THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Trong những năm gần đây, nhằm nắm bắt xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới ,
Việt Nam đã không ngừng gia nhập vào tổ chức thương mại như WTO, diễn đàn khu vực
ASIAN, diễn dàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á-Thái Bình Dương APEC… để tìm kiếm cơ
hội phát triển, và đương đầu với những khó khăn thử thách trên thị trường Thế Giới.
Chính vì vậy, việc đẩy mạnh hoạt động Xuất-Nhập khẩu về các hàng hóa như nông sản,
thủy hải sản,.... đang được Nhà Nước và nhiều Doanh Nghiệp quan tâm.
Có thể nói, thiên nhiên đã ban tặng cho đất nước Việt Nam một nguồn tài nguyên đa dạng
và phong phú, với chiều dài đường bờ biển là 3.444km, đứng thứ 32 trong tổng số 156
nước có biển, nguồn tài nguyên đất rất màu mỡ với đất flarit chiếm diện tích lớn, đất phù
sa cổ, đất bazan.., với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, độ ẩm cao, lượng mưa nhiều đã tạo
thành điều kiện rất thuận lợi để đẩy mạnh phát triển ngành thủy hải sản cũng như các cây
công nghiệp lâu năm như chè, cà phê, hạt điều, cao su và đặc biệt là hồ tiêu.
Được khai sinh từ thế kỉ thứ VXII, Hồ tiêu được xem như một loại cây công nghiệp lâu
năm của nông nghiệp Việt Nam. Nhờ những ưu thế về điều kiện tự nhiên, áp dụng thành
tưu Khoa học-Kỹ thuật, hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là sự cần cù, sáng
tạo, chăm chỉ, người nông dân Việt Nam đã đưa Hồ tiêu đạt đến vị trí cao nhất-một nước
sản xuất- xuất khẩu Hồ tiêu hàng đầu Thế giới với chất lượng uy tín, hơn nữa Hồ tiêu
Việt Nam còn là một thị trường tiềm năng và đầy triển vọng. Tuy nhiên, một thực trạng
hiện nay là khi giá tiêu tăng lên, người dân đổ xô trồng tiêu, khiến cho diện tích Hồ Tiêu
tăng mạnh, lúc đó cung sẽ cao hơn cầu,giá tiêu sẽ giảm thậm chí có thể xảy ra sự bùng
nổ và phá sản về hồ tiêu(theo Hiệp Hội Hồ Tiêu Quốc Tế IPC). Mặt khác, hiệu suất cao
nhất của Cây hồ tiêu là vào năm thứ 7-8, và sẽ giảm dần cho tới năm thứ 20 vì vậy, trong
tương lai ngành hồ tiêu sẽ suy giảm về năng suất cũng như chất lượng trừ khi có các biện
pháp đề ra để đưa ngành Hồ tiêu phát triển trên một nền tảng bền vững hơn. Bên cạnh đó,
việc xuất khẩu Hồ Tiêu đang phải đối mặt với việc chưa có thương hiệu, sản phẩm chủ
yếu dưới dạng thô nên làm giảm kim ngạch thu về. Hơn thế, ngành Hồ Tiêu còn phải đối
mặt với việc đảm bảo sản phẩm xuất khẩu có chất lượng tốt, “ gia tăng sản xuất theo tiêu
chuẩn ASTA của Mỹ”( Đỗ Hà Nam- chủ tịch Hiệp Hội Hồ Tiêu Việt Nam VPA) để nâng
cao giá trị Hồ Tiêu Việt Nam, đồng thời tạo được sự tin cậy vào chất lượng của người tiêu
dùng hay khi xuất khẩu vào thị trường “ khó tính” như Mỹ.
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 1
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
Từ những lí do trên,việc nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp đẩy mạnh việc xuất
khẩu Hồ Tiêu Việt Nam vào thị trường Mỹ” là việc rất thiết thực mà ngành xuất khẩu
nông sản nói chung và ngành Hồ Tiêu nói riêng phải làm, bởi nó không chỉ mang tính
bức thiệt ở hiện tại tức làm sao duy trì được vị trí“ vị trí sản xuất xuất khẩu Hồ Tiêu số 1
Thế giới”, mà còn phải khẳng định được thương hiệu, giá trị Hồ Tiêu Việt Nam trên thị
trường Thế giới, nâng cao chất lượng, tiêu chuẩn và tạo nên sự khác biệt, nhằm dành
được vị thế lớn khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ trong tương lai.
2.Mục tiêu nghiên cứu.
Mặc dù, ngành xuất khẩu Hồ Tiêu Việt Nam hiện nay cũng đã đạt được những thành công
nhất định, khẳng định vai trò quan trọng trên thị trường Thế giới nói chung và thị trường
Mỹ nói riêng. Tuy nhiên, xuất khẩu Hồ Tiêu vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề thực trạng, khó
khăn bức thiệt cần được giải quyết. Qua quá trình tìm hiểu thông tin cùng với việc dựa
trên cơ sở kiến thực được học, đề tài nghiên cứu đưa ra nhằm giải quyết các mục tiêu:
-
Phân tích thực trạng xuất khẩu Hồ tiêu của Việt Nam hiện nay vào thị trường Mỹ.
Đề ra các giải pháp để khắc phục, giải quyết các vấn đề, thực trạng.
Hoạch định chiến lược nhằm đầy mạnh xuất khẩu Hồ tiêu vào thị trường Mỹ ổn định và
bền vững trong tương lai.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: hồ tiêu đen, các doanh nghiệp xuất khẩu Hồ tiêu ở thành phố Hồ
chí minh
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Theo thời gian: 2010-2013
+ Theo không gian: thị trường nhập khẩu của Mỹ, khu vực trồng tiêu ở các tỉnh phía
Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Thu thập thông tin thứ cấp thông qua sách, báo , các hiệp hội, cục thống kê… về hồ
tiêu, khó khăn mà ngành sản xuất, xuất khẩu Hồ tiêu đang gặp phải.
- Phân tích dựa trên các thông tin đã thu thập được để giải quyết các vấn đề đã nêu trong
đề tài nghiên cứu.
5. Thời gian nghiên cứu:
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 2
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
- Đề tài được nghiên cứu từ 04/11/2013 – 15/12/2013( 6 tuần)
6.Ý nghĩa và đóng góp của đề tài.
Đề tài đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề, khó khăn, bức thiết của ngành xuất
khẩu Hồ Tiêu Việt Nam trong việc xuất khẩu sang thị trường Mỹ, giúp ngành có cách
nhìn rõ hơn về thực trạng, cũng như những điểm yếu,lỗ hổng trong việc sản xuất và xuất
khẩu, để từ đó, có những bước đi rõ ràng, chiến lược cụ thể, giúp ngành phát triển cách
ổn định, bền vững, nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu, và trở thành là một trong những
ngành xuất khẩu mũi nhọn của nền nông nghiệp Việt Nam.
7. Kết cấu bài báo cáo.
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ NGÀNH HỒ
TIÊU VIỆT NAM
1.1
Khái quát về hoạt động xuất khẩu
1.1.1 Một số khái niệm về xuất khẩu……………………………………………………5
1.1.2 Các loại hình xuất khẩu……………………………………………………………6
+ Xuất khẩu trực tiếp……………………………………………………………………...6
+ Xuất khẩu gián tiếp……………………………………………………………………...7
1.1.3 Vai trò của xuất khẩu………………………………………………………………8
+ Đối với nhà nước………………………………………………………………………..8
+ Đối với các doanh nghiệp……………………………………………………………….9
1.2
Tổng quan về ngành hồ tiêu Việt Nam…………………………………………..10
1.2.1 Giới thiệu về ngành Hồ Tiêu Việt Nam ………………………………………….10
1.2.2 Sự phân bố Hồ tiêu ở các tỉnh phía Nam…………………………………………10
1.3
Các nhân tố ảnh hưởng tới việc xuất khẩu Hồ tiêu ở Việt Nam………………..13
1.3.1 Môi trường chính trị, pháp luật và chính sách xuất khẩu của Nhà nước………..13
1.3.2 Đối thủ cạnh tranh………………………………………………………………..13
1.3.3 Yếu tố cung – cầu trên thị trường………………………………………………...14
1.3.4 Điều kiện tự nhiên………………………………………………………………...14
1.3.5 Chất lượng sản xuất………………………………………………………………14
1.3.6 Ứng dụng công nghệ, khoa học –kỹ thuật trong quá trình sản xuất……………15
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HỒ TIÊU CỦA VIỆT NAM VÀO
THỊ TRƯỜNG MỸ.
