Tải bản đầy đủ (.doc) (26 trang)

Kỹ thuật phục hồi rừng ngập mặn trên đầm tôm hoang hóa tại xã thái đô, huyện thái thụy, tỉnh thái bình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (214.75 KB, 26 trang )

Kỹ thuật phục hồi rừng ngập mặn trên đầm tôm hoang hóa
tại xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

0


MỤC LỤC
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ..............................................................................................1
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU....................................................2
2.1. TỔNG QUAN VỀ DIỆN TÍCH...................................................................................2
2.2. LỢI ÍCH TỪ RNM..................................................................................................3
2.3. NUÔI TRỒNG THỦY HẢI SẢN VÀ RNM..................................................................4
2.3.1. Các hình thức nuôi tôm hiện nay..................................................................5
2.3.2. Tác hại của nuôi tôm đến sinh thái và môi trường.......................................6
PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU....................................................8
3.1. VỀ VỊ TRỊ ĐỊA LÝ...................................................................................................8
3.2. ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU...............................................................................................8
3.2.1. Chế độ gió....................................................................................................8
3.2.2. Chế độ mưa..................................................................................................9
3.2.3. Chế độ nhiệt.................................................................................................9
3.3. ĐẶC ĐIỂM THỦY VĂN..........................................................................................10
3.3.1 Sông suối.....................................................................................................10
3.3.2. Chế độ thủy triều........................................................................................10
3.3.3. Độ mặn.......................................................................................................11
3.3.4. Thể nền.......................................................................................................12
3.4. ĐẶC ĐIỂM ĐẤT ĐAI, THỔ NHƯỠNG....................................................................12
3.5. ĐIỀU KIỆN DÂN SINH - KINH TẾ...........................................................................13
3.5.1. Dân số........................................................................................................13
3.5.2. Kinh tế........................................................................................................13
3.5.3. Xã hội.........................................................................................................13
3.6. THÀNH PHẦN ĐỘNG THỰC VẬT TRONG VÙNG.....................................................14


PHẦN 4: MỤC TIÊU, PHẠM VI, ĐỐI TƯƠNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................................................15
4.1. MỤC TIÊU............................................................................................................15
4.2. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ TÀI.......................................................................15
1


4.3. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI.......................................................................................15
4.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................................15
4.4.1. Kế thừa số liệu, kết quả nghiên cứu...........................................................15
4.4.2. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp...........................................................15
4.4.3. Phương pháp sử lý số liệu, đánh giá kết quả..............................................18
4.4.4 Phương pháp tham khảo ý kiến đánh giá lựa chọn loài cây trồng của người
dân địa phương....................................................................................................20
PHẦN 5: DỰ KIẾN MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.....................................21
5.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI KHU VỰC NGHIÊN CỨU........................................21
5.1.1. Đặc điểm thể nền........................................................................................21
5.1.2. Đặc điểm môi trường nước.........................................................................21
5.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng đất...........................................................................21
5.2. LỰA CHỌN MỘT SỐ LOÀI CÂY TRỒNG TRONG KHU VỰC ĐẦM TÔM HOANG HÓA 22
5.2.1. Tiêu chí lựa chọn loài cây trồng trong khu vực nghiên cứu........................22
5.2.2. Lựa chọn loài cây trồng.............................................................................22
5.3. KỸ THUẬT TRỒNG MỘT SỐ LOÀI CÂY TRONG KHU VỰC ĐẦM TÔM HOANG HÓA.22
5.3.1. Một số phương án kỹ thuật cho phục hồi rừng ngập mặn tại những đầm
tôm hoang hóa......................................................................................................22
5.3.2. Kỹ thuật trồng một số loài cây cho đầm tôm hoang hóa............................23
5.4. ĐỀ SUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN TÀI NGUYÊN
RNM VÀ NGUỒN LỢI THỦY HẢI SẢN..........................................................................23
5.4.1. Quy hoạch tổng hợp vùng ven bờ...............................................................23
5.4.2. Phối hợp quản lý của các bên tham gia......................................................23

5.4.3. Đánh bắt và nuôi trồng hải sản theo hướng bền vững................................23
5.4.4. Bảo vệ môi trường sinh thái vùng RNM, bãi bồi........................................23
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................24

2


Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng ngập mặn (Mangroves) là một hệ sinh thái đặc biệt, phân bố ở khu vực cửa
sông, ven biển vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới gồm nhiều loài cây gỗ, cây bụi và một
số cây thân cỏ sống trong môi trường sình lầy mặn ngập triều định kì. Rừng ngập mặn
(RNM) là sinh cảnh tốt, cung cấp chất dinh dưỡng và bảo vệ cho các động vật hoang
dã như các loài: tôm, cá, cua, thân mềm cũng như các loài chim nước, chim di cư.
Ngoài tác dụng điều hòa khí hậu, hạn chế sói lở, mở rộng diện tích lục địa, hạn chế sự
sâm nhập mặn còn làm giảm tổn thương đối với các cộng đồng ven biển nhờ khả năng
hạn chế tác hại của các hiện tượng thời tiết bất thường như: bão, lũ lụt, sóng thần...
(Phan Nguyên Hồng, 1991) [5].
Huyện Thái Thụy là một huyện ven biển giàu tiềm năng cho phát triển kinh tế xã
hội, đặc biệt là kinh tế ven biển, xong việc đầu tư mở rộng các dự án như hiện nay đã
tạo ra nhiều ảnh hưởng xấu. Sự khai thác và sử dụng tài nguyên RNM với áp lực của
phát triển kinh tế đã gây ra rất nhiều tác động tiêu cực đến môi trường và chất lượng
của RNM.
Cũng như nhiều địa phương ven biển khác, xã Thái Đô cũng chịu nhiều tác động
và áp lực của phát triển kinh tế nên đã chuyển toàn bộ vùng đất ven biển sang nuôi
trồng thủy hải sản (chủ yếu là nuôi tôm sú) nhiều vùng đất đã bị ô nhiễm và không thể
nuôi trồng được. Môi trường ở đây bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các chất độc hại từ việc
nuôi tôm công nghiệp, RNM cũng chịu những tác động không nhỏ ảnh hưởng trực tiếp
đến sinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn trong suốt thời gian qua.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phục hồi hệ sinh thái RNM, chúng tôi
tiến hành đề tài: “Kỹ thuật phục hồi rừng ngập mặn trên đầm tôm hoang hóa tại xã

Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”.
Đề tài tiến hành tìm hiểu đặc điểm một số nhân tố sinh thái và tính chất thể nền
trong những đầm tôm hoang hóa, có những khó khăn gì ảnh hưởng đến phục hồi RNM
nhằm đề xuất lựa chọn loài cây trồng và kỹ thuật trồng phù hợp trên những điều kiện
lập địa khó khăn đó. Phục hồi được RNM sẽ tạo điều kiện cho việc bảo tồn và phát
triển hệ sinh thái này, đồng thời đảm bảo sinh kế cho cộng đồng địa phương ven biển.

