A. Lý thuyết
I. Khái niệm tâm lý :
Tâm lý là tất cả các hiện tượng tinh thần nảy sinh do tác động của thế
giới khách quan vào não, được não phản ánh, nó gắn liền, điều hành, điểu
khiển mọi hoạt động, hành vi của con người.
Từ điển tiếng Việt (1998) viết: “Tâm lý là ý nghĩ, tình cảm...làm thành
thế giới nội tâm, thế giới bên trong của con người”.
Tâm lý học là ngành khoa học nghiên cứu hoạt động, tinh thần và tư
tưởng của con người (cụ thể đó là những cảm xúc, ý chí và hành động). Tâm
lý học cũng chú tâm đến sự ảnh hưởng của hoạt động thể chất, trạng thái tâm
lý và các yếu tố bên ngoài lên hành vi và tinh thần của con người.
Tâm lý học vừa được nghiên cứu một cách khoa học lẫn phi khoa học.
Tâm lý học chủ đạo ngày nay đa phần đặt nền tảng trên thuyết thực chứng,
thông qua những phân tích định lượng và sử dụng những phương pháp khoa
học để thử và bác bỏ những giả thuyết. Tâm lý học có khuynh hướng chiết
trung, sử dụng và tiếp thu kiến thức thu thập được từ nhiều ngành khoa học
khác để hiểu và lý giải hành vi của con người
II. Cơ chế ảnh hưởng của tâm lý xã hội đến tâm lý báo
chí truyền thông
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững, trong cuốn “ Truyền thông- lý thuyết
và kỹ năng cơ bản”. đã phân tích cơ chế tác động của báo chí nói riêng và
truyền thông đại chúng nói chung đến ba tầng của ý thức quần chúng bao gồm
: tầng thế giới quan, nhân sinh quan (tầng sâu nhất, vững chắc nhất), tầng ý
thức lịch sử - văn hóa, và tầng ngoài cùng, mỏng nhất, linh động nhất là dư
luận xã hội. Điều đó cho chúng ta thấy rõ rằng : một nhà báo , một nhà quản
lý báo chí truyền thông, muốn tác động hiệu quả và tạo hiệu lực cho tác phẩm,
sản phẩm báo chí của mình phải nghiên cứu các hiện tượng tâm lý xã hội
trong đó cốt lõi là tâm trạng xã hội, tâm thế xã hội, giá trị xã hội và dư luận xã
1
hội, trên cơ sở đó lý giải và dự đoán các hành vi xã hội- bao gồm cả các hành
vi tiếp nhận và phản biện xã hội với các tác phẩm, sản phẩm báo chí và các
phương tiện truyền thông đại chúng khác. Sự hình thành và tác động của tâm
lý xã hội đến từng cá nhân trong xã hội và các nhóm công chúng khác nhau
theo 4 cơ chế sau : bắt chước, đồng nhất, dạy bảo, và hướng dẫn.
+ Cơ chế bắt chước : Lý thuyết học tập xã hội và bài học về chức năng
giáo dục của báo chí truyền thông. Bắc chước là phản ánh nguyên mẫu của
hành vi, phản ứng của người khác.
+ Cơ chế đồng nhất : Câu chuyện “hình mẫu” và “thần tượng” trong thị
hiếu báo chí của giới trẻ. Cơ chế này đảm bảo sự chuyển giao kinh nghiệm cá
nhân đến đối tượng khác trong nhóm/cộng đồng một cách gián tiếp thông qua
hình thức “mẫu cá nhân”, lây nhiễm và cả bắt chước.
+ Cơ chế dạy bảo : vai trò của chuyên gia- nhà báo có thẩm quyền và uy
tín của cơ quan báo chí. Dạy bảo là hình thức tạo ra một sự tác động của một
chủ thể có quyền hoặc được thừa nhận về uy tín trong quá trình tác động đến
nhận thức, thái độ và hành vi của một nhóm người nào đó.
+ Cơ chế hướng dẫn : Các bước trong truyền thông thay đổi hành vi của
công chúng. Hướng dẫn là hình thức cao hơn của việc dạy bảo, ở đây sự dạy
bảo không phải bằng truyền đạt thông tin về nội dung, thái độ mà bằng các
tạo nên các tình huống tương ứng buộc cá nhân phải xử thế bằng hành vi và
thái độ theo sự mong muốn của người hướng dẫn.
III. Tâm lý học báo chí – bộ môn ứng dụng tâm lý học trong hoạt
động báo chí
Chủ thể của hoạt động báo chí, đối tượng tác động của hoạt động báo chí
là công chúng báo chí. Nhà báo, nhà quản lý báo chí về kiến thức và khả năng
ứng dụng tâm lý học trong nghề nghiệp và cuộc sống bao gồm :
+ Cần hiểu được bản chất của tâm lý con người, các xu hướng của tâm
lý học hiện đại.
2
+ Cần có kiến thức và kỹ năng nhận biết các mặt cơ bản trong đời sống
tâm lý con người, với các quy luật cơ bản của nhận thức, tình cảm và hành
động lý trí.
+ Có kiến thức về các giai đoạn hình thành và phát triển tâm sinh lý giao
tiếp, các quy luật trong vòng đời của mỗi người…
+ Cần có kiến thức về tâm lý học sang tạo và tâm lý học nhân cách, từ
đó có khả năng nhận diện cách sang tạo của bản thân, đồng nghiệp, ứng dụng
trong việc phát triển năng lực sang tạo của bản thân, trong nhóm làm việc và
tập thể báo chí, cũng như ứng dụng trong công tác quản lý báo chí.
