Tải bản đầy đủ (.doc) (29 trang)

Nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (203.57 KB, 29 trang )

1

Nghiên cứu đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp
đồng quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên,
tỉnh Thanh Hóa


2

ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, trải dài gần 15 độ vĩ
(8020' - 22022' vĩ độ Bắc) và hơn 7 kinh độ (102010' - 109020' kinh độ Đông) là
nơi giao điểm của vùng Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Malaysia. Những điều kiện
tự nhiên đã tạo ra tính đa dạng cao về các hệ sinh thái rừng, do đó nước ta có
nguồn tài nguyên vô cùng phong phú về khu hệ động, thực vật. Năm 1943
nước ta có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43%; đến năm 1990 chỉ còn 9,18
triệu ha, độ che phủ rừng 27,2%. Đến nay, tổng diện tích rừng là 13,388 triệu
ha (tính đến 31/12/2010) [7] độ che phủ đạt 39,5%, nhưng chất lượng rừng
thấp. Diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa nơi
tập trung nhiều dân tộc ít người, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh
tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn, người
dân sống phụ thuộc vào rừng là chủ yếu.
Do vậy, đa dạng sinh học bị suy thoái, nhiều loài động và thực vật quý
hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. Từ đó, mục tiêu quốc gia đã hình thành
các khu bảo tồn, vườn quốc gia và khu dự trữ thiên nhiên, nhằm duy trì và
bảo tồn những gì còn lại của thiên nhiên trong xu thế đứng bên bờ diệt vong.
Công tác quản lý các khu rừng đặc dụng trong những năm qua gặp không ít
trở ngại, lực lượng quản lý lâm nghiệp mỏng, trình độ hiểu biết về đa dạng
sinh học cũng như tổ chức quản lý các khu rừng đặc dụng còn hạn chế, chưa
mang lại hiệu quả cao.
Việc xây dựng các khu rừng đặc dụng cũng như xây dựng kế hoạch


quản lý và hoạt động vẫn thường được tiếp cận theo kiểu áp đặt từ trên xuống,
chưa quan tâm đến lợi ích cũng như quyền lợi của người dân sống trong và
gần rừng hoặc nếu có thì cũng chỉ giới hạn ở sự tham gia một cách thụ động
của người dân, điều này đã đặt người dân với vai trò là người ngoài cuộc


3

trong công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Mặt khác, việc quản lý
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên thường mâu thuẫn với những lợi ích của người
dân vốn sinh sống phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên rừng. Nhiều nơi, thay vì
tham gia quản lý bảo vệ tài nguyên, người dân đã đối đầu với lực lượng quản
lý bảo vệ rừng của chính quyền.
Thực tế cho thấy rằng, các cộng đồng dân cư miền núi chủ yếu tìm
nguồn sinh kế từ rừng như khai thác lâm sản, sử dụng đất rừng trồng cây nông
nghiệp, bãi chăn thả gia súc… tạo nên nhiều tiêu cực cho quản lý bảo vệ rừng
nhưng vẫn không nâng cao được đời sống của cộng đồng. Những hoạt động
này chỉ được xem là cách sinh kế tạm thời, không bền vững. Do đó, các câu
hỏi được đặt ra là: Làm thế nào để nâng cao nội lực của cộng đồng, phát huy
những tiềm năng sẵn có và lôi cuốn cộng đồng tham gia vào các hoạt động
đồng quản lý bảo vệ tài nguyên rừng vì mục tiêu phát triển bền vững của địa
phương. Đây là bài toán khó không chỉ đối với những nhà quản lý, các nhà
khoa học mà của cả người dân sở tại.
Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên nằm ở thượng nguồn sông
Chu, trên địa bàn của huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa với tổng diện tích
tự nhiên là 26.304ha. Với sinh cảnh là rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đá
vôi, là nơi sinh sống của nhiều loài động, thực vật quý hiếm như: Pơ mu,
Samu, Bách xanh, Dẻ tùng sọc trắng... Hổ, Báo, Gấu ngựa, Gà lôi trắng... cần
được bảo tồn và phát triển. Thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc Thái và
Mường, có trình độ dân trí thấp. Là khu vực địa hình dốc, chia cắt hiểm trở,

diện tích đất canh tác nông nghiệp ít vì vậy đời sống người dân cực kì khó
khăn, chủ yếu phụ thuộc vào rừng. Từ đó dẫn tới nguồn tài nguyên rừng ngày
càng bị suy giảm. Đời sống của nhân dân đã khó khăn nay lại càng khó khăn
hơn. Mặt khác trên một địa bàn rộng lớn như vậy nhưng lực lượng lại mỏng,
trang thiết bị nghèo nàn, cán bộ còn hạn chế về năng lực. Thực tế này đã gây


4

ra không ít khó khăn và trở ngại cho công tác bảo tồn, đây cũng là nguyên
nhân chính dẫn đến rừng và ĐDSH ở Khu BTTN Xuân Liên vẫn tiếp tục bị
tác động và suy giảm.
Vì vậy, để giảm áp lực đối với các khu rừng đặc dụng nói chung và
quản lý rừng đặc dụng tại Khu BTTN Xuân Liên nói riêng, chia sẻ gánh nặng
với các ngành, các cấp trong việc bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên thì
nhiệm vụ của các nhà quản lý là cần huy động sự tham gia tích cực của nguời
dân trong công tác quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên quý giá
này. Để thực hiện được vấn đề trên cần phải đánh giá đúng thực trạng công
tác quản lý rừng hiện nay, tìm ra được tồn tại, khó khăn, thách thức; phân tích,
đánh giá được tiềm năng, khả năng đồng quản lý rừng của các bên liên quan
từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp, sát với điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội
khu vực nghiên cứu, luật pháp Nhà nước hiện hành.
Trên cơ sở thực tiễn và lý luận đó, để phần nào trả lời được câu hỏi và
giải quyết vấn đề trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề
xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên
Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa”.
Đề tài được thực hiện sẽ là giải pháp cùng với người dân và các cơ quan
tổ chức khác trên địa bàn đồng quản lý Khu BTTN, là triển vọng để thay đổi bộ
mặt người dân nơi đây, đồng thời cũng là cơ hội bảo tồn giá trị đa dạng sinh
học trong khu vực. Đó cũng chính là những lý do để đề tài thực hiện tại Khu

BTTN Xuân Liên, Tỉnh Thanh Hóa.


