Tải bản đầy đủ (.doc) (38 trang)

Cuộc đời hồ chí minh giai đoạn 1919 1930

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (174.8 KB, 38 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng. Lịch sử dựng nước và giữ
nước của nhân dân ta đã chứng minh điều đó. Những vĩ nhân như Hùng
Vương, Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,
Nguyễn Trãi... đều là những vị anh hùng có công dựng nước hoặc đánh đuối
giặc ngoại xâm để giành độc lập cho đất nước, ghi những chiến công chói lọi
muôn đời. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những vĩ nhân ấy, là người anh
hùng vĩ đại nhất của dân tộc ta trong thời đại chúng ta. Công lao của Người
đối với nhân ta thật sự như trời như biển. Từ lúc Người ra đời thì đất nước và
nhân dân ta đang chìm trong vòng nô lệ, hai tiếng Việt Nam thân yêu không
còn chỗ đứng trên bản đồ thế giới. Sự lầm than khổ cực bao trùm lấy cả dân
tộc ta. Trước thảm cảnh đó có biết bao người yêu nước đã đứng lên tranh đấu
để giải phóng đồng bào khỏi ách ngoại xâm: cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa
Thám, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu... mỗi người chọn cho mình một
hướng đi riêng, một cách làm riêng, nhưng rốt cuộc tất cả đều bị bọn thực dân
đế quốc dìm trong bể máu.
Giữa lúc ấy có một người thanh niên yêu nước rời tổ quốc ra đi tìm câu
giải đáp cho đường lối cứu nước của dân tộc. Quãng thời gian gần 20 năm, từ
lúc rời xa Tổ quốc 5 - 6 - 1 9 11 đến năm 1930 - đánh dấu bằng sự kiện ra đời
của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã khắng định công lao to lớn mà Người đã để
lại cho dân tộc. Những năm tháng không quản ngại mọi khó khăn, thiếu thốn
đi khắp đó đây, tìm ra con đường đúng đăn - con đường giải phóng dân tộc
theo cách mạng vô sản. Độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội. Chính
Người - Bác Hồ vĩ đại đã cứu nhân dân ta thoát khỏi cuộc đời nô lệ kéo dài
gần 100 năm, Bác đã đem lại độc lập tự do cho đất nước ta, Người đã làm cho
hai tiếng Việt Nam rạng rỡ khắp năm châu bốn biển. Bác còn là một tấm
gương về đạo đức, một mẫu mực về một con người mới. Trên một tờ báo
"Đóm lửa nhỏ " năm 1923 một nhà thơ Liên Xô sau khi gặp Bác đã ca ngợi
Bác Hồ như sau: "Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa không phải văn



hóa Châu Âu, mà có lẽ là nền văn hóa của tương lai".
Hiện nay, công tác nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được rất nhiều tổ
chức, cá nhân quan tâm tìm hiểu, đặc biệt là nghiên cứu thân thế và sự nghiệp
của Hồ Chí Minh. Gần đây nhất là công trình "Hồ Chí Minh tiểu sử” mang
mã sô KX.02.11 đã được Hội đông Trung ương Đảng thẩm định và nghiệm
thu, đây là công trình khoa học phản ánh những tương đối đầy đủ về cuộc đời
và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, để đánh giá cống hiến
của cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh một cách tương đối đầy đủ về một
giai đoạn nhât định đặc biệt là giai đoạn đâu Người ra đi tìm đường cứu nước
cho đến khi Người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam thì chưa có tác giả
nào đi sâu nghiên cứu tiếp cận.
Với vai trò và cống hiến hết sức quan trọng của Người không những đã
để lại cho dân tộc mà còn cả đôi với thời đại, cho nên việc đi sâu nghiên cứu
những cống hiến của Người và vận dụng trong thực tiễn cuộc sống là một yêu
cầu cấp thiết hiện nay. Nhưng ở đây, với phạm vi nghiên cứu là một tiếu luận
hết học phần chỉ gói gọn việc nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp mà Hồ Chí
Minh để lại cho dân tộc và thời đại 1911 -1930. Thông qua việc nghiên cứu
này để đánh giá nhìn nhận sâu sắc hơn những cống hiến của Chủ tịch Hô Chí
Minh trong giai đoạn đâu bôn ba tìm đường cứu nước của Người.
Vì mới tiếp cận môn khoa học Tư tưởng Hồ Chí Minh nên tầm hiểu
biết về tư tưởng Hồ Chí Minh của tác giả chưạ sâu do đó trong quá trình
nghiên cứu cũng không thể tránh thiếu sót và sai lầm. Rất mong thầy cô thông
cảm giúp đỡ em hoàn thành tốt bài tiếu luận hơn.


PHÀN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Sơ LƯỢC BÓI CẢNH LỊCH sử VÀ MỘT SÓ KHÁI
NIỆM
1.


Sơ lược về bối cảnh lịch sử và quá trình hoạt động của Hồ

Chí Minh đến những năm 30.
Vào những năm giữa thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa đã thống trị ở Anh, Pháp, Đức, và một sô nước khác ở Tây Au. Mâu
thuân cơ bản giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản phát triến gay gắt. Cuộc
đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm xóa bỏ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi có một lý
luận tiên phong chỉ đường.
Chủ nghĩa Mác ra đời "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" đã khắng
định, quy luật tất yếu diệt vong của chủ nghĩa Tư bản để nhường bước cho
một xã mới. Đồng thời, chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản. Cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển sang giai đoạn chủ nghĩa
đế quốc căn bản hoàn thành việc phân chia thế giới nô dịch các dân tộc thuộc
địa. Một mâu thuẫn mới của thời đại đã xuất hiện, đó là mâu thuẫn của các
dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc, thực dân. Chính trong bối cảnh lịch
sử ấy, chủ nghĩa Mác - Lênin đã xuất hiện, tiếp tục phát triển Chủ nghĩa Mác.
Năm 1917, V.I. Lênin đã lãnh đạo thắng lợi Cách mạng tháng Mười Nga, mở
ra một thời đại mới trong lịch sử của loài người. Cũng chính trong thời kỳ ấy,
cuộc đấu tranh chống đế quốc đã diễn ra ở một số nước thuộc địa và phụ
thuộc ở phương Đông như: Trung Quốc, Ấn Độ... năm 1858, thực dân Pháp
đưa quân xâm lược nước ta, áp đặt chế độ thống trị thuộc địa, biến nước ta từ
một nước phong kiến thành một nước thuộc địa nữa phong kiến với các chính
sánh bóc lột đàn áp dã man. Từ đấy nhân dân các dân tộc Việt Nam đã liên tục
nổi dậy đấu tranh. Nhưng các cuộc khởi nghĩa đều thất bại.
Năm 1890 chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, trên đất Lam Hồng, nơi có
truyền thống chống ngoại xâm, trong một gia đình Nhà nho nghèo, yêu nước


tiến bộ. Ngay từ lúc còn bé đã hấp thụ truyền thống yêu nước và nhân ái của
dân tộc. Đã theo học Nho giáo từ buổi thiếu thời, sau đó lại bắt đầu tiếp xúc

