng
Ngày tháng năm sinh: 23/08/1993
Nơi sinh: Yên Phong, Bắc Ninh
Đơn vị công tác: UBND xã Tam Giang
huyện Yên Phong - tỉnh Bắc Ninh

Hà Nội – 2018


MỤC LỤC
Trang
I. Phần mở đầu......................................................................................................
1
1. Lý do chọn tình huống........................................................................................
1
2. Mục đích nghiên cứu..........................................................................................
2
3. Ý nghĩa đối với hoạt động quản lý nhà nước.....................................................
2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................
2
II. Phần nội dung..................................................................................................
3
1. Nội dung tình huống...........................................................................................
3
1.1. Hoàn cảnh xảy ra tình huống...........................................................................
3
1.2. Mô tả tình huống.............................................................................................
4
2. Phân tích tình huống...........................................................................................

5
2.1. Cơ sở lý luận....................................................................................................
5
2.2. Phân tích diễn biến tình huống........................................................................
6
2.3. Nguyên nhân dẫn đến tình huống....................................................................
8


2.4. Hậu quả của tình huống...................................................................................
9
3. Xử lý tình huống.................................................................................................
11
3.1 Mục tiêu xử lý tình huống................................................................................
11
3.2 Đề xuất các phương án tối ưu để giải quyết tình huống...................................
13
3.3 Các giải pháp cụ thể thực hiện phương án đã lựa chọn....................................
14
4. Khuyến nghị và đề xuất......................................................................................
15
4.1 Khuyến nghị với các cơ quan Đảng, Nhà nước................................................
15
4.2 Khuyến nghị với các cơ quan chức năng..........................................................
16
III. Phần kết luận..................................................................................................
18
Tài liệu tham khảo................................................................................................
19



I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn tình huống
Cát, sỏi là loại khoáng sản có vai trò quan trọng, thiết yếu trong xây
dựng và cơ bản đã được quản lý, khai thác, sử dụng theo quy hoạch và quy
định của pháp luật về khoáng sản. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị
số 03/CT-TTg ngày 30/3/2015 về tăng cường hiệu lực thực thi chính sách,
pháp luật về khoáng sản. Theo đó, đã yêu cầu các Bộ, ngành, các địa phương
thực hiện nhiều giải pháp tăng cường quản lý, ngăn chặn hoạt động khai thác
khoáng sản trái phép, trong đó có cát, sỏi lòng sông
Tuy nhiên, nhưng năm gần đây tình trạng khai thác cát trái phép trên
sông cầu đoạn qua địa phận xã A - huyện B – tỉnh Bắc Ninh lại tái diễn với
diễn biến hết sức phức tạp, nhức nhối. Hàng chục tàu hút cát ngày đêm hoành
hành, vài chục ha đất bãi bồi ven sông đã bị sạt lở và mối nguy hiểm cận kề
hơn cả suốt mùa mưa bão đó là nhiều vị trí đê, kè trọng yếu bị đe dọa nghiêm
trọng, ảnh hưởng đến khả năng chống lũ. Điều này tác động xấu tình hình an
ninh trật tự ở địa phương, đe dọa cuộc sống và tính mạng của người dân, gây
bức xúc trong dư luận, đe dọa nghiêm trọng sự an toàn của hệ thống đê điều
và cả các di tích lịch sử ven đê.
Theo Quyết định phê duyệt quy hoạch của UBND tỉnh Bắc Ninh, toàn
huyện B chỉ được quy hoạch 6 bãi tập kết cát, sỏi và vật liệu xây dựng,
nghiêm cấm toàn bộ các hoạt động khai thác cát, sỏi trên tuyến sông Cầu. Tuy
nhiên, theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, hiện nay trên
địa bàn huyện B có đến 18 bãi tập kết và với tình trạng khai thác cát trái phép
diễn ra tràn lan như thời gian vừa qua thì không thể lường trước sẽ có bao
nhiêu ha đất bãi ven sông tiếp tục bị sạt lở và chẳng ai dám chắc hệ thống đê,
kè đi qua địa bàn vừa được Nhà nước đầu tư hàng trăm tỷ đồng tu bổ, nâng
cấp sẽ không bị đe dọa, ảnh hưởng đến khả năng phòng, chống lụt, bão trong
những năm tiếp theo. Chính vì lý do trên và từ những kinh nghiệm trong thời
gian công tác trên lĩnh vực an ninh trật tự và sự giúp đỡ của các anh chị đồng

nghiệp đi trước kết hợp với kiến thức đã học qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ
1


quản lý nhà nước ngạch chuyên viên trong thời gian qua đã giúp em chọn đề
tài “ Giải quyết việc khai thác cát trái phép lòng sông tại xã A, huyện B,
tỉnh Bắc Ninh, năm 2018” làm tiểu luận cuối khóa.
2. Mục đích nghiên cứu
- Giúp cho bản thân rèn luyện kỹ năng phân tích, xử lý tình huống.
- Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, vận dụng sáng tạo
đưa ra được các phương án xử lý tình huống, chọn được phương án tối ưu
nhất để xử lý vụ việc “ thấu tình đạt lý” và mang lại hiệu quả cao.
- Tăng cường tuyên truyền, phổ biết pháp luật về khai thác khoáng sản,
bảo vệ tài nguyên môi trường và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính tới cơ
quan nhà nước cấp cơ sở, cá nhân, tổ chức.
3. Ý nghĩa đối với hoạt động quản lý nhà nước
Qua thực tiễn cho thấy trong hoạt động Quản lý hành chính nhà nước,
xử lý dứt điểm vụ việc vi phạm việc giải quyết triệt để những vấn đề gây bức
súc trong dư luận quần chúng nhân dân một cách kịp thời, đúng thẩm quyền
thì không những đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của
công dân mà còn củng cố, tăng cường làm ổn định trật tự xã hội và an ninh
Quốc gia. Đồng thời qua đó các cấp, các ngành kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh
những lệch lạc, sai sót và những yếu kém trong công tác quản lý hành chính;
kiến nghị kịp thời với cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chế độ chính sách,
pháp luật sát và phù hợp với thực tiễn cuộc sống, xử lý nghiêm minh những
cá nhân, tổ chức có sai phạm hoặc né tránh trách nhiệm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn nạn khai thác cát trái phép trên sông Cầu
- Phạm vi nghiên cứu: Vụ việc này xảy ra tại xã A, huyện B, tỉnh Bắc
Ninh