5

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Nhận thức chung về đồng quản lý
Với hệ thống các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn đã được thành lập thì các
hệ sinh thái, các loài động, thực vật quý hiếm, đặc hữu, được bảo vệ tốt hơn.
Tuy nhiên, qua đánh giá các hoạt động quản lý bảo vệ hệ thống rừng đặc dụng
cho thấy một trong những khó khăn của công tác quản lý hiện nay là chưa chủ
động được sự tham gia quản lý, bảo vệ của các lực lượng trong xã hội như:
Các tổ chức đoàn thể xã hội, các cá nhân... và cộng đồng sống ở trong hay gần
khu rừng đặc dụng. Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tế cho thấy nếu
thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng thì công tác quản lý bảo vệ các vườn
quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên sẽ gặp nhiều trở ngại và khó thành công.
Để góp phần xây dựng các giải pháp nhằm thu hút các đối tác, cộng
đồng cùng tham gia quản lý, bảo vệ rừng ở các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn
thiên nhiên, cho đến nay nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về đồng quản lý,
trong đó có một số khái niệm như sau:
Năm 1990, Rao và Geisler [27] đưa ra định nghĩa đồng quản lý như
sau: Đồng quản lý là sự chia sẻ việc ra quyết định giữa những người sử dụng
tài nguyên địa phương với các nhà quản lý tài nguyên về chính sách sử dụng
các vùng bảo vệ. Các đối tác cần hướng tới mối quan tâm chung là bảo tồn
thiên nhiên để trở thành đồng minh tự nguyện.
Năm 1996, lần đầu tiên Borrini - Feyerabend [23] đã đưa ra khái niệm
đồng quản lý là tìm kiếm sự hợp tác, trong đó các bên liên quan cùng nhau
thỏa thuận chia sẻ chức năng quản lý, quyền và nghĩa vụ trên một vùng lãnh
thổ hoặc một khu vực tài nguyên với tình trạng bảo vệ. Đến năm 2000,

Borrini - Feyerabend tiếp tục đưa ra khái niệm đồng quản lý như là một dạng


6

hợp tác trong đó hai hoặc nhiều đối tác xã hội hiệp thương với nhau xác định
và thống nhất việc chia sẻ chức năng quản lý, quyền và trách nhiệm về một
vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên được xác định.
Cùng năm 1996, hai nhà khoa học khác là Wild và Mutebi [31] đã đưa
ra khái niệm: Đồng quản lý là một quá trình hợp tác giữa các cộng đồng địa
phương với các tổ chức nhà nước trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên
thiên nhiên hoặc các tài sản khác. Các bên liên quan, nhà nước hay tư nhân,
cùng nhau thông qua một hiệp thương xác định sự đóng góp của mỗi đối tác
và kết quả là cùng nhau ký một hiệp ước phù hợp mà các đối tác chấp nhận
được.
Năm 1999 Andrew W.Ingle và các tác giả, [22] lại có một định nghĩa
khác: Đồng quản lý được coi như sự sắp xếp quản lý được thương lượng bởi
nhiều đối tác liên quan, dựa trên cơ sở thiết lập quyền và quyền lợi, hoặc
quyền hưởng lợi được nhà nước công nhận và hầu hết những người sử dụng
tài nguyên chấp nhận được. Quá trình đó được thể hiện trong việc chia sẻ
quyền ra quyết định và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên.
Năm 2000, Borrini - Feyerabend đưa ra khái niệm chung “đồng quản lý
như là một dạng hợp tác trong đó hai hoặc nhiều đối tác xã hội hiệp thương
với nhau xác định và thống nhất việc chia sẻ chức năng quản lý về quyền và
trách nhiệm về một vùng, một lãnh thổ hoặc nguồn tài nguyên thiên nhiên
được xác định”. Đồng quản lý được xây dựng trên các luận điểm là: Tính đa
dạng về chủ thể và hình thức quản lý tài nguyên; đồng quản lý trong kết hợp
bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững.
Trên cơ sở các khái niệm của các tác giả, qua quá trình nghiên cứu thảo
luận, bước đầu có thể hiểu khái niệm về đồng quản lý tài nguyên rừng như

sau: “ Đồng quản lý là một quá trình tham gia của nhiều đối tác có cùng mối
quan tâm đến tài nguyên rừng, trong đó trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn và


7

quyền lợi của các đối tác được thỏa hiệp, thống nhất trên cơ sở khả năng,
năng lực của từng đối tác và không trái với luật pháp Nhà nước hiện hành,
Công ước Quốc tế nhà nước đang tham gia, nhằm đạt được mục tiêu chung
là quản lý tài nguyên rừng Khu BTTN một cách tốt nhất, vừa thỏa mãn mục
tiêu riêng của từng đối tác”.
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.2.1. Tính đa dạng về chủ thể và hình thức quản lý tài nguyên
Theo Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, hiện nay nước ta có 8
chủ thể chính tham gia quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng, đó là:
- Nhà nước là một chủ thể lớn nhất, có quyền quản lý và điều tiết vĩ mô
về lĩnh vực lâm nghiệp. Quản lý nhà nước về lâm nghiệp (tài nguyên rừng) là
một hình thức khẳng định chủ quyền của nhà nước đối với đất lâm nghiệp và
tài nguyên rừng. Quản lý nhà nước điều tiết quản lý, sử dụng tài nguyên đáp
ứng những mục tiêu tổng thể mang tính chất quốc gia. Quản lý nhà nước có
thế mạnh về pháp luật, chính sách và tài chính. Ngoài ra dưới sự quản lý,
kiểm soát và điều tiết vĩ mô của Nhà nước thì có các chủ thể sau được giao
trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng.
- Hệ thống các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được Nhà
nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng với mục tiêu chính là bảo tồn thiên
nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của Quốc gia, nguồn gen động vật và thực
vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử văn hóa và danh lam
thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi và du lịch, bảo vệ môi trường. Là một tổ chức
sự nghiệp của Nhà nước cho nên hệ thống này có thế mạnh về pháp lý và tài
chính.