văn hóa phương Tây. Trong những ngày học ở trường Quốc học Huế.
Ngay thời kỳ ở Nghệ An và những năm học ở Huế, những cuộc đấu
tranh chống cướp đất, chống sưu cao thuế nặng, chống bắt phu, bắt xâu... đã
nhen nhóm lên ở Thành lòng căm thù bọn cưóp nước và bọn bán nước. Lúc
bấy giờ, phong trào Cần Vương chống Pháp của Tôn Thất Thuyết, Phan Đình
Phùng bùng lên rồi bị dập tắt trong biển máu; phong trào Đông Du của Phan
Bội Châu cũng như phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh đều thất bại;
cuộc đấu tranh vũ trang của Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế bị đàn áp... các sự
kiện này, đã để lại trong người thanh niên yêu nước những ân tượng sâu săc
đưa đến những suy nghĩ, phân tích về nguyên nhân thất bại. Dân tộc ta đang
đứng trước một khủng hoảng trầm trọng về con đường cứu nước. Tất Thành
đã quyết chí rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, không đi theo
con đường của các bậc tiền bối mà tìm cách sang Pháp, Phương Tây, đên hang
ô của kẻ thù xâm lược đê "xem nước Pháp và các nước làm ăn như thế nào
rồi trở về giúp đồng bào ta". Đây là điều mới rất quan trọng thể hiện bản lĩnh
độc lập và tư duy sáng tạo của Nguyễn Tất Thành.
Ngày 5 - 6 - 1 9 11 , với lòng yêu nước thiết tha, với hoài bão nhất định
phải tìm cho được con đường cứu nước với lòng tin và sức mạnh của đôi bàn
tay Người bắt đầu rời Tổ quốc, làm phụ bếp trên chiếc tàu Latusơ Tơrêvin, và
lấy tên là "Văn Ba".
Từ đấy cho đến nay là thời kỳ người bôn ba khắp các thuộc địa, các
Châu lục khác nhau, và các nước tư bản phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, đến
các thuộc địa Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh; lao động, đấu tranh, học tập tiếp
xúc với mọi tầng lófp nhất là những người cùng khổ. Người đã đi đến kết luận
quan trọng: ở các thuộc địa như Việt Nam, đâu đâu cũng thấy những tủi nhục
khổ cực của các dân tộc áp bức và sự dã man của bọn đế quốc thực dân, đâu
đâu cũng nổi lên những khát vọng đứng lên tự giải phóng. Còn các nước tư


bản chủ nghĩa tự xưng là tiên tiến văn minh thì đâu đâu cũng phân chia làm

hai loại người: một số ít nhà tư bản ngồi không ăn bám sống giàu có xa hoa,
còn số động những người lao động thì sống cuộc đời làm thuê cực nhọc thiếu
thốn.
Trong những năm sống ở Anh, Pháp, nhất là ở Pari người đã tham gia
thành lập và hoạt động trong tổ chức những người Việt Nam yêu nước, tham
gia hoạt động các tố chức chính trị xã hội, dự các buối Hội thảo các câu lạc bộ
của thanh niên, công nhân, trí thức làm quen với các nhà văn hóa, các hoạt
động chính trị xã hội nổi tiếng của Pháp lúc bấy giờ. Năm 1919, Người vào
Đảng Xã hội Pháp "thế hệ lửa đạn", trong bầu không khí chống chiến tranh
chống chủ nghĩa đế quốc. Đầu năm 1919, thay mặt những người Việt Nam
yêu nước ở Pháp, Người gửi đến Hội nghị Vecxay bản "Yêu sách của nhân
dân Việt Nam".
Những điều mắt thấy tai nghe và những hoạt động chính trị xã hội,
trong 10 năm đi khắp các nước đã giúp cho Nguyễn Ái Quốc từ tinh thần yêu
nước gắn một cách tự nhiên với tinh thần quốc tế, từ tình cảm yêu thương,
thông cảm với những người "Cùng khô", ý thức giai câp từng bước được nảy
nở hình thành. Đó là cơ sở tư tưởng để người phấn đấu tiếp thu bản "Sơ thảo
luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa" của V.I. Lênin và đến Đại hội
Tua, vào năm 1920 thì kiên quyết đứng về phía Quốc tế III. Đây là một bước
ngoặt, một sự chuyển biến về chất trong tư tưởng và cuộc đời của Người.
Nguyễn Ái Quốc trở thành một người sáng lập ra Đảng Cộng sản pháp, vừa là
người yêu nước chân chính và người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Từ năm 1920 đến 1930, là thời kỳ Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động,
vừa đi sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lênin, Người hoạt động trong Đảng
Cộng sản Pháp trên cương vị phụ trách "Ban nghiên cứu thuộc địa" trục thuộc
Đảng Cộng sản Pháp, là đại biểu chính thức tại Đại hội I (1921), Đại hội
(1922) của Đảng
Cộng sản Pháp, hoạt động trong phong trào yêu nước của những người



dân thuộc địa sinh sống ở Pháp, thành lập "Hội Liên hiệp thuộc địa", cho ra
đời tờ báo Le' Paria (Người Cùng khô).
Tiếp đó, Người sang Liên Xô làm việc trong Ban phương Đông của
Quốc tế Cộng sản, tham gia Đại hội Quốc tế nông dân, Đại hội Quốc tế Cộng
sản lần thứ V, Đại hội Công đoàn quốc tế, Đại hội lần thứ IV quốc tế Thanh
niên, Đại hội lần thứ I quốc tế đỏ và sau đó được mời dự quốc tế phụ Nữ.
Người lại được dự những lớp huấn luyện ngắn ngày tại trường Đại học
phương Đông, tiếp xúc các lãnh tụ nổi tiếng của phong trào cộng sản và
phong trào yêu nước của các Đảng, của các dân tộc, được chứng kiến những
thành tựu của Liên Xô trong những năm đầu cuộc cách mạng, nhưng thắng lợi
của chính sách kinh tế mới của Lênin, tất cả những sự kiện ấy giúp Nguyễn
Ái Quốc nâng cao hiểu biết của mình về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tích lũy
thêm kinh nghiệm của phong trào Cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc.
Người muốn đem những gì mình đã tiếp thu, tổng kết, vận dụng vào thực tiễn
phong trào Cách mạng Việt Nam và phương Đông: "Trở về nước, đi vào quần
chúng thức tỉnh họ, to chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu
tranh giành tự do độc lập".
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc được Quốc tế Cộng sản cử làm phái
viên Ban thư Viễn Đông của Ban chấp hành Quốc tế cộng sản. Từ năm 1925
đến 1927, với điều kiện thuận lợi của Cách mạng dân chủ tư sản Trung Quốc
đang ở cao trào mới, với sự giúp đỡ phái bộ cố vấn Liên Xô tại nam Trung
Quốc, Người đi vào tổ chức đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ cốt cán, hạt
nhân của phong trào của cách mạng Việt Nam. Người đã xuất bản tác phẩm
nổi tiếng "Bản án chế độ thực dân Pháp".
Năm 1925, Người lập Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, ra báo
Thanh niên, viết tác phẩm "Đường Kách mệnh" chuẩn bị điều kiện cho sự ra
đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người cũng đã cùng các nhà Cách mạng ở
các nước phương Đông thành lập "Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á
Đông", góp phần thúc đẩy cho phong trào cách mạng ở Thái Lan, Malayxia,



Lào...
Sự kiện quan trọng có ý nghĩa quyết định cho sự nghiệp Cách mạng
nước ta là ngày 3/2/1930, theo Chỉ thị và thay mặt Quốc tế Cộng sản Người
chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập ra một Đảng cộng
sản thống nhất lây tên là Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã trình bày
"Chánh cương vắn tắt", "Sách lược vắn tắt", ra "Lời kêu gọi" quốc dân đồng
bào nhân dịp ra đời. Những văn kiện này tuy ngắn gọn nhưng nêu được
những phương hướng và những vấn đê cơ bản của cách mạng Việt Nam một
cách đúng đăn. Có thê nói, với "Bản án chế độ thực dân Pháp", "Đường kách
mệnh", "Chánh cương vắn tắt", "Sách lược vắn tắt", tư tưởng Hồ Chí Minh đã
hình thành cơ bản.
2.