+ Hiểu biết về hệ thống các quy luật của quá trình tiếp nhận nói chung
và các vấn đề về tâm lý tiếp nhận các tác phẩm, sản phẩm báo chí của công
chúng nói riêng, các nguyên tắc làm báo tiếp cận tâm lý công chúng nhằm đạt
được lỹ năng và nghệ thuật viết báo phù hợp với tâm lý công chúng.
+ Có kiến thức và kỹ năng nghiên cứu công chúng báo chí nói chúng và
nghiên cứu công chúng, bao gồm việc xác định vấn đền tâm lý cần nghiện
cứu, sử dụng các phương pháp nghiên cứu, phân tích và sử dụng các kết quả
nghiên cứu để ứng dụng trong nghề nghiệp.
. Một số hướng nghiên cứu và ứng dụng tâm lý học trong lĩnh vực báo
chí đã đem lại kết quả tích cực với nền báo chí phát triển hiện nay bao gồm:
-
Tâm lý học và vấn đề nhân cách người làm báo
Tâm lý học trong hoạt động sáng tạo của nhà báo
Tâm lý học ứng dụng trong hoạt động giao tiếp, ứng xử của nhà báo
Tâm lý học trong hoạt động tiếp nhận của công chúng đối với tác
phẩm, sản phẩm báo chí
- Tâm lý học trong quản lý báo chí
Với tình hình hiện nay thì việc tiếp cận với hoạt động sang tạo của nhà
báo và phương pháp nghiên cứu tâm lý công chúng là vô cùng cần thiết đối
với người làm báo.
IV. Tâm lý tiếp nhận của công chúng :
3
1.
Khái niệm :
Tâm lý tiếp nhận của công chúng báo chí là toàn bộ các hiện tượng tâm
lý có tính quy luật của công chúng báo chí trong quá trình họ tiếp nhận sản
phẩm báo chí.Tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí bao hàm cả quá trình lĩnh
hội, hệ thống thái độ, tình cảm và ý chí; cả những hiện tượng thuộc tâm lý cá
nhân và tâm lý xã hội quy định hành vi tiếp nhận sản phẩm báo chí của công
chúng.
2.
Bản chất của quá trình tiếp nhận sản phẩm báo chí là quá trình
lĩnh hội :
Quá trình tiếp nhận sản phẩm báo chí phụ thuộc nhiều nhất vào các
yếu tố chi phối sự lĩnh hội các vấn đề khác nhau mà các sản phẩm báo chí có
thể mang lại cho công chúng. Với hướng nghiên cứu này, X.K.Rosin khẳng
định các thuộc tính của sự lĩnh hội là cốt lõi của mọi quá trình tiếp nhận sản
phẩm báo chí của công chúng bao gồm : tính bất biến, tính trình tự, và tính
hòa hợp của nhận thức.
Tính tích cực của sự lĩnh hội là cơ sở tâm lý cho việc thu hút sự chú
ý của công chúng với kênh truyền thông đại chúng, từng sản phẩm báo chí,
từng bài báo, đoạn tin, hình ảnh, âm thanh.
V. Một số đặc điểm của quá trình tiếp nhận sản phẩm báo chí :
Đặc điểm thứ nhất : Tâm lý tiếp nhận sản phẩm báo chí là tích hợp
tâm lý cá nhân và tâm lý các nhóm công chúng báo chí cụ thể. Đặc điểm này
có một hệ quả là xu thế công chúng vừa không muốn bị áp đặt trong tiếp nhận
thông tin, vừa muốn thăm dò xem những nhận định của mình có phù hợp với
dư luận chung hay không.
Đặc điểm thứ hai : Tâm lý tiếp nhận của công chúng báo chí gắn bó
chặt chẽ với các kênh thông tin và các hình thức trao đổi thông tin trong
nhóm, cộng đồng xã hội.
Đặc điểm thứ ba : Tính thống nhất trong tiếp nhận các sản phẩm báo
chí và tác phẩm báo chí.
4
Đặc điểm thứ tư : Tâm lý tiếp nhận có tính đặc thù với các loại hình
báo chí khác nhau.
VI. Khái niệm hình ảnh:
Hình ảnh là những gì chúng ta thấy được thông qua thị giác rồi sau đó
được chuyển về não, giúp ta cảm nhận được hình ảnh đó một cách chân thực
nhất từ đó đưa ra những phản xạ, cảm nhận về hình ảnh mà ta thu nhận
*Đặc điểm của hình ảnh :
- Hình ảnh là thông tin, là sự kết hợp giữa yếu tố thông tin và yếu tố
nghị luận.
- Hình ảnh là sự tác động tương hỗ giữa ngôn ngữ hình ảnh và phát
thanh.
- Hình ảnh phản ánh con người, sự việc, hiện tượng trong trạng thái
động.
- Hình ảnh mang tính chất tài liệu xác thực.
1.
Sẽ nêu khái niệm báo in, ảnh sử dụng trong báo in.
Báo in : Thể loại báo chí xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên
giấy, có hình ảnh minh họa. Ưu điểm: tính phổ cập cao, có nội dung sâu,
người đọc có thể nghiên cứu. Nhược điểm: thông tin chậm, khả năng tương
tác hai chiều (giữa người đọc và người viết) kém. Còn gọi là báo viết, báo
giấy hay là báo chữ.
2. Nêu khái niệm video clip.
Video clip ngày nay được sử dụng khá nhiều trong báo đá phương
tiện và đặc biệt là báo hình. Video có thể là một thước phim ngắn ghi lại một
hoạt động của đời sống, xã hội, cũng có thể được chèn những bức ảnh và lồng
nhạc tạo hứng thú cho người xem.
3.
Khái niệm về ảnh báo chí :
5
Năm 1891 đã được ghi nhận như một dấu mốc về sự ra đời của nhiếp
ảnh báo chí. Hơn một trăm năm qua, thực tiễn của ảnh báo chí trên thế giới đã
không ngừng phát triển và hoàn thiện với đúng nghĩa của nó.