2.1 Khái quát về thị trường Mỹ………………………………………………………….17
2.1.1 Mỹ là một thị trường “lớn”………………………………………………………...17
2.1.2 Các quy định nhập khẩu của Mỹ…………………………………………………..19
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 3
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
2.2 Mối quan hệ Việt –Mỹ ………………………………………………………………20
2.3 Thực trạng xuất khẩu Hồ tiêu của Viêt Nam sang thị trường Mỹ…………………..21
2.3.1 Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ trong thời gian qua……22
2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc xuất khẩu Hồ tiêu ở Việt Nam sang Mỹ trong thời
gian qua…………………………………………………………………………………..26
+ Môi trường chính trị, pháp luật và chính sách nhà nước Việt nam đối với hoạt động
xuất khẩu Hồ tiêu………………………………………………………………………..26
+ Các hàng rào bảo hộ của Mỹ đối với việc nhập khẩu Hồ tiêu của Việt Nam……….28
+ Điều kiện tự nhiên đối với việc suất khẩu Hồ tiêu……………………………………33
+ Chất lượng sản phẩm Hồ tiêu Việt Nam………………………………………………34
+ Ứng dụng Khoa học-Kỹ thuật vào sản xuất Hồ tiêu của Việt Nam…………………35
+ Yếu tố cung cầu của thị trường Mỹ……………………………………………………35
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HỒ
TIÊU SANG THỊ TRƯỜNG MỸ.
3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển…………………………………………………..37
3.1.1 Định hướng………………………………………………………………………...37
3.1.2 Mục tiêu……………………………………………………………………………37
3.2 Giải pháp……………………………………………………………………………..39
+ Thứ nhất, nâng cao chất lượng sản phẩm của Hồ tiêu………………………………...39
+ Thứ hai, xây dựng và nâng cao thương hiệu…………………………………………..42
+ Thứ ba, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu vào thị trường Mỹ…………………………..44
+ Thứ tư, thực hiện tốt công tác tạo nguồn hàng………………………………………..45
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU VÀ NGÀNH
HỒ TIÊU VIỆT NAM
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 4
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
1.1 KHÁI NIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1.1.1 Một số khái niệm về xuất khẩu
Ngay từ thời xưa, việc trao đổi hàng hóa giữa con người với nhau cũng đã từng
diễn ra, ví như người đổi thóc lấy vải, người đổi đồ dùng lấy thức ăn….nhưng với
quy mô rất nhỏ, chỉ đáp ứng nhu cầu của cá nhân với nhau hay với tập thể đơn lẻ.
Hiện nay, do nhu cầu buôn bán ngày càng lớn, cũng như sự phát triển kinh tế của
các quốc gia…thì việc trao đổi đó ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng
và chiều sâu.Hoạt động trao đổi buôn bán đó, ngày nay người ta gọi là xuất-nhập
khẩu.
Đã có nhiều sách, báo và luật nói về khái niệm xuất khẩu như:
+ Theo điều 28, mục 1 chương 20 Luật Thương Mại 2005 có nói rằng: “Xuất khẩu
là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc
biệt nằm trên lãnh thổ Việt nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định
của Pháp luật”.
+ Theo GS-TS.Bùi Xuân Lưu trong giáo trình Kinh tế ngoại thương, 2007 có nói
đến khái niệm về xuất khẩu như sau: “Xuất khẩu còn được xem là một hoạt động
cơ bản của kinh tế đối ngoại, là việc mà hàng hóa, dịch vụ được bán ra nước
ngoài”.
+ Theo GS-TS. Võ Thanh Thu thì xuất khẩu là hoạt động trao đổi, cung ứng và
bán hàng hóa cho một nước khác nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
+ Tham khảo một số tạp chí và sách chuyên ngành,cùng với kiến thức được học,
tác giả hiểu, xuất khẩu là việc bán sản phẩm mà trong nước sản xuất ra, cho một
nước khác đang có nhu cầu sử dụng chúng, nhằm thu về một nguồn lợi nhuận và
ngoại tệ nhất định.
Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu
Theo GS-TS.Võ Thanh Thu, Quan hệ kinh tế quốc tế, 2012 thì hoạt động xuất
khẩu giúp cho quốc gia khai thác được lợi thế, phát huy tiềm lực có sẵn từ đó đấy
mạnh sản xuất và xuất khẩu nhằm đem lại lợi nhuận, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Bên cạnh đó, cùng hội nhập vào thị trường sôi động của thế giới, để nắm bắt cơ
hội, mở rộng mối quan hệ quốc tế, gia tăng tiến độ xã hội, tạo công ăn việc làm và
nâng cao đời sống cho nhân dân. Nếu các quốc gia thực hiện thị trường đóng, tự
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 5
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
cung tự cấp, tự sản xuất tự tiêu dùng trong nước, tự cô lập mình, thì chắc chắn
quốc gia đó sẽ đánh mất lợi thế, cũng như cơ hội phát triển toàn diện.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra trong tất cả các ngành, lĩnh vực khác nhau, trong mọi
điều kiện của nền kinh tế, không chỉ hàng hóa hữu hình mà cả hàng hóa vô hình
với tỷ trọng ngày càng lớn, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất,
từ máy móc thiết bị cho đến các công nghệ kỹ thuật cao. Xuất khẩu còn diễn ra
trên phạm vi rộng cả về không gian lẫn thời gian, nó có thể diễn ra trong thời gian
ngắn, một hay hai ngày song cũng có thể kéo dài đến vài năm, nó có thể tiến hành
trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia…với mục đích mạng lại lợi ích cho
mỗi quốc gia. Nền sản xuất xã hội phát triển như thế nào còn phụ thuộc rất nhiều
vào hoạt động kinh doanh.
1.1.2 Các loại hình xuất khẩu chủ yếu.
Ngày nay, trên thế giới, tùy thuộc vào điều kiện phát triển của mỗi quốc gia, cũng
như tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của từng chủ thể giao dịch, để lựa chọn
những loại hình xuất khẩu phù hợp, nhằm phát huy được lợi thế sẵn có và khắc
phục những yếu điểm, mặt hạn chế, để tiến hành hoạt động một cách có hiệu quả
nhất. Với mục tiêu đa dạng hóa các hình thức kinh doanh xuất khẩu nhằm phân tán
và chia sẻ rủi ro, các doanh nghiệp ngoại thương có thể lựa chon nhiều hình thức
xuất khẩu khác nhau. Một số loại hình xuất khẩu chủ yếu được các doanh nghiệp
lựa chọn là:
• Xuất khẩu trực tiếp
Theo GS-TS Võ Thanh Thu, Kinh tế và Phân tích hoạt động kinh doanh thương
mại, 2011 thì xuất khẩu trực tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó các
doanh nghiệp ngoại thương, hay nhà sản xuất tự tổ chức thu mua hay tự thực hiện
hoạt động sản xuất, trực tiếp tìm kiếm khách hàng, trực tiếp ký kết hợp đồng bán
hàng cung cấp dịch vụ cho các cá nhân hay doanh nghiệp ở nước ngoài mà không
thông qua một bên thứ ba nào khác.