- Hệ thống các tổ chức kinh tế được Nhà nước giao rừng, cho thuê
rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng
rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng


8

rừng, nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng. Hệ thống này có thế
mạnh được sự bảo lãnh của nhà nước về pháp lý, có thế mạnh về khoa học,
công nghệ mới và thị trường, năng lực và tài chính.
- Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao rừng, cho thuê
rừng, giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng hoặc công nhận quyền sử dụng
rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, nhận chuyển quyền sử dụng
rừng, nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng. Mục tiêu chính của hình
thức quản lý này là bảo vệ rừng và phát triển kinh tế gia đình và xã hội. Hộ
gia đình và cá nhân có thế mạnh về lực lượng lao động dồi dào, ổn định tại
chỗ và có những kiến thức bản địa trong bảo vệ và phát triển rừng.
- Hệ thống các đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao rừng,
giao đất để phát triển rừng. Hệ thống này có thế mạnh về thể chế, tài chính và
nhân lực có tính tổ chức, kỷ luật cao.
- Hệ thống các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ,
đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát
triển rừng. Hệ thống này có thế mạnh về khoa học, công nghệ mới và thị
trường, năng lực và tài chính.
- Hệ thống các tổ chức, cá nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
cá nhân người nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước giao rừng, cho
thuê rừng, cho thuê đất để phát triển rừng. Hệ thống này có thế mạnh về khoa
học, công nghệ mới và thị trường, năng lực và tài chính.
- Cộng đồng dân cư thôn, bản được Nhà nước giao rừng, giao đất để
phát triển rừng. Cộng đồng quản lý tài nguyên có thế mạnh về tính tổ chức,

thể chế, tính tự nguyện, sự ổn định tại chỗ và những kiến thức bản địa.
Trên một đơn vị tài nguyên không chỉ tồn tại một hình thức quản lý mà
tồn tại nhiều hình thức. Vấn đề đặt ra là các hình thức này hợp tác với nhau
như thế nào? Làm thế nào để giải quyết hài hòa mục tiêu, lợi ích của các hình


9

thức quản lý tài nguyên? Để đạt được sự công bằng đối với các chủ thể quản
lý, đạt được các mục tiêu tổng thể cũng như cụ thể của từng đối tượng thì
đồng quản lý sẽ là một phương thức thích hợp và hiệu quả.
Trong thực tế, Nhà nước quản lý toàn bộ tài nguyên trên lãnh thổ quốc
gia, trên cơ sở chia sẻ với các chủ thể quản lý tài nguyên khác trong xã hội.
Hợp tác quản lý sẽ phát huy được những thế mạnh của các chủ thể, đặc biệt là
cộng đồng dân cư là những người trực tiếp tiếp cận với các nguồn tài nguyên
và có những hiểu biết về chúng. Trên cơ sở hợp tác quản lý sẽ tạo ra sức mạnh
tổng hợp đảm bảo cho sự thành công của công tác quản lý tài nguyên.
1.2.2. Đồng quản lý trong kết hợp bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền
vững
Đồng quản lý giải quyết được mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển:
Nhà nước có chiến lược bảo tồn và thường nảy sinh mâu thuẫn với các cộng
đồng địa phương đang sử dụng tài nguyên phục vụ đời sống, giữa cộng đồng
và quốc gia sẽ đồng nhất trong mục tiêu bảo tồn và phát triển nếu như tiến tới
thỏa thuận về một phương thức đồng quản lý.
Bảo tồn và phát triển là hai mặt đối lập thống nhất, tài nguyên thiên
nhiên là nguồn nguyên liệu cần thiết đối với phát triển kinh tế xã hội. Để phát
triển, con người đã không ngừng khai thác các nguồn tài nguyên này, nên bảo
tồn thiên nhiên sẽ mâu thuẫn với phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nếu khai thác
cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ gây ảnh hưởng và tạo ra sự bất ổn
cho phát triển cả về kinh tế và các mặt xã hội khác. Chính vì vậy con người

cần phải bảo tồn, tái tạo các nguồn tài nguyên bảo hộ cho sự phát triển ổn
định lâu dài. Đồng quản lý tài nguyên Khu BTTN Xuân Liên sẽ định hướng
cho tiến trình bảo tồn và phát triển.
Theo Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản (1999), quan điểm bảo tồn và
phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển
địa phương, bao gồm 3 thành phần chính (cách tiếp cận) như sau:


10

- Thứ nhất là nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể
được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài
nguyên sẽ được giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: Cách tiếp cận các giải
pháp thay thế sinh kế.
- Thứ hai là nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan
tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống vẫn còn chưa
được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ
tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: Cách tiếp cận phát
triển kinh tế.
- Thứ ba là cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài
nguyên thiên nhiên nếu như họ có thể được tham gia một cách tích cực vào
việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài
nguyên đó. Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số
nhu cầu cơ bản của người dân địa phương được đáp ứng thông qua việc sử
dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững: Cách tiếp cận
tham gia quy hoạch.
Như vậy sự hợp tác ở trong những cách tiếp cận này cũng chính là hình
thức đồng quản lý tài nguyên và đồng quản lý sẽ giải quyết được mâu thuẫn
giữa bảo tồn và phát triển, giữa cộng đồng và nhà nước sẽ được thống nhất
trong các mục tiêu đồng quản lý.

1.2.3. Đồng quản lý dựa trên cơ sở phối hợp lợi ích quốc gia và lợi ích cộng
đồng
Quản lý một Khu bảo tồn nhà nước tính đến lợi ích mang tính toàn cục,
mục tiêu chung là bảo vệ đa dạng sinh học, là tài sản quý giá của quốc gia,
bảo vệ môi trường, rừng phòng hộ cho các ngành sản xuất và đời sống xã hội
trong khu vực.