1


Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về diện tích
RNM dùng để chỉ vùng đất ngập nước chịu tác động của thủy triều, bao gồm các
RNM, bãi triều, vùng ngập lầy nước mặn và các sinh cảnh khác thuộc vùng ngập triều
khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. RNM (RNM) cụ thể là các rừng ở vùng triều ven
biển bao gồm các loài cây gỗ, cây bụi, các cây họ Dừa, thực vật biểu sinh và dương xỉ
(P.B. Tomlinson,1986) (dẫn theo Vũ Thục Hiền, 2006) [8].
Theo ước tính năm 1997, toàn thế giới có khoảng 181.000 Km 2 hệ sinh thái RNM
(M.D. Spalding et al., 1997). Nhưng theo một ước tính gần đây thì con số này giảm xuống
dưới 150.000 Km2 (FAO, 2003). RNM phát triển tốt nhất dọc các bờ biển nhiệt đới ẩm,
như các hệ thống đồng bằng bồi đắp bởi các con sông lớn như: Cửu Long, bán đảo Cà
Mau, đảo Java (Indonesia)...(dẫn theo Vũ Thục Hiền, 2006) [8].
Trước đây RNM vẫn bị coi là các vùng đất hoang, chưa thực sự được quan tâm
của con người. Tuy nhiên mức độ tác động của con người tới RNM đã tăng lên rõ rệt
trong những năm gần đây. So với 50÷60 năm trước, diện tích RNM của nhiều quốc gia
giảm khoảng 50÷80% thậm chí hơn nữa. Ví dụ: Philipin đã mất khoảng 75% diện tích
RNM so với năm 1950 (dẫn theo nguồn Vũ Thục Hiền) [8]. Hệ sinh thái RNM đang bị
suy thoái hoặc bị chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, phát
triển công nghiệp hoặc đô thị, cảng biển. Sinh kế của nhiều cộng đồng địa phương ven
biển đã và đang bị suy giảm hoặc hoàn toàn bị triệt tiêu do việc tàn phá hoặc hủy hoại

RNM.
Tuy nhiên, gần đây lợi ích của RNM bắt đầu được đánh giá đúng đắn và nhận
thức về tầm quan trọng của RNM cũng được nâng cao, người dân nhiều nơi đã nhận
thức được mối liên hệ chặt chẽ giữa RNM với sự an toàn của vùng biển ven bờ trước
tác động của đại dương, đảm bảo sinh kế cho dân cư cũng như trong việc duy trì hoạt
động đánh bắt cá thương mại. Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ và cộng đồng địa
phương trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang nỗ lực bảo vệ, phục
hồi và quản lý RNM một cách bề vững song kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế.
Việt Nam có 3260km đường bờ biển, hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, 12 đầm phá và các
eo vịnh. Diện tích RNM Việt Nam trước chiến tranh vào khoảng 408.500ha (P. Maurand,
2


1943). Đến năm 1962 diện tích RNM giảm xuống còn 290.000ha (giảm 30%). Năm 1982,
sau 20 năm còn 152.000ha (giảm 14% so với năm 1962), năm 1999 sau 17 năm nữa diện
tích còn 156.608ha (Theo quyết định số 03/2001/QĐ/TTg của thủ tướng chính phủ kí
ngày 5/01/2001). Trong đó RNM tự nhiên là 59.732ha chiếm 38,1% và diện tích RNM
trồng là 96.876ha chiếm 61,9% (dẫn theo nguồn Vũ Thục Hiền) [8].
Trong diện tích RNM Việt Nam thì rừng Đước (Rhizophora apiculata) chiếm
80.000ha (82,6%), Trang (Kandelia obovata) 16.876ha, bần chua (Sonneratia
caseolaris) và các loài cây ngập mặn khác (17,4%) (Viện điều tra quy hoạch Rừng,
2001) [18]. Theo Đỗ Đình Sâm và cs (2005) [13] tính đến 12/2001 diện tích RNM ở
Việt Nam vào khoảng 155.290ha đã giảm so với 1999. (Hình 1.1)

Hình 1.1. Biến động diện tích RNM Việt Nam qua các năm
2.2. Lợi ích từ RNM
RNM có giá trị vô cùng to lớn đối với không chỉ môi trường, hệ sinh thái mà còn
cả đối với con người, và ngày càng được nhận thức đúng đắn. Đã có nhiều nghiên cứu
đánh giá về giá trị của RNM:
Các sản phẩm thực vật:

- Gỗ và vật liệu: loài Đước, Trang, Vẹt, Cóc rất cứng bền và mịn. Được sử dụng
trong xây dựng và chế tạo đồ dùng gia đình, làm cọc, cầu. Thân được sử dụng làm
nhiên liệu được ưa chuộng, than có nhiệt lượng cao lâu tàn (6.375÷6.675 kcal/kg).
- Tanin: vỏ, lá có hàm lượng tanin cao, chất lượng tốt phục vụ một số ngành
công nghiệp nhẹ như: Đước, Vẹt, Dù...
3


- Làm bột giấy và các sản phẩm khác: bột giấy chất lượng cao, rễ cây có khả
năng chế tạo nút chai như: Bần chua, Mắm...
- Làm thức ăn và đồ uống, ngoài ra có thể làm thuốc chữa bệnh: chứa nhiều
đạm có thể làm thức ăn cho gia súc, quả Mắm có thể nấu chua, luộc ăn đặc biệt còn
cho nguyên liệu là mật ong.
Các sản phẩm động vật:
- Giá trị lớn nhất của RNM (rừng sát) là nói tới sinh sống của nhiều loài động
vật. RNM có nhiều bùn, bã hữu cơ, động vật phù du là nguồn thức ăn phong phú cho
nhiều loài như: tôm, cá, các loài sò và ốc... trong rừng và vùng ven biển.
- Nhiều nghiên cứu cho thấy: 90% loài cá biển khai thác có liên quan đến thức
ăn ở RNM. RNM nước ta: có hơn 80 loài giáp xác (cua, còng, tôm, cáy...), 160 loài
thân mềm (sò huyết, sò lông, ngao, ngán, các loài ốc...), 250 loài cá sống suốt đời hoặc
một phần ở RNM. Nhiều loài chim sinh sống đặc trưng như: cò, diệc, hạc cổ trắng,...
ngoài ra còn có: trăn, các loài rắn, kì đà, cá sấu...và rất nhiều các sản phẩm khác nữa.
Như vậy, RNM không chỉ là nơi cư trú mà còn là nơi cung cấp nguồn dinh
dưỡng, hỗ trợ cho sự tồn tại và phát triển phong phú của các quần thể sinh vật cửa
sông ven biển, đồng thời còn là nơi “ương ấp” những cá thể non của nhiều loài sinh
vật biển, nơi duy trì đa dạng sinh học cho biển (Phan Nguyên Hồng, 1999) [7].
Về môi trường, hệ sinh thái RNM có vai trò to lớn trong việc phòng hộ đê biển,
chống xói lở bờ biển, hạn chế tác hại của sóng gió, bão. RNM là một tác nhân làm cho
khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và biên độ nhiệt, làm tăng khả năng lắng
đọng đất góp phần mở rộng diện tích.