Ảnh báo chí là một trong những hình thức thông tin của báo chí , thông
qua việc phản ánh các hoạt động thực tiễn của đời sống xã hội , bằng những
hình ảnh cụ thể, chân thực và sinh động, nhằm mang lại cho người xem một
lượng thông tin, một giá trị tư tưởng và thẩm mỹ nhất định.
Trừ loại hình báo phát thanh không sử dụng đến hình ảnh, thì tất cả
các loại báo còn lại đều chú trọng và sử dụng rất nhiều đến ảnh báo chí.
* Ảnh tĩnh : Ảnh tĩnh chủ yếu dùng để miêu tả sự vật, quang cảnh nào
đó, hoặc chụp chân dung, thường dùng để miêu tả các sự kiện, khai mạc, triển
lãm.
Trong báo in, chủ thể trong ảnh tĩnh không có bất kỳ sự chuyển động nào
trong khi được chụp.
*Ảnh động : Là ảnh dùng để phản ánh tâm tư, tình cảm, chuyển động
của một sự vật, hiện tượng nào đó, được thể hiện thông qua một vấn đề, một
sự kiện.
+ Ảnh động trong bảo in là để chỉ chủ thể trong ảnh khi được chụp đang
thực hiện một cử chỉ, một chuyển động nhất định, làm cho bức ảnh trở nên
sống động.
+ Ảnh động được sử dụng trong video clip hay báo đa phương tiện, còn
có thể hiểu là một bức ảnh có những chuyển động thật, gần giống một clip
ngắn, tuy nhiên không có âm và dung lượng rất nhẹ, nhờ sự trợ giúp của công
nghệ.
Ảnh dữ liệu sử dụng trong báo chí là những ảnh được đưa vào mang tính
chất minh họa để giúp khán giả hình dung rõ hơn về vấn đề đang được nói tới.
6
B. Thực tiễn
I. Báo in
1. Khái niệm báo in:
Báo in là một trong những loại hình của báo chí, là phương tiện truyền
thông không thể thiếu của đời sống xã hội. Đến nay, có rất nhiều quan niệm
khác nhau về báo in.
Theo Tiến sĩ Hà Huy Phượng (Phó chủ nhiệm Khoa Báo chí- Học viện
Báo chí & Tuyên truyền): “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hình báo chí định
kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vấn đề trong đời sống xã hội thông qua
việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ấn để chuyển tải thông tin”.
Báo in còn được hiểu là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, đăng tải các
sự kiện vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi nhằm phục vụ công chúng- nhóm
đối tượng nào đó với mục đích nhất định.
Hay có thể hiểu một cách đơn giản nhất, “Báo in là một loại hình báo
chí, chuyển tải nội dung các vấn đề, sự kiện bằng văn bản, chữ viết, ký tự,
hình ảnh thông qua trang giấy cung cấp thông tin cho độc giả”.
Báo in bao gồm: báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn (theo
Luật Báo chí).
2. Tính đa phương tiện của báo in:
2.1. Tính đa phương tiện là gì?
Theo wikipedia, đa phương tiện (multimedia) là một sự kết hợp phương
tiện truyền thông (media) và các dạng nội dung (content) khác nhau.
Thuật ngữ này có thể được sử dụng như một danh từ (một phương tiện
với nhiều hình thức nội dung) hoặc như một tính từ để mô tả một phương tiện
có nhiều hình thức nội dung.
Đa phương tiện được sử dụng mang ý nghĩa tương phản với phương tiện
truyền thông sử dụng chỉ máy tính thô sơ để hiển thị như chỉ văn bản hoặc các
dạng thức truyền thống của in ấn hoặc tài liệu sản xuất thủ công. Đa phương
7
tiện bao gồm sự kết hợp văn bản (text), âm thanh (audio), ảnh tĩnh, hoạt hình,
video, link hoặc các dạng nội dung tương tác khác.
Đa phương tiện thường được ghi lại và chơi, hiển thị hoặc truy cập bằng
thiết bị xử lý nội dung thông tin, chẳng hạn như các thiết bị điện toán và điện
tử nhưng cũng có thể là một phần của một buổi biểu diễn trực tiếp.
Đa phương tiện (khi là tính từ) cũng mô tả các thiết bị đa phương tiện
điện tử được sử dụng để lưu và trải nghiệm nội dung đa phương tiện. Đa
phương tiện được phân biệt từ đa phương tiện hỗn hợp trong mỹ thuật; chẳng
hạn với âm thanh nó có phạm vi rộng lớn hơn.
Sau này, trong sử dụng thường ngày, thuật ngữ đa phương tiện dùng để
chỉ sự kết hợp điện tử phương tiện truyền thông gồm video, ảnh tĩnh, âm
thanh và văn bản theo cách có thể được truy cập tương tác.
2.2.Tính đa phương tiện của báo in.
Là loại hình báo chí ra đời đầu tiên nên tính đa phương tiện của báo in
gần như là không có. Tính đa phương tiện bao gồm sự kết hợp ít nhất của hai
trong những thành phần sau trở lên: văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đồ họa
(still image & graphic), hình ảnh động (video & animation) và gần đây nhất
đó chính là các chương trình tương tác (interative program). Nếu đúng theo
như vậy để có thể tạo thành một sản phẩm báo chí đa phương tiện thì báo in
không có những thành phần như: hình ảnh động (video & animation) và gần
đây nhất đó chính là các chương trình tương tác (interative program). Cái tốt
nhất và duy nhất báo in có thể đáp ứng và thể hiện được tính đa phương tiện
đó chính là sự kết hợp của 2 thành phần chủ yếu đó là văn bản (text), hình ảnh
tĩnh và đồ họa (still image & graphic). Vì phương thức thể hiện của báo in đó
là trên các trang giấy nên tất cả những thành phần ảnh động, video clip hay
các chương trình tương tác là không thể.