11

Ở các Khu BTTN, đời sống cộng đồng của họ phụ thuộc trực tiếp vào
nguồn tài nguyên. Lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của người dân là đảm
bảo sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cho nhiều thế hệ. Chính vì vậy, bảo
vệ, bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên phải dựa trên cơ sở đảm bảo
các lợi ích của cộng đồng dân cư. Phải coi những cộng đồng này là những
nhóm đặc biệt trong khi thành lập và quản lý Khu BTTN và các Khu BTTN
không thể tách rời khỏi các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và tinh thần của
người dân địa phương. Do đó việc quản lý, bảo vệ và phát triển các Khu bảo
tồn cần phải có sự phối hợp chặt chẽ vì lợi ích chung, vừa đảm bảo lợi ích của
quốc gia nhưng cũng phải đảm bảo lợi ích của cộng đồng dân cư.
Ngoài ra có các thành phần khác (Các công ty du lịch, các nhà máy thủy
điện, thủy nông, các tổ chức nghiên cứu khoa học....), có mối quan tâm đến tài
nguyên và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên trong khu bảo tồn phục vụ cho lợi
ích của họ, do đó đồng quản lý sẽ gắn lợi ích của họ với trách nhiệm quản lý bảo
vệ các nguồn tài nguyên mà họ đang quan tâm, sử dụng và sẽ sử dụng trong
tương lai.
Đồng quản lý phải không được ảnh hưởng quá mức hoặc làm mất đi lợi
ích của các bên liên quan mà phải gắn lợi ích của họ với trách nhiệm quản lý
bảo vệ các nguồn tài nguyên mà họ đang quan tâm.
1.2.4. Đồng quản lý với việc bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng và chiến

lược xóa đói giảm nghèo
Những trang phục đặc sắc, những nghi lễ trong cưới xin và ngay trong
cách hái lượm, sử dụng tài nguyên... của mỗi cộng đồng dân tộc đều mang
một màu sắc riêng biệt. Cùng với sự phát triển của xã hội, sự hội nhập về văn
hóa ngày càng sâu rộng đã làm mai một không ít những bản sắc văn hóa độc
đáo của cộng đồng người địa phương; những sinh hoạt văn hóa dân gian và cả
những tri thức hiểu biết về quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên ngày
càng bị thiếu vắng.


12

Bảo tồn bản sắc văn hóa, kiến thức bản địa cũng là một trong những
chiến lược lâu dài của Nhà nước, đồng quản lý tài nguyên rừng sẽ khuyến
khích người dân sử dụng, phát huy những kiến thức bản địa, sáng kiến, bản
sắc văn hóa và thể chế cộng đồng giúp chúng tồn tại và phát triển.
Đồng quản lý được hình thành và phát triển sẽ giúp cộng đồng dân tộc
trong khu vực tiếp cận được những tiến bộ khoa học cùng với sự hỗ trợ tích
cực của các bên liên quan. Những hỗ trợ của kiến thức mới, của cơ chế tài
chính trong quản lý rừng đặc dụng kết hợp với việc sử dụng kiến thức và sáng
kiến sẽ giúp cộng đồng phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo bằng con
đường tự vận động. Khi vận dụng một cách sáng tạo những kinh nghiệm, kiến
thức khoa học tiên tiến thì công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh
học chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao.
Đây cũng là phương thức quản lý tạo cơ hội cho các bên liên quan
trong đó có cộng đồng người dân tham gia nhiều hơn trong công tác quản lý
bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời tạo nguồn thu nhập hợp
pháp và thường xuyên; nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân địa
phương. Như vậy, đồng quản lý rừng đặc dụng góp phần xóa đói giảm nghèo
một cách bền vững.

1.2.5. Cơ sở pháp lý và khuôn khổ chính sách của đồng quản lý
Cơ sở chính sách pháp lý và khuôn khổ chính sách của đồng quản lý là
những văn bản luật, nghị định, thông tư, công ước.
Công ước bảo vệ đa dạng sinh học mà Việt Nam tham gia năm 1994,
trong đó điều 8, điểm J ghi rõ: “Tùy theo luật pháp quốc gia, sự tôn trọng và
duy trì các tri thức, các sáng kiến và các thông lệ của cộng đồng bản xứ và địa
phương, biểu hiện bằng lối sống truyền thống phù hợp với bảo tồn và sử dụng
bền vững đa dạng sinh học”.


13

Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng
sản xuất là rừng tự nhiên.
Luật đất đai năm 2003, trong đó công nhận cộng đồng dân cư là một
chủ thể có quyền được nhận đất lâm nghiệp để quản lý và sử dụng ổn định lâu
dài.
Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, trong đó quy định về trách
nhiệm bảo vệ rừng là của toàn dân.
Thông tư 70/TT-BNN [3] ngày 1/8/2007 của Bộ NN và PTNT về việc
hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng
trong cộng đồng dân cư thôn.
Luật đa dạng sinh học năm 2008, quy định sự đa dạng về nguồn đầu tư
bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học.
Nghị định số 99/NĐ-CP [4] ngày 2/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ
về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Trong đó, quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và mức xử phạt
đối với từng hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Nghị định số 117/NĐ-CP [5] ngày 24/12/2010 của Thủ tướng Chính

phủ về tổ chức quản lý rừng đặc dụng. Trong đó, quy định rõ các biện pháp
bảo vệ rừng, phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền
vững tài nguyên rừng đặc dụng.
Quyết định số 34/QĐ-TTg [6] ngày 24/6/2011 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng.
Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 8/02/2012 về ban hành một số chính
sách tăng cường công tác bảo vệ rừng.
Quyết định số 57/QĐ-TTg [7] ngày 09/01/2012 về phê duyệt kế hoạch
bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020.