2.3. Nuôi trồng thủy hải sản và RNM
Nuôi trồng thủy hải sản nói chung và nuôi tôm nói riêng đã có cách đây nhiều thế
kỉ, đó là hình thức nuôi thô sơ, dựa trên cơ sở lợi dụng khả năng sinh trưởng và phát
triển tự nhiên của các giống tôm trong môi trường nước lợ. Từ năm 1980, khi thế giới
đã sản xuất được số lượng lớn loại ấu trùng bằng cách cho đẻ nhân tạo thì ngành công
nghiệp nuôi tôm đã phát triển nhanh chóng (theo Nguyễn Trọng Nho, 1994) [11].

4


2.3.1. Các hình thức nuôi tôm hiện nay
Theo nghiên cứu của các tác giả về nuôi trồng hải sản, (Nguyễn Trọng Nho,
1994) [11]. Trên thế giới có các hình thức nuôi tôm chính là quảng canh, bán thâm
canh, thâm canh và siêu thâm canh.
* Quảng canh: nuôi tôm quảng canh có lịch sử lâu đời và ít có tác động của con
người. Ao nuôi tôm tận dụng hệ sinh thái tự nhiên về nguồn dinh dưỡng và nguồn
giống. Đây là hình thức nuôi phổ biến ở Việt Nam. Tùy theo mức độ tác động của con
người có thể chia ra:
Quảng canh truyền thống: là hình thức nuôi tôm trong đó con giống, thức ăn dựa
hoàn toàn vào tự nhiên, quản lý ao đơn giản, trong ao nuôi tổng hợp nhiều đối tượng
như tôm, cá, cua, rong câu... diện tích ao nuôi tôm thường rất lơn trên 20ha/ao, năng
suất thu hoạch dưới 200 kg/ha/năm (theo Phan Nguyên Hồng, 1995) và tổng hợp các
nghiên cứu môi trường của Bộ Thủy sản (1996) (dẫn nguồn Nguyễn Khắc Thành,
2002) [14].
Quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi tôm dựa trên nền tảng của quảng canh
truyền thống nhưng có bổ sung thêm giống và thức ăn. Giống thường là tôm sú hay
cua biển. Với tôm sú thường nuôi với mật độ 2÷3 con/m 2 do phải đầu tư thêm trong
quá trình nuôi tôm nên diện tích ao nuôi thường nhỏ. Năng suất ao nuôi đạt 200÷500
kg/ha/năm (Nguyễn Khắc Thành, 2002) [14]
* Bán thâm canh: là hình thức nuôi trồng có áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ

thuật trong quá trình sản xuất con giống, sản xuất thức ăn cũng như quản lý và chăm
sóc theo giai đoạn phát triển của tôm. Diện tích ao nuôi thường nhỏ (5÷10ha/ao), năng
suất biến động lớn (0,5÷5 tấn/ha/năm). Trong hình thức nuôi bán thâm canh, con người
chưa chủ động được sự điều hòa về khối lượng và chất lượng nước, các yếu tố môi
trường còn phụ thuộc vào thiên nhiên, do chế độ thay nước thường xuyên. Kết quả
nghiên cứu khảo sát môi trường cho thấy mức độ thiệt hại lớn do ô nhiễm môi trường
và dịch bệnh. Chất lượng nước trong ao nuôi bị suy giảm do phù sa bồi lắng, tự gây ô
nhiễm trong ao (Nguyễn Khắc Thành, 2002) [14].
* Thâm canh: là hình thức nuôi trong đó con người hoàn toàn chủ động về số
lượng, chất lượng giống, dùng thức ăn nhân tạo, mật độ thả giống trên 20 con/m 2, diện
5


tích ao nuôi thường nhỏ dưới 2 ha/ao, máy móc, thiết bị đầy đủ, kĩ thuật viên có trình
độ quản lý, năng suất từ 5÷10 tấn/ha/năm. Việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kĩ thuật
có thể kiểm soát các tác nhân gây ô nhiễm trong ao nuôi, tạo điều kiện cho tôm nuôi
sinh trưởng tốt, tăng khả năng đề kháng với bệnh tật.
* Siêu thâm canh: là hình thức nuôi hiện đại sử dụng đồng bộ các hệ thống máy
móc, tạo cho đối tượng nuôi có điều kiện sống tối ưu. Diện tích ao nhỏ, mặt độ thả
giống cao (50÷100 con/m2), năng suất có thể đạt trên 20 tấn/ha/năm.
2.3.2. Tác hại của nuôi tôm đến sinh thái và môi trường
Ngành công nghiệp nuôi tôm mang lại hiệu quả kinh tế cao, đã thúc đẩy việc mở
rộng diện tích và tăng cường đầu tư cho nuôi tôm đã gây nên những ảnh hưởng không
nhỏ tới môi trường và sinh thái. Đặc biệt là những nơi thiếu sự quy hoạch và đầu tư về
kĩ thuật công nghệ, cùng với sự thiếu kiến thức từ người dân đã làm ô nhiễm môi
trường rất nặng nề, nhiều nơi trên thế giới như ở Thái Lan đã trở thành những vùng đất
chết không thể nuôi tôm, cũng như các hoạt động kinh tế khác.
Việt Nam, đã phát triển nuôi khá lâu, diện tích sử dụng vào nuôi tôm đã tăng rất
nhanh nhưng một vài năm trở lại đây đang có xu hướng giảm. Hình thức nuôi tôm chủ
yếu là quảng canh, sản lượng tôm được duy trì bằng cách mở rộng thêm diện tích nuôi

trồng mới chứ không phải là nâng cao năng suất ao.
Thái Bình là một trong những địa phương cũng có nhiều lợi thế từ các hoạt động
kinh tế ven biển. Nuôi trồng thủy hải sản đặc biệt là nuôi tôm sú đã trở thành một xu
hướng mới trong xây dựng và chuyển đổi mô hình kinh tế của nhiều vùng ven biển.
Việc mở rộng diện tích nuôi trồng thủy hải sản đặc biệt là mở rộng diện tích nuôi tôm
đã thu hẹp một phần đáng kể diện tích RNM, đồng thời đã gây ra tác động xấu đến
môi trường.
* Nuôi trồng thủy hải sản của xã Thái Đô
Với vị trí thuận lợi của mình, Thái Đô bắt đầu chuyển sang nuôi tôm từ năm
2003, ban đầu từ những diện tích bên ngoài đê biển sau chuyển đổi dần cả những diện
tích trồng lúa kém hiệu quả trong đê sang nuôi tôm cá nước lợ. Sang năm 2004 tổng
diện tích chuyển đổi của toàn xã sang diện tích nuôi trồng thủy hải sản đã đạt 275 ha,
với hơn 1.455 hộ dân tham gia nuôi trồng.
6