Một số khái niệm có liên quan

Cuộc đời: Quá trình sống của một người, một cá thể sinh vật, nhìn một
cách một bộ từ lúc sinh ra cho đến lúc chết.
Sụ' nghiệp: Những công việc lớn có lợi chung và lâu dài cho xã hội.
Tư tưởng: Là những quan điểm, suy nghĩ của cá nhân hoặc tập thể về
con người, về xã hội.
Dân tộc: là cộng đồng người hình thành trong cuộc sống có chung một
lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, văn hóa, tính cách, có chung một ngôn ngữ và
được hình thành trong cuộc sống từ sau bộ lạc.
Thời đại: Là khoảng thời gian lịch sử dài được phân chia ra theo những
sự kiện có những đặc trưng giông nhau.
Nghiên cứu tiểu sử, nghiên cứu về cuộc đời của một nhân vật lỗi lạc thu
hút sự chú ý của người khác về công lao, đức độ, sáng chế, phát minh... mà
nhân vật đó đem lại cho dân tộc và nhân loại. Tiểu sử có nhiệm vụ miêu tả
cuộc sống của một cá nhân thông qua môi trường môi quan hệ xã hội rộng

lớn: Từ sự quy định của những điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể, nó cố gắng
làm sáng tỏ những nhân tố chủ quan và khách quan đã tạo nên tư tưởng, sự
nghiệp mà cá nhân đã cống hiến cho dân tộc và thời đại mình. Do đó nghiên


cứu cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh ở đây chủ là nghiên cứu những
cống hiến to lớn mà Người đã để lại cho dân tộc, cho thời đại.
CHƯƠNG II: NHỮNG CỐNG HIẾN MÀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ
MINH
ĐẺ LẠI CHO DÂN Tộc VÀ THỜI ĐẠI
©®®
1.

Tổng quan các sự nghiệp

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đã tiếp thu Chủ nghĩa Mác Lênin và truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam. Người là người
chiến sĩ đầu tiên đã tìm ra con đường giải phóng cho giai cấp công nhân và
dân tộc thoát khỏi xiềng xích của chế độ thực dân và phong kiến. Địa vị có
một không hai trong lịch sử dân tộc của Nguyễn Ái Quốc đã được xác lập và
củng cố vững chắc nhờ công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại mà Người đã cống
hiến cho cách mạng Việt Nam.
Người đã tìm ra đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo con
đường cách mạng vô sản; đó là con đường kết họp chủ nghĩa yêu nước chân
chính với chủ nghĩa Quốc tế trong sáng, độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội, kết họp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, từ đó chấm dứt
cuộc khủng hoảng về đường lối, mở ra thời đại oanh liệt trong lịch sử dân tộc,
thời đại Hồ Chí Minh.
Người đã có công đầu trong việc truyền bá và vận dụng sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênỉn vào Việt Nam, vận dụng thế giới quan và phương pháp
luận Chủ nghĩa Mác - Lênin để đánh thức các tiềm năng tinh thần truyền

thống của Việt Nam, bồi dưỡng những nhân tố bảo đảm cho thắng lợi cách
mạng Việt Nam.
Trong sự nghiệp lớn lao của mình, Hồ Chí Minh đã xây dựng những
tiền đề tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của một chính Đảng của
một giai cấp công nhân ở Việt Nam, thống nhất các tổ chức Cộng sản đầu tiên
trong nước để sáng lập nên Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình hoạt


động của mình dù ở nơi đâu trong nước hay ngoài nước, Người lúc nào cũng
luôn chăm lo giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta vượt qua mọi thử thách
khó khăn, đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi như ngày nay.
Khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng được Người dày công xây đắp
vững chắc làm nên tảng sức mạnh chiên thăng mọi kẻ thù. Tư tưởng lớn của
Người đã được diễn tả cô đọng ừong khẩu chiến lược "Đoàn kết đoàn kết, đại
đoàn kết; Thành công thành công, đại thành công" - đã trở thành nguồn cổ
vũ, động viên thành ngọn cờ tập họp, vây gọi đôi với mọi người yêu nước
trong cuộc đâu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Người là người cha thân yêu của lực lượng vũ trang thân yêu của cách
mạng Việt Nam "Từ nhân dần mà ra, vì nhân dân mà chiến đẩu" đã bồi
dưỡng cho họ tinh thần bất khuất quyết tâm chiến đấu, quyết thắng với kẻ thù
và đã làm nên những chiến công vang vội, được nhân dân thế giới công nhận,
khâm phục và ca ngợi. Người đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ Cộng
hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, Người đặt nền
móng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền chủ nghĩa xã hội, "của dãn,
do dân, vì dân".
Hồ Chí Minh là nhà chiến lược thiên tài cùng với việc sáng lập ra Đảng
Cộng sản Việt Nam, Người cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng
lợi hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra thời kỳ sụp đổ hệ
thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và làm thât bại một bước chủ nghĩa

thực dân mới, góp phân tác động sâu xa vào tiên trình lịch sử thê giới trong
thê kỷ XX.
Người đã khởi xướng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở một nước
nông nghiệp lạc hậu chưa qua chủ nghĩa tư bản, bị chiến tranh tàn phá, từng
bước làm cho "Người nghèo đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu
thì giàu thêm" đi đến một xã hội dân giàu nước mạnh, trong đó là dân chủ,
cán bộ nhà nước chỉ là công bộc của dân.


Người còn là nhà giáo dục vĩ đại đã định hướng cho sự ra đời một nền
văn hóa, một xã hội với nhân cách mới, góp phần cùng với Đảng đào tạo ra
một thế hệ chiến sĩ Cách mạng kiểu mới, từ lãnh tụ lớp đầu cho đến đội ngũ
cán bộ chiến sĩ hoạt động ở cơ sở, tất cả đều có một lòng một dạ sống chiến
đấu theo tấm gương đạo đức của Người, tận trung với nước tận hiếu với dân,
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, khiêm tốn, giản dị... Và chính họ góp
phần đưa ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh đến thắng lợi rực rỡ như ngày nay.
Suốt cuộc đời hoạt động sôi nổi và vô cùng oanh liệt của mình Hồ Chí
Minh đã để lại cho dân tộc và cho thời đại những cống hiến sáng tạo và to
lớn. Công lao to lớn, sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa
Người lên địa vị người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà tư tưởng lỗi
lạc, nhà lý luận sáng tạo của cách mạng Việt Nam. Người là đỉnh cao của văn
hóa Việt Nam là mẫu mực đẹp nhất của con người Việt Nam. Sự nghiệp vĩ đại
của Người đã làm vẻ vang cho đất nước Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam và
đóng góp xứng đáng cho nhân loại. Bắt đầu đánh dấu mốc quan trọng cho
cuộc đời hoạt động cách mạng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chính là thời
điểm Người bước lên tàu Latusơ Torêvin sang nước Pháp ngày 5 - 6 - 1911.
Và giai đoạn đầu 1911 - 1930, đây chính là giai đoạn hình thành trong con
người Hồ Chí Minh những tư tưởng cơ bản và quyết định trong hệ thống tư
tưởng của Người trong những giai đoạn tiếp theo thông qua những sự nghiệp
to lớn mà Người đã để lại cho dân tộc và thời đại trong dân tộc này.