Chính vì vậy mà báo in là loại hình báo chí có tính đa phương tiện kém nhất.
Khác so với phát thanh và loại hình báo chí gây ấn tượng nhất hiện nay
là báo mạng điện tử, thì báo in không thể nào có khả năng tích hợp được âm
8
thanh (audio). Chính vì vậy mà báo in ngày càng kém hấp dẫn, thu hút hơn so
với hai loại hình báo chí trên bởi độc giả không chỉ đọc, tiếp nhận thông tin
một cách đơn thuần bằng mắt mà họ có thể được nghe thêm những thông tin
bên lề xung quanh những thông tin chính. Ngoài việc cung cấp thông tin
chính, báo mạng điện tử và phát thanh còn có thể cung cấp các chương trình
giải trí, các trò chơi, âm nhạc,.. để công chúng có thể nghe và tải về
(download). Việc này là hoàn toàn không thể trên những trang viết, trang báo
của báo in.
Báo in “thiệt thòi” hơn báo mạng điện tử rất nhiều khi loại hình mới nhất
của báo chí này còn có khả năng tích hợp hình ảnh động (animation & video).
Chính điều này đã làm cho báo in trở nên kém thuyết phục hơn rất nhiều so
với các loại hình báo chí khác. Khả năng tích hợp video clip (bao gồm ảnh
động và âm thanh) và những hình ảnh động (animation) đúng thực sự là một
“niềm mơ ước” đối với báo in. Báo in đã trở nên “lép vế” hơn rất nhiều so với
các loại hình báo chí khác.
Từ khi ra đời cho đến nay, tính tương tác là điểm yếu “cố hữu” rất khó
thay đổi của báo in so với các loại hình báo chí khác. Do được xuất bản theo
định kỳ có thể là hàng ngày trong khoảng thời gian nhất định, hay một tuần,
một tháng,.. nên tính tương tác của báo in là cực kỳ yếu. Nó không thể nào
kịp thời đem những ý kiến, đóng góp và nhận xét của độc giả đến với tòa
soạn, đến với những người phóng viên, nhà báo. Tính tương tác được thể hiện
cao nhất trên báo mạng điện tử, nơi có rất nhiều “đất diễn” để thực hiện
những chương trình thêm cho độc giả như game show hay trả lời câu hỏi, trắc
nghiệm,.. thì báo in hoàn toàn không có.Có thể nói, báo in là một loại hình
báo chí mà tính đa phương tiện của nó là vô cùng ít, thể hiện không rõ và
không có khả năng để thực hiện. Vì tồn tại trên những trang giấy nên tính đa
phương tiện của báo in được thực hiện rõ nhất đó là sự kết hợp của hai thành
phần là văn bản (text) và hình ảnh tĩnh và đồ họa (still image & graphic).
Ngoài ra những thành phần còn lại như hình ảnh động (video & animation) và
9
các chương trình tương tác (interative program) là không có. Chính vì thế mà
báo in đang trở thành loại hình báo chí ít thu hút, hấp dẫn độc giả hơn so với
các loại hình báo chí hiện tại. Điều đó làm giảm đi đáng kể một lượng lớn
công chúng đón đọc và tiếp nhận báo in vì nó rất đơn điệu và không gây ấn
tượng lớn.
3. Hình ảnh tĩnh và động trên báo in
3.1.Khái niệm
Ảnh tĩnh : Ảnh tĩnh chủ yếu dùng để miêu tả sự vật, quang cảnh nào đó,
hoặc chụp chân dung, thường dùng để miêu tả các sự kiện, khai mạc, triển
lãm.
Trong báo in, chủ thể trong ảnh tĩnh không có bất kỳ sự chuyển động nào
trong khi được chụp.
Ảnh động : Là ảnh dùng để phản ánh tâm tư, tình cảm, chuyển động của
một sự vật, hiện tượng nào đó, được thể hiện thông qua một vấn đề, một sự
kiện.Ảnh động trong bảo in là để chỉ chủ thể trong ảnh khi được chụp đang
thực hiện một cử chỉ, một chuyển động nhất định, làm cho bức ảnh trở nên
sống động.
3.2.Vai trò của hình ảnh trong một bài báo.
Nội dung của bài viết sẽ tăng được sự chú ý của bạn đọc nếu có bức ảnh
có chất lượng cộng với tít hấp dẫn phù hợp, đúng nội dung. Bao giờ ảnh, tít
dẫn và nội dung bài viết cũng có mối quan hệ mật thiết tạo nên sức mạnh bổ
trợ cho nhau tạo thành một tác phẩm báo chí hoàn hảo, có chất lượng tốt.
Nếu báo mà không có một tấm ảnh nào mà chỉ toàn chữ với chữ thì số
báo đó sẽ trở thành một quyển sách khổ lớn chứ không phải là một số báo.
Những bức ảnh sẽ có ít giá trị nếu không có sự đóng góp của nội dung bài báo
được đặt ở vị trí thích hợp. Bức ảnh không chỉ bổ sung thông tin cho bài viết
mà còn góp phần làm tăng giá trị thẩm mĩ của trang báo.
Nhìn chung, ảnh báo chí luôn góp phần quan trọng không những làm hấp
dẫn người đọc mà còn góp phần vào việc cung cấp thông tin bổ sung cho từng
10
bài viết. Ngày nay, có rất nhiều tờ báo luôn sử dụng những bức ảnh ‘‘Đinh’’
trên trang nhất, nhiều khi chiếm tới một nửa diện tích của trang báo. Bên cạnh
những tấm ảnh in cỡ lớn đó là những tít dẫn được trau chuốt và độc đáo, gây
ấn tượng và sự hiếu kỳ cho độc giả theo dõi.