Những năm đầu mới chuyển đổi, môi trường còn trong sạch, các chất thải sau
nuôi tôm còn ít, dịch bệnh chưa phát triển, việc nuôi tôm có nhiều thuận lợi đã đem lại
những hiệu quả ban đầu. Bình quân cao nhất đạt 39,5÷40,0 triệu đồng/ha năm 2004 và
2005.
Những năm trở lại đây môi trường bị ô nhiễm nhiều, dịch bệnh lan tràn, thuốc
diệt tạp, khử trùng ao, các chất xử lý môi trường, chất lượng con giống kém... đã làm
giảm nhanh chóng sản lượng nuôi tôm. Theo thống kê của xã thì năng suất nuôi tôm
cao nhất là năm 2005 với 694,4 kg/ha, trong khi đó hiện nay (năm 2010) chỉ còn có
166,7 kg/ha. Như vậy sau 5 năm năng suất đã giảm hơn 4,16 lần.
Theo báo cáo kết quả nuôi tôm năm 2010 của xã Thái Đô, năm 2010 toàn xã có
275 ha nuôi tôm trong đó có 32 ha bỏ không nuôi, số hộ không cải tạo ao nuôi chiếm
trên 60%, nhiều hộ gia đình đã bỏ không nuôi tôm do nuôi tôm không hiệu quả thậm
chí còn gây thua lỗ nhiều nếu như đầu tư thêm.
* RNM của xã

RNM tại xã Thái Đô đã có từ rất lâu, trước đây RNM ở đây chỉ là một số loài cây
ngập mặn mọc tự nhiên rải rác. Sau năm 1994 thì được quy hoạch và trồng theo
chương trương trình 327 thuộc dự án PAM - 3525 do Đan Mạch tài trợ theo chương
trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ. Rừng bắt đầu trồng từ năm 1994 và kết
thúc vào năm 2005 với tổng diện tích là 1.025ha, trong đó chủ yếu là trồng Trang và
xen giữa Trang và Bần chua.
Với việc mở rộng diện tích nuôi tôm sú đã làm suy giảm nghiêm trọng diện tích
RNM, xã đã chuyển 96,4ha diện tích đất ngập mặn ngoài đê biển sang nuôi tôm sú, ban
đầu có rất nhiều người dân tham gia đấu thầu nuôi thả tôm, nhưng sau 5 năm hầu như tất
cả diên tích đầm tôm trên đều bỏ hoang. Hiện nay xã đang quy hoạch toàn bộ diện tích
này sang trồng phục hồi lại RNM.
Viêc phục hồi rừng ngập mặn trên những diện tích đầm tôm hoang hóa đang
được xã rất quan tâm, đã có nhiều giải pháp được đề ra xong việc phục hồi này đang
gặp phải rất nhiều khó khăn

7


Phần 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Về vị trị địa lý
Vùng ven biển Thái Thụy nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Bình có tọa độ địa lý
20o27’ vĩ Bắc và 106o21’ kinh Đông.
- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Bảo – Hải Phòng
- Phía Nam giáp huyện Tiền Hải – Thái Bình
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây giáp nội đồng của huyện Thái Thụy
Huyện Thái Thụy có 27 km đường bờ biển và hệ thống sông ngòi chằng chịt với
sông chính là sông Hóa, sông Diêm Hộ và sông Trà Lý. Sông Hóa chảy qua phía Bắc
của huyện, là ranh giới tự nhiên giữa huyện Thái Thụy và huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng
đổ ra biển ở cửa Thái Bình. Sông Diêm Hộ chảy từ Tây sang Đông chia huyện thành 2

khu: khu Bắc và khu Nam, đổ ra biển ở cửa Diêm Điền, sông Tra Lý.
Thái Thụy có 1.552,3 ha RNM, tập trung tại các xã ven biển, có tác dụng lớn
trong phòng hộ đê biển, điều hoà khí hậu và có giá trị lớn về cảnh quan môi trường,
bảo tồn hệ sinh thái ngập nước ven biển, có cồn đen rộng hàng chục ha là nơi cớ thể
phát triển ngành du lịch biển.
Thái Đô nằm trên đường bờ biển chung với huyện Tiền Hải, xã Thái Thượng, thị
trấn Diêm Điền với của sông Diêm Hộ đổ ra cửa sông Diêm Điền.
- Phía Bắc giáp xã Thái Thượng, Phía Tây giáp xã Thái Hòa, Phía Nam giáp
huyện Tiền Hải bị ngăn cách bởi con sông Trà Lý, Phía Đông giáp Biển Đông.
Xã Thái Đô với 8km đường bờ biển, tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là
1.164,95ha và hơn 1.025 ha RNM bao phủ bên ngoài đê biển thuộc quyền bảo vệ của
xã được 2 cửa sông Trà Lý và Diêm Điền hai bên bồi tụ nên RNM ở đây phát triển
đồng đều và tương đối tốt.
3.2. Đặc điểm khí hậu
3.2.1. Chế độ gió

8


Khí hậu Thái Thụy thuộc vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ven biền Bắc bộ,
chịu ảnh hưởng của gió mùa và khí hậu đai dương với các đặc trưng sau:
Gió mùa hè: chủ yếu là Đông Nam, nóng ẩm, tốc độ gió trung bình khoảng
2÷5m/s. Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của áp cao lục địa thổi từ cao nguyên Tây Tạng
và vùng thượng Lào thổi sang vào tháng 6, tháng 7 hàng năm làm cho nhiệt độ tăng
cao, oi bức, khó chịu.
Gió mùa đông: chủ yếu là Đông và Đông bắc gây ra mưa ẩm và lạnh. Xuất phát
từ vùng Siberia của Nga thổi sang tập chung vào tháng 12 và tháng 1 âm lịch. Hướng
gió này thổi thành hai đợt.
Tốc độ gió trung bình năm là 3,24÷4,57 (m/s). Tốc độ gió cực đại đạt 15÷20
(m/s). Vào tháng 7÷9 là tháng xuất hiện nhiều bão, tốc độ gió đạt từ 35÷40 (m/s). Một

năm có trung bình khoảng 2÷3 cơn bão đổ bộ vào đất liền. Có năm có tới 6 cơn bão.
Cấp gió trung bình từ cấp 8 đến cấp 11.
3.2.2. Chế độ mưa
Vùng ven biển Thái Thụy có mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm. Tổng
lượng mưa trong mùa mưa chiếm 85% tổng lượng mưa trong năm. Số ngày mưa trung
bình trong năm khoảng 125 ngày. Lượng mưa trung bình năm khoảng 1600÷1800
(mm).Lượng mưa cao nhất tập chung vào các tháng 7, 8, 9 trung bình đạt
250÷300 (mm). Tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1 chỉ đạt từ 15÷26 (mm).
Vào cuối mùa đông do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc gây ra mưa phùn, ẩm
ướt, lượng mưa thấp nhưng số ngày mưa trong tháng có thể kéo dài 10÷15 ngày (dẫn
theo trạm quan trắc khí tượng Thụy Anh, 2010).
3.2.3. Chế độ nhiệt
Nhiệt độ ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển và phân bố của cây RNM. Ở
miền Bắc nhiệt độ trung bình năm thường thấp, khoảng 20 oC, chỉ có một số loài cây
ngập mặn chịu lạnh mới có khả năng tồn tại như: đước vòi, trang, bần chua, vẹt dù, sú,
mắm biển... (theo Ngô Đình Quế, 2005) [12].
Nhiệt độ không khí trung bình năm tại đây khoảng 23,6oC. Nhiệt độ cao tập trung
vào 3 tháng 6,7 và tháng 8. Nhiệt độ cao nhất vào khoảng tháng 7 là: 39 oC và có
9