Với hình thức này, các doanh nghiệp nhà sản xuất được tự do tìm kiếm thị trường
tiềm năng, những đối tác bạn hàng tin cậy nhằm mang lại một lợi nhuận cao nhất.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp tận dụng được tiềm năng, lợi thế để sản xuất, giá cả,
phương thức thanh toán, phương thức giao hàng, thời gian, địa điểm… đều do hai
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 6
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
bên tham gia trực tiếp thỏa thuận và quyết định. Hơn thế, doanh nghiệp còn dễ tiếp
cận với những phản hồi, đóng góp về hàng hóa, dịch vụ từ phía đối tác để nhanh
chóng khắc phục những thiếu sót đó, khi đó mối quan hệ giữa hai bên trở nên tốt
hơn, nhằm mở ra một định hướng phát triển lâu dài trong tương lai.
Để thực hiện được loại hình xuất khẩu trực tiếp này, đòi hỏi doanh nghiệp phải có:
đội ngũ nhân viên với kiến thức chuyên môn sâu, khối lượng hàng hóa lớn đáp
ứng đầy đủ nhu cầu đối tác, có thị trường ổn định, và đặc biệt là có năng lực thực
hiện xuất khẩu.
Tuy nhiên, khi thực hiện hình thức này, các doanh nghiệp tổ chức cũng gặp không
ít khó khăn:
+ Đối với thị trường mới, còn nhiều bỡ ngỡ, rủi ro cao, dễ mắc phải sai lầm, bị ép
giá trong mua bán.
+ Đòi hỏi một đội ngũ có trình độ chuyên môn cao, làm việc lâu năm và nhiều
kinh nghiệm trong nghề, xử lí tình huống tốt, biết cách tìm kiếm thị trường, đối
tác.
hàng hóa, đảm bảo được lượng hàng mà đối tác yêu cầu.
+ Vốn kinh doanh tương đối lớn.
+ Đòi hỏi doanh nghiệp phải có thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng riêng.
• Xuất khẩu gián tiếp
Theo GS-TS Phạm Duy Liên, giáo trình Giao dịch thương mại quốc tế, 2012 thì
xuất khẩu gián tiếp là một hình thức xuất khẩu mà trong đó, việc tìm kiếm thị
trường, tìm kiếm đối tác, hay việc kí kết hợp đồng… được thông qua một tổ chức
trung gian khác như người đại lý hoặc người mua giới. Các đơn vị kinh doanh xuất
khẩu sẽ đóng vai trò là người trung gian thay cho đơn vị sản xuất tiến hành ký kết
hợp đồng mua bán hàng hóa, tiến hành các thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng hóa
cho nhà sản xuất qua đó thu được một khoản tiền nhất định( theo tỉ lệ % giá trị lô
hàng)
Với hình thức này, các doanh nghiệp nhà sản xuất sẽ giảm được mức độ rủi ro
trong việc xuất khẩu hàng hóa, hạn chế tối đa sai lầm khi xuất khẩu vào một thị
trường mới, có nhiều thời gian tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, người
trung gian thường hiểu biết rõ thị trường kinh doanh, có khả năng về vốn, nhân lực
nên giúp các doanh nghiệp, nhà xuất khẩu nắm bắt được nhiều cơ hội kinh doanh
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 7
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
thuận lợi cũng như tiết kiệm được chi phí trong quá trình vận tải. Tuy nhiên, khi
thực hiện theo xuất khẩu gián tiếp, các nhà sản xuất cũng gặp nhiều nhược điểm
như là không tận dụng được hết tiềm năng, không được tiếp cận trực tiếp đối với
phản hồi của khách hàng,nắm bắt thị trường chậm, không chủ động trong việc sản
xuất, tiêu thụ hàng hóa nhất là khi thị trường nhiều biến động. Hơn thế, các doanh
nghiệp phải chi trả một khoản hoa hồng cho tổ chức trung gian thứ ba.
1.1.3 Vai trò của xuất khẩu
Trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu đóng vai trò rất
quan trọng đối với nhà nước nói chung và đối với các doanh nghiệp nói riêng.
GS-TS. Bùi Xuân Lưu trong cuốn giáo trình Kinh tế ngoại thương, 2007 cũng đã
đề cập đến vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với sự phát triển của đất nước và
các doanh nghiệp Việt nam hiện nay trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu.
• Đối với nhà nước
+ Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu phục vụ cho công nghiệp hóa đất nước.
Hòa nhập vào nền kinh tế của thế giới, Việt Nam cũng đang trên đường thực hiện
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Do đó, chúng ta phải tiếp cận với công
nghệ kỹ thuật hiện đại bằng cách nhập về những máy móc thiết bị hiện đại… để
đẩy mạnh hiệu quả sản xuất, nâng cao chất lượng, góp phần vào quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Vì vậy, việc xuất khẩu giúp nước ta có nguồn tài
chính ổn định để nhập khẩu những thiết bị cần thiết từ các nước phát triển.
+ Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất.
Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành khác cùng phát triển, mở rộng thị trường tiêu
thụ của sản phẩm, tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào. Hơn thế,
xuất khẩu góp phần làm tăng dữ trữ ngoại tệ của một quốc gia, đối với các nước
đang phát triển, thì việc xuất khẩu đóng vai trò cung cấp ngoại tệ, ổn định sản
xuất, qua đó làm tăng trưởng kinh tế. Xóa bỏ nhanh chóng các chủ thể kinh doanh
các sản phẩm lạc hậu, hoàn thiện cơ chế quản lí của nhà nước và địa phương theo
hướng có lợi nhất thông qua những đòi hỏi hợp lí của những chủ thể tham gia hoạt
động này.
+Tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân
dân.
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 8
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
Thực tế cho thấy, khi hoạt động xuất khẩu được đẩy mạnh thì việc sản xuất hàng
hóa phải được chú trọng như xây dựng nhiều nhà máy, mở rộng quy mô và đặc
biệt đòi hỏi nguồn nhân lực dồi dào, có trình độ…vì vậy, tình trạng thất nghiệp
giảm, công nhân có việc làm và đời sống được cải thiện.
+Là cơ sở mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam.
Tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu có tăng cao hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào
các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao.Và ngược lại, hoạt động xuất khẩu
cũng chính là cơ sở vững chắc trong việc xây dựng mối quan hệ kinh tế đối ngoại
giữa các quốc gia với nhau.Vì khi việc xuất hàng hóa giữa hai quốc gia càng tăng
thì nghĩa là cả hai quốc gia đó đều rất có lợi trong việc hợp tác với nhau, như vậy
mối quan hệ ngày càng được củng cố và thúc đẩy.
• Đối với doanh nghiệp
+ Xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ, đưa hàng hóa đến với
nhiều quốc gia, đồng thời làm tăng tên tuổi cho doanh nghiệp, cũng như sản phẩm,
không chỉ ở trong nước mà ở thị trường nước ngoài cũng được biết đến, khi đó thị
phần của doanh nghiệp đó ngày càng cao.
+ Mở rộng quan hệ đối tác với các doanh nghiệp nước ngoài, từ đó đẩy mạnh xuất
khẩu dựa trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.
+ Khi xuất khẩu vào thị trường tiêu thụ lớn sẽ thu được khoản lợi nhuận đáng kể,
giúp doanh nghiệp có điều kiện thay thế, bổ sung hay nâng cấp thiết bị máy móc
trong dây chuyền sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất.
+ Nhờ tính cạnh tranh trong xuất khẩu, doanh nghiệp luôn phải nỗ lực không
ngừng trong việc nâng cao chất lượng hàng hóa, hạ giá thành sản phẩm để từ đó
biết tiết kiệm các yếu tố đầu vào hay các nguồn lực.
+Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp nhanh chóng tiếp thu được công nghệ kỹ
thuật hiện đại, từ đó củng cố mẫu mã sản phẩm, uy tín và chất lượng của sản phẩm
trên thị trường thế giới.
+Tạo thêm việc làm cho người lao động của doanh nghiệp, nó làm tăng thêm thu
nhập đồng thời phát huy được sự sáng tạo của người lao động.