Có thể khẳng định một bức ảnh dù lớn đến đâu cũng chỉ ghi lại khoảnh
khắc ấy chứ không thể mang được sức khái quát cao. Trong thông tin bằng
hình ảnh, thông tin đòi hỏi nó phải có sự gọi tên. Tít dẫn và nội dung bài viết
kết hợp cùng hình ảnh sẽ giúp người xem hiểu rõ hơn rất nhiều tính nhất quán
giữa thông tin bằng hình ảnh và thông tin bằng ngôn từ (chữ viết).
4. Khảo sát:
Báo Quân đội nhân dân:15/10-15/11
Trên báo Quân đội nhân dân hàng ngày gồm có 30-40 ảnh.
Báo có hai trang được in màu là trang 1 và trang 8. Đây là hai trang được
tập trung nhiều ảnh nhất.
Trang 1 thường có 5-6 ảnh, trong đó có 2 ảnh lớn đi kèm với các bài
quan trọng trong ngày.
Trang 8 là trang thường được in nhóm ảnh An ninh – Xã hội. Đây là
phóng sự ảnh chuyên đề của báo, phản ánh bằng ảnh những vấn đề đang nóng
của xã hội.
Do đặc thù của tờ báo thường được cấp phát cho cán bộ chiến sĩ, sĩ quan
quân đội, tờ báo mang tính chính trị nên ảnh sử dụng khá khô cứng, thiếu sự
sinh động cần có của ảnh báo chí để thu hút người đọc.
Vì vậy, độc giả thường ít quan tâm và không mua báo để đọc.
11
12
13
II. Báo đa phương tiện
1. Khái niệm báo đa phương tiện
Trong khoảng 10 năm trở lại đây, sự bùng nổ của internet đã tác động
mạnh mẽ đến đời sống xã hội của con nguời và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát
triển của báo chí thế giới.
Trong thực tế, khi một phương tiện truyền thông mới ra đời, người ta
thường quan tâm và nhắc nhiều đến sự “tồn tại” của các phương tiện truyền
thông truyền thống. Tuy nhiên, với xu thế hội tụ truyền thông mạnh mẽ như
hiện nay, các phương tiện truyền thông truyền thống và truyền thông mới lại
có xu hướng cùng tích hợp, tương tác và hỗ trợ nhau, bằng những phương
thức đa dạng và phức tạp hơn trước. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, hội tụ truyền
thông không có nghĩa là sự cộng dồn một cách máy móc các loại hình báo chí
trong cùng một cơ quan, mà thực chất trước xu thế hội tụ, một tòa soạn sẽ
phải cấu trúc, sắp xếp lại để trở thành một “guồng máy” sản xuất tin tức đáp
ứng các thị hiếu của công chúng hiện đại.
Trước đó, các loại hình báo chí truyền thống (báo in, phát thanh, truyền
hình) phát triển tương đối độc lập, mỗi loại hình có những ưu thế riêng không
bị lấn át. Nhưng internet ra đời kéo theo sự ra đời của báo mạng, thông tin
được cung cấp cho công chúng theo hình thức đa phương tiện sinh động, hấp
dẫn hơn và đang là sự lựa chọn số 1 của lớp công chúng trẻ và tiếp tục ảnh
hưởng tới lớp công chúng kế cận Tương lai báo chí thuộc về truyền thông
đa phương tiện (đi cùng sự phát triển của internet)
Có thể hiểu, “multimedia” hay “truyền thông đa phương tiện” là sự kết
hợp của ngôn ngữ viết, ảnh, video, âm thanh, thiết kế đồ họa và các phương
thức tương tác khác trên trang web nhằm truyền tải một câu chuyện, một vấn
đề một cách đa diện, mỗi hình thức thể hiện góp phần tạo nên câu chuyện
thuyết phục nhất và đầy đủ thông tin nhất. Đối với ngành báo chí nói riêng,
đặc biệt là báo điện tử và các kênh truyền hình trực tuyến, phóng sự đa
phương tiện chính là tương lai của sự phát triển.
14
Theo hình thức truyền thông thông thường (media), thông tin được
truyền – phát đi bằng cách nghe, nhìn. Ví dụ một bản tin được đăng trên báo
in, công chúng đọc tờ báo và tiếp nhận thông tin ấy. Nhưng cũng cùng thông
tin ấy, khi thể hiện chúng trên Wedsite, ngoài bản text còn đính kèm hình ảnh,
đoạn video có liên quan,… Công chúng tiếp nhận thông tin bằng nhiều giác
quan khác nhau, với những hình thức thông tin khác nhau, đó là truyền thông
đa phương tiện. Multimedia = văn bản + hình ảnh + giọng nói + âm nhạc +
video…= hiệu quả truyền thong
2. Tính đa phương tiện được thể hiện thế nào
2.1. Sự phát triển của các tổ chức truyền thông đa phương tiện
Các công ty truyền thông như viễn thông, truyền hình cáp và các khối
giải trí đang tranh giành nhau để có chân trong “thị trường” tích hợp các
phương tiện truyền thông mới. Ví dụ:
- Hãng Time Warner sát nhập với hãng American Online - Sự liên doanh
đó minh họa sinh động cho sự kết hợp các phương tiện truyền thông cũ và
mới: báo mạng và báo giấy
- Những công ty phát hành báo lớn bao gồm New York Times Co.
(www.nyt.com) và Tribune Co., nhà xuất bản của tờ Chicago Tribune
(www.tribune.com), chuyển tin chủ yếu qua mạng Internet.