những đợt nắng nóng kéo dài, có đợt kéo dài hơn một tuần gây ra nhiều khó khăn cho
người dân.
Nhiệt độ thấp tập trung vào tháng 1 và tháng 2, thấp nhất khoảng từ 5÷9 oC. Đặc
biệt như cuối năm 2010 vừa rồi nhiệt độ xuống dưới 6 oC và kéo dài tới gần 10 ngày
gây nhiều thiệt hại cho nuôi trồng thủy hải sản xã.
3.3. Đặc điểm thủy văn
3.3.1 Sông suối
Thái Thụy là nơi hội tụ của ba con sông thuộc hệ thống sông Thái Bình là: Sông
Thái Bình, sông Trà Lý và sông Diêm Hộ. Về mùa lũ: tháng 7 và tháng 8 trong năm lưu

lượng lũ cao nhất đo ở cửa sông Thái Bình là: 1800 (m3/s).
Vùng RNM của xã Thái Đô là vùng bồi tụ của hai con sông lớn hai bên: Sông
Diêm Hộ với cửa sông Diêm Điền án ngữ phần phía bắc của khu rừng. Phần phía nam
của khu rừng là do sông Trà Lý bồi đắp.
Khu RNM trải dài gần 5km trong lưu vực của hai con sông lớn đã ảnh hưởng đến
một số đặc điểm làm cho khu rừng này có những tính chất tương đối khác so với các
khu RNM khác ngay trong khu vực. Đặc biệt là vào mùa mưa khu vực này do nước
nguồn từ hai con sông đổ xuống làm độ mặn giảm gần như không có hoặc rất thấp.
3.3.2. Chế độ thủy triều
Khu vực nghiên cứu có biên độ triều dao động lớn, với chế độ này thời gian ngập
triều thường kéo dài. Theo tài liệu quan trắc mực nước triều trong nhiều năm tại trạm
Hải văn Hòn Dáu. Biên độ triều dao động với mực nước lớn nhất có thể đạt 4,44m và
thấp nhất là -0,27m (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Cúc, 2002) [3].
Như vậy chế độ triều kéo dài cùng với dòng triều mạnh, đặc biệt là triều cường
cộng hưởng với nước dâng trong bão đã ảnh hưởng rất lớn và hạn chế sinh trưởng và
phát triển của cây ngập mặn.
Chế độ thủy triều tại khu RNM chủ yếu lên xuống theo chế độ nhật triều - thủy
triều lên xuống một lần trong ngày. Cá biệt có những ngào thủy triều lên xuống hai lần
theo chế độ bán nhật triều, đôi khi thủy triều còn theo chế độ bán nhật triều không đều
(Nguyễn Hải Anh, 1998) [1].
10


Mực nước triều trung bình năm là: 287÷325 (cm). Mực nước triều cao nhất đạt
444 (cm), mực nước triều thấp nhất đạt 48 (cm). Trong năm, từ tháng 6 đến tháng 12
có mực nước triều lên cao nhất. Tháng có mực nước triều thấp nhất là tháng 1. Một
năm có khoảng 178 ngày triều cường lên cao trên 3m.
Thủy triều lên xuống chịu tác động của mặt trăng và theo âm lịch, tuy nhiên mực
nước thủy triều trong ngày lại chịu tác động của rất nhiều yếu tố làm cho mực nước có
thể cao hơn hoặc thấp hơn so với lịch thủy triều, một số nhân tố ảnh hưởng đến chế độ

thủy triều:
- Thủy triều lên vào lúc có gió Đông to (từ cấp 4, cấp 5 trở lên) có thể làm cho
thủy triều lên cao hơn so với trong lịch thông báo, và thời gian lên có thể rút ngắn
xuống. Thủy triều lên vào lúc có gió Tây hoặc gió Tây-Bắc to sẽ làm cho độ mặn trong
nước tăng cao, có thể hơn mức bình thường từ 5÷10‰. Đây là kinh nghiệm từ những
người đi biển nhiều năm.
- Khi thủy triều lên kèm theo ảnh hưởng của gió bão sẽ làm cho thủy triều vượt
lên trên mực nước thông báo từ 1÷3m. Đây là nguyên nhân chính gây ra nhiều lần vỡ
đê biển, ảnh hưởng rất nhiều tới kinh tế và đời sống của người dân trong vùng.
- Ngoài ra, thủy triều còn chịu ảnh hưởng của khí hậu: lúc nước lên mà không khí
bị “mù trời” – gần giống mưa phùn trên mặt biển, lúc này độ ẩm tăng làm cho áp suất
khí quyển tăng cao. Chính áp suất khí quyển này sẽ có tác động tới độ cao mực nước
thủy triều. Những ngày như thế này thì thủy triều không cao như trong lịch thông báo.
Chế độ triều kết hợp với sóng biển thay đổi theo mùa, mùa đông hướng sóng
chính là Đông và Đông-Bắc, Đông-Nam. Mùa hè hướng gió thịnh là Nam và Tây-Nam
với độ cao trung bình là 0,5÷0,6m độ cao nhất ven bờ có thể đạt 2÷3m, đặc biệt là khi
xuất hiện cùng những cơn bão mở đường cho sóng đánh vào bờ trong các vùng bãi
triều. Nên địa hình trong các bãi triều thường hơi thoải và khá bằng phẳng (Viện khoa
học Việt Nam, 1993) (dẫn theo Nguyễn Thị Kim Cúc, 2002 [3].
3.3.3. Độ mặn
Độ mặn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phân bố và phát triển của cây
ngập mặn. Phần lớn các cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển bình thường ở môi
trường có nồng độ muối từ 15÷33‰, các loài cây còn lại thích sống trong môi trường
11


có độ mặn vừa phải 7÷25‰. Một số loài cây nước lợ không chịu được độ mặn trên
30‰ (P.N.Hồng, 1991) [5]
Độ mặn tại khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, có sự khác
nhau rõ rệt và rất lớn giữa các tháng và các mùa trong năm. Độ mặn trung bình giao

động trong khoảng từ 18÷22‰, cao nhất vào khoảng tháng 4 có năm tới 29÷30‰.
Độ mặn thấp nhất vào tháng 7 và tháng 8 có những thời điểm độ mặn có thể giảm
thấp tới 5‰, nguyên nhân chủ yếu là do nước nguồn từ hai con sông hai bên (Sông
Diêm Hộ và Sông Trà Lý) đổ ra biển, nước ngọt và mang nhiều phù sa.
Nhìn chung, khu vực nghiên cứu có độ mặn thấp, thay đổi nhiều giữa các mùa
trong năm làm hạn chế sự phát triển của cây ngập mặn. Điều kiện độ mặn ở đây thích
hợp với những loài cây chịu mặn tương đối thấp (7÷25‰) như: trang, ô rô, cóc
kèn...và nhóm cây nước lợ điển hình (nơi có độ mặn 5÷15‰) như: bần chua, na biển...
(Nguyễn Thị Kim Cúc, 2002) [3].
3.3.4. Thể nền
Thể nền tại RNM tương đối bằng phẳng, độ cao ở mức trung bình so với mực
nước biển, độ cao thể nền chênh lệch nhau không lớn từ khoảng 0,8 đến 3,1m.
Trong sát chân đê dạng thể nền rất cứng, đi lại ít lún chân, ra ra phía biển khoảng
200m thì bắt đầu thụt chân, tại đây cành cây khô rụng xuống che lấp nhiều trên bề mặt
thể nền. Ra xa hơn nữa thể nền yếu dần và lún chân 10÷15cm, đặc biệt ra hết ngoài
khu vực trồng rừng thể lỏng nhão có thể lún chân tới 30cm rất khó đi lại.
Ngoài cùng thì hầu như toàn đất cát và không có các hạt phù sa ngưng tụ, vùng
này ngập triều thường xuyên thấp nhất cũng 20÷40cm nước, dễ đi không có cây cối tái
sinh tự nhiên.
3.4. Đặc điểm đất đai, Thổ nhưỡng
Do lưu lượng phù sa của các con sông tương đối lớn nên hàng năm ở vùng ven
bãi bồi lấn ra biển khá nhanh, trung bình từ 80÷100m. Nhìn chung đất tại khu vực
được chia làm hai loại chính:
- Đất cát: Phân bố tại các cồn cát, bên ngoài khu RNM – nơi mà sự lắng đọng
phù sa chưa tích tụ được vẫn bị thủy triều và các dòng nước cuốn trôi.
12