2


II. NỘI DUNG
1. NỘI DUNG TÌNH HUỐNG
1.1. Hoàn cảnh xảy ra tình huống
Dọc tuyến sông Cầu qua địa phận xã A, huyện B ngày đêm sôi động
tiếng tàu, thuyền hút cát. Một số công trình phụ trợ đê nằm dọc các tuyến
sông luôn trong tình trạng phải bồi đắp, gia cố, nhiều bãi ven sông cứ theo
dòng xoáy bị cuốn trôi… Trước tình trạng khai thác cát bừa bãi đe dọa an toàn
tới hệ thống đê sông Cầu đoạn qua địa phận xã A, huyện B, Bắc Ninh và gây
ô nhiễm môi trường, mất trật tự an ninh ảnh hưởng tới môi trường và cuộc
sống của các hộ gia đình sống gần bờ sông Cầu. Trong thời gian qua đã có
nhiều phản ánh, kiến nghị được gửi tới các cơ quan chức năng có thẩm quyền
nhưng chưa giải quyết triệt để được tình trạng khai thác trái cát trái phép trên.
Trước thực trạng đó, Sở Tài nguyên và Môi trường, đơn vị quản lý Nhà
nước về khoáng sản lòng sông phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu
cho tỉnh ban hành nhiều văn bản Quy phạm pháp luật về lĩnh vực khoáng sản
như: Nghị quyết của HĐND tỉnh về quy hoạch khu vực khai thác, tập kết cát,
sỏi lòng sông và vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh. Quyết định của UBND
tỉnh phê duyệt quy hoạch khu vực khai thác, tập kết cát, sỏi lòng sông và vật
liệu xây dựng; quy định trách nhiệm người đứng đầu trong các cơ quan, đơn
vị để xảy ra tình trạng khai thác, tập kết, vận chuyển cát, sỏi lòng sông trái
phép; công tác quản lý các hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản làm vật
liệu xây dựng thông thường và sử dụng bãi tập kết vật liệu xây dựng; quy
định mức thu phí tham gia đấu giá quyền khai thác cát đen ở khu vực đã có
kết quả thăm dò thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh… Đây là cơ sở
pháp lý để các cấp, ngành chức năng, chính quyền địa phương cùng vào cuộc,
chung tay ngăn chặn triệt để nạn khai thác cát, sỏi trái phép lòng sông.

Ngày 03/01/2018 Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã ban hành Quyết
định thành lập Đoàn kiểm tra liên ngành để tiến hành kiểm tra, xử lý tình
trạng khai thác cát trái phép ở sông Cầu đoạn qua địa bàn tỉnh. Trong đó có
giao Sở Tài nguyên & Môi trường, Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn,
3


Công an tỉnh và các huyện có liên quan khẩn trương giải quyết dứt điểm tình
trạng khai thác cát trái phép ở một số khu vực đáng báo động.
1.2. Diễn biến của tình huống
Qua nghiên cứu, tìm hiểu thực tế và qua các thông tin thu thập từ công
tác quản lý tài nguyên khoáng sản trên địa bàn tỉnh, Đoàn kiểm tra xác định
trên địa bàn xã A, huyện B hiện nay đang là điểm nóng về tình trạng khai thác
cát trái phép và tình trạng “cát tặc” lộng hành diễn ra công khai. Tại địa bàn
xã A, huyện B không có tổ chức hay cá nhân nào được cấp phép khai thác
khoáng sản tại khu vực này và khu vực này do chính quyền địa phương quản
lý. Vì vậy, đây chính là hành vi khai thác cát trái phép hoặc có sự đồng thuận
của chính quyền địa phương, dung túng cho các hoạt động khai thác cát, sỏi
trái phép, việc này là làm trái với quy định của Luật Khoáng sản năm 2010 và
Luật Đê điều năm 2006.
Ngày 20/2/2018 Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh đã phối hợp với Ủy
ban huyện B tiến hành kiểm tra đột xuất trên sông Cầu đoạn qua xã A và phát
hiện hộ gia đình ông Trần Văn Long đang sử dụng thuyền, các loại máy móc,
phương tiện tiến hành khai thác cát trên sông Cầu, tiến hành kiểm tra trên
khoang thuyền có khoảng 40 m3 cát. Tiến hành làm việc với ông Trần Văn
Long đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh đã phát hiện như sau:
Tại thời điểm kiểm tra ông Trần Văn Long không không xuất trình
được giấy phép của cơ quan có thẩm quyền về khai thác cát cũng như giấy tờ
liên quan đến phương tiện, ông Trần Văn Long chỉ xuất trình được hợp đồng
thuê đất số 08/HĐ-TĐ về cho thuê bến bãi bồi sông do Ủy ban nhân dân xã A

ký cho phép thuê, đồng thời việc khai thác cát của hộ ông Trần Văn Long
cũng gây sạt lở nghiêm trọng, ảnh hường môi trường tại khu vực khai thác.
Về hợp đồng thuê đất của ông long xuất trình, ngày 10/8/2013, Ủy
ban nhân dân xã A đã ký hợp đồng số 08/HĐ-TĐ cho thuê bến bãi bồi sông để
cho hộ ông Trần Văn Long là người dân tại địa phương được sử dụng bãi bồi
làm nơi tập kết cát sỏi, vật liệu xây dựng và khai thác cát trên sông Cầu, thuộc
địa phận xã A Diện tích khai thác cát là 04 ha, dọc theo bờ sông Cầu. Hộ ông
4