1.2 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH HỒ TIÊU VIỆT NAM
1.2.1 Giới thiệu chung về ngành Hồ tiêu Việt Nam.
Mặc dù, xuất phát từ một nước nông nghiệp đang trên đường tiến tới Công nghiệp
hóa- hiện đại hóa đất nước, hòa nhập với xu thế toàn cầu hóa….Thế nhưng,Việt
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 9
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
Nam vẫn không quên việc đẩy mạnh các lợi thế của mình về nông nghiệp, thủy
sản…điển hình là việc xuất khẩu gạo, cá tra-cá basa, tôm sú…là những mặt hàng
có thị phần khá lớn trên thị trường thế giới hay gần đây một mặt hàng mang lại
kim ngạch xuất khẩu rất lớn đó là Hồ Tiêu.
Theo TS.Đỗ Tất Lợi trong cuốn sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, 2005
thì Hồ tiêu là một loại cây thuộc họ dây leo, nhẵn, thân dài nhưng không có lông,
bám vào các cây khác bằng rễ, thân mọc cuốn. Lá tiêu trông giống với lá trầu
nhưng dài và thuôn hơn, quả hình cầu nhỏ khoảng 20-30 quả trên cùng một chùm.
Hồ tiêu được thu hoạch 2 năm một lần, để có hồ tiêu đen người trồng ta phải thu
hoạch lúc quả còn xanh, còn để có hồ tiêu trắng(sọ) người ta thu hoạch khi quả đã
thật chín sau đó bỏ vỏ.
Cho đến nay, không ai trong giới gia vị và ngành nông sản trên khắp Thế giới
không biết đến Hồ tiêu Việt Nam, như là một nước sản xuất và xuất khẩu lớn nhất
thế giới, với chất lượng uy tín và là một thị trường đầy tiềm năng.Trong những
năm qua, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu tăng đáng kể,năm 2010 xuất khẩu 116 ngàn
tấn hồ tiêu đạt 412 triệu đô la, năm 2012 là 118 ngàn tấn đạt 802 triệu USD, năm
2013 tăng 123 ngàn tấn đạt 817 triệu USD. Hơn thế, Hồ tiêu được xuất khẩu đến
gần 80 quốc gia và vùng lãnh thỗ, đặc biệt là xuất khẩu các loại hàng chất lượng
cao vào Mỹ, Nhật và các nước EU ngày càng tăng. Theo tổng cục thống kê,qúy
III/2013,xuất khẩu vào thị trường Mỹ tăng 44,7% về khối lượng và 43,5% về giá
trị.1
Về giá cả: Trong khi một số hàng nông sản như gạo, điều giảm thì Hồ tiêu vẫn có
xu hướng tăng trong Qúy I/2012- thời điểm thu hoạch rộ.Hiện nay, giá thu mua hồ
tiêu đen đạt 124-126 ngàn đồng/kg tăng 5% so với mức giá tại thời điểm đầu
năm.Trên thị trường xuất khẩu,giá tiêu đen xuất khẩu có dung lượng 500gr/lít đạt
6.300-6.400 USD/tấn, giá tiêu đen 550gr/l đạt 6.800-6.900 USD/tấn tăng 45%55% so với cùng kì năm 2011.2
1 />2 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 10
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
1.2.2 Sự phân bố Hồ tiêu ở các tỉnh phía Nam.
Mỗi loại cây trồng đều có những đặc tính để thích nghi với những điều kiện tự
nhiên về thời tiết cũng như địa lý, ví dụ như trái cây, lúa, thích hợp khi được trồng
ở khu vực Đồng bằng sông hồng, sông cửu long, các loại chè phát triển mạnh mẽ
khi được trồng ở Phú Thọ, Quảng Nam….và Hồ tiêu, một loại cây công nghiệp lâu
năm cho năng suất rất cao khi được trồng ở vùng cao như Đắc lắc, Gia lai, Đắc
nông hay một số tỉnh thuộc vùng Đông nam bộ như Bình Phước, Đồng nai, Bà
rịa- vũng tàu. Theo số liệu của Tổng cục thống kê,đến cuối năm 2012, tổng diện
tích Hồ tiêu cả nước đạt 58,9ha với 21 tỉnh trồng tiêu có quy mô trên 100ha. Diện
tích hồ tiêu tập trung ở chủ yếu ở Đông Nam Bộ(26.9ha ,45,68%), Tây
Nguyên(25.5ha 43.29%), Đồng bằng sông cửu long(0.6ha 1,08%). So với năm
2011, diện tích hồ tiêu tăng 6.729ha, chủ yếu do diện tích được trồng mới được
chuyển từ các cây trồng khác kém hiểu quả.3
Bảng 1.1 Diện tích Hồ tiêu ở các tỉnh phía Nam năm 2010 đến 2012
Đơn vị: 1000 ha
ĐB Sông cửu long
2010
0.6
2011
0.6
2012
0.6
Tây Nguyên
18.6
22.6
25.5
Đông Nam Bộ
25.5
26.5
26.9
Nguồn: Tổng cục thống kê
Biểu đồ 1.1 Diện tích Hồ tiêu ở các tỉnh phía Nam năm 2010 đến 2012
Đơn vị: 1000ha
3 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 11
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
30
25
20
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
15
10
5
0
Đồng bằng SCL
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Nguồn: Tổng cục thống kê
Quy mô diện tích trồng tiêu bình quân ở nông hộ trong khoảng 0,2-0,7 ha, trong
đó ở Bình phước diện tích nông hộ là 0,6ha, Bà rịa- Vũng tàu là 0,4ha, Đắc lăc là
0,7ha. Hầu hết, diện tích Hồ tiêu được trồng thuần, chỉ một tỉ lệ nhỏ( 1-2%) vườn
tiêu có trồng sen canh. Ở các tỉnh Tây nguyên và Đông Nam Bộ, cây trồng xen với
vườn tiêu chủ yếu là cà phê, ngoài ra còn trồng xen với một số loại cây ăn quả như
sầu riêng, xoài hay điều.Việc trồng xen như vậy là một hình thức đa dạng hóa sản
phẩm, giảm thiểu rủi ro khi giá tiêu biến động, đồng thời cũng hạn chế mức độ
thiệt hại do sâu bệnh.4
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XUẤT KHẨU
• Môi trường chính trị, pháp luật và chính sách xuất khẩu của nhà nước
Theo Đinh Thị Liên và Trương Tiến Sĩ trong cuốn Thương mại quốc tế, 2011 thì
mỗi quốc gia đều thực hiện chính sách đối ngoại theo hướng đa phương hóa đa
dạng hóa quan hệ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế,luôn coi trọng và hướng tới
giữ vững mối quan hệ hòa bình, hợp tác và phát triển, đẩy mạnh tham gia vào các
tổ chức diễn đàn trên thế giới…tức có một môi trường chính trị ổn định, thì sẽ tạo
cơ hội rất lớn để mở rộng phạm vi thị trường, cũng như việc xuất khẩu trở nên dễ
dàng và nhiều thuận lợi..bởi một nguyên tắc cơ bản của xuất khẩu là “ đôi bên
cùng có lợi”.
Để quản lí và điều tiết được hoạt động kinh doanh, mỗi quốc gia đều có những hệ
thống pháp luật khác nhau như các quy định về thuế, giá trần giá sàn, kim ngạch
xuất khẩu cho từng mặt hàng, các quy định về mậu dịch tự do xây dựng các hàng
4 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 12
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
rào thuế quan chặt chẽ, hay các quy định về chế độ sử dụng lao động, tiền lương
thưởng, bảo hiểm phúc lợi….Những yếu tố này ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt
động xuất khẩu của đất nước nói chung và các doanh nghiệp nói riêng.