- Đất thịt: (thường là đất thịt trung bình) đây thường ở những khu đã trồng rừng
từ lâu đã có sự lắng đọng phù sa và cứng lại. Ngoài ra, còn có một bộ phận nhỏ là đất

cát pha thịt, đó thường là những vùng ven rìa ngoài của RNM - nơi mà các hạt sét bị
cuốn trôi đang tích tụ lại. Đặc điểm là thể nền còn yếu và đất thì rất nhão, dễ bị sóng to
cuốn đi theo.
Bãi triều rộng và thoải là yếu tố thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây
ngập mặn, tuy nhiên nằm trong khu vực trống trải lại chịu ảnh hưởng nhiều của gió
bão, khí hậu nên đã hạn chế sự phát triển của RNM ra phía biển cũng như tái sinh của
các cây ở đây và du nhập từ nơi khác đến do đó đã hạn chế sự phong phú của thảm
thực vật ngập mặn.
3.5. Điều kiện dân sinh - kinh tế
3.5.1. Dân số
Dân số toàn xã khoảng có 6.235 người với gần 1.500 hộ gia đình, bình quân
hơn 4 người trên một hộ gia đình. Mật độ trung bình là 6235/11,65 người/km 2, phân bố
không đều, tập trung nhiều nhất ở thị trấn.
Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên trong xã thấp, tỷ lệ sinh tự nhiên giảm từ 1,65%
xuống còn 1,44% từ năm 2008 đến năm 2010.
3.5.2. Kinh tế
Hoạt động sản xuất kinh tế ở các vùng ngoài đê chủ yếu là nuôi trồng thủy sản
và khai thác, đánh bắt hải sản xa bờ. Tổng diện tích nuôi trồng thủy hải sản của xã
đạt 540,7ha. Tổng sản lượng tôm sú đạt: 13,2 tấn, cua biển 15,62 tấn, rau câu 113,3
tấn, tổng thu đạt 3,73 tỷ đồng. Ước tính thu nhập bình quân đầu người trong xã đạt
từ 700.000÷1.000.000 đ/tháng.
Ở các vùng trong đê biển hoạt động sản xuất chủ yếu là canh tác nông nghiệp
như trồng lúa trên các diện tích đất ngọt hóa và trồng hoa màu trên các vùng đất cao.
Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiêp tính theo đầu người trong vùng rất thấp chỉ
khoảng 360m2/ người. Nhìn chung, đời sống của người dân còn nghèo, kinh tế ở đây
chưa vượt khỏi sự chậm phát triển.
3.5.3. Xã hội
13



Toàn xã đã hoàn thành giáo dục phổ cập cho 2 bậc học: Tiểu học và trung học cơ sở,
hàng năm vẫn đạt 100% trẻ em 6 tuổi được đến trường học, không có em nào bỏ học giữa
chừng vì điều kiện khó khăn. Tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99,6%, luôn đứng tốp
đầu trong thi đua học tập tốt trong toàn huyện.
Trạm y tế xã không ngừng được quan tâm đầu tư mở rộng, trang bị thêm một số
thiết bị y tế thiết yếu, hàng năm đã khám cho khoảng 2.358 lượt người, trẻ em được
tiêm vắc xin, uống thuốc và khám chữa bệnh theo đúng quy định của pháp luật. Trạm
y tế đã tổ chức khám chữa bệnh định kì tại các nhà trường cho các em nhỏ theo lịch
tiêm chủng và chăm sóc sức khỏe người dân của nhà nước.
3.6. Thành phần động thực vật trong vùng
- Nhóm thực vật mặn: có khoảng 26 hệ thực vật với 48 chi, 52 loài. Sinh khối
của nhón thực vật ngập mặn ở đây không cao nhưng đóng vai trò quan trọng trong quá
trình bồi tụ, lắng động phù sa, là môi trường sống của nhiều loài sinh vật biển có giá
trị, là tấm lá chắn vững chắc để bảo vệ đê biển.
-Nhóm sinh vật phù du: Có 170 loài tảo và khoảng 108 loài động vật phù du.
- Khu hệ cá: Có 37 loài, trong đó có 20 loài có giá trị kinh té cao, như các loài
Ngao đầm, Ngao, Sò... Trong số này Ngao là loài có giá rị xuất khẩu cao.
-Rong biển: Số lượng và chủng loại đơn điệu nhưng có 2 loài Rong câu chỉ
vàng, Rong câu mảnh thuộc nghành Rong câu đỏ có giá trị xuất khẩu cao.
Nhìn chung, hệ sinh thái trong vùng khá đa dạng và phong phú, có nhiều loài
sinh vật có giá trị kinh tế và xuất khẩu, đây là một thế mạnh để phát triển nghề nuôi
trồng thủy sản trong vùng.

14


Phần 4: MỤC TIÊU, PHẠM VI, ĐỐI TƯƠNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Mục tiêu
Đánh giá được đặc điểm một số nhân tố sinh thái của các đầm tôm hoang hóa tại

xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình làm cơ sở đề xuất một số giải pháp cho
việc phục hồi RNM tại khu vực này.
4.2. Phạm vi, đối tượng của đề tài
- Các đầm tôm hoang hóa tại xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
4.3. Nội dung của đề tài
- Xác định đặc điểm một số nhân tố sinh thái trên đầm tôm hoang hóa tại khu vực
- Lựa chọn loài cây RNM thích hợp cho đầm tôm hoang hóa tại khu vực
- Kỹ thuật trồng rừng trên đầm tôm hoang hóa tại khu vực nghiên cứu.
4.4. Phương pháp nghiên cứu
4.4.1. Kế thừa số liệu, kết quả nghiên cứu
- Kế thừa kết quả nghiên cứu tại khu vực, những nghiên cứu cùng lĩnh vực và
những nghiên cứu liên quan.
- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu
4.4.2. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
4.4.2.1. Đo pH, độ mặn
* Độ chua (pH)
Độ chua là chỉ số đánh giá hàm lượng ion [H +] trong dung dịch. Độ chua thì
không có đơn vị đo, độ chua xác định gồm hai loại là độ axit hay độ bazo. Tùy theo
khả năng hoạt động của ion [H+], ion [H+] càng hoạt động mạnh thì dung dịch càng có
pH thấp hay độ axit.
Độ chua (pH) của nước biển hầu như không thay đổi và luôn bằng một giá trị,
(pH) khoảng 8. Đây là môi trường bazơ, khi nước biển vào ven bờ bị tác động trung
hòa của thể nền hay của nước từ các con sông chảy ra làm cho pH của nước biển thay
đổi.
15