2.

Một số sự nghiệp lớn mà Hồ Chí Minh đã để lại trong thời kỳ

1911 -1930
2.1.

Sáng tạo trong vận dụng và phát triển học thuyết của Lênìn về

cách mạng thuộc địa
V.ILêninn là người đã sớm thấy sức mạnh to lớn của phong trào giải
phóng dân tộc và là Người viết đề cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa, trong
đó nhấn mạnh tư tưởng phải kết hợp chặt chẽ phong trào cách mạng vô sản
chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa, các nước làm cách


mạng vô sản thành công, giúp đỡ cách mạng ở các nước thuộc địa, nhất là các
nước kinh tế lạc hậu, còn nhiều tàn tích phong kiến... nhưng Lênin đã đặt cách
mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng chính quốc và chỉ có thắng lợi khi
cách mạng vô sản chính quốc thắng lợi. Nguyễn Ái Quốc đi theo Quốc tế III,
tin theo V.ILêninn nhưng Người đứng trên lập trường của một người dân
thuộc địa và là người Cộng sản đã lăn lộn trong phong trào thuộc địa và
nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa thực dân nên Người đã đề ra những luận điểm
về tính chủ động tích cực của Cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân các
nước thuộc địa, bố sung vào luận điếm chung lúc bấy giờ. Theo Nguyễn Ái
Quốc, Cách mạng giải phóng dân tộc ở các thuộc địa không hoàn toàn phụ
thuộc vào Cách mạng chính quôc mà nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ
thuộc có thế "Chủ động đứng lên đem sức ta mà giải phỏng cho ta", giành
thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc. Nguyễn Ái Quốc xuất phát từ
thực tiễn các dân tộc thuộc địa châu Á và Việt Nam.

Từ khát vọng cháy bỏng được độc lập tự do mà khẳng định: Trước hết
phải tiến hành dân tộc cách mạng, cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi rồi
mới có địa bàn tiến lên làm giai cấp cách mạng, nghĩa là cách mạng Việt Nam
đã trãi qua hai giai đoạn, hai quá trình cách mạng không tách rời nhau, nhưng
có cái phải làm trước, có cái phải làm sao, trong cách mạng giải phóng dân
tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp để đi đến giải phóng hoàn toàn.
Do đo theo Người, lộ trình cách mạng ở các nước thuộc địa là đi từ cách
mạng giải phóng dân tộc, đến giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Trong Tuyên ngôn của Hội liên hiệp các thuộc địa (1921), Người viết:
"Công cuộc giải phóng anh em chỉ cố thế thực hiện được bằng sự nỗ lực của
bản thân anh em". Đen Đường kách mệnh (1927), Người lại chỉ rõ: "Muốn
người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp mình đã" và Người dự báo:
"Việt Nam dân tộc thành công thì công nông Pháp làm giai cấp cách mạng
càng dễ".
về phía phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Người nhận thức rõ


tiềm năng cách mạng của dân tộc bị áp bức là rất to lớn, nó sẽ vùng lên mạnh
mẽ, hình thành một lực lượng khổng lồ "Khỉ được giáo dục, tổ chức, lãnh
đạo". Ngay từ 1921, Người viết: "Người châu Á tuy bị phương Tây coi là lạc
hậu, họ vẫn hiểu hơn ai hết sự cải tạo toàn bộ xã hội hiện nay. Người đã dự
báo: "Ngày mà hàng trăm triệu nông dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức
tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của vài tên thực dân lòng tham không đáy, họ
sẽ hình thành một lực lượng khống lồ và trong khỉ thủ tiêu một trong những
điều kiện sổng còn của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quôc, họ cổ thê giúp
đỡ anh em phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn". Cũng từ đánh
giá đó, Người đi đến khắng định: vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới tùy
thuộc phần lớn vào các thuộc địa. Do đó, phong trào cách mạng ở các nước
thuộc địa là: "Một cái cánh cách mạng thế giới".
Như vậy, luận điểm về khả năng giành thắng lợi của Cách mạng thuộc

địa trước chính quốc và nhân dân thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng cho
mình là một sáng tạo có tâm quan trọng to lớn của Hô Chí Minh, bô sung phát
triển lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá sáng
tạo đó ngang cùng với sáng tạo của V.ILêninn khi V.ILêninn đưa ra luận điểm:
"Cách mạng vô sản có thể thành công trong một nước thậm chí trong một nhà
nước là nơi tập trung mâu thuẫn" để thay thế luận điêm của Mác: "Cách mạng
vô sản chỉ có thể thành công đồng thời ở các nước".
Luận điểm sáng tạo đó của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn
rất quan trọng đó là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc và Đảng ta tin tưởng và quyết
định tổ chức lãnh đạo nhân dân Việt Nam đứng lên làm cách mạng đê giải
phóng khỏi ách thống trị của đế quốc và sự nghèo nàn lạc hậu. Đó cũng chính
là cơ sở của tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự cường của nhân dân Việt Nam
trong sự nghiệp cách mạng. Nhờ tinh thần đó mà cách mạng Việt Nam giành
được những thắng lợi vĩ đại. Thực tế là sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt
Nam không phải giải quyết ở Pari như các lãnh tụ cộng sản Pháp đã khẳng
định mà là ở Việt Nam, mà là do kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân


dân Việt Nam. Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đã thành công trước
cách mạng vô sản ở Pháp, Mỹ, và đã góp phần thúc đẩy phong trào giai cấp
công nhân và nhân dân lao động Pháp, Mỹ và các nước khác.
2.2.

Hồ Chỉ Minh là người dân thuộc địa và là người Cộng sản đầu

tiên có cống hiến to lớn về nghiên cứu chủ nghĩa thực dân về vẩn đề giải
phóng dân tộc
Ngay từ những bài báo đầu tiên khi còn hoạt động ở Pháp, Người viết
vào những năm 1919 cho đến những bài báo Người viết những năm 1926,
Người đều tập trung vạch trần bản chất và tội ác của chủ nghĩa thực dân; nêu

rõ nổi đau khổ của kiếp người mất nước, nguyện vọng khát khao được giải
phóng, cuộc đấu tranh phản kháng của nhân dân thuộc địa không phải ở Việt
Nam, Đông Dương mà ở hầu hết các thuộc địa của Pháp, Anh, Hà Lan, Bồ
Đào Nha... Để vạch trần bản chất thế nào là "Khai hóa văn minh" đối với các
thuộc địa; phê phán nhận thức sai lầm về các thuộc địa là "Những vùng đất
bình yên trên nắng dưới cát với dừa xanh ", Người đã khái quát "Lịch sử bất
cứ cuộc xâm chiếm bất cứ thuộc địa nào thì từ đầu đến cuối đều được viết
bằng máu của người bản xứ" và "Các thuộc địa là hiện thân của chế độ dã
man, tàn bạo của bọn thực đổi với hàng triệu dân bản xứ". Người đấ vạch
trần những luận điệu giả tạo của bọn đế quốc thực dân. Theo Người, bọn thực
dân đế quốc vơ vét, bóc lột dân bản xứ để cung cấp cho chúng nhằm phục vụ
những cuộc chiến phi nghĩa. Tất cả sinh lực của bọn thực dân ở chính quốc
phần lớn đều lấy ở thuộc địa: "Thuộc địa là nơi chủ nghĩa tư bản lẩy nguyên
liệu cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ công nhân rẻ
mạt cho đạo quân lao động của nỏ và nhất là tuyển những bỉnh lính người
bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nổ".
Trên cơ sở thực tiễn tình hình thế giới, người đã nhận thức rằng ngày
nay chủ nghĩa đế quốc đã tiến tới như một khoa học thống trị vô sản chính
quốc và vô sản thuộc địa: "Nó dùng những người vô sản da trắng để chỉnh
phục những người vô sản thuộc địa. Sau đó nó lại tung những người vô sản ở