- NBC (www.home.nbci.com) có một trong nhiều trang đầy tham vọng
trên Internet, và có những dự án chung về truyền hình và Internet với hãng
máy tính khổng lồ Microsoft (www.msnbc.com). Các hãng khác như CBS,
ESPN, FOX va CNN đều có những trang chính trên Internet.
"Truyền hình trên nền Internet sẽ trở nên phổ cập - bằng cớ là nhiều hãng
viễn thông lớn đang gia cố cơ sở hạ tầng cho viễn cảnh đó. Bạn sẽ được
thưởng thức tất cả các dịch vụ trên một nền duy nhất" - Bill Gates
Rõ ràng các tổ chức truyền thông đã có chung một tầm nhìn về tương lai
– kết hợp các phương tiện truyền thông và giải trí vào một phương thức
15
truyền thông mới có khả năng cung cấp sự lựa chọn tin tức bằng văn bản hay
bằng các đoạn phim và những bộ phim mới nhất bất kì khi nào được yêu cầu.
2.2.Những biểu hiện cụ thể về sản phẩm báo chí đa phương tiện
Với sự phát triển của khoa học công nghệ, các tờ báo đã biến cơ quan
báo chí của mình thành một tờ báo đa phương tiện. Một tờ báo in giờ không
đơn thuẩn chỉ khai thác mỗi mảng báo in nữa mà đã phát triển các website đi
kèm. Trên đó không chỉ đăng các bài báo đã in trên báo in mà còn cập nhật
những tin mới, đăng tải clip hay các chương trình phát thanh online. Thông
tin dưới nhiều hình thức sẽ giúp cho khán giả có nhiều lựa chọn cho mình.
- Báo giấy không thể thiếu sản phẩm báo điện tử đi kèm.
- Các tờ báo còn có thể làm đài phát thanh, kênh truyền hình và đặc biệt
là báo mobile (gửi các bản tin cho bạn đọc qua điện thoại di động)
- Dùng giao thức Internet để phát chương trình phát thanh, truyền hình
(số hóa)
Nhà báo thời truyền thông đa phương tiện (multimedia journalist) phải
có kĩ năng của nhiều loại hình báo chí, có thể tác nghiệp nhanh nhạy và sử
dụng thành thạo các sản phẩm công nghệ hỗ trợ như laptop, điện thoại di
động có định vị vệ tinh, máy ảnh, Camera…
3. Vai trò của hình ảnh dữ liệu trong video clip của
báo đa phương tiện
Thứ nhất: Chức năng thông tấn và báo chí. Đây chính là chức năng quan
trọng nhất, chi phối toàn bộ quá trình xây dựng một bộ ảnh tài liệu nói chung.
Từ đó, mỗi bộ ảnh đi sâu phản ánh một sự kiện, vấn đề hoặc con người cụ thể,
với những mối quan hệ biện chứng, diễn biến, tác động qua lại, những xung đột
và mâu thuẫn, v.v. trong một thời gian hoặc không gian xác định, từ đó làm bật
ra tư tưởng chủ đề tác phẩm. Trong rất nhiều trường hợp, người ta có thể tìm
thấy trong ảnh tư liệu những thông tin xác thực, khách quan, mang tính thời sự
nóng hổi, ngay cả khi nó phản ánh những vấn đề đã thuộc về quá khứ. Bên
cạnh đó là những nức ảnh chính luận với mục đích thông tin tuyên truyền phục
16
vụ những sự kiện chính trị nổi bật , các ngày lễ lớn, nhân dịp kỉ niệm, v.v.
Ngoài ra còn có thể kể đến những bức ảnh được coi như một thứ vũ khí lợi hại
chống lại những quan điểm, hành vi sai trái về chính trị, tư tưởng, v.v.
Thứ hai: Chức năng giáo dục và nhận thức. Thông qua những hình ảnh
chân thực về con người, sự việc, sự kiện, vấn đề… với tất cả sự phong phú và
đa dạng của nó, ảnh tư liệu giúp nâng cao nhận thức và tư duy của người xem,
thậm chí là góp phần định hướng tư tưởng và thay đổi hành vi của họ. Hơn
thế nữa, ảnh tài liệu còn có thể giúp người xem phát hiện bản chất có ý nghĩa
triết học của hiện tượng và sự kiện, nâng sự kiện lên tầm khái quát hóa bằng
hình tượng tiêu biểu, nhờ việc sử dụng một cách có hiệu quả các thủ pháp
nghệ thuật (điều mà các thể loại báo chí khác khó thực hiện được do đặc điểm
thể loại, và mục đích thông tin). Và cuối cùng, ảnh tư liệu có thể nhấn mạnh ý
nghĩa xã hội của hiện tượng và sự kiện thông qua việc sử dụng các chi tiết
điển hình, kết hợp với âm nhạc, tiếng động, lời bình, các thủ pháp dựng
phim…, tác động mạnh mẽ tới người xem, tạo nên một thứ “hiệu ứng dây
chuyền”, lan rộng trong xã hội.
Thứ ba: Chức năng thẩm mĩ và giá trị tư liệu lịch sử. Không dừng lại ở
việc miêu tả hiện thực một cách khách quan, trung thực, ảnh tài liệu (nhất là
ảnh tài liệu nghệ thuật) còn chú trọng khai thác chất thơ với những ẩn dụ,
tượng trưng, ước lệ… nhằm tác động tới cảm xúc thẩm mĩ của khán giả,
khiến họ cùng vui, buồn, hờn, giận… với những hình ảnh trong phim. Mặt
khác, chúng ta cũng không thể quên được rằng, mỗi bức ảnh tư liệu, tự nó đã
chứa đựng những giá trị tư liệu nhất định về lịch sử, văn hóa, đất nước và con
người. Điều này đặc biệt quan trọng đối với tất cả những gì đã thuộc về quá
khứ, những sự việc, sự kiện đã trở thành lịch sử. Chẳng hạn như hình ảnh Chủ
tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập; những người lính phất cao cờ đỏ
sao vàng trên nóc hầm Đờ Cátxtri; B52 Mỹ cháy trên bầu trời Hà Nội, v.v. Đó
là những hình ảnh mà lưu lại những khoảnh khắc lịch sử, ko ai có thể phủ
nhận.