Trần Văn Long có trách nhiệm hằng năm nộp vào ngân sách xã A với số tiền
30.000.000 đồng/ha/năm. Số tiền này Ủy ban nhân dân xã A sẽ được sử dụng
vào mục đích xây dựng các công trình phúc lợi tại địa phương và hỗ trợ một
số gia đình chính sách trên địa bàn xã.
Trong các năm qua, hộ ông Trần Văn Long vẫn khai thác cát tại khu
vực trên và đã thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký với Ủy ban nhân
dân xã A. Cụ thể, từ năm 2013 đến hết năm 2017, hộ ông Trần Văn Long đã
nộp cho ngân sách Ủy ban nhân dân xã A với số tiền là 480.000.000 đồng.
Hiện tại, hộ gia đình ông Trần Văn Long vẫn đang khai thác cát bằng thuyền
và sử dụng máy hút tại sông Cầu thuộc xã A.
Đoàn kiểm tra của tỉnh đã lập biên bản vụ việc và ông Trần Văn Long
đã ký xác nhận.
Khi đoàn làm việc với Ủy ban nhân dân xã A, thì chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã A cũng đã xác nhận có hợp đồng cho hộ ông Trần Văn Long khai
thác 04 ha trên sông Cầu, thuộc xã A và theo hợp đồng ông Trần Văn Long
phải nộp vào ngân sách xã 30.000.000 đồng/ha/năm để xây dựng các công
trình phúc lợi tại địa phương và hỗ trợ các gia đình chính sách tại xã. Việc này
đã được Hội đồng nhân dân xã A thông qua bằng Nghị quyết số
09/NQ/HĐND ngày 05/6/2013.
2. PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

2.1 Cơ sở lý luận
- Luật Khoáng sản 2010
- Luật Bảo vệ môi trường
- Luật Ngân sách
- Luật đất đai năm 2013
- Thông tư số 01/2016/TT-BTNMT ngày 13/01/2016 quy định kỹ thuật
về công tác thăm dò cát, sỏi lòng sông và đất, đá làm vật liệu san lấp.
- Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29/11/2016 quy định chi tiết thi
hành một số điều của luật khoáng sản
- Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/4/2017 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản
5


2.2 Phân tích diễn biến tình huống
Trong thời gian qua, một số cá nhân, doanh nghiệp khai thác khoáng
sản trên địa bàn tỉnh đã tiến hành khai thác cát không đúng quy định của pháp
luật về khoáng sản, đặc biệt là vi phạm các quy định về môi trường đã gây
nhiều bức xúc cho nhân dân tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh. Trên
sông Cầu qua địa bàn các huyện hầu hết xảy ra nạn khai thác cát trái phép,
nhiều đoạn sông đã bị sạt lở, ảnh hưởng đến đê điều, phá hủy đất canh tác của
dân. Việc này cũng bắt nguồn từ nhu cầu bức xúc về vật liệu xây dựng trong
giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay, phần do thiếu hiểu biết về pháp luật của
một số người dân, đồng thời có sự buông lỏng quản lý, tiếp tay của chính
quyền địa phương.
Trở lại vụ việc khai thác cát của hộ gia đình ông Trần Văn Long tại
sông Cầu, được Hội đồng nhân dân xã A ra nghị quyết cho phép khai thác cát
và Ủy ban nhân dân xã A ký hợp đồng cho khai thác cát trái quy định. Vì vậy
cần phải xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm để đảm bảo sự nghiêm minh của
pháp luật, đồng thời tuyên truyền các quy định pháp luật về khai thác khoáng

sản và bảo vệ môi trường tới các cấp xã, phường đặc biệt là các huyện nơi
đang diễn ra hoạt động khai thác cát nói riêng và khai khác khoáng sản nói
chung.
Qua trao đổi thông tin với Ủy ban nhân dân xã A, đại diện Đoàn kiểm
tra đã khẳng định, việc xã A cho phép hộ gia đình ông Trần Văn Long khai
thác cát là trái quy định của Luật Khoáng sản, đồng thời việc thu vào ngân
sách xã từ hợp đồng cho khai thác cát với số tiền là 40.000.000đ/ha/năm là
trái quy định của Luật Ngân sách.
Tại Khoản 2 Điều 82 Luật Khoáng sản năm 2010 có quy định:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp Giấy phép thăm dò khoáng sản, Giấy
phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn,
khoáng sản tại cac khu vực có khoáng sản nhỏ lẻ đã được Bộ Tài nguyên và
Môi trường khoanh định và công bố; Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản.
Đồng thời tại khoản 1, Điều 82 của Luật Khoáng sản 2010 có quy định:
Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép thăm dò khoáng sản, Giấy phép
khai thác khoáng sản không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
6