* Độ mặn
Độ mặn hay độ muối được kí hiệu S‰ (S viết tắt chữ Salinity – độ mặn) là tổng
lượng (tính bằng gram) các chất hòa tan chứa trong 1kg nước. Trong hải dương học

người ta sử dụng độ muối (salinity) để đặc trưng cho độ khoáng của nước biển, nó
được hiểu như tổng lượng tính bằng gram của tất cả các chất rắn hòa tan có trong 1kg
nước biển.
Vì tổng nồng độ các ion chính (11 ion) chiếm tới 99,99% tổng lượng các chất
khoáng hòa tan nên có thể coi độ muối nước biển chính bằng giá trị này. Điều đó cũng
có nghĩa là đối với nước biển khơi, độ muối có thể được tính toán thông qua nồng độ
của một ion chính bất kì.
Độ muối được kí hiệu S‰ hay độ clo – Clo‰ và mối liên hệ giữa hai đại lượng
này là: S‰ = 0,030 +1,8050 Clo‰ (trên cơ sở quy luật Đitmar được một số nhà khoa
học công bố 1902).
Ở đây ‰ hay ppt (phần nghìn) không phải là đơn vị đo độ muối, đó chỉ là kí hiệu
để biểu diễn đơn vị đo nồng độ (g/kg) của các muối hòa tan trong nước biển.
Căn cứ vào độ muối, năm 1934, Zernop đã phân chia giới hạn các loại nước tự
nhiên, sau này được A.F.Karpevits bổ sung và chi tiết hóa.
Biểu phân chia các loại nước tự nhiên (tính theo phần nghìn ‰)

TT
1

2

3
4

Phân loại nước
Nước ngọt
Nước ngọt nhạt
Nước ngọt lợ
Nước lợ
Nước lợ nhạt

Nước lợ vừa
Nước lợ mặn
Nước mặn

Theo
Zernop
0.02÷0.5
0.5÷16

16÷47

Nước biển
Nước quá mặn

Trên 47

Theo A.F.Karpevits
Giới hạn
Địa điểm
0.01÷0.5
Sông, hồ chứa
0.01÷0.2
0.2÷0.5
0.5÷30
Hồ, biển nội địa, cửa sông
0.5÷4.0
4.0÷18
18÷30
Trên 30
Đại dương, biển nội địa, vịnh,

30÷40
cửa sông
40÷300
Một số hồ, vịnh.

Từ biểu trên ta thấy Việt Nam thường sử dụng phân chia các loại nước tự nhiên
theo A.F.Karpevits.

16


* Tiến hành xác định độ mặn và độ pH cho một “con nước” mỗi ngày tiến hành
đo 3 lần: lúc nước thủy triểu lên, lúc đỉnh thủy triều trong vòng một đến hai giờ, lúc
thủy triều xuống.
Xác định bằng máy đo pH cầm tay (pH Eco-PAL) và máy đo độ mặn cầm tay
(khúc xạ kế đo độ mặn TI-SAT28). Sử dụng máy đo: lấy nước tại địa điểm cần đo vào
một cái cốc.
Đo pH: lấy máy đo ra khỏi hộp, kiểm tra máy đo, mở lắp, lấy nước cất rửa qua
đầu tiếp xúc với nước của máy đo sau đó lấy khăn sạch lau khô. Khi đo, cắm đầu tiếp
xúc với nước của máy ngập vào trong cốc nước cần xác định độ pH, để vài giây máy
sẽ hiện kết quả. Chú ý khi đo lần sau hay đo với cốc nước khác cần rửa qua đầu tiếp
xúc với nước của máy bằng nước cất và dùng khăn lau khô.

Máy đo độ mặn TI-SAT28

Máy đo pH Eco-PAL

4.4.2.2. Xác định độ cao của thể nền tại khu vực nghiên cứu
- Chọn 3 vị trí đại diện tại khu vực nghiên cứu để xác định độ cao cho thể nền.
- Tiến hành cắm 3 cọc để xác định độ cao. Chuẩn bị lịch thủy triều, xác định độ

cao cực đại cho từng ngày. Xác định độ cao cực đại của thủy triều cho ngày điều tra,
thời gian cụ thể.
- Sau khi thủy triều rút tiến hành đo độ cao mực nước trên cọc, để tránh sai số và
độ cao của thủy triều có sai lệch chúng ta tiến hành đo 2 ngày để xác định độ cao trung
bình của thể nền tại khu vực nghiên cứu.
4.4.2.3. Phương pháp thu mẫu đất
17


- Tại khu vực nghiên cứu, xác định 3 vị trí đại diện để lấy mẫu đất phân tích tính
chất của đất tại khu vực
- Thu mẫu: tiến hành lấy mẫu vào mùa khô (vào tháng 3/2011). Mẫu đất được lấy
ở 2 độ sâu khác nhau 0÷20cm so với bề mặt đất và độ sâu 20÷40cm so với mặt đất.
4.4.3. Phương pháp sử lý số liệu, đánh giá kết quả
- Phân tích các chỉ tiêu của mẫu đất
Tiến hành phân tích mẫu đất trong phòng thí nghiệm về tính chất hóa học, đánh
giá hàm lượng các chất trong đất dựa vào thang đánh giá sau:
* Hàm lượng mùn có trong đất (OM %).
Thang đánh giá hàm lượng mùn bằng phương pháp của Ti-Urin.

Hàm lượng mùn (%)
<1%
1÷2%
2÷3%
3÷5%
>5%

Đánh giá
Rất nghèo
Nghèo

Trung bình
Khá
Giàu

(Nguồn: Trần Công Tấu, 2006) [17]
* Hàm lượng: đạm, lân, kali tổng số (N, P2O5, K2O) (%)
Thang đánh giá hàm lượng đạm tổng số

Hàm lượng đạm tổng số (%)
<0,1%
0,1÷0,18%
0,18÷0,3%
>0,3%

Đánh giá
Nghèo
Trung bình
Khá
Giàu

(Nguồn: Trần Công Tấu, 2006) [17]
* Hàm lượng: đạm, lân, kali dễ tiêu (N, P2O5, K2O) (mg/100g đất)
Thang đánh giá hàm lượng đạm dễ tiêu theo phương pháp ChiurinComonova

Hàm lượng đạm dễ tiêu (mg/100g đất)
>6
4÷6
<4
18


Đánh giá
Giàu
Trung bình
Nghèo


(Nguồn: Trần Công Tấu, 2006) [17]
Thang đánh giá hàm lượng kali dễ tiêu theo Kiecxanop