14

Tóm lại: Cơ sở khoa học của đồng quản lý tài nguyên rừng cho thấy
chìa khóa thành công trong quản lý tài nguyên rừng là hợp tác trong quản lý
sẽ phát huy được những thế mạnh của các chủ thể, đặc biệt là cộng đồng dân
cư là những người trực tiếp tiếp cận với các nguồn tài nguyên và có những
hiểu biết sâu sắc về chúng. Trên cơ sở đó hợp tác quản lý sẽ tạo ra một sức
mạnh tổng hợp đảm bảo cho sự thành công của đồng quản lý tài nguyên.
1.3. Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới
Trong giai đoạn hiện nay đồng quản lý rừng đang được xem như là một
giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, hỗ trợ giải quyết
tình trạng suy thoái tài nguyên, đã có không ít những mô hình đồng quản lý
tài nguyên được hình thành ở Uganda, Nam phi, Thái lan, Nepal… Đây là
những bài học quý giá cho quá trình xây dựng những giải pháp đồng quản lý
bền vững tài nguyên rừng ở Việt Nam.
Ở Ấn Độ, tham gia quản lý nói chung (Joint Forest Management) là
khái niệm được biết đến lần đầu tiên. Tuy nhiên, đồng quản lý (hay hợp tác
quản lý) khu rừng bảo vệ (Co-management of Protected Areas) mới chỉ được
tiến hành từ cuối những năm của thế kỷ 20 và nhanh chóng lan rộng tới các

quốc gia thuộc các nước châu Phi, châu Mỹ La tinh và châu Á. Nghiên cứu
của Eva Wollenberg, Bruce Campbell, Sheeona Shackletton, David Edmunds,
and Patricia Shanley, 2004 tại Orissa và Uttarkhand ở Ấn độ, Bộ lâm nghiệp
cho phép người dân được trực tiếp tiếp cận với sản phẩm rừng, đất rừng, lợi
ích từ tài nguyên rừng hoặc tạo cơ hội để họ được tiếp cận với cách quản lý
rừng của Nhà nước. Ngược lại thì Nhà nước cho phép người dân hợp tác với
họ để quản lý rừng thông qua việc bảo vệ rừng hoặc trồng rừng, yêu cầu
người dân chia sẻ lợi nhuận với các cơ quan quản lý rừng của Nhà nước.
Theo Wild và Mutebi, 1996 [31] tại VQG Bwindi Impenetrable và
MgaHinga Gorilla thuộc Uganda việc hợp tác quản lý được thực hiện theo


15

quy ước giữa ban quản lý VQG và cộng đồng dân cư. Trong đó, người dân
được phép khai thác một số lâm sản trên quan điểm khai thác sử dụng bền
vững, đồng thời có nghĩa vụ quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Như vậy, việc
hợp tác quản lý tại đây mới chỉ có hai đối tác là Ban quản lý VQG và cộng
đồng dân cư tham gia.
Theo Sherry. E. (Canada), 1999 [30] việc hợp tác quản lý tài nguyên
thiên nhiên tại VQG Vutut được thực hiện trên nguyên tắc: Có sự phối hợp
giữa chính quyền, Ban quản lý VQG và cộng đồng dân cư. Đồng quản lý ở
đây đã kết hợp được các mối quan tâm của các bên tham gia và sử dụng kiến
thức bản địa của người dân địa phương vào mục tiêu bảo tồn. Đồng thời, ban
quản lý VQG xây dựng và đưa ra các mô hình đó. Như vậy, việc hợp tác quản
lý ở đây đã giải quyết hài hòa mâu thuẫn giữa Nhà nước và cộng đồng dân cư
địa phương. Đồng thời lợi dụng được kiến thức bản địa vào công tác bảo tồn
hoang dã và bảo tồn các di sản văn hoá.
Trong báo cáo nghiên cứu sự hợp tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại
VQG Andringitra của Madagascar; Shuchenmann 1999 [29] viết rất rõ: Sự

hợp tác đồng quản lý ở đây có rất nhiều các bên tham gia như chính quyền,
ban quản lý VQG, cơ quan du lịch và người dân. Chính quyền ban hành nghị
định nhằm đảm bảo cuộc sống cho người dân cả về vật chất lần tinh thần như
được phép chăn thả gia súc, khai thác tài nguyên từ rừng phục hồi để sử dụng
tại chỗ, cho phép giữ gìn các đền thờ cúng thần rừng đáp ứng cuộc sống tâm
linh. Ngược lại, người dân phải đảm bảo tham gia vào các công tác bảo vệ và
sử dụng bền vững các giá trị đa dạng sinh học trong VQG và khu vực lân cận.
Ở Brazil, nông dân đã giúp quản lý 2,2 triệu ha rừng phòng hộ, khoảng
một nửa số huyện ở Zimbabuê tham gia vào chương trình CAMPFIRE, ở đó
người dân có thể chia sẻ lợi nhuận từ du lịch trong các khu rừng bảo vệ động
vật hoang dã, các chương trình này giúp nhà nước bảo vệ được rừng, giúp


16

người dân cải thiện được quyền tiếp cận với tài nguyên rừng, tuy nhiên chưa
giúp người nghèo cải thiện đáng kể kế sinh nhai.
Tại khu bảo tồn Hoàng gia Chiwan ở Nepal, Oli Krishna Prasad 1999
[25] có viết trong báo cáo như sau: Cộng đồng dân cư vùng đệm được tham
gia hợp tác với một số bên liên quan quản lý tài nguyên vùng đệm phục vụ
cho du lịch. Lợi ích của cộng đồng khi tham gia quản lý tài nguyên là khoảng
30 - 50% thu được từ du lịch hàng năm sẽ đầu tư trở lại cho các hoạt động
phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng. Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở
đồng quản lý tài nguyên rừng phục vụ du lịch ở vùng đệm.
Ở Nam Phi, Moenieba Isaacs và Najma Mohamed, 2000 [24] trong báo
cáo “Hợp tác quản lý với người dân ở Nam Phi trong phạm vi vận động” đã
nghiên cứu các hoạt động hợp tác quản lý tại VQG Richtersveld. Do người
dân nhận thức chưa cao về bảo tồn thiên nhiên, trong khi đó công việc của họ
làm ảnh hưởng tới đa dạng sinh học của VQG. Ban quản lý VQG đã phải
nghiên cứu phương thức bảo tồn trong nhiều năm và cho đến năm 1991 mới

chính thức tìm ra được phương thức hợp tác quản lý với cộng đồng dân cư.
Phương thức này chủ yếu dựa trên hương ước quản lý bảo vệ tài nguyên
(Contractual Agreement). Trong đó người dân cam kết bảo vệ đa dạng sinh
học trên địa phận của mình, còn chính quyền và ban quản lý hỗ trợ người dân
xây dựng cơ sở hạ tầng và cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội khác.
Theo Reid, H., 2000 [28] việc hợp tác quản lý tài nguyên thiên nhiên
tại VQG Kruger, người dân trước đây đã chuyển đi từ Makuleke, khi chính
phủ mới thành lập đã cho phép người dân trở lại vùng đất truyền thống để
sinh sống. Để đạt được quyền sử dụng đất đai cũ, người dân phải xây dựng
quy ước bảo vệ môi trường trong khu vực VQG, đồng thời họ cũng được chia
sẻ lợi ích thu được từ du lịch. Từ những kết quả đạt được về đồng quản lý tài