Tại Điều 5 của Luật Khoáng sản 2010 quy định:
1. Địa phương nơi có khoáng sản được khai thác được Nhà nước điều
tiết khoản thu từ hoạt động khai thác khoáng sản để hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Tổ chức cá nhân khai thác khoáng sản có trách nhiệm
a. Hỗ trợ chi phí đầu tư nâng cấp, duy tu, xây dựng hạ tầng kỹ thuật sử
dụng trong khai thác khoáng sản và xây dựng công trình phúc lợi cho địa
phương có khoáng sản được khai thác theo quy định của pháp luật.
b. Kết hợp khai thác với xây dựng hạ tầng kỹ thuật, bảo vệ, phục hồi
môi trường theo dự án đầu tư khai thác khoáng sản; nếu gây thiệt hại đến hạ
tầng kỹ thuật, công trình, tài sản khác thì tùy theo mức độ thiệt hại phải có
trách nhiệm sửa chữa, duy tu, xây sựng mới hoặc bồi thường theo quy định

của pháp luật.
c. Ưu tiên sử dụng lao động địa phương vào khai thác khoáng sản và
các dịch vụ có liên quan;
d. Cùng với chính quyền địa phương bảo đảm việc chuyển đổi nghề
nghiệp cho người dân có đất bị thu hồi để khai thác khoáng sản.
3. Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho tổ chức, cá nhân đang sử
dụng đất bị thu hồi để thực hiện dự án khai thác khoáng sản được thực hiện
theo quy định của pháp luật về đất đai và các quy định khác có liên quan.
Qua kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã thấy có một số tổ chức, cá nhân vi
phạm như sau:
Việc hội đồng nhân dân xã A đã thông qua Nghị quyết 09/NQ/HĐND
ngày 05/6/2013 và Ủy ban nhân dân xã A đã ký hợp đồng số 08/HĐ-TĐ ngày
10/08/2013 cho hộ ông Trần Văn Long khai thác thác cát là trái quy định của
Luật Khoáng sản năm 2010.
Hộ gia đình ông Trần Văn Long khai thác cát tại sông Cầu, thuộc xã A
không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp là vi phạm quy định của
Luật Khoáng sản 2010, trong quá trình khai thác cát đã gây sạt lở, ảnh hưởng
đến môi trường là vi phạm các quy định của Luật Bảo vệ môi trường.
7


Việc khai thác cát của hộ gia đình ông Trần Văn Long tại sông Cầu,
được Hội đồng nhân dân xã A ra nghị quyết cho phép khai thác cát và Ủy ban
nhân dân xã A ký hợp đồng cho khai thác cát trái quy định. Vì vậy cần phải
xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật,
đồng thời tuyên truyền các quy định pháp luật về khai thác khoáng sản và bảo
vệ môi trường tới các cấp xã, phường đặc biệt là các quận huyện nơi đang
diễn ra hoạt động khai thác cát nói riêng và khai khác khoáng sản nói chung.
2.3 Nguyên nhân của vụ việc
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc khai thác cát trái phép trên sông

Cầu gây sạt lở, ảnh hưởng môi trường, trong đó có thể xác định một số
nguyên nhân khách quan và chủ quan cơ bản sau:
Nguyên nhân khách quan:
Các nguyên nhân khách quan dẫn đến tình huống nêu trên bao gồm
các nguyên nhân xuất phát từ tính tất yếu của quá trình xây dựng nền kinh tế,
nhu cầu vật liệu lớn trong khi đó tài nguyên khoáng sản sẵn có ở một số địa
phương. Thêm vào đó nhà nước chưa có những quy hoạch chặt chẽ để quản lý
tài nguyên.
Bộ máy chính quyền cấp xã lâu nay chưa được quan tâm đúng mức,
thậm chí có thể nói là bị xem thường, coi nhẹ. Công tác tuyển dụng cán bộ,
công chức, viên chức cấp xã không chú trọng chuẩn mực trình độ văn hóa,
trình độ chuyên môn - nghiệp vụ nhất định; Thường hay tuyển dụng bằng
“lòng nhiệt huyết” và “lòng nhiệt tình” của con người. Vi vậy đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức cấp xã vừa thiếu trình độ văn hóa, vừa yếu về trình độ
chuyên môn nghiệp vụ.
Nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất: Do nhu cầu vật liệu xây dựng lớn, tài nguyên sẵn có, thêm
vào đó người dân chưa nhận thức pháp luật về khoáng sản, chưa được chính
quyền địa phương hướng dẫn cụ thể để lập hồ sơ khai thác theo quy định,
nghĩ rằng việc khai thác đã được Ủy ban nhân dân xã A cho phép là đủ.
8


Thứ hai: Do Ủy ban nhân dân xã A chưa nắm rõ các quy định của
pháp luật về khoáng sản. Trong đó cũng phải kể đến năng lực chuyên môn,
tham mưu của cán bộ, công chức cấp xã dẫn đến việc cho phép khai thác cát
vượt thẩm quyền.
Thứ ba: Công tác quản lý của một số sở, ngành, địa phương còn chưa
quyết liệt, sự phối hợp giữa các địa phương và cơ quan chức năng nơi có
tuyến sông giáp ranh giữa các xã, huyện chưa chặt chẽ và thường xuyên.