thuộc địa này đi đánh những người vô sản ở thuộc địa khác
Sau hết nó dựa vào người vô sản ở các thuộc địa để thống trị người vô
sản "da trắng". Và Người đã đưa ra luận điểm nổi tiếng về bản chất của bọn
thực dân đế quốc trong quá trình bóc lột khai thác thuộc địa: "Chủ nghĩa đế
quốc ỉà một con đỉa với một cái vòi bám vào giai cấp vổ sản chính quôc và
một cải vòi khác bám vào giai cấp vô sản các nước thuộc địa". Và nếu muốn
giết con vật ghê tởm ấy không có cách nào khác hơn là đoàn kết lại cắt cả hai
cái vòi kia; Người nói: "Neu người ta muốn giết con vật ấy người ta phải

đồng thời cắt cả hai cái vòi. Nêu người ta cắt một cái vòi mà thôi, thì cái vòi
kia vẫn tiếp tục hút máu của giai câp vô sản, con đỉa vẫn tiếp tục sổng và cải
vòi bị cat đứt sẽ tiêp tục mọc ra”.
Từ đó, Người vạch rõ chủ nghĩa thực dân không chỉ là kẻ thù các dân
tộc bị áp bức mà đồng thời là kẻ thù của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động chính quốc. Cũng từ luận điểm nổi tiếng đó và quán triệt sâu sắc luận
điểm của V.ILêninn và mối quan hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng
thuộc địa, trong các Đại hội của Đảng Cộng sản Pháp và Đại hội V của Quốc
tế cộng sản, Người kiên quyết đấu tranh phê phán những người cộng sản
chính quốc coi nhẹ vấn đề thuộc địa, không quan tâm đến cách mạng ở thuộc
địa. trong thư gửi Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, Người nêu rỗ vấn đề:
"Phân bộ Pháp, phân bộ Anh và những phân bộ các nước thực dân khác đã
làm gì cho các thuộc địa của chủ nghĩa tư bản nước họ? Những chiên sĩ các
phân bộ ây có hiếu thuộc địa là như thế nào không?
Người, trả lời "không" và thẳng thắn phê phán Đảng Cộng sản Pháp:
"Là một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, tôi lấy làm tiếc phải nói rằng, Đảng
Cộng sản Pháp chúng tôi làm ít và rất ít cho các nước thuộc địa".
Trong thực tế năm 1925, Đảng Cộng sản pháp đã có những chuyển biến
rõ rệt trong thái độ chống chủ nghĩa thực dân. Nhà sử học Pháp Sáclơ
Phuốcniô, cho rằng thời kỳ Đảng Cộng sản mới thành lập tròn đấu tranh
chống di sản của quốc tế II, "Nguyên Ái Quốc đã cỏ đỏng góp quan trọng vào


việc hình thành truyền thong chổng chủ nghĩa thực dân - một trưyền thống
làm vẻ vang cho Đảng Cộng sản Pháp" và kết luận: "Vậy thì hắn rằng
Nguyễn Ái Quốc phải được coi là một trong những thầy của Đảng Cộng sản
Pháp về những vấn đề thuộc địa". Thực tế lịch sử đã chứng minh một cách
xác đáng, Hồ Chí Minh là người chiến sĩ tiên phong lên án chủ nghĩa thực
dân, đế quốc và cũng là người đã thi hành bản án chôn vùi chủ nghĩa thực dân
ở Việt Nam mở đầu cho thời kỳ chủ nghĩa thực dân trên thế giới.

2.3.

Người đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc tiếp thu Chủ nghĩa Mác Lênin: "Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng", Hồ Chí Minh đã xác định
cách mạng không phải là công việc bất cứ nhóm người nào mà công việc
chung của nhân dân, của toàn dân. Ở đây Hồ Chí Minh xác định nhân dân
gồm nhiều chục triệu con người nếu không thức tỉnh giác ngộ và không được
tổ chức lại thì họ cũng không thành lực lượng, không thành mọi sức mạnh.
Chính vì vậy, ở Pháp năm 1923 Nguyên Ai Quôc đã viêt: "Đôi với tôi câu trả
lời đã rõ ràng: trở vê nước đi vào quần chúng thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn
kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu giành tự do độc lập".
Đẻ làm được những việc có tầm rộng lớn ấy Nguyễn Ái Quốc thấy rõ
phải đưa Chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng mới vào phong trào
yêu nước Việt Nam. Từ đó thành lập Đảng Cộng sản đê lãnh đạo sự nghiệp
cách mạng. Điều này đã được Người khẳng định: "Trước hết phải có Đảng
cách mệnh để trong thì vận động và tố chức dân chúng ngoài thì liên lạc với
dân tộc áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng cổ vững thì cách mệnh mới
thành công, cũng như người cầm ỉáỉ cổ vững thì thuyền mới chạy". Đe làm
tròn sứ mệnh lịch sử của mình, Đảng xây dựng khối liên minh công nông
vững chắc và sau này là khối liên minh của công nhân với nông dân và trí
thức để từ đó tập hợp huy động được các tầng lớp nhân dân đông đảo vào Mặt
trận dân tộc thống nhất - Mặt trận đại đoàn kết dân tộc. Một trong những nhân
tố quyết định thắng lợi của cách mạng không phải chỉ có ở trong cách mạng


dân tộc dân chủ nhân dân mà cả trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Khối liên
minh ấy càng vững thì Mặt trận dân tộc thống nhất càng được mở rộng và
càng được phát huy được sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân. Trong tác
phẩm Đường kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã đề cập đến việc tổ chức lực

lượng quần chúng trước hết là công nhân và nông dân. Trong các mục lớn của
tác phẩm, Người đã để 3 mục cuối nói về cách tổ chức công nhân vào Công
hội, Nông dân vào Nông hội và các tổ chức các loại hình hợp tác xã để làm
cho thợ thuyền, dân cày những người buôn bán đều có lợi thiết thực. Trong
báo thanh niên, phụ nữ, học sinh, binh lính, phụ lão... những cách làm đó
hoàn toàn phù hợp với nhu cầu làm chuyển biến phong trào cách mạng Việt
Nam, lúc đó đê cách mạng Việt Nam đi vào con đường mới không giống như
các con đương mà các nhà yêu nước lớp trước đã đề ra.
2.4.

Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trải qua nhiều năm phấn đấu gian khổ, tìm tòi chân lý cách mạng, với
lòng yêu nước nồng nàn và nhận thức kinh nghiệm tích lũy trong hoạt động
cuộc sông thực tiên, Nguyên Ai Quôc tiêp nhận và vận dụng Chủ nghĩa Mác Lênin đê xác lập hệ thông luận điêm cách mạng. Đó chính là cơ sở cho việc
hoạch định con đường giải phóng dân tộc. Người xác định cách mạng Việt
Nam vận động và phát triên theo quỹ đạo cách mạng vô sản, hòa nhập vào
trào lưu phát triển của thời đại và là bộ phận của cách mạng thế giới.
Từ thực tiễn, Cách mạng Việt Nam và vận dụng Chủ nghĩa Mác Lênin. Nguyên Ai Quôc nhận thức rõ sự phân hóa giai câp và mâu thuân giai
cấp ở Việt Nam khác với các nước phương Tây ở mức độ tài sản. Người xác
định đấu tranh giai cấp ở Việt Nam không giống phương Tây. Nguyễn Ái
Quốc khẳng định chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước và đang
được hiện đại hóa khi nó đang chuyên từ bộ phận ưu tú này sang bộ phận ưu
tú khác của dân tộc.
Năm 1920, sau gần 10 năm bôn ba tìm đường cừu nước, đã qua nhiều
châu lục, nghiên cứu nhiêu cuộc cách nôi tiêng trên thê giới lúc bấy giờ. Bên


cạnh đó,
Người cũng nghiên cứu nhiều trào lưu tư tưởng. Cuối cùng một lần trên

báo L'humanute số 16 và 17, tháng 7/1920 đăng bản Sơ thảo lân thứ Luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đã bắt gặp Chủ nghĩa
Mác - Lênin tại đây và Người đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin tìm thấy con
đường giải phóng dân tộc. Những năm tiếp theo 1920 - 1930, Nguyễn Ái
Quốc hoạt động sôi nổi trong Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản
chuẩn bị những điều kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trên cả 3 mặt: tư
tưởng, chính trị và tổ chức. Những quan điểm, tư tưởng, của Người trong thời
kỳ này là mâu mực về sự trung thành Chủ nghĩa Mác - Lênin và thể hiện sâu
sắc, tinh thần, độc lập, tự chủ, sáng tạo. Người đã vận dụng và phát triên Chủ
nghĩa Mác - Lênin phù hợp với hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến
trên những vấn đề rất cơ bản. Sự ra đời Đảng Cộng sản ở Việt Nam đánh dấu
những bước phát triển quan trọng đối với cách mạng Việt Nam.
Thứ nhất, Người đã tố cáo Chủ nghĩa đế quốc ở một xã hội thuộc địa
nửa phong kiến chỉ ra những thủ đoạn đàn áp bóc lột dã man của bọn thực dân
đối với thuộc địa qua tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp". Tác phẩm
này không chỉ tố cáo bản chất bóc lột của chủ nghĩa thực dân mà còn là người
thi hành bản án chôn vùi chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam mở đầu cho thời kì
sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới.
Thứ hai, gắn cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc với cuộc đấu tranh giải
phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người. Nguyễn Ái Quốc đã
vượt lên so với các nhà yêu nước tiền bối, khi gắn con đường giải phóng dân
tộc ở nước ta với con đường cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với
Chủ nghĩa xã hội. Từ sự kiện đó, đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng đường lối
và lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Thứ ba, Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng giải phóng dân tộc ở các
nước thuộc địa là một trong hai động lực cơ bản của cách mạng thế giới. Với
hình tượng "con chim hai cảnh" Nguyễn Ái Quốc đã cụ thể hóa, làm sâu sắc


thêm khâu hiệu chiên lược, "giai câp vố sản và các dân tộc áp bức đoàn kết

giai cấp lại". Người còn khăng định, cách mạng vô sản thuộc địa có thê thành
công trước cách mạng vô sản chính quốc và có thể giúp để anh em phương
Tây làm cách mạng. "Ngày mà hàng triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và bị áp
bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của vài tên thực dân lòng tham
không đáy họ sẽ hình thành những lực lượng khống lồ và trong khỉ thủ tiêu
trong những điều kiện sống còn của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, họ
có thể giúp đỡ những anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phổng
hoàn toàn". Việc Người khăng định tính chủ động Cách mạng thuộc địa và
vai trò của cách mạng thuộc địa trong mối quan hệ với vô sản chính quốc là
bước phát triển lý luận về cách mạng vô sản ở khu vực rộng lớn mà Mác,
Ăngghen và Lênin do điều kiện lich sử đã chưa tiêp cận sâu săc và đây đủ.
Không chỉ nhận thức đúng trong hoạt động thực tiên mà Người còn thẳng
thắn phê phán thái độ thờ ơ lãnh đạm của người cộng sản ở các nước tư bản
đối với phong trào giải phóng dân tộc "Sức mạnh của mỗi dân tộc sẽ được
nâng lên nếu cổ sự kết hợp chặt chẽ của cách mạng thuộc địa và cách mạng ở
chính quốc".
Thứ tư, làm sáng tỏ và khẳng định nhân tố yêu nước trong việc ra đời
hợp với quy luật của một Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa.
Các nhà sáng lập lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học đều quan niệm
Đảng Cộng sản là sự kết hợp của hai yếu tố Chủ nghĩa Mác - Lênin và phong
trào công nhân. Vận dụng sáng tạo trên vào việc chuấn bị thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nguyên Ai Quôc xuât phát từ đặc điêm của dân tộc là
"Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cỏ một lòng nồng nàn yêu nước" đế bắt đầu
truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào yêu nước Việt Nam, giáo
dục, rèn luyện những người yêu nước, để họ tự giác chuyển từ các xu hướng
chính trị khác nhau sang lập trường vô sản. Thông qua phong trào vô sản hóa
đế truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và kết quả của
quá trình đó là sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930). Việc



Nguyễn Ái Quốc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào yêu nước,
làm sáng tỏ khẳng định yếu tố yêu nước trong một quy luật ra đời Đảng Cộng
sản ở một nước lạc hậu, chưa phát triển, chứng tỏ Nguyễn Ái Quốc luôn trung
thành với lý tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học nhưng không giáo điều, máy
móc mà luôn có những sáng tạo, góp phần phát triển lý luận xây dựng chính
Đảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Thứ năm, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến
lược: Chống đế quốc và độc lập dân tộc, chống phong kiến giành ruộng đất
cho nông dân. Với tư duy độc lập Nguyễn Ái Quốc đã giải quyết rất sáng tạo
mối quan hệ hai nhiệm vụ chiến lược, tư tưởng cơ bản của Người là nhiệm vụ
chống đế quốc giành độc lập dân tộc lên hàng đầu còn nhiệm vụ chống phong
kiến đem lại ruộng đất cho nhân dân rải ra thực hiện từng bước phục vụ cho
chống đế quốc. Việc sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề dân tộc và giai cấp
của Người thể hiện trong suốt quá trình cách mạng giải phóng dân tộc và cách
mạng xã hội chủ nghĩa.
Đe thực hiện thắng lợi ừong đường lối trên trong tập hợp lực lượng
cách mạng, Nguyễn Ái Quốc chủ trương "Đại đoàn kết" trên cơ sở liên minh
công nhân và nông dân dưới sự lãnh đạo Đảng. Đối với địa chủ vừa và nhỏ, tư
sản dân tộc, chẳng những không coi họ là đối tượng đấu tranh mà Người chủ
trương hết sức lôi kéo họ về phía cách mạng, chĩa mũi nhọn vào bọn đế quốc
và bè lũ địa chủ tay sai. Những chiến lược do Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị cho
sự ra đời của Đảng là nền móng vững chắc, là cơ sở lý luận để hình thành
đường lối cách mạng của Đảng. Tư tưởng đó trở thành chuẩn mực, để Đảng ta
khắc phục những sai lầm có tính chất giáo điều tả khuynh và những trào lưu
hữu khuynh xét lại.
3.

Một số tác phẩm tiêu biểu

3.1.