17

nguyên ở Nam Phi đã trở thành bài học kinh nghiệm cho các nước đang phát
triển khác.
Theo Poffenberger, M. và McGean, B. 1993 [26] trong báo cáo “Liên
minh cộng đồng: Đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại
VQG Dong Yai nằm ở Đông Bắc và khu rừng phòng hộ Nam Sa ở phía bắc
Thái Lan. Tại Dong Yai, người dân đã chứng minh được khả năng của họ
trong việc tự tổ chức các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục Lâm
nghiệp Hoàng gia xây dựng hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi
trường sinh thái, cũng như phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực. Tại
Nam Sa, cộng đồng dân cư cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng
phòng hộ. Họ khẳng định rằng nếu chính phủ có chính sách khuyến khích và
chuyển giao quyền lực thì họ chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát
các hoạt động khai thác quá mức nguồn tài nguyên rừng, các hoạt động phá
rừng và tác động tới môi trường. Đồng quản lý ở Thái Lan có thể trở thành
bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam, bởi Thái Lan cũng là một nước

trong vùng Đông Nam Á, có một số đặc điểm tương đồng với Việt Nam về
điều kiện tự nhiên và văn hoá xã hội.
Nhận xét: Qua những nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về đồng quản
lý cho thấy: Bước đầu đã hình thành được sự liên kết giữa nhà nước và người
dân ( chủ yếu là BQL và người dân) nhằm giải quyết những mâu thuẫn trước
mắt là sự phụ thuộc của người dân vào TNR với việc quản lý BVR của nhà
nước. Đồng thời, đồng quản lý đã một phần cải thiện được cuộc sống của
người dân và người dân đã khẳng định được vai trò của mình trong vấn đề
quản lý TNR.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về đồng quản lý ở đây mới chỉ
dừng lại ở sự thỏa thuận giữa 2 hoặc 3 đối tác (BQL, người dân, cơ quan du
lịch), mà chưa xây dựng được mô hình cơ bản về đồng quản lý cũng như chưa


18

đề ra được những giải pháp và nguyên tắc cụ thể cho các bên khi tham gia
đồng quản lý rừng.
Vì vậy việc đưa ra được bộ máy tổ chức ĐQL cũng như đề ra nguyên
tắc và giải pháp phù hợp với từng đối tác khi tham gia đồng quản lý là một
hướng đi mà đề tài đang xây dựng.
1.4. Nghiên cứu, thực hiện đồng quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam
Đồng quản lý du nhập vào Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 dưới hình thức Hợp tác xã Nông nghiệp. Bản chất của đồng quản lý ở
đây là coi tài nguyên rừng là của chung, các hoạt động khai thác và sử dụng
đều mang tính tập thể, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức quan hệ thấp, chưa thật
sự hiệu quả.
Sự hợp tác quản lý của cộng đồng địa phương đối với tài nguyên rừng
được phát triển qua từng giai đoạn sau: Giai đoạn năm 1954 trở về trước, các
cộng đồng dân tộc tự quản lý và kiểm soát rừng theo quy ước cộng đồng. Giai
đoạn 1955 - 1986, ở miền Bắc sau đó cả nước thực hiện theo mô hình quản lý

tập trung theo chế độ tập thể làm chủ. Hình thức quản lý rừng cộng đồng hay
đồng quản lý ở giai đoạn này bị mai một và suy giảm. Giai đoạn từ 1986 đến
nay, việc thực hiện chính sách đổi mới, Nhà nước thực hiện quyền sử dụng
lâu dài cho các cá nhân, hộ gia đình. Nhà nước thực hiện chính sách phi tập
trung và giao quyền quản lý rừng và đất rừng cho địa phương.
Khái niệm đồng quản lý tài nguyên lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam
năm 1997 tại khoá tập huấn về “Kết hợp bảo tồn và phát triển” (Integrated
Conservation and Development - ICD) tổ chức tại VQG Cát Tiên, do quỹ
Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên tài trợ. Song do nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan, nên khái niệm này vẫn còn nhiều vấn đề bất cập. Qua quá
trình thực hiện quản lý rừng tại các địa phương, khái niệm về đồng quản lý đã
được nhiều tổ chức, các tác giả trong và ngoài nước đưa ra. Trong đó tiêu biểu


19

là khái niệm của IUCN: “Các khu bảo tồn do Nhà nước thiết lập, nơi quyền ra
quyết định, trách nhiệm quyền và quyền lợi chia sẻ giữa các cơ quan Nhà
nước và các bên tham gia, đặc biệt cộng đồng địa phương sống dựa vào tài
nguyên rừng tại các khu bảo tồn đó”.
Trong hội thảo quốc gia về lâm nghiệp được tổ chức năm 2001 tại Hà
Nội nhằm làm rõ các yếu tố khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực
thi các chính sách hỗ trợ cho quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam. Trong hội
thảo có rất nhiều báo cáo và các vấn đề thảo luận: “Báo cáo về khuôn khổ
pháp lý, chính sách của Nhà nước và hiện trạng quản lý rừng cộng đồng ở
Việt Nam” của tác giả: Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn, Vũ Văn Mê,
Nguyễn Hồng Quân.
Ulrich Apel, Oliver C. Maxwell và các tác giả 2002 [18] đã có nghiên
cứu về phối hợp quản lý và bảo tồn ở khu BTTN Pù Luông. Các tác giả đánh
giá nghịch lý về sử dụng đất đai và nhà ở, tình hình quản lý tài nguyên thiên