Thứ tư: Do sự thiếu quản lý, kiểm tra giám sát của Ủy ban nhân dân
huyện B trong hoạt động khai thác khoáng sản đó là tài nguyên cát trên địa
bàn huyện
Thứ năm: Do công tác tuyên truyền pháp luật về tài nguyên và môi
trường chưa được sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân.
Thứ sáu: Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng cát, sỏi trong xây dựng tăng
mạnh, việc khai thác cát, sỏi cho thu nhập cao so với nghề nông, nghề chài
lưới cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các cá nhân có tàu, thuyền trên
sông không được cấp phép vẫn tìm mọi cách để khai thác cát, sỏi.
2.4 Hậu quả của việc khai thác cát trái phép
Ông Trần Văn Long đã khai thác cát trên sông Cầu không có giấy
phép là vi phạm pháp luật, việc khai thác cát, sỏi trái phép không những làm
cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây tình trạng xói mòn, sạt lở bờ sông, thu
hẹp đất liền, thay đổi dòng chảy tự nhiên mà còn ảnh hưởng đến các công
trình ven sông, ven đê, tác động xấu đến môi trường. Đồng thời gây nguy
hiểm cho tính mạng, tài sản của người dân sinh sống ở khu vực xung quanh
và các phương tiện giao thông đường thủy, cũng như gây mất an ninh, trật tự
và bức xúc trong dư luận xã hội.
Việt hút cát trái phép tràn dẫn đến hệ quả là lượng cát bị hút quá nhiều
tại một vị trí, nhất là nạo vét thông luồng, mực nước tại đó và thượng nguồn
sẽ bị giảm. Độ dốc đáy sông và mặt nước tăng lên nên vận tốc dòng chảy
cũng tăng theo, gây xói lở đáy và làm lộ ra các chỗ nông khác ở khu vực
thượng nguồn. Lòng sông bị hạ thấp còn dẫn đến mực nước ngầm hai bên bờ
9


sông bị hạ, gia tăng tác động xấu của hạn hán; một số cây trồng ở hai bên có
thể bị chết và tạo ra những thay đổi đến hệ sinh thái. Hạ thấp mực nước ngầm
còn ảnh hưởng đến hoạt động khai thác nước ngọt phục vụ sinh hoạt của dân
cư. Ngoài ra, dòng sông bị tụt khiến chân công trình hai bên bờ sông bị lộ và

nhanh chóng hư hỏng.
Việc Ủy ban nhân dân xã A ký hợp đồng cho hộ ông Trần Văn Long
khai thác cát sẽ tạo tiền lệ cho một số người dân khác có thể làm theo hộ ông
Trần Văn Long đó là chỉ cần xin phép với Ủy ban nhân dân xã, không lập hồ
sơ xin phép khai thác cát trình cơ quan có thẩm quyền cấp phép theo quy định
cua pháp luật. Điều này sẽ rất nguy hiểm, bởi việc khai thác cát trái phép tràn
lan, không đúng quy hoạch, đúng quy trình khai thác cát sẽ gây các hiện xâm
thực bờ sông, ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn người dân sống hai bờ sông
và đê điều.
Niềm tin của nhân dân địa phương đối với chính sách pháp luật về
khoáng sản có thể bị ảnh hưởng, cho rằng các cơ quan nhà nước đã cấp phép
khai thác cát cho hộ ông Trần Văn Long đã gây sạt lở bờ sông và việc đó đã
được các cơ quan nhà nước bao che, dung túng ông Trần Văn Long.
Tóm lại, có thể thấy rằng sự việc khai thác cát của ông Trần Văn Long
tuy đơn giản nhưng đã để lại những người tham gia trong công tác quản lý
nhà nước về khoáng sản nhiều suy nghĩ. Việc quản lý tài nguyên khoáng sản ở
cấp cơ sở chưa được chú trọng nhưng có sự vượt thẩm quyền để việc khai
thác cát xảy ra trái luật và ảnh hưởng môi trường.
Tuy nhiên có những nguyên nhân chủ quan và khách quan. Do vậy, cần
thiết phải có biện pháp giải quyết kịp thời, đúng đắn, đảm bảo đúng pháp luật,
nhưng cũng phải vừa có tính tuyên truyền, phổ biến pháp luật vừa hợp tình
hợp lý để giải quyết vụ việc trên.
3. XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
3.1. Mục tiêu xử lý tình huống
Hoạt động khai thác cát trái phép diễn ra ở hầu hết các huyện trên địa
bàn tỉnh nơi sông Cầu chảy qua, mục đích khai thác cát để phục vụ xây dựng,
10