Hoạt động sôi nổi trên đất Pháp và bản yêu sách 8 điểm

Chiến tranh thế giới thứ nhất đang ngày càng mở rộng và ngày càng ác
liệt. Cuối 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp. Ở Pari chiến tranh đã


gây nên bao khó khăn cho nhân dân. Giá cả tăng vọt, lương thực - thực phẩm
khan hiếm vì phục vụ cho chiến tranh. Bãi công biểu tình diễn ra khắp mọi
nơi của giai cấp công nhân. Nước Pháp đã kiệt quệ vì chiến tranh cho nên
chúng ra sức vơ vét thuộc địa, trong đó có Việt Nam.
Qua một thời gian theo dõi diễn biến chính trị, xã hội ở Pháp và tích
cực liên hệ với những người Pháp, người Việt có tư tưởng tiến bộ, đặc biệt
Người đã nhìn thấy trong nhiều Đảng phái chính trị thì Đảng xã hội Pháp là
Đảng tiến bộ - gương cao ngọn cờ Đại cách mạng tư sản Pháp - tự do - bình
đăng - bác ái. Người đã tự nguyện tham gia vào Đảng xã hội Pháp vào năm
1919. Người thấy rằng, “đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi,
là tô chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quỷ của đại cách mạng Pháp: tự
do, bình đãng, bác ái
Chiến tranh kết thúc, các nước thắng trận như Anh, Mỹ, Pháp.... và một
bên là các nước thua trận như Ý, Nhật.... tổ chức Hội nghị VecXay. Nhiều tổ
chức cán bộ gửi yêu sách, nguyện vọng đến Hội nghị, những người Việt Nam
yêu nước ở Pháp có Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành
đã thảo luận thống nhất bản yêu sách 8 điểm do Nguyễn Tất Thành đề xuất và
ký tên là Nguyễn Tất Thành. Nhờ nhạy cảm với chính trị và được sự chuẩn bị
chu đáo bản yêu sách đã được công bố công khai trên báo chí trước ngày khai
mạc Hội nghị VécXây. Do đó, điều tất nhiên đặt ra trước mắt các nguyên thủ
quốc gia tham gia Hội nghị là cần phải xem xét và công luận đã lên tiếng thì
nhân dân Pháp và các lực lượng tiến bộ sẽ ủng hộ. Nội dung yêu sách nói lên
nguyện vọng của các dân tộc nhược tiểu hy vọng những lời cam kết chính

thức và quan trọng của các cường quốc về chế đế nhân đạo, công lý sẽ được
thực hiện, những yêu sách này là nguyện vọng chính đáng và nhu cầu tối
thiểu cần được hưởng của một dân tộc, của một con người bình thường được
sống trong thời đại.
"Bản yêu sách" được in rộng rãi thành truyền đơn bằng tiếng Pháp cho
nhân dân Pháp đọc. Tiếng Việt cho người Việt ở Pháp và một số đưa về trong


nước gây sự tác động mạnh mẽ trong dư luận. Lần đầu tiên, thay mặt cả nhân
dân An Nam, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành dám dũng cảm
đứng lên đòi quyền bình đẳng chính trị cho dân tộc mình.
Bản yêu sách của Nguyễn Ái Quốc đã được công luận lên tiếng như
một đòn đánh vào bè lũ thực dân Pháp, chúng rất tức tối và lo sợ. Nó như một
tiếng nổ lớn làm rung chuyển hang ổ trùm thực dân. Tới đây, Nguyễn Ái
Quốc càng ý thức sâu sắc hơn giá trị hoạt động báo chí. Từ đó, Người ra sức
học cách viết báo và học tiếng Pháp.
3.2.

Bản án chế độ thực dân Pháp

Trên cơ sở một số bài viết trong quãng thời gian 1921 - 1925, Nguyễn
Ái Quôc đã hoàn chỉnh một tác phâm lớn "Bản án chê độ thực dân Pháp".
Tác phâm được những người bạn cùng hoạt động với Người, xuất bản lần đầu
tiên băng tiêng Pháp tại thư quán Lao động Pari 1925.
"Bản án chế độ thực dân Pháp" ra đời giữa lúc làn sóng Cách mạng
đang dâng lên mạnh mẽ khắp các thuộc địa của thực dân Pháp. Phong trào
yêu nước của Việt Nam đang sôi nổi diễn ra khắp Bắc, Trung, Nam. Trong đó
chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc - mâu thuẫn
giữa các dân tộc thuộc địa và chủ nghĩa đê quôc trở nên sâu săc. Phong trào
giải phóng dân tộc bùng lên khắp nơi. Từ đó, đặt ra đòi hỏi bức thiết là phải

có con đường cách mạng đúng đắn. Mặt khác với thắng lợi cách mạng tháng
Mười Nga 1917, sự ra đời của Quốc tế Cộng sản (1919) và sự giúp đỡ trực
tiếp của Quốc tế Cộng sản đối với Cách mạng các nước thuộc địa đã đem lại
nhiều thuận lợi cho phong trào Cách mạng ở các nước thuộc địa trong đó có
Việt Nam. Với những diễn biến thực tế đó, Nguyễn Ái Quốc đã nỗ lực giáo
dục, tổ chức lực lượng nòng cốt của cách mạng Việt Nam theo con đường của
cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại.
Với lời văn giản dị trong sáng và châm biếm sâu sắc, tác phẩm đã tố
cáo, lên án đanh thép những tội ác tày trời của chủ nghĩa thực dân nói chung
và chủ nghĩa thực dân Pháp nói riêng trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa,


chính trị, xã hội... Với những bằng chứng cụ thể, tác phẩm vạch rõ nguồn gốc
của mọi sự áp bức, bóc lột, mọi nỗi khổ cực của quần chúng ở thuộc địa. Tác
phẩm bước đầu đã vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn và những
chiến lược, sách lược cách mạng cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các
thuộc địa khác, thức tỉnh cổ vũ các dân tộc bị áp bức đi theo lời kêu gọi của
Mác: "Vô sản tất cả các dân tộc đoàn kết lại", đi theo con đường cách mạng
tháng Mười Nga chủ động tiến hành đấu tranh Cách mạng đế tự giải phóng
mình. Với Bản án chế độ thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soi sáng
con đường cách mạng Việt Nam trong lúc Cách mạng Việt Nam đang nằm
trong đêm tối không có đường ra. Đây là một bước đột phá, bước khởi đầu
cho việc hình thành đường lối cách mạng Việt Nam theo con đường cách
mạng vô sản - theo Chủ nghĩa Mác - Lênin. Bên cạnh đó, tác phấm này của
Nguyễn Ái Quốc còn vạch ra đường lối cách mạng và tương lai tươi sáng cho
các dân tộc bị áp bức công cuộc giải phóng dân tộc là sự nghiệp của bản thân
quần chúng nhân dân các dân tộc thuộc địa, lực lượng quan trọng nhất của
công cuộc này là công nhân và nông dân, trong đó công nhân là lực lượng
lãnh đạo. Do đó sự đoàn kết toàn dân là một yếu tố hết sức quan trọng và
quyết định cho mọi thắng lợi.

Tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc là một cống hiến quan trọng của Người
đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nó góp phần tăng cường
đoàn kêt quôc tê làm cho nhân dân Đông Dương, nhân dân Pháp, nhân dân
các thuộc địa thấy rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản "là một con đỉa có một
cái vòi bám vào giai câp vồ sản ở chính quôc và một cái vòi khác bám vào
giai cấp vô sản ở thuộc địa. nêu muốn giết con vật ẩy người ta phải đồng thời
cắt hai vòi. Neu người ta cắt một vòi thôi thì cải vòi kia còn lại vẫn tiếp tục
sổng, và cái vòi bị căt đứt sẽ mọc ra". Qua tác phâm Người đã góp phân tích
cực cho việc truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và các thuộc địa
khác. Nó không những có giá trị lớn về lý luận, chính trị mà có giá trị lớn về
văn học nghệ thuật.