nhiên ở một số thôn bản vùng đệm khu BTTN Pù Luông. Nghiên cứu này mới
đưa ra được một số phân tích về sự phụ thuộc của người dân đối với tài
nguyên rừng và đánh giá một số thể chế, chính sách hiện nay đối với công tác
quản lý rừng đặc dụng. Nghiên cứu chưa đánh giá được đầy đủ tiềm năng về
đồng quản lý cũng như chưa đưa ra được nguyên tắc và giải pháp thực hiện.
Trong thời gian gần đây, đã có một số dự án được triển khai thực hiện
với mục tiêu xây dựng mô hình đồng quản lý. Điển hình như: Dự án
MOSAIC, 2002 [9] đã triển khai thực hiện tại khu vực sông Thanh - Quảng
Nam, nội dung đồng quản lý mới được bắt đầu và đang trong thời gian thử
nghiệm cho giai đoạn tiếp theo.
Một số dự án khác về xây dựng mô hình đồng quản lý giữa Khu bảo
tồn, cộng đồng dân cư và các tổ chức, cơ quan liên quan (bao gồm cả tổ chức
Chính phủ và phi Chính phủ) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh


20

thừa Thiên - Huế. Song các dự án nói trên đều chưa đưa ra được nguyên tắc
và các giải pháp thích hợp để xây dựng kế hoạch đồng quản lý tài nguyên,
nhưng trong thực tế cho thấy đồng quản lý các khu rừng đặc dụng là một
trong những xu hướng phù hợp với điều kiện bảo tồn thiên nhiên ở nước ta.
Một nghiên cứu mới trong quá trình xây dựng mô hình đồng quản lý
rừng phòng hộ tại Hòa Bình, dưới sự tài trợ của Dự án phục hồi rừng đầu
nguồn tự nhiên bị suy thoái tại miền Bắc Việt Nam (RENFODA – JICA) cho
thấy: Dự án đã nghiên cứu và đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp thực
hiện đồng quản lý rừng phòng hộ tại xóm Lòn xã Bình Thanh và xóm Dưng
xã Hiền Lương, trong khuôn khổ dự án bước đầu đã lựa chọn một số nguyên
tắc và giải pháp để áp dụng trong các hoạt động của Dự án trên địa bàn hai xã
này. Đây là một thử nghiệm áp dụng phương thức đồng quản lý rừng đầu tiên
ở Việt Nam cho rừng phòng hộ.

Hầu hết các dự án đều đang lúng túng vì chưa đưa ra được tiến trình,
nguyên tắc và các giải pháp thích hợp để xây dựng kế hoạch đồng quản lý tài
nguyên rừng. Do vậy, ngày 4/8/2003, một hội thảo về “Ý tưởng thành lập khu
bảo tồn thiên nhiên Phu Xai Lai Leng do cộng đồng quản lý” được tổ chức tại
thành phố Vinh, Nghệ An. Hội thảo đề xuất một số vấn đề đồng quản lý khu
bảo tồn. Tuy nhiên, hội thảo cũng chưa thống nhất được các nguyên tắc đồng
quản lý và giải quyết triệt để vấn đề [12].
Trong những năm gần đây, trong các Luận văn Thạc sỹ Lâm nghiệp Trường Đại học Lâm nghiệp đã có các nghiên cứu và đề xuất một số nguyên
tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý các khu Bảo tồn thiên nhiên như:
Nguyễn Quốc Dựng (2004) nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên nhiên Sông
Thanh - Quảng Nam; Vũ Đức Thuận (2006) nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên
nhiên Copia - Sơn La; Nguyễn Xuân Hoan (2009) nghiên cứu tại khu bảo tồn
thiên nhiên Kẻ Gỗ - Hà Tỉnh... bước đầu đã chỉ ra được kinh nghiệm đồng


21

quản lý rừng tại nơi nghiên cứu và cũng là những gợi ý cho những nghiên cứu
tiếp theo về đồng quản lý rừng ở các địa phương khác.
Việc đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam là mới, còn trong
giai đoạn thử nghiệm và còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình ứng dụng
vào thực tiễn, các thể chế chính sách còn nhiều vấn đề bất cập, chưa phù hợp
với hướng phát triển của mô hình này. Do vậy, việc tham gia của các bên liên
quan còn mang nặng tính hình thức và chồng chéo về quản lý. Đặc biệt đối
với cộng đồng dân cư sinh sống tại khu vực vùng đệm của các Khu bảo tồn và
VQG, việc tham gia vào mô hình còn mang tính thụ động, họ chưa được coi
là chủ thể tích cực trong việc quản lý bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Do đó,
nhất thiết cần phải có những nghiên cứu để xây dựng phương thức đồng quản
lý nhằm thu hút người dân địa phương tự nguyện tham gia đồng quản lý tài
nguyên thiên nhiên.

Nhận xét: Các nghiên cứu trước đây, phần lớn các tác giả chủ yếu tập trung
nghiên cứu đồng quản lý giữa ban quản lý khu rừng đặc dụng với cộng đồng
dân cư sống trong và gần rừng, chưa có nhiều nghiên cứu chú ý tới các cơ
quan, tổ chức khác có mối quan tâm hoặc có chức năng quản lý bảo vệ rừng
trên địa bàn. Mặt khác đề xuất tổ chức bộ máy, tiến trình thực hiện đồng quản
lý nhiều điểm chưa thống nhất, chưa phù hợp với thực tiễn.
Ở tỉnh Thanh Hóa nói chung và Khu BTTN Xuân Liên nói riêng chưa
có một nghiên cứu nào có tính hệ thống về quản lý rừng cộng đồng hay đồng
quản lý tài nguyên rừng. Vì vậy, nghiên cứu của đề tài là cơ sở giải quyết
những khó khăn trong công tác quản lý tài nguyên rừng và phát triển kinh tế xã hội của Khu BTTN Xuân Liên – Thanh Hóa.


22

Chương 2
MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - PHẠM VI - NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu lý luận
Xác định một số cơ sở khoa học về đồng quản lý tài nguyên rừng.
2.1.2. Mục tiêu thực tiễn
Đề xuất được một số nguyên tắc và giải pháp cơ bản làm cơ sở cho
công tác đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Xuân liên, tỉnh Thanh Hóa.
2.2. Đối tượng và phạm vi, giới hạn nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Cơ chế chính sách của các cấp có liên quan đến công tác quản lý Khu
BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.