tận thu nguồn tài nguyên có sẵn tại địa phương để khai thác tạo nguồn thu cho

xã. Tuy nhiên về góc độ quản lý nhà nước thì việc làm trên đã vi phạm các
quy định về quản lý hoạt động khoáng sản, vi phạm thẩm quyền, đặc biệt là
việc khai thác cát trái phép không đúng quy hoạch, không đúng quy trình sẽ
gây nguy cơ sạt lở bờ sông, các công trình thủy lợi, đất canh tác sản xuất của
dân, nguy hiểm hơn là ảnh hưởng đến tài sản, tính mạng của người dân ở hai
bờ sông khi mùa mưa lũ đến. Có thể xác định mục tiêu chung để giải quyết
tình huống này là:
Mục tiêu đầu tiên: cần đạt được khi giải quyết tình huống là giải quyết
đúng và hợp lý các sai phạm của tổ chức, cá nhân trong quá trình khai thác
cát. Xác định đây là hiện tượng phổ biến nảy sinh trong lĩnh khai thác khoáng
sản cụ thể là khai thác cát do đó dẫn đến không ít bức xúc trong nhân dân do
vậy cần được xử lý triệt để và kiến nghị biện pháp giải quyết tình huống trên
cơ sở các quy định của pháp luật về khoáng sản, bảo vệ môi trường.
Mục tiêu thứ hai là: Xử lý tình huống góp phần tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa trong việc quản lý và khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo
vệ môi trường và bảo vệ đê điều: Đây là mục tiêu cơ bản nhất, bao trùm nhất
để Đoàn kiểm tra xử lý tình huống này. Để thực hiện được mục tiêu này, các
cơ quan hành chính Nhà nước và cán bộ, công chức hành chính có thẩm
quyền giải quyết vụ việc phải thực sự am hiểu chính sách, pháp luật về lĩnh
vực tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường, bảo vệ đê điều của Đảng và
Nhà nước ta, nắm chắc các lý do thực tế của tình huống để phân tích, lựa chọn
quy phạm pháp luật và ra văn bản áp dụng quy phạm pháp luật đúng đắn,
đồng thời phải có biện pháp tổ chức thi hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý
vi phạm. Tại khoản 2 Điều 81 Luật Khoáng sản năm 2010 có quy định:
Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã trong phạm vi
nhiệm vụ quyền hạn của mình có trách nhiệm:
Giải quyết theo thẩm quyền cho thuê đất hoạt động khoáng sản, sử
dụng hạ tầng kỹ thuật và các vấn đề khác có liên quan cho tổ chức, cá nhân
được phép hoạt động khoáng sản tại địa phương theo quy định của pháp luật;
11



thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, khoáng sản chưa khai thác, tài
nguyên thiên nhiên khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm an ninh, trật
tựan toàn xã hội tại khu vực có khoáng sản; Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp
trên trực tiếp tình hình hoạt động khoáng sản trên địa bàn, Tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
pháp luật về khoáng sản theo thẩm quyền.
Trong quá trình giải quyết vụ việc phải bảo đảm quyền và lợi ích chính
đáng của nhà nước, xã hội, cá nhân và tổ chức đồng thời giải quyết hài hòa lợi

ích kinh tế và lợi ích xã hội giữa cơ quan nhà nước. Đây là mục tiêu được xác
định nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc được hợp tình, hợp lý, giảm
bớt nguy cơ người dân có thể khiếu kiện vượt cấp, dẫn đến xảy ra các điểm
nóng như các vụ việc tranh chấp về đất đai ở các địa phương trong thời gian
gần đây. Để thực hiện được mục tiêu này, các cơ quan và cán bộ, công chức
hành chính có thẩm quyền cần phải nghiên cứu các chính sách của Nhà nước
đối với người dân và địa phương nơi có mỏ khoáng sản; các quy định phân
cấp quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản cho địa phương các cấp,
nhằm tuyên truyền các quy định pháp luật về địa phương và nhân dân trong
khu vực cùng phối hợp với cơ quan nhà nước các cấp trong trong tác quản lý
nhà nước về khoáng sản.
Đảm bảo tính khả thi của quyết định xử lý hành chính, các yêu cầu
của cơ quan cấp trên: Đây là yêu cầu đặt ra nhằm đảm bảo hiệu lực thực tế
của quyết định giải quyết, đảm bảo thi hành được quyết định trong thực tế.
Điều này đỏi hỏi cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết phải điều tra,
nghiên cứu toàn diện các quy định của pháp luật liên quan đế hoạt động
khoáng sản, cũng như tìm ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan để từ đó
đưa ra được giải pháp vừa hợp pháp, vừa hợp tình, hợp lý, có đầy đủ các
phương tiện thực hiện và điều kiện để thực thi quyết định và phải đảm đúng

nguyên tắc, đúng thẩm quyền pháp luật.

12


Các mục tiêu trên có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, không
thể vì đạt được mục tiêu này mà loại trừ mục tiêu khác. Trong đó, mục tiêu
thứ nhất phải là mục tiêu hàng đầu, bắt buộc phải thực hiện được.
3.2. Xây dựng và lựa chọn phương án, giải pháp tối ưu để xử lý tình
huống
Sau vụ việc xảy ra, đoàn kiểm tra của Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức
thảo luận, xem xét giải trình của Ủy ban nhân dân xã A và báo cáo của hộ ông
Trần Văn Long và căn cứ trên cơ sở quy định của pháp luật đề ra 03 phương
án xử lý là:
Phương án 1:
Đình chỉ việc khai thác cát, tịch thu tang vật là thuyền, phương tiện,
máy móc, buộc khắc phục nhưng vi phạm.
Phương án 2:
Thu hồi hợp đồng ký cho khai thác cát số 08/HĐTĐ ngày 10/08/2013
của Ủy ban nhân dân xã A đã ký với hộ ông Trần Văn Long, đề nghị Ủy ban
nhân dân huyện B kiểm điểm Ủy ban nhân dân xã A về việc cho khai thác cát
trái thẩm quyền, đề nghị Hội đồng nhân dân huyện B hủy bỏ Nghị quyết số
09/NQ/HĐND ngày 05/06/2013 của Hội đồng nhân dân xã A.
Phương án 3:
Áp dụng cả 2 phương án xử lý 2 và 3 nêu trên. Riêng về việc Ủy
ban nhân dân xã A thu tiền từ khai thác cát của hộ ông Trần Văn Long có thể
thấy rằng đây là việc thu không đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên Ủy
ban nhân dân xã A đã sử dụng các khoản tiền trên là đúng mục đích, đúng tinh
thần của Nghị quyết số 09/NQ/HĐND ngày 05/06/2013 của Hội đồng nhân
dân xã A Vì vậy, qua xem xét Đoàn kiểm tra của Ủy ban tỉnh đã nhắc nhở, đề