17
Một số đoạn video ví dụ:
/> />
Sử dụng ảnh minh họa ngay trong chương trình
18
Ảnh minh họa quy trình cấp sổ hộ khẩu, giúp người xem hình
dung rõ hơn
Số liệu: Gần đây theo một số khảo sát thì có tới hơn 70% số người trả lời
sẽ chọn các loại hình báo chí đa phương tiện để tiếp cận thông tin báo chí và
chỉ khoảng 30% số người còn lại lựa chọn báo in.
Có thể dễ dàng hiểu được vì sao số lượng lại chênh lệch như vậy. Ngày
nay, trong xu thế thời đại, đa phần mọi người thường bận rộn với công việc
của mình, ít ai có thể dành thời gian để ngồi đọc một tờ báo in. Trong khi đó
báo mạng lại đáp ứng được nhu cầu của người đọc, chỉ với một chiếc điện
thoại hay máy tính xách tay có thể kết nối 3G hoặc internet là độc giả có thể
đọc bất cứ bài báo nào mình quan tâm.
19
III. Tâm lý tiếp nhận của công chúng
Báo in tác động chủ yếu vào nhận thức lý tính, tác động mạnh vào việc
hình thành quan điểm, thái độ một cách rõ ràng, có tính tập trung. Hiệu quả
tác động của báo in gắn bó chặt chẽ với khả năng tạo sự hấp dẫn cảm tính của
công chúng, từ đó tạo sự liên quan chặt chẽ với trình độ nhận thức trong quá
trình tiếp nhận.
Công chúng dễ bị thu hút bởi các bức ảnh đẹp trên báo chí, nhất là những
vùng thường được nhìn thấy đầu tiên. Những hình ảnh này có thể tạo ấn
tượng hoặc lập tức gây nhàm chán cho công chúng để họ có thể quyết định
đọc hay không đọc một tờ báo hay tờ tạp chí. Tuy nhiên, không phải cứ có
nhiều ảnh đặt ở các trang đầu và cuối là có thể gây hấp dẫn với công chúng.
Người đọc không có khả năng lựa chọn một trong nhiều hình ảnh trong
khoảnh khắc, để từ đó chỉ có thể tạo ấn tượng tốt với một tờ báo, tạp chí nào
đó. Nếu có quá nhiều hình ảnh thì họ sẽ rất ngại lựa chọn nó. Thậm chí, nếu
các hình ảnh đó thiếu tính thông tin, tính thẩm mỹ và tính giáo dục, người đọc
sẽ không tin tưởng, thậm chí coi thường, không muốn đọc nó hoặc ghét bỏ,
‘‘tẩy chay’’ nó. Do đó, hình ảnh tĩnh trên báo in phải được chọn lọc, đặt đúng
vị trí để hấp dẫn người xem và đặc biệt là dẫn công chúng đến việc đọc trong
những khoảnh khắc tiếp cận ban đầu bằng những ấn tượng vừa có. Kỹ thuật
này gọi là tạo đường dẫn cho quá trình tiếp nhận của công chúng với sản
phẩm báo in. Nó là cơ sở cho nguyên tắc tạo đường tiếp nhận của công
chúng- con đường đích thực công chúng đi trên đó để tiếp nhận thông tin trên
các sản phẩm báo in.
Điểm đặc biệt của việc xem ảnh trên báo chí đó là nó kết thúc rất nhanh,
sau đó quyết định đọc tiếp hay không đọc, đọc những gì trong tờ báo hay các
trang tạp chí đó. Do đó, lập tức bằng cách trình bày hợp lí và các nội dung nổi
bật thể hiện ở các tít báo trong khoảng gần nhất về không gian mặt báo, phải
giúp công chúng chuyển từ dạng tiếp nhận cảm tính các hình ảnh hấp dẫn trên
20
báo sang kiểu tiếp nhận mang hình thức lý tính với các sự kiện, các vấn đề
chính trị- kinh tế- xã hội được trình bày dưới dạng ngôn ngữ viết. Qua nghiên
cứu gần đây của một số tác giả về việc tổ chức nội dung và trình bày trên báo
in thì các tờ báo, tạp chí như : Lao động, Thanh niên, Tuổi trẻ,.. có khả năng
thu hút và tác động đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc theo chiều sâu và
tạo ra hiệu ứng lan truyền ở phạm vi rộng, đều do đã đáp ứng được một cách
cơ bản những đòi hỏi trong quy luật : tạo hấp dẫn cho hành vi xem, chuyển
nhanh một cách có hiệu quả sang hành vi đọc bằng các thông tin phù hợp với
nhu cầu và thị hiếu của công chúng đã nêu trên đây.
Nếu công chúng đã tiếp cận được một cách tương đối đầy đủ các nội
dung thông tin trình bày dưới dạng ngôn ngữ viết thì sự tác động của các
thông tin báo chí đến hoạt động tiếp nhận của công chúng là đáng kể. Bởi lẽ,
tính tích cực trong tiếp nhận thông tin báo in chỉ có thể thể hiện ra ngoài bằng
hành vi đọc chứ không phải hành vi xem. Khi đọc báo, người đọc buộc phải
liên tưởng, dư duy lô-gic vì chính ngôn ngữ viết mang cấu trúc của tư duy lôgic, với các khái niệm và các phán đoán được sắp xếp theo quy luật của tư
duy lô-gic. Do đặc điểm này mà báo in có khả năng cạnh tranh cáo với các
loại hình báo chí khác trong xu thế phát triển mạnh của báo chí điện tử ngày
nay. Thế mạnh của thông tin phân tích và thông tin thẩm định mang khả năng
dự báo cao sẽ tạo ra sự cuốn hút đặc biệt cho các sản phẩm báo in.