Mấy mươi năm qua, bản án của Nguyễn Ái Quốc đưa ra đối với chủ
nghĩa thực dân đã được thi hành những vẫn còn giá trị ý nghĩa thực tiễn sâu
sắc. Lịch sử đã chứng minh ách thống trị của chủ nghĩa thực dân đã bị lật đổ
trên các thuộc địa. Độc lập dân tộc tự do cho đồng bào đã được giành lại đúng
tinh thần của bản án. Dân tộc Việt Nam với sự dẫn lối chỉ đường của Bản án
đã nhất tề đoàn kết dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản đã làm nên thắng lợi vẻ
vang, giành lại hoàn toàn độc lập, tự do, thống nhất tổ quốc. Nhưng bên cạnh
những thắng lợi trong quá khứ thì thực tiễn ngày nay "Bản án chế độ thực
dân Pháp" của Nguyễn Ái Quốc vẫn còn giá trị sâu sắc. Thực tế chủ nghĩa
thực dân vẫn còn tồn tại, bản chât bóc lột, áp bức của chúng không thay đôi.
Lên án bản chât và thái độ cảnh giác với chủ nghĩa thực dân với các thủ đoạn
của chúng đối với các dân tộc thuộc địa luôn là cần thiết. Trong tư tưởng của
Người ở phần phụ lục Nguyễn Ái Quốc luôn thể hiện mong muốn đất nước ta
thành một nước công thương nghiệp lớn. Đây cũng là điều thiết tha của Đảng
và nhân dân ta hiện nay. Bên cạnh đó, Người luôn mong muốn thành lập một
liên minh Phương Đông để tạo nên sức mạnh tiêu diệt chủ nghĩa thực dân
những sự liên minh này hiện nay vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ

cho nên chưa tiêu diệt hoàn toàn và triệt để chủ nghĩa thực dân trên toàn thế
giới.
Tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp”, Nguyễn Ái Quốc là một tác
phẩm có giá trị trên nhiều lĩnh vực, là tác phẩm lịch sử, văn học, tâm lý học,
xã hội học nhưng rõ ràng nhìn về góc độ chính trị đây là một tác phẩm về
phương pháp công tác tuyên truyền lý luận chính trị. Tác phẩm đó không chỉ
soi đường cho cách mạng Việt Nam mà cách mạng các nước thuộc địa nói
chung trong thời gian qua và còn giữ nguyên giá trị đối với cách mạng nước
ta và phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới hiện nay. Tác phấm như một
sự tống kết của Nguyễn Ái Quốc qua một thời gian dài nghiên cứu, tìm hiểu
bản chất của chủ nghĩa thực dân. Tới đây thì Nguyễn Ái Quốc đã thật sự lên
tiếng tố cáo tội ác của thực dân bằng ngòi bút sức bén đầy lý luận, phong cách


phương Tây của mình và nó cũng đánh dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời hoạt
động cách mạng của Người đấu tranh vì độc lập, tự do vì công cuộc giải
phóng người lao động bị áp bức bóc lột trên thế giới.
3.3

Đường kách mệnh

Sau khi lập ra tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội,
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mở nhiều lóp huấn luyện đào tạo cán bộ cho Cách
mạng Việt Nam trong những năm 1925 -1927 tại Quảng Châu. Đầu năm 1927
các bài giảng của Người tại các lớp huấn luyện đó được bộ tuyên truyền của
Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức tập hợp lại và xuất bản thành sách - Tác
phẩm "Đường kách mệnh" ra đời.
Ngay từ trang đầu tiên tác giả đã trích dẫn luận điểm nổi tiếng của
Lênin: "Không cổ lý luận cách mạng thì không có vận động cách mạng... chỉ
có lý luận cách mạng tiên phong, Đảng cách mạng thì mới làm nối nhiệm vụ

của cách mệnh tiên phong". Tác phẩm "Đường kách mệnh'' với lời lẽ mộc
mạc, giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ đã nêu lên và trả lời một cách hệ thống một loạt
vấn đề cơ bản đang đặt ra trước các lực lượng yêu nước và cách mạng Việt
Nam lúc bấy giờ.
Tác phẩm đã phân tích các loại cách mạng: cách mạng tư sản, cách
mạng vô sản, và cách mạng giải phóng dân tộc. Tác giả đã chỉ rõ cách mạng
Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc có nhiệm vụ đánh đô kẻ thù chủ
yêu trước măt là đê quốc Pháp và bọn vua quan phong kiến tay sai giành độc
lập, tự do cho dân tộc.
Xác định động lực và lực lượng của cách mạng Việt Nam: "Công nông
là gốc cách mạng, còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bâu bạn cách
mạng của công nông". Người nhấn mạnh tầm quan trọng của tình đoàn kết
quốc tế trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung: "Chúng ta cách mệnh thì
cũng phải liên lạc tất cả những Đảng cách mệnh trong thê giới đê chông lại
tư bản và đế quốc Mỹ". Do đó cách mạng Việt Nam với cách mạng Pháp phải
liên lạc với nhau. Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ nhân tố quyết định thắng lợi của


cách mạng là sự lãnh đạo của chính đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin. "Trước
hết phải cỏ Đảng Cách mạng, đế trong thì vận động và tô chức quân chủng,
ngoài thì liên lạc với các dân tộc và vô sản giai cap mọi nơi".
Nguyễn Ái Quốc đã hướng dẫn phương pháp, tổ chức và hoạt động
cách mạng: cách mạng phải tổ chức ra các đoàn thể quần chúng như công hội,
phụ nữ, thanh niên... Nông hội... theo đường lối và phương pháp của Quốc tế
Cộng sản của cách mạng tháng Mười Nga. Tác phẩm cũng nhấn mạnh tầm
quan trọng vấn đề tư cách đạo đức của người cách mạng, coi đó cũng là một
điều kiện để đảm bảo cho sự thắng lợi của cách mạng.
Nguyễn Ái Quốc trên cơ sở phương pháp chọn lọc những kinh nghiệm
mới nhất của phong trào cách mạng thế giới cận - hiện đại. Đường kách mệnh
đã chỉ cho giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc thoát khỏi cuộc khủng

hoảng về đường lối, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh nhằm xác lập
vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng.
Tác phấm không dừng ở lý luận và cương lĩnh mà còn vạch ra những
hình thức và phương pháp tổ chức lực lượng cách mạng, góp phần quan trọng
vào cuộc chuẩn bị tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam và đoàn kết các dân tộc thành một khối.
Đường kách mệnh là một trong những Tác phẩm đánh dấu mốc quan
trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc.
3.4.

Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng

Các văn kiện của Hội nghị họp nhất do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo là
sự kế thừa và đoàn kết những quan điểm lý luận mà Người đã nêu lên từ trong
báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ và trong Tác phẩm "Đường Cách
mệnh". Đen Hội nghị hợp nhất 3/2/1930 - 7/2/1930 được phát triển thành
đường lối và phương pháp của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, trở
thành Cương lĩnh quan trọng đầu tiên của Đảng, giữ vai trò chỉ đạo trong suốt
quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta.
"Chính cương vắn tắt" đã xác định rõ cách mạng Việt Nam phải trải


×