Hơn thế, chính sách xuất khẩu của Nhà nước như chính sách thuế ưu đãi đối với
hàng xuất khẩu, chính sách về tỉ giá hối đoái, chính sách đầu tư đối với doanh
nghiệp sản xuất hàng hóa hay những chiến lược xúc tiến thương mại…cũng ảnh
hướng đến việc xuất khẩu.
•Đối thủ cạnh tranh.
Trong cuốn Tiếp thị phá cách- Kỹ thuật mới để tìm kiếm những ý tưởng đột phá
của Philip Kotler Fernando Trias De Bes, 2011có chia sẻ: “ngày nay tỷ lệ thất bại
đối với các sản phẩm mới ra đời là rất cao so với 20 năm trước đây. Thử lấy ví dụ
sản phẩm ngũ cốc chế biến, là loại sản phẩm có đến hàng chục chủng loại và mặt
hàng khác nhau”. Điều này rấ dễ để nhận ra rằng, một mặt hàng khó có thể chiếm
được vị thế độc quyền, vì thế nó có rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên cùng một thị
trường. Đối với các mặt hàng xuất khẩu cũng vậy, sự cạnh tranh để giành thị phần
càng trở nên gay gắt, đòi hỏi các quốc gia phải có những đột phá trong sản phẩm,
đảm bảo chất lượng, uy tín nhưng giá thành phải rẻ, xây dựng một thương hiệu
riêng và đặc biệt là đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, tiếp thị…khi đó mới
duy trì và nâng cao kim ngạch xuất khẩu.
•Yếu tố cung- cầu trên thị trường
Theo GS-TS Đoàn Thị Hồng Vân, khi xã hội càng phát triển thì việc tìm hiểu thị
trường, xác định nhu cầu tiêu dùng hàng hóa là một trong những bước quan trọng
trước khi tiến hành xuất khẩu một mặt hàng vào thị trường mới cũng như trở thành
vũ khí chiến lược sắc bén, giúp tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương
quốc tế. Bởi chính yếu tố cung-cầu này quyết định sự tồn tại của sản phẩm trên thị
trường. Nếu lượng cung lớn hơn cầu thì sẽ dư thừa, ứ đọng hàng hóa hoạt động
xuất khẩu giảm, nhưng nếu lượng cầu lớn hơn cung thì sẽ thiếu hụt hàng hóa khi
đó việc xuất khẩu cũng khó khăn vì thiếu lượng hàng…Vì vậy, cân bằng được yếu
tố cung-cầu trên thị trường sẽ giúp hoạt động xuất khẩu có nhiều thuận lợi hơn.
•Điều kiện tự nhiên
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 13
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
Điều kiện tự nhiên như vị trí đia lý, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, sự phân bố
dân cưlà một trong những yếu tố khá quan trọng ảnh hưởng tới quá trình sản xuất
và xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt với những mặt hàng nông sản.Khi thời tiết thuận
lợi, lượng mưa – ánh nắng vừa đủ, đất đai được cải tạo thường xuyên, nhiều độ
ẩm….thì năng suất cây trồng sẽ cao, chất lượng tốt, nhờ vậy kim ngạch xuất khẩu
tăng cao qua từng năm.
•Chất lượng sản phẩm
Theo GS-TS Phan Đức Dũng, thì việc đảm bảo chất lượng quốc tế, chất lượng đối
với từng quốc gia yêu cầu hay mong muốn, tiêu chuẩn kĩ thuật gồm các quy định
về vệ sinh an toàn thực phẩm, đo lường,bao bì đóng gói….cũng là yếu tố quan
trọng giúp sản phẩm cạnh trạnh với các sản phẩm khác trên thị trường,tạo được
thương hiệu riêng, chiếm được ưu thế trong sự lựa chọn của các quốc gia nhập
khẩu.Vì vậy, nếu sản phẩm có chỗ đứng vững trong thị trường quốc tế nên kim
ngạch xuất khẩu sẽ ngày càng tăng cao.
•Ứng dụng công nghệ, khoa học- kỹ thuật trong quá trình sản xuất
Đang được sống và làm việc trong một thời đại của công nghệ, khoa học kỹ thuật,
thì việc áp dụng những thành tựu đó là điều tất yếu.Trong quá trình sản xuất cũng
vậy, công nghệ hiện đại giúp việc sản xuất trở nên đơn giản, tiện lợi, nhanh chóng,
tiết kiệm nhiều chi phí, giảm giá thành ….và cho ra những sản phẩm chất lượng,
đạt tiêu chuẩn cao. Hơn thế, máy móc thiết bị hiện đại đảm bảo được lượng hàng
theo yêu cầu mà không bị chậm trễ.Thế nên, hoạt động xuất khẩu sẽ thuận lợi hơn
rất nhiều, tránh được các rủi ro và nhanh chóng nắm bắt cơ hội kinh doanh.
1.4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU
HỒ TIÊU
Mỹ là một trong những nước nhập khẩu Hồ tiêu lớn nhất Thế giới, trung bình mỗi
năm nước này nhập khẩu khoảng 60,000 tấn hạt tiêu các loại tương đương với 450
triệu USD. Tuy nhiên, ở thị trường này Việt nam là nước cung cấp hạt tiêu đen đứng
thứ 2 sau Indonesia chiếm khoảng 19,2% tổng kim ngạch nhập khẩu hạt tiêu đen hàng
năm của nước này( trong khi Indonesia chiếm khoảng 40-50%). 5Theo Bộ nông nghiệp
5 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 14
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
và phát triển nông thôn, sản lượng tiêu cả nước năm 2013 đạt khoảng 95.000 tấn
nhưng giảm 15% so với năm 2012.Thực tế cho thấy, năm 2011 cả nước có 53.000ha
trồng tiêu đạt sản lượng 125.000 tấn, năm 2012 có 57.500 ha đạt 115.000 tấn, năm
2013 diện tích hồ tiêu tăng 60.000ha nhưng sản lượng giảm chỉ đạt 94.000 tấn 6.
IPC(International Pepper Community) cho biết, kim ngạch xuất khẩu hồ tiêu của
Barzil, Ấn Độ tăng cả về lượng và giá trị. Năm 2011 sản lượng của Baral đạt 32.676
tấn với 207,500 triệu USD tăng 6% về lượng và 92% về giá trị so với năm 2010, Ấn
Độ tăng 28% về lượng và 97% về giá trị so với năm 2010. Từ những số liệu trên ta
nhận thấy, Việt Nam vẫn còn khó khăn trong việc sản xuất hồ tiêu để nâng cao sản
lượng như việc ồ ạt mở rộng diện tích trồng tiêu ở những vùng có điều kiện tự nhiên
không thuận lợi, phần lớn diện tích hồ tiêu đã khai thác trên 10 năm nên già cỗi chưa
được chú trọng chăm sóc và tiến hành cải tạo lại phần đất cũng như cây tiêu 7. Hơn
thế, giá tiêu của Barzil, Indonesia, Ấn Độ cao hơn giá tiêu của Việt Nam, vì họ sản
xuất đạt tiêu chuẩn ASTA( khử trùng theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm quốc
tế).
Ngoài ra, ở các nước như Ấn Độ, Indonesia họ rất chú trọng vào việc chọn giống và
kỹ thuật canh tác hồ tiêu nhằm đạt hiệu quả cao. Ở Indonesia, bên cạnh trồng giống
Bangka cho năng xuất cao và được trồng phổ biến, họ còn trồng giống Belangtoeng,
Banjmarsin, Merefin cho năng suất trung bình và chống chịu tốt bệnh chết nhanh.Ở
Malaysia tập trung trồng các giống Semingok peral và Semongok emas vì hai giống
này cho thu hoạch sớm sau khi trồng và chống được bệnh kháng thư cũng như có ưu
điểm ra hoa tập trung, chín đồng đều chỉ cần thu hoạch 2-3 lần(so với giống Kuching
phải thu hoạch 4-6 lần).Các nước này biết cách tác tùy theo điều kiện canh tác và đất
đai, với đất kém phì nhiêu thì canh tác theo phương thức quảng canh, mật độ
thưa( khoảng 600-800 trụ/ha) tiêu chí cho năng xuất 350-450kg/ha , trong khi đó tiêu
được thâm canh với mật độ dày (2500-2800 trụ/ha) trên đất phì nhiêu đạt 3,5-4,5
tấn/ha8.Vì vậy, ngành Hồ tiêu Việt Nam cũng cần quan tâm đến việc mở rộng diện tích
6 />7 />8 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 15
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
trồng tiêu nhưng phải có sự lựa chọn giống cây đạt năng xuất cao, quá trình canh tác
theo một tiêu chuẩn,có sự quy hoạch từ các bộ, cơ quan có chức năng , chú trọng vào
việc đảm bảo chất lượng sản phẩm, kiểm soát và có biện pháp đối với các loại sâu
bệnh phổ biến ở cây hồ tiêu.