Hàm lượng kali dễ tiêu (mg/100g đất)
<4
4÷8
4÷14
>14

Đánh giá
Rất nghèo
Nghèo
Trung bình
Giàu

(Nguồn: Trần Công Tấu, 2006) [17]
Thang đánh giá hàm lượng lân dễ tiêu theo Oniani

Hàm lượng lân dễ tiêu (mg/100g đất)

Đánh giá

<5


Rất nghèo

5÷10

Nghèo

10÷15

Trung bình

>15

Giàu

(Nguồn: Hữu Thành & Cs 2006) [15]
* Hàm lượng một số cation trao đổi trong đất (lđd/100g đất) Ca 2+, Mg2+.
Thang đánh giá hàm lượng canxi, magie trong đất

Đánh giá

Giá trị (lđl/100g đất)

Rất cao

Can xi
>20

Magie
>8


Cao

10÷20

3÷8

Trung bình

5÷10

1,5÷3

Thấp

2÷5

0,5÷1,5

Rất thấp

<2

<0,5

(Nguồn: Hữu Thành & Cs 2006) [15]
4.4.4 Phương pháp tham khảo ý kiến đánh giá lựa chọn loài cây trồng của người
dân địa phương
Phương pháp này được tiến hành qua việc phỏng vấn ý kiến của những người
dân có kinh nghiệm và đi biển nhiều năm. Kết quả tổng hợp ý kiến được tổng hợp vào
biểu cho điểm và lựa chọn loài cây trồng thích hợp cho đầm tôm hoang hóa.

Biểu cho điểm và lựa chọn loài cây trồng cho đầm tôm hoang hóa
19


Tiêu chí
Loài cây

1

2

3

4

5

6

7

8

9

Tổng

Xếp

điểm


hạng

* Trong đó:
Tiêu chí 1: khả năng sinh trưởng tốt
Tiêu chí 2: thích hợp với độ mặn, độ mặn của khu vực nghiên cứu, chịu được
biên độ muối rộng 5÷30‰.
Tiêu chí 3: xuất hiện trước khi có đầm tôm
Tiêu chí 4: khả năng tái sinh nhiều và tốt.
Tiêu chí 5: chiếm diện tích lớn ở khu vực lân cận
Tiêu chí 6: không bị sâu bệnh, hà bám
Tiêu chí 7: giá trị kinh tế, sinh thái môi trường (sử dụng cho nuôi ong)
Tiêu chí 8: khả năng lấn biển, giữ đất
Tiêu chí 9: mức độ ưa thích và lựa chọn loài cây trồng của người dân

20


Phần 5: DỰ KIẾN MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1. Một số đặc điểm sinh thái khu vực nghiên cứu
5.1.1. Đặc điểm thể nền
Độ cao của thể nền được xác định theo phương pháp cắm cọc. Độ cao thể nền
được tính bằng độ cao lớn nhất của thủy triều trong ngày trừ đi độ cao lớn nhất của
mực nước đo trên cọc trong ngày hôm đó.
5.1.2. Đặc điểm môi trường nước
Nước ven biển của khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng của thủy triều trong vùng
và nguồn nước từ hai cửa sông Trà Lý và Diêm Hộ, đã tác động nhiều đến đặc điểm và
tính chất nước tại đây đặc biệt là vào các mùa có biến động khí tượng lớn.
5.1.2.1. Độ mặn
Độ mặn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phân bố của cây

ngập mặn, độ mặn của nước biển biến động lớn trong năm ≤4‰ (mùa mưa) đến 20‰
(mùa khô), có rừng bần chua, trang (vùng cửa sông). Độ mặn của nước cao và ít biến
động trong năm 12÷31‰, có rừng mắm trắng, mắm biển. Độ mặn của nước biến động
7‰ (mùa mưa) đến 28‰ (mùa khô), có rừng đước, đước vòi, vẹt (Ngô Đình Quế và
cộng tác viên, 2005) [12].
5.1.2.2. Độ chua (pH)
Độ chua ảnh hưởng đến sự biến đổi hóa học của đa số các chất dinh dưỡng. Mỗi
loài cây đều thích hợp với một biên độ chua khác nhau, nhưng nhìn chung chúng đều
thích hợp với độ mặn trung tính hoặc hơi kiềm vì đây là môi trường thuận lợi cho quá
trình tổng hợp các chất hữu cơ của thực vật.
5.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng đất
Dinh dưỡng đất có vai trò quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây, đặc biệt là đối với cây ngập mặn. Chúng sinh trưởng
trong một môi trường đặc biệt thường ngập lầy và thiếu nước ngọt thường xuyên.

21


5.2. Lựa chọn một số loài cây trồng trong khu vực đầm tôm hoang hóa
5.2.1. Tiêu chí lựa chọn loài cây trồng trong khu vực nghiên cứu.
- Loài cây phải phù hợp, dễ thích nghi với điều kiện sinh thái của vùng, dễ tạo
thành rừng phòng hộ.
- Là cây thân gỗ, sống lâu năm, đa tác dụng: giữ đất, có khả năng chống được gió
bão,… Ưu tiên những loài cây đang sống tại khu vực và vùng lân cận vì những loài
cây này đã thể hiện sự thích nghi với các điều kiện nơi đây.
- Chịu được điều kiện lập địa đặc biệt: độ mặn thấp, biên độ muối rộng, chất dinh
dưỡng ít, thời gian ngập triều kéo dài, nắng nóng, nhiệt độ thấp kéo dài.
- Những loài cây có khả năng tái sinh mạnh, kỹ thuật trồng đơn giản, tỷ lệ sống
cao, thích hợp với trồng rừng hỗn giao, tạo thành rừng đa tầng với nhiều mục đích
phòng hộ.

5.2.2. Lựa chọn loài cây trồng
Trong quá trình tiến hóa lâu dài của tự nhiên, các loài cây RNM đã hình thành
những đặc điểm, khả năng thích nghi hiệu quả để tồn tại và thành công ở vùng ven
biển. Để phục hồi sự tồn tại của RNM trong đầm tôm hoang hóa, đầu tiên sẽ học cách
tiếp cận mà thiên nhiên đã sử dụng thành công, làm theo hoặc bắt chước tự nhiên khi
phục hồi lại RNM ở những lập địa khó khăn như đầm tôm hoang hóa tại khu vực
nghiên cứu đó là cách tốt nhất.
Do vậy, để lựa chọn một số loài cây trồng thích hợp cho khu vực đầm tôm hoang
hóa chúng tôi dựa trên cơ sở đánh giá điều kiện tự nhiên nơi đây, tìm hiểu tình hình
sinh trưởng của một số loài cây chính xung quanh khu vực nghiên cứu và tham khảo ý
kiến đánh giá của người dân.
5.3. Kỹ thuật trồng một số loài cây trong khu vực đầm tôm hoang hóa
5.3.1. Một số phương án kỹ thuật cho phục hồi rừng ngập mặn tại những đầm tôm
hoang hóa
5.3.1.1. Phục hồi rừng ngập mặn trên toàn bộ diện tích đầm tôm hoang hóa
Do trong đầm tôm mực nước vẫn còn cao, nhiều diện tích đất vẫn còn ngập sâu:
tiến hành mở cống, đào các con lạch nhỏ cho nước thoát bớt ra ngoài, làm giảm mực
22


×