23


- Kiến thức bản địa và thể chế của cộng đồng dân cư địa phương trong
quản lý tài nguyên thiên nhiên Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.
- Tổ chức quản lý Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.
- Tài nguyên thiên nhiên Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.
2.2.2. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian, nhân lực và kinh phí, đặc biệt là nội dung và
phương pháp của đề tài đòi hỏi thời gian dài và nhân lực nhiều, nên phạm vi
nghiên cứu được giới hạn cụ thể ở một xã mang tính đại diện nhất là xã Xuân
Cẩm - huyện Thường Xuân - tỉnh Thanh Hóa làm cơ sở đề xuất nguyên tắc,
giải pháp đồng quản lý rừng Khu BTTN Xuân Liên.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng quản lý rừng tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh
Hóa.
- Đánh giá tiềm năng đồng quản lý tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh
Hóa.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mối liên kết giữa các bên liên
quan đến đồng quản lý.
- Thiết lập các nguyên tắc và đề xuất một số giải pháp thực hiện đồng
quản lý rừng tại Khu BTTN Xuân Liên.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Thu thập tài liệu thứ cấp
Tài liệu thứ cấp là các tài liệu đã được tổng hợp và xử lý, có sẵn ở các
cơ quan và ban ngành các cấp từ trung ương tới địa phương. Những tài liệu
cần thu thập là: Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, văn hóa, xã hội; Các văn
bản pháp quy, quy chế, nội quy, quy định về quy hoạch sử dụng đất, công tác
quản lý bảo vệ rừng; Dự án xây dựng Khu BTTN Xuân Liên, ngoài ra cần các
tài liệu nghiên cứu về đa dạng sinh học Khu BTTN Xuân Liên... Tất cả những



24

tài liệu này sẽ là cơ sở để tổng hợp phân tích và đánh giá vấn đề đồng quản lý
tài nguyên thiên nhiên Khu BTTN Xuân Liên tỉnh Thanh Hóa.
2.4.2. Khảo sát thu thập tài liệu sơ cấp
Tài liệu sơ cấp là tài liệu được tác giả thu thập trực tiếp ngoài thực địa
bằng các kỹ năng và phương pháp dưới đây:
2.4.2.1. Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu
Tiêu chí chọn xã:
- Có địa bàn quản lý hành chính nằm trong địa phận hoặc nằm ở vùng
đệm Khu BTTN Xuân Liên, là nơi có tính đa dạng sinh học cao cần phải bảo
tồn.
- Người dân trong xã có các hoạt động phụ thuộc vào rừng như: Du
lịch, đất canh tác nông nghiệp, lâm sản gỗ và ngoài gỗ, động vật và các tài
nguyên khác.
- Có rừng được quản lý dưới dạng cộng đồng dân cư như: Rừng phòng
hộ, sản xuất, rừng thiêng...
- Có vị trí quan trọng trong việc tuần tra, kiểm soát các hoạt động khai
thác lâm sản trong khu Khu BTTN Xuân Liên và vùng đệm.
Trên cơ sở các tiêu chí như trên, xã Xuân Cẩm được chọn làm địa điểm
nghiên cứu điểm trong đề tài.
2.4.2.2. Phương pháp điều tra
Điều tra đánh giá các giá trị đa dạng sinh học cần phải bảo tồn
Đa dạng sinh học Khu BTTN Xuân Liên mới được điều tra đánh giá,
nên đề tài sẽ kế thừa các tài liệu đã có là chủ yếu, chỉ kiểm tra bổ sung cập
nhật một số thông tin ngoài thực địa về hiện trạng rừng, thực vật bậc cao có
mạch và động vật có xương sống, nhằm đánh giá mức độ đe dọa. Sử dụng
phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp với phỏng vấn người dân để điều tra
đa dạng về thực vật; Sử dụng phương pháp phỏng vấn người dân, thợ săn để
điều tra đa dạng về động vật.



25



Điều tra tiềm năng đồng quản lý trong cộng đồng

Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA - Rapid Rural
Appraisal) để thu thập những thông tin bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội, ảnh hưởng của các nhân tố này đến công tác bảo tồn, cũng như thuận
lợi, khó khăn, nguy cơ, thách thức trong công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên.
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA- Participatory
Rural Appraisal): Được áp dụng để củng cố những thông tin thu thập được từ
phương pháp kế thừa và phương pháp RRA. Đồng thời, xác định những phong tục,
tập quán, kiến thức và thể chế bản địa liên quan đến việc bảo tồn và tiềm năng đồng
quản lý của cộng đồng dân cư, các tổ chức, vai trò của các bên liên quan, mâu thuẫn
và khả năng hợp tác của các bên liên quan.
Để thực hiện phương pháp trên cần có sự giúp đỡ của một số cán bộ địa
phương, cán bộ kỹ thuật tại Ban quản lý Khu BTTN Xuân Liên. Tuy ngày nay
cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật thì một phần trong số họ đã
được tiếp cận với những phương pháp điều tra xã hội mới này thông qua các
chương trình, dự án. Nhưng để nâng cao tính chính xác, hiệu quả của đề tài
nên trước khi điều tra ở thực địa tiến hành tập huấn kỹ thuật cho các cán bộ
của Khu BTTN và cán bộ xã, nhằm thống nhất phương pháp làm việc cho
hiệu quả của những thành phần tham gia thực hiện.
 Các công cụ sử dụng trong điều tra:
- Lịch mùa vụ.
- Sơ đồ quản lý và sử dụng tài nguyên thôn, xóm; trên đó thể hiện các
nguồn tài nguyên, các hình thức quản lý và sử dụng tài nguyên.

- Sơ đồ lịch sử sử dụng đất.
- Ma trận đánh giá tình hình sử dụng một số loại lâm sản chủ yếu.
- Ma trận và sơ đồ đánh giá tiềm năng các bên liên quan.
- Ma trận đánh giá mâu thuẫn trong quản lý sử dụng tài nguyên rừng.


×