Bên cạnh đó, các nước xuất khẩu hồ tiêu truyền thống trên Thế giới còn đẩy mạnh sản
xuất sản phẩm được chế biến với chất lượng cao, tổ chức chặt chẽ trong việc xuất
khẩu, không thông qua nhiều kênh trung gian, vì vậy, giá tiêu của các nước này cao
hơn so với Việt Nam.
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu sách, báo và các trang mạng, tác giả nhận thấy
rằng: Xuất khẩu là hoạt động không thể thiếu đối với bất kỳ quốc gia nào, đặc biệt là
trong quá trình hội nhập và phát triển.Xuất khẩu luôn luôn có những vai trò nhất định và
quan trọng đối với từng quốc gia.Việt nam cũng đang trên con đường phát triển và hội
nhập,chính vì thế mà đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu cũng là một trong những chiến lược
đang được quan tâm.Tận dụng được lợi thế sản xuất hồ tiêu, cũng như hiểu rõ về yếu tố
cung- cầu hiện nay trên Thế giới, Nhà nước Việt nam nói chung và các doanh nghiệp xuất
khẩu nói riêng đang dần đưa ngành Hồ tiêu trở thành một trong những ngành mang lại
kim ngạch xuất khẩu trọng yếu của cả nước.Tuy nhiên, ngành Hồ tiêu Việt nam hiện nay
vẫn đang còn có những vấn đề bất cập, cùng với sự ảnh hưởng của các nhân tố….
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HỒ TIÊU CỦA VIỆT NAM SANG
THỊ TRƯỜNG MỸ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ
2.1.1 Mỹ là một thị trường “lớn”
Nhắc đến những nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới, thì Mỹ là cái tên được xướng lên
đầu tiên. Thực tế cho thấy, Mỹ vẫn đang duy trì vị thế dẫn đầu của mình trên bảng xếp
hạng 10 nền kinh tế khỏe nhất thế giới từ năm 2000 và có thể giữ vững thứ hạng này
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 16
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
trong 10 năm tới theo dự báo của Trung tâm nghiên cứu kinh tế và kinh doanh (CEBR).
Và theo đánh giá của Qũy Tiền Tệ Quốc Tế(IMF), GDP bình quân của Mỹ 2012 là
49.965 USD, GDP năm 2012 là 15.643 tỷ USD với mức tăng trưởng là 2,2%, dự báo
trong năm 2014-2017 mức tăng trưởng này sẽ là 2,7% và GDP năm 2020 là 23,496 tỷ
USD. Kim ngạch nhập khẩu năm 2012 là 2.314 tỷ USD tăng 8,91% so với năm 2011.9
Với diện tích 9.826.630 km², và dân số năm 2010 là 308.745.583 người tăng 27.3 triệu
người (9,7% ) kể từ Tổng điều tra năm 2000 theo Tổng cục dân số- Kế hoạch hóa gia
đình, thì Mỹ là một thị trường tiềm năng trong việc tiêu thụ hàng hóa với nhu cầu khá
cao. Theo một báo cáo của ngân hàng Morgan Stanley ở Mỹ, thu nhập khả dụng của
người Mỹ năm 2012 là 1,6% tăng 0,7% so với năm 2011, chi tiêu dùng cá nhân năm 2011
là 2,3%. Mật độ dân số tăng 3,4 lần từ 26 người/dặm vuông năm 1910 lên 84,7
người/dặm vuông năm 2010.10
Mỹ vẫn là quốc gia hàng đầu trong công nghệ chế tạo, các nhà máy của Mỹ sản xuất ra
lượng hàng hóa có giá trị tương đương 3.268 nghìn tỷ USD trong năm 2010 chiếm 22,1%
tổng GDP. Các ngành công nghiệp chính của Mỹ như dầu mỏ và khí đốt,ôtô, viễn thông,
điện tử, vũ trụ, hóa chất, dược phẩm, tin học, hàng không…Bên cạnh đó, ngành dịch vụ
như ngân hàng, bất động sản, dịch vụ du lịch….cũng chiếm 76,7% tổng GDP năm
2011(ước đạt là 11,290 tỷ USD). Thế nhưng, ngành nông nghiệp ở Mỹ chỉ chiếm 1,2%
tổng GDP, điều này cho thấy Mỹ tập trung vào các ngành công nghệ cao đòi hỏi trình độ,
nên Mỹ là thị trường tiềm năng cho việc xuất khẩu các mặt hàng nông sản. 11
Hơn thế, Mỹ là nơi tập trung của các tập đoàn, các công ty quốc gia có quy mô toàn cầu
với doanh thu hằng năm thuộc dạng “khủng”. Theo tạp chí Forbes, năm 2012 nước Mỹ
có 524 công ty phát triển với tốc độ chóng mặt với 2 con số được cộng thêm vào phía sau
doanh số bán hàng và lãi ròng trong năm qua, ví dụ như Exxon Mobil với doanh thu 44.8
9 />10 />p_p_id=62_INSTANCE_Z5vv&p_p_lifecycle=0&p_p_state=normal&_62_INSTANCE_Z5vv_struts_action=
%2Fjournal_articles%2Fvi
11 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 17
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
tỷ USD, Wal-Mart Stores với 469.2 tỷ USD, Chevron với 26,2 tỷ USD, Phillips 66 với
169,5 tỷ USD….khi đó việc mở rộng giao thương với Mỹ sẽ dễ dàng giao thương với các
nước khác trong và ngoài khu vực, Việt Nam nhanh chóng hội nhập với xu thế toàn cầu
hóa là xu thế tất yếu và có lợi.12
2.1.2 Các quy định về nhập khẩu của Mỹ.
Theo GS-TS.Võ Thanh Thu và TS. Ngô Thị Ngọc Huyền, mỗi quốc gia đều có những
quy định thương mại khác nhau đối với các nước suất khẩu nhằm đảm bảo lượng cung
cầu, bảo hộ cho các sản phẩm được sản xuất trong nước…..như chính sách về thuế, tiêu
chuẩn sản phẩm hay các quy định nhập khẩu được quy định trong một số Luật Thương
Mại, Luật Nông Sản…và thị trường Mỹ cũng có những quy định riêng.
+ Các loại thuế:
• Thuế theo trị giá: Hầu hết các loại thuế của Mỹ được đánh theo tỷ lệ trên giá trị- tức là
mức thuế được xác định bằng tỉ lệ phần trăm trên giá trị hàng nhập khẩu.Hầu hết thuế tỷ
lệ trên giá trị trong khoảng từ 2%-7%, thông thường là 4%.
• Thuế theo số lượng: Nông sản là đối tượng chịu thuế theo số lượng, đó là một loại thuế
ấn định với số lượng nhất định.Loại thuế này chiếm khoảng 12% số dòng thuế trong biểu
thuế của Mỹ.
+ Mức thuế:
• Mức thuế tối huệ quốc( MFN): là một nước cam kết giành cho một nước khác hưởng
một chế độ ưu đãi, đặc quyền trong thương mại, thì cũng phải dành cho một quốc gia thứ
ba một chế độ đúng như vậy, với mục đích cũng cố và thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các
quốc gia, tạo cơ hội, xóa bỏ kì thị và phân biệt đối xử trong thương mại.