Như vậy, cảm giác ngại và chán của người đọc khi tiếp cận với các báo,
tạp chí thường xuất hiện trong hai trường hợp : hoặc là lập tức phải đối diện
với hành vi đọc mà không có hành vi xem làm điểm khởi đầu là trung gian ;
hoặc là bội thực hành vi xem, không tạo ra sự cuốn hút và tính tích cực trong
tư duy người đọc. Và xét cho cùng, muốn tạo ra hiệu quả tiếp nhận cho công
chúng với các sản phẩm báo in, loại hình báo chí có khả năng đem đến cho
công chúng khả năng tiếp nhận các thông tin báo chí theo kiểu thị giác có sự
tham gia của các yếu tố lý tính, cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa hình ảnh
tĩnh, các phần dẫn chuyển (các tít báo nổi bật, các phần dẫn...) với phần nội
21
dung được trình bày dưới dạng các cột chữ có nền hoặc không nền, nhằm
khắc phục tính tức thời của hành vi xem và sự căng thẳng, gây cảm giác ngại
trước khi tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dầy đặc theo các cột chữ của báo
in. Sự kết hợp đó phải giúp công chúng khi tiếp cận với báo in có thể có tiếp
nhận bằng thị giác cảm tính (xem), và chuyển một cách nhanh chóng từ thị
giác mang màu sắc cảm tính sang tiếp nhận bằng thị giác lý tính (đọc có mục
đích), tạo ra khả năng tiếp nhận thông tin một cách sâu sắc, khái quát và mang
tính hệ thống cho công chúng.
Khi độc giả cầm một tờ báo, quá trình dẫn đến việc đọc trọn vẹn một bài
báo thường diễn ra theo ba giai đoạn gồm xem lướt, quyết định lựa chọn và
đọc. Tính tự do trong việc lựa chọn của công chúng là điểm mà người làm báo
phải thừa nhận và tôn trọng, nhất là với những độc giả có động cơ và mục
đích rõ ràng trong việc tiếp nhận các dạng thông tin báo chí khác nhau. Mỗi
độc giả đều có những tiêu chí riêng của mình trong việc chọn lựa đọc cái gì..
Có những nguyên tác và kỹ thuật để lôi cuốn người đọc, nhưng không có cách
gì để buộc họ phải đọc báo. Độc giả đọc hay không đọc bài báo nào- đó là
quyền của họ. Đây chính là cơ sở để xác định ba mức độ đọc của công chúng
báo in :
Mức độ 1 : Đọc lướt, lựa chọn – trong đó công chúng xem lướt, có thể
chấm dứt việc xem nếu không thích hoặc không kết nối được với nhu cầu của
họ, có thể tiếp tục lựa chọn tác phẩm, sản phẩm báo chí khác.
Mức độ 2 : Đọc chi tiết : công chúng có thể tìm một điểm vào tiếp theo
để tiếp nhận thông tin chi tiết về một vấn đề mà họ quan tâm.
Mức độ 3 : Đọc sâu : công chúng muốn tiếp cận sâu sắc, có hệ thống với
những thông tin, vấn đề, chủ đề, con người trong tác phẩm báo chí. Đây là
mức độ cao, thể hiện ưu thế của báo in so với một số loại hình công chúng
khác. Chính mức độ đọc này làm cho khả năng tác động đến công chúng báo
in là sâu sắc, chính xác, nhiều góc độ và có hệ thống, từ đó tác động đến quan
22
điểm, thế giới quan, nhân sinh quan, định hướng giá trị, lý tưởng, niềm tin của
công chúng.
Kết luận
Trên đây là một số ý kiến của nhóm về vấn đề “Phân tích tâm lý tiếp
nhận của công chúng khi xem ảnh tĩnh ở báo in, ảnh dữ liệu trong video clip,
báo đa phương tiện”, với vai trò là một sinh viên ngành ảnh báo chí, việc tìm
hiểu và nghiên cứu các hướng đi của ảnh bảo chí là một trong những vấn đề
cần làm và cần phải hiểu rõ. Đặc biệt để trở thành một phóng viên ảnh phải
biết người đọc cần gì và cái gì là cần đối với họ. Việc chụp một bức ảnh sao
cho người xem có cảm giác thích thú khi nhìn vào đó, tuy nhiên vẫn phải đảm
bảo được ý tưởng muốn truyền đạt qua ảnh đòi hỏi người chụp phải am hiểu
về tâm lý tiếp nhận của người đọc. Điều này nhóm đã phân tích và đưa ra một
vài ví dụ trực tiếp để chứng minh.
Trong quá trình làm bài, do kiến thức còn hạn chế và chưa có điều kiện
tiếp cận với nhiều tài liệu nên có thể còn gặp nhiều khiếm khuyết. Kính mong
nhận được những ý kiến đánh giá của các thầy, cô.
Xin chân thành cảm ơn.
23
Tài liệu tham khảo:
Tâm lý học ứng dụng trong nghề báo-PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng, Nxb
Thông tấn
Cơ sở lý luận ảnh báo chí – Th.S Nguyễn Tiến Mão, Nxb Thông tấn
Cùng một số nguồn từ các bài báo, những ý kiến cá nhân của một số nhà
báo, các tài liệu tổng hợp trên các diễn đàn báo chí, truyền thông.
24
MỤC LỤC
25