nghị Ủy ban nhân dân xã A rút kinh nghiệm và không yêu cầu Ủy ban nhân
dân xã A nộp lại số tiền đã thu được vào ngân sách Nhà nước.
Trong 3 phương án, theo tôi phương án 3 là phương án tối ưu nhất.
Phương án hội đủ nhiều điều kiện đáp ứng được nhiều các mục tiêu, có tính
13


khả thi cao, giải quyết thấu lý, đạt tình, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp
luật. Chọn phương án này đó là:
- Đình chỉ việc khai thác cát: Điều này là cần thiết đảm bảo đúng quy
định của pháp luật.
- Buộc khắc phục vi phạm: Yêu cầu hộ ông Trần Văn Long khắc phục
sạt lở tu bổ đê điều là đảm bảo theo đúng luật khoáng sản 2010.
- Thu hồi hợp đồng ký cho khai thác cát sô 08/HĐ-TĐ ngày 10/08/2013
của UBND xã A đã ký với hộ ông Trần Văn Long
- Đề nghị HĐND huyện B hủy bỏ Nghị quyết số 09/NQ/HĐND ngày
05/06/2013 của Hội đồng nhân dân xã A.
- Đề nghị UBND huyện B kiểm điểm UBND xã A cho khai thác cát trái
thẩm quyền.
3.3 Giải pháp cụ thể thực hiện phương án đã lựa chọn
Căn cứ buổi làm việc của đoàn kiểm tra của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc
Ninh ngày 20/2/2018 và từ những nhận xét, đề xuất biện pháp xứ lý tình
huống nêu trên, cần triển khai thực hiện những công việc sau:
Yêu cầu hộ gia đình ông Trần Văn Long chấm dứt ngay việc khai thác
cát trên sông Cầu địa phận xã A, huyện B.
Trong thời hạn 30 ngày, hộ ông Trần Văn Long phải khắc phục các sự
cố sạt lở, ảnh hưởng môi trường. Giao Ủy ban nhân dân xã A giám sát việc
thực hiện khắc phục vi phạm của hộ ông Trần Văn Long và có báo cáo kết
quả cho Ủy ban nhân dân huyện B, và Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh.
Đoàn kiểm tra liên ngành của Ủy ban nhân dân tỉnh sẽ báo cáo Ủy ban

nhân dân tỉnh để có văn bản chỉ đạo một số vụ việc như sau:
Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện B chỉ đạo tổ chức kiểm điểm Ủy ban
nhân dân xã A và các cá nhân sai phạm trong việc cho phép hộ ông Trần Văn
Long khai thác cát trái thẩm quyền, chậm nhất trong vòng 30 ngày kể từ ngày
Ủy ban nhân dân tỉnh ra văn bản.
Đề nghị hội đồng nhân dân huyện B tổ chức hủy bỏ Nghị quyết Nghị
Quyết số 09/NQ/HĐND ngày 05/06/2013 của Hội đồng nhân dân xã A
14


Yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện B; Ủy ban nhân dân xã A thực hiện
các quy định được quy định tại 2 Điều 81 Luật Khoáng sản năm 2010 như
sau:
Thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ tài nguyên khoáng sản, môi
trường; bảo đảm an ninh, trật tự xã hội tại các khu vực có khoáng sản.
Giải quyết theo thẩm quyền các thủ tục giao đất, cho thuê đất, sử
dụng cơ sở hạ tầng và các vấn đề lác có liên quan cho tổ chức, cá nhân được
pháp thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tại địa phương theo quy định
của pháp luật.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản; kiểm tra,
giám giám sát và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
4. Khuyến nghị và đề xuất
4.1 Khuyến nghị với các cơ quan Đảng, Nhà nước
Cần hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về quản lý tài nguyên
khoáng sản trong đó có tài nguyên khác, loại tài nguyên lộ thiên được phân bố
nhiều ở các con sông lớn ở nước ta. Đề nghị đơn giản hóa thủ tục hành chính
trong công tác cấp phép khai thác khoáng sản, đặc biệt là loại cát xây dựng
lòng sông. Các thủ tục hành chính về cấp giấy phép khai thác cần được đơn
giản và công khai hơn nữa để người dân có điều kiện khai thác cát được tiếp
cận và được đăng ký cấp đúng thủ tục cấp phép theo quy định, tránh trình

trạng người dân ngại thủ tục cấp phép khai thác khoáng sản từ cơ quan quản
lý nhà nước, mà chuyển sang lách luật, né tránh dẫn đến vi phạm quy định
pháp luật về tài nguyên khoáng sản.
Hiện nay cán bộ phục trách tài nguyên và môi trường ở cấp xã còn
chưa thiếu và còn phải kiêm nhiệm cùng một lúc nhiều nhiệm vụ khác. Thêm
vào đó trình độ và thực tiễn áp dụng pháp luật còn chưa cao nên trong việc
tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp xã đôi lúc còn thiếu sót, không kịp thời.
Với tình hình phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, vấn đề tài nguyên
và môi trường là rất bức xúc, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 41-NQ-TW ngày
15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
15


hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, cần thể chế hóa Nghị quyết này thành các văn
bản pháp luật, trong đó mục tiêu tăng cường nhân lực về quản lý tài nguyên
và môi trường phải được chú trọng, nâng cao, đảm bảo thực hiện hiệu quả từ
trung ương đến cơ sở.
4.2 Khuyến nghị với các cơ quan chức năng
Nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động khai
thác, kinh doanh cát, sỏi trên địa bàn tỉnh, trong thời gian tới cần tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản trên diện rộng, nhất là đối
với người dân và doanh nghiệp ở các xã, phường thường xảy ra tình trạng
khai thác, vận chuyển, mua bán trái phép cát, sỏi. Tiến hành kiểm tra, rà soát,
đánh giá lại việc thực hiện quy hoạch thăm dò khai thác cát, sỏi lòng sông
trong thời gian qua nhằm đề xuất điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thăm dò,
khai thác vật liệu xây dựng thông thường trên cơ sở bảo đảm phù hợp, quản lý
chặt chẽ nguồn tài nguyên cát, sỏi; tăng cường thanh tra, kiểm tra để kịp thời
phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm trong việc khai thác cát, sỏi lòng sông
trái phép; xử lý nghiêm đối với các tàu thuyền không đăng ký, đăng kiểm, đặc
biệt là các tàu thuyền có hoạt động khai thác, vận chuyển cát, sỏi lòng sông;

kiểm tra quản lý nguồn gốc, chất lượng khoáng sản vận chuyển đi trên đường
và tiêu thụ trên địa bàn.
Đối với các văn bản quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực khoáng sản cần có hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn, cần bổ sung chế tài đối
với hành vi mua bán, vận chuyển khoáng sản trái phép.
ng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ
cán bộ làm công tác chuyên môn và quản lý nhà nước về lĩnh vực địa chất và
khoáng sản; đầu tư các trang thiết bị cơ bản phục vụ quản lý nhà nước về
khoáng sản; Đầu tư cho công tác điều tra cơ bản các khoáng sản đang cần sử
dụng để có cơ sở xây dựng quy hoạch về khoáng sản, sử dụng khoáng sản.
Cần chấn chỉnh tình trạng lập bến bãi tập kết cát, sỏi lòng sông trái
phép, chấm dứt tất cả các bến bãi tập kết cát, sỏi trái phép, không có trong
quy hoạch; khảo sát xây dựng khu vực tạm giữ phương tiện đường thủy để
16


phục vụ công tác xử lý vi phạm trong hoạt động khai thác, vận chuyển, kinh
doanh cát, sỏi lòng sông; xây dựng cơ chế quản lý hóa đơn chứng từ của các
tổ chức, doanh nghiệp; thường xuyên thanh tra, kiểm tra, theo dõi việc kê khai
nộp thuế của các tổ chức, doanh nghiệp khai thác khoáng sản để so sánh với
trữ lượng, công suất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép.
Chính quyền cơ sở cũng cần tăng cường phối hợp, tổ chức kiểm tra, xử
lý vi phạm đối với các hoạt động khai thác cát, sỏi trái phép; tăng cường công
tác kiểm tra giám sát, bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác, tổ chức
tuyên truyền, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác khoáng
sản làm các thủ tục để được cấp phép khai thác tại các điểm mỏ đã được quy
hoạch theo đúng quy định của pháp luật; tiến hành rà soát, yêu cầu các chủ
phương tiện có tàu, thuyền đang hoạt động trên địa bàn đăng ký, đăng kiểm;
trên tàu, thuyền phải có gắn biển ghi số hiệu tàu thuyền, chủ phương tiện, đơn
vị đăng ký khai thác để thuận lợi cho công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan

chức năng cũng như đơn vị khai thác…

III: KẾT LUẬN
Việc khai thác trái phép cát, sỏi trên sông và cửa biển không chỉ làm
thất thoát tài nguyên, tác động xấu đến môi trường, làm sạt lở đất đai, đê điều,
cầu cống mà còn gây thất thu cho ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến an
ninh, trật tự xã hội và an toàn giao thông đường thủy. Để xảy ra tình trạng
17


khai thác cát trái phép do vai trò quản lý của chính quyền địa phương các cấp
còn lỏng lẻo. Các tỉnh giáp ranh chung dòng sông chưa có cơ chế phối hợp
chặt chẽ, để ngăn chặn hoạt động khai thác cát trái phép. Địa phương bao che,
còn chế tài xử lý người đứng đầu vi phạm chưa kiên quyết, thậm chí còn tạo
điều kiện bến bãi cho các tàu khai thác trái phép tập kết cát.
Do đó, để khắc phục và sử lý triệt để cấn nạn này cần có sự chung tay
vào cuộc của các cấp, các ngành tăng cường phối hợp, tổ chức kiểm tra, xử lý
vi phạm, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong việc quản lý và khai
thác tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường và bảo vệ đê điều.
Trên đây là những nội dung về tình huống và phương án xử lý tình
huống xảy ra trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước rút ra
được trong quá trình công tác cộng với những kiến thức tích lũy được trong
thời gian học tập chương trình Bồi dưỡng kiến thức Quản lý nhà nước ngạch
chuyên viên năm 2018. Do kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn có hạn, nên
tiểu luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong quý thầy giáo,
cô giáo góp ý để em rút kinh nghiệm, và bài tiểu luận của em được hoàn thiện
hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

18



TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ tài nguyên và môi trường (2016), Thông tư số 01/2016/TT-BTNMT quy
định kỹ thuật về công tác thăm dò cát, sỏi lòng sông và đất, đá làm vật liệu
san lấp.
2. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016), Nghị định
số 158/2016/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật khoáng
sản.
3. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), Nghị định
số 33/2017/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên
nước và khoáng sản.
4. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2017), Nghị định
số 33/2017/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên
nước và khoáng sản
5. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Khoáng
sản.
6. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Bảo vệ
môi trường.
7. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật đê điều.
8. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Luật đất đai.
9. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Xử lý vi
phạm hành chính.
10. Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên.

19




×