12 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 18
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
+ Quản lý nhập khẩu thực phẩm:Tất cả loại thực phẩm nhập khẩu đều chịu sự điều tiết
của Luật liên bang về thực phẩm, dược phẩm và Hoa kỳ(FDCA), Luật về bao bì và nhãn
hàng(FPLA)…..hay những yêu cầu đặc biệt đối với từng loại hàng hóa.13
2.2 MỐI QUAN HỆ VIỆT-MỸ
Sau hai mươi năm kể từ chiến tranh kết thúc, Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức thiệt lập
quan hệ ngoại giao ngày 12/7/1995, trao đổi Đại sứ quán đầu tiên vào tháng 7/1997, mở
rộng Tổng Lãnh xứ quán Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh và Tổng lãnh xứ quán Việt
Nam tại San Fancisco( tiểu bang California) và một cái ở Houstan (tiểu bang Texsa). 14
Ngoại giao giữa Mỹ - Việt Nam đã trở nên xâu sắc và đa dạng hơn trong những năm bình
thường hóa chính trị. Trong những năm gần đây, Việt – Mỹ đẩy mạnh mở rộng trao đổi
chính trị, đối thoại về nhân quyền, an ninh khu vực thông qua việc kí kết các Hiệp định
song phương Việt – Mỹ (ký ngày 13/7/2000 có hiệu lực ngày 10/12/2001), Quy chế quan
hệ thương mại vĩnh viễn(PNTR)(tháng 11/2000 có hiệu lực 29/12/2006), Hiệp định
khung về Thương mại và Đầu tư(TIFA) kí ngày 21/6/2007…Báo Vneconomic đưa tin
ngày 4/10/2013, quan hệ và các hoạt động hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ vẫn diễn ra bình
thường, trong bối cảnh Chính Phủ Mỹ đang phải đóng cửa một phần vì bị thiếu ngân sách
vào ngày 1/10/2013. Điều này cho thấy, mối quan hệ giữa Việt-Mỹ trên các lĩnh vực
ngoại giao, kinh tế, quân sự đang dần được mở rộng.15
Trong những năm gần đây, Mỹ là đối tác lớn thứ hai trên thế giới và là đối tác thương mại
lớn nhất của Việt Nam trong khu vực Châu Mỹ. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải
quan, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Mỹ năm 2008-2009
chỉ đạt ở mức tương ứng là 14.54 tỷ USD và 14.41 tỷ USD, nhưng đến năm 2012 tổng
kim ngạch đã đạt đến con số 24.53 tỷ USD tăng 12,3% so với năm 2011. Hơn thế, trong 6
tháng đầu năm 2013 Mỹ nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với tổng giá trị đạt gần 10,9
tỷ USD tăng 17,2% so với cùng kỳ năm 2012 chiếm 17,4% tổng kim nghạch xuất khẩu cả
13 />14 />%E1%BB%87t_Nam
15 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 19
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
nước. Ngược lại, tổng giá trị hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ thì trường Mỹ đạt 2,6 tỷ
USD tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa của Việt nam
trong trao đổi với Mỹ luôn duy trì ở mức thặng dư, thực tế cho thấy, năm 2010 mức thặng
dư hàng hóa của Việt nam trong buôn bán trao đổi thương mại của Mỹ vượt qua 10 tỷ
USD, tuy nhiên đến năm 2012 thì con số này lên tới 14,8 tỷ USD. Đối với Mỹ, Việt nam
là đối tác xếp thứ 23 về xuất khẩu hàng hóa.16
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất- nhập khẩu các mặt hàng chủ yếu giữa VIệt Nam và Mỹ
trong những năm 2010-201217
Đơn vị:tỷ USD
Xuất khẩu
Nhập khẩu
Xuất nhập khẩu
2010
14,2
3,77
17,97
2011
16,9
4,53
21,43
2012
19,7
4,83
24,53
Nguồn:Tổng cục Hải Quan
Hình 2.1: Biểu đồ kim ngạch XNK Việt nam- Mỹ từ năm 2010 đến năm 2012
Đơn vị: %
30
25
20
XK
NK
XNK
15
10
5
0
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
16 />17 Xem phụ lục bảng 1.1 và 1.2 trị giá xuất nhập khẩu các mặt hàng chủ lực giữa Việt nam và thị trường Mỹ năm
2010-2012
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 20
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
2.3 THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HỒ TIÊU SANG THỊ TRƯỜNG MỸ
2.3.1 Tình hình xuất khẩu Hồ tiêu của Việt nam sang thị trường Mỹ trong những năm
qua.
Tận dụng thế mạnh về sản xuất Hồ tiêu, hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu đồng thời thực
hiện tốt chính sách ngoại giao với Mỹ, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy một thực tế là
Ngành Hồ tiêu Việt nam đang dẫn đầu thị trường Thế giới nói chung và thị trường Mỹ
nói riêng.Một bài báo kinh tế đã nhận định thực tế này bằng tựa đầu bài báo: “Xuất khẩu
Hồ tiêu Việt nam đang đứng thứ 2 Thế giới”.
Tình hình xuất khẩu Hồ tiêu của Việt nam năm 2010 đến năm 2013
Theo số liệu của cục thống kê, xuất khẩu Hồ tiêu Việt nam đang tăng trưởng liên tục theo
từng năm. Năm 2011 sản lượng xuất khẩu Hồ tiêu là 123808 tấn đạt 732213 nghìn USD
tăng 5,6% về khối lượng và 42,4% về giá trị so với năm 2010. Tính đến hết tháng 9-2013,
xuất khẩu Hồ tiêu của Việt nam đạt 112876 tấn, thu về 747988 nghìn USD tăng 20,9% về
khối lượng và 14,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2012, chiếm gần 50% sản lượng tiêu
xuất khẩu của toàn Thế giới. Theo VPA, giá xuất khẩu tiêu 9 tháng đầu năm nay đạt
6.600USD/tấn giảm gần 250USD/tấn (khoảng 3,62%) so với cùng kỳ năm ngoái. Giá tiêu
đen trung bình là 6.471USD/tấn. Tuy nhiên, nếu tính riêng từng tháng, từ tháng 7 đến
nay, giá hạt tiêu trên Thế giới đã có mức tăng lên, giá tiêu trong nước đến tại thời điểm
này dao động từ 132.000-135.000 đồng/kg. Ông Đỗ Hoài Nam chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu
Việt nam VPA cho biết: “Dự báo năm 2014 tình hình sản xuất xuất khẩu Hồ tiêu tiếp tục
ổn định về giá cả với sản lượng là 130.000 tấn và kim ngạch 900 triệu USD” . Điều này
cho thấy, ngành Hồ tiêu Việt nam đang rất khả quan trong việc đứng vào nhóm những
mặt hàng nông sản có kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD mỗi năm, nếu như ngành Hồ tiêu có
những chiến lược và bước đi nhằm khắc phục những yếu kém còn tồn đọng.
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 21
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất khẩu Hồ tiêu 9 tháng đầu năm 2010- 2013
Sản lượng
2010
97814
2011
109933
2012
93304
2013
112876
(tấn)
Giá trị(nghìn
331444
629845
637223
747988
USD)
Nguồn:Tổng cục thống kê
Bảng 2.3 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Hồ tiêu 9 tháng đầu năm
2010-2013
Đơn vị:%
Sản lượng
Giá trị
2010
-10,29
20,2
2011
11,02
47,37
2012
-17,82
1,15
2013
20,9
14,8
Hình 2.2: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Hồ tiêu 9 tháng năm 2010-2013
Đơn vị:%
60
50
40
30
20
Sản Lượng
Giá trị
10
0
Năm 2010
-10
Năm 2011
Năm 2012
-20
-30
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 22
Năm 2013
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
Từ biểu đồ trên ta nhận thấy, tốc độ tăng trưởng Hồ tiêu năm 2010 đến 2011 tăng rất cao
cả về khối lượng lẫn giá trị. Năm 2010 sản lượng giảm xuống -10,29% so với năm 2009,
tuy nhiên đến 2011 thì sản lượng tăng rất mạnh vượt qua ngưỡng cân bằng và đạt
11,02%. Theo Hiệp hội Hồ tiêu cho biết, xuất khẩu Hồ tiêu năm 2011 có nhiều thuận lợi
về giá từ 80.000-100.000 đồng/kg, nhờ đó,mặc dù sản lượng Hồ tiêu trong năm chỉ đạt
120.000 tấn chỉ tăng 8% so với năm 2010 nhưng tăng 86% về giá trị đạt 720 triệu USD 18.
Tuy nhiên, biểu đồ trên cũng thể hiện, năm 2012 kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh do
nguồn cung trong nước hạn chế,nhưng giá tiêu xuất khẩu năm 2012 tăng lên 6.792
tấn/USD tăng 16% so với năm 2011 nên giá trị xuất khẩu cũng tăng 1,15%. 19 Đến 9 tháng
đầu năm 2013, ngành Hồ tiêu có những bước tiến mới, kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh vì
cả nước hiện có 13 nhà máy chế biến tiêu đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, tổng công suất
lên 60.000 tấn/năm, chủng loại bao bì đóng gói đa dạng, thõa mãn nhu cầu của thị trường
đòi hỏi chất lượng cao như Châu Âu, Mỹ. 20 Điều này chứng tỏ rằng, trong tương lai Hồ
tiêu sẽ là một trong những ngành mang lại kim ngạch cao, và là một thị trường đầy tiềm
năng.
Tình hình xuất khẩu Hồ tiêu sang thị trường Mỹ năm 2010 đến năm 2013
Mỹ là một trong những nước nhập khẩu Hạt tiêu nhiều nhất Thế giới, trung bình mỗi năm
nước này nhập khoảng 60.000 tấn hạt tiêu các loại tương đương với 450 triệu USD.Trong
những năm qua, sản lượng xuất khẩu Hồ tiêu của Việt nam vào thị trường Mỹ tăng đáng
kể. Tổng cục thống kê cho biết, sản lượng Hồ tiêu Việt nam xuất khẩu sang thị trường
Mỹ năm 2010 là 16027 tấn đạt 43615 nghìn USD tăng 7,35% về khối lượng và 24,3% về
giá trị so với năm 2009. Còn chưa dừng ở đó, năm 2011 sản lượng xuất khẩu này tăng
mạnh lên 30,5% về khối lượng và 60,2% về giá trị. Điều này cho thấy, Mỹ là thị trường
đầy tiềm năng đối với ngành Hồ tiêu Việt nam và ngày càng có những tín hiệu mới, 9
18 />19 />20 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 23
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
tháng đầu năm 2013, sản lượng Hồ tiêu nhập khẩu vào Mỹ là 22842 tấn và 116154 nghìn
USD tăng 44,7% về lượng và 43,5% giá trị so với cùng kì năm 201221
Bảng 2.4 Tình hình xuất khẩu Hồ tiêu vào thị trường Mỹ 9 tháng năm 2010-2013
Năm
2010
2011
2012
2013
Sản lượng (tấn)
13749
20324
12630
22842
Giá trị (nghìn USD)
46712
123592
90992
161154
Nguồn: Tổng cục thống kê
Thực trạng hiện nay:
Tuy nhiên, hiện nay việc xuất khẩu Hồ tiêu vào Mỹ vẫn còn có những vấn đề cần quan
tâm và đưa ra phương hướng giải quyết. Như việc, thị trường Mỹ đang ngày càng đòi hỏi
cao hơn về chất lượng sản phẩm. Mới đây, tại Hội thảo về cách thức pháp lý mới cho việc
xuất khẩu hàng hóa, các Luật sư Mỹ cho biết: “ bên cạnh Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm
đang được áp dụng, Mỹ sắp ban hành Luật hiện đại hóa vệ sinh an toàn thực phẩm với
nhiều mặt hàng và có thêm quy trình thẩm tra nhà máy sản xuất” 22. Hơn thế, ngành Hồ
tiêu còn phải chú trọng tới việc xây dựng thương hiệu riêng. Theo một trang báo, “hiện
nay, Hồ tiêu Việt nam đã có mặt trên 150 quốc gia, hằng năm có 95% sản lượng dùng để
xuất khẩu, trong đó 85% xuất khẩu dưới dạng sơ chế và vì chưa có thương hiệu nên đa
phần hạt tiêu Việt nam phải xuất khẩu qua các nước trung gian như Trung Quốc, Ấn
Độ..và được dán tem của các doanh nghiệp nước ngoài” 23 điều này đã làm có giá tiêu
thấp hơn các nước như Indonesia, Malaysia…Ngoài ra, hồ tiêu Việt nam đang có thực
trạng là vì giá Hồ tiêu ngày càng cao, nhiều nông dân đã đổ xô trồng tiêu ở những vùng
không có điều kiện thuận lợi, nên làm cho năng xuất giảm, hiệu quả không cao. Hiện nay,
diện tích Hồ tiêu đã đạt xấp xỉ 60.000ha, vượt mức 50.000ha của Bộ nông nghiệp và phát
triển nông thôn quy định.
21 />22 />23 />
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 24
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP 1
GVHD:Th.S Tạ Hoàng Thùy Trang
2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc xuất khẩu Hồ tiêu ở Việt nam sang thị trường
Mỹ trong thời gian qua.
Môi trường chính trị,pháp luật và chính sách của nhà nước đối với hoạt động xuất
khẩu Hồ tiêu ở Việt Nam.
Việt nam đang trên đường thực hiện chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
mở cửa thị trường, kêu gọi đầu tư từ nước ngoài, tăng cường hợp tác quan hệ ngoại giao
với các nước bạn,đẩy mạnh tham gia vào các tổ chức quốc gia, các diễn đàn kinh tế ….vì
vậy, mà việc xuất khẩu các mặt hàng nắm bắt được nhiều cơ hội tuy nhiên cũng Việt Nam
phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức và đối với việc xuất khẩu ngành hồ tiêu
cũng vậy.
Ngày 11/1/2007 Việt Nam được công nhận là thành viên chính thức của tổ chức Thương
Mại Thế Giới WTO, đây được xem là một bước ngoặt, dấu ấn trong quá trình phát triển
đất nước. Việc gia nhập WTO đã mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa và dịch vụ Việt Nam,
gồm 155 nước thành viên, chiếm 97% GDP toàn cầu. Sau 7 năm gia nhập WTO, kinh tế
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu cũng như đối mặt với thử thách trong phát triển
kinh tế. Hơn thế, dù có xuất phát điểm thấp nhưng trong mọi hoàn cảnh khó khăn của quá
trình hội nhập, ngành nông nghiệp vẫn thể hiện vai trò trụ đỡ, tấm mệm của nền kinh tế.
Thứ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn bà Nguyễn Thị Xuân Thu có nhận
định trên bài báo Tài Chính cơ quan Bộ tài chính ngày 22/11/2013 “từ khi gia nhập WTO
đến nay, cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, nông lâm thủy sản được khẳng định,trong
những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng liên tục ngay cả khi
nền kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng”. Thực tế cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu
nông lâm thủy sản năm 2012 đạt 27,5 tỷ USD tăng 2,5 lần so với năm 2006. Đối với
ngành Hồ tiêu nói riêng, năm 2012 cũng là một năm xuất khẩu thắng lợi đạt khoảng 119
nghìn tấn với kim ngạch 808 triệu USD tăng 10,4% so với năm 2011, đưa ngành Hồ tiêu
SVTH: TRẦN NGỌC ĐAN THANH-11DTM1
Page 25