LỜI NÓI ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh đi vào huyền thoại của lịch sử dân tộc và loài
người một cách xứng đáng nhất, vẻ vang nhất bởi Người để lại cho nhân loại
một sự nghiệp cách mạng to lớn và hơn nữa, chính Người là tấm gương sáng
ngời về đạo đức và phong cách, là sự kết tinh những giá trị của thời đại và
phẩm chất con người xã hội tương lai- xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Bài nghiên cứu này góp phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu về nhân
cách đạo đức của Hồ Chí Minh và cũng góp thêm tiếng nói để khẳng định
chân lí về một tấm gương sáng ngời về đạo đức và tác phong. Trong đề tài
này có tham khảo một số tài liệu, công trình của các nhà khoa học, nhà
nghiên cứu. Tuy nhiên, do những hạn chế về kiến thức và điều kiện có hạn
nên khó tránh khỏi những thiếu sót trong đề tài này. Rất mong sự đóng góp ý
kiến và phê bình của thây cô để đề tài được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh cuộc đời, sự nghiệp, đạo đức, tác
phong,… đã được tiến hành ở nước ta hơn 1/2 thế kỉ nay, nhưng nghiên cứu
tư tưởng Hồ Chí Minh một cách toàn diện và hệ thống, chủ yếu đặt ra sau
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng ta(1991). Đạo đức và tác
phong Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp của Người,
có giá trị toàn diện sâu sắc cả về lí luận và thực tiễn, được thể hiện với một
phong cách độc đáo, cô đúc, giản dị và dễ hiểu. Từ phương pháp tư duy cho
đến lối sống, nếp sinh hoạt trong sáng, giản dị, thanh bạch, tiết kiệm, thiết
thực của Hồ Chí Minh ta thấy, có lẽ trên thế giới này không ở đâu có được
tấm gương nào sáng hơn thế. Tấm gương đạo đức, tác phong của Hồ Chí
Minh một lần nữa làm sáng tỏ triết lí: Tính giản dị làm nên sự vĩ đại. Vì thế
việc tổ chức nghiên cứu, học tập và làm theo tấm gương đạo đức và tác
phong Hồ Chí Minh trong mọi tầng lớp nhân dân nói chung và đặc biệt với
cán bộ, đảng viên, những người làm công tác lí luận nói riêng, đang là nhiệm
vụ rất cần thiết và quan trọng. Kết luận Hội nghị lần thứ 12 Ban chấp hành
Trung ương Đảng khoá IX ngày 30 tháng 8 năm 2005 về “Tăng cường công
tác tư tưởng trong tình hình hiện nay” chỉ rõ : “Triển khai chỉ đạo điểm cuộc
vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cán
bộ, đảng viên và nhân dân, đúc rút kinh nghiệm để Bộ Chính trị ra chỉ thị
tiến hành cuộc vận động lớn trong toàn Đảng về chủ đề này ngay sau Đại hội
toàn quốc lần thứ X của Đảng”.
Việc nghiên cứu, vận dụng và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh là
nhiệm vụ của chúng ta. Trong điều kiện hiện nay, chúng ta phải bảo vệ và
phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh chống lại sự công kích của các thế lực thù
địch, chống lại sự xuyên tạc của chủ nghĩa cơ hội dưới mọi hình thức.
Những giá trị đạo đức và tác phong của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn
2
cho mọi thời kì nhưng ngày nay các giá trị đó cần được xem xét trong quan
hệ với kinh tế thị trường đa dạng và phức tạp mà nó không có lúc sinh thời
Hồ Chí Minh… Tuy nhiên, chúng ta phải quán triệt quan điểm, lập trường,
và phương pháp Hồ Chí Minh để giải quyết những vấn đề thực tiễn nóng hổi
của cuộc sống hôm nay, và cũng chính bằng phương pháp đó, chúng ta đã
góp phần nhỏ bé vào việc học tập và giương cao ngọn cờ, tư tưởng đạo đức,
tác phong Hồ Chí Minh. Những lí do đó nên tôi chọn đề tài “Hồ Chí Minh Tấm gương sáng ngời về đạo đức ” để nghiên cứu làm rõ những đức tính
cao đẹp về chân dung một con người vĩ đại và đặt ra vấn đề học tập, làm
theo gương sáng Hồ Chí Minh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tên tuổi của Hồ Chí Minh cũng là tầm vóc trí tuệ và tài năng, tư tưởng
và đạo đức, phong cách và nếp sống, đức khiêm tốn và lòng yêu thương
nhân loại mênh mông của Người đã được rất nhiều học giả, các nhà khoa
học trong và ngoài nước tìm hiểu, nghiên cứu một cách có hệ thống và sâu
sắc.
Trong thời gian gần đây có nhiều tác phẩm nghiên cứu về tư tưởng Hồ
Chí Minh ở tầm học thuyết khá toàn diện nhằm làm rõ những luận điểm
xứng đáng với vị trí là nền tảng tư tưởng của Đảng ta và cách mạng Việt
Nam. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh là một cuộc đời oanh liệt đầy gian khổ hi
sinh, vô cùng cao thượng và phong phú nên những bài viết, bài nghiên cứu
còn ở mức nhất định, chủ yếu về những tư tưởng của Người. Cũng có một
vài công trình đánh giá về tấm gương đạo đức cách mạng vô song và tác
phong đẹp đẽ của Người như: Tác phẩm “Phương pháp và phong cách Hồ
Chí Minh” của GS. Đặng Xuân Kỳ (chủ biên) xuất bản năm 2004; tác phẩm
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của PGS.TS Đinh Xuân Dũng (chủ
biên) xuất bản năm 2006, và rất nhiều các bài viết khác trên các tạp chí
v.v..Hầu hết các công trình đó đều nghiên cứu sâu về tư tưởng đạo đức của
Người, phân tích mang tầm lý luận một cách tổng quát, toàn diện chứ chưa
3
đánh giá, nghiên cứu một cách cụ thể về sự hình thành và phát triển nhân
cách, gương sáng về đạo đức và tác phong của Hồ Chí Minh. Do đó, đề tài
“Hồ Chí Minh - Tấm gương sáng ngời về đạo đức ” góp phần nhỏ bé vào
công tác nghiên cứu những chặng đường lịch sử bộc lộ những phẩm chất tốt
đẹp về một con người vĩ đại – Bác Hồ kính yêu của chúng ta!
4
NỘI DUNG
Chương I. Khái niệm và vai trò của đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh
1.
Những khái niệm liên quan
1.1. Khái niệm về đạo đức
Đạo đức là từ rất quen thuộc, nó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần qua
ngôn ngữ giao tiếp, qua ngôn ngữ văn bản. đạo đức là một chuẩn mực xã
hội, nó tồn tại ở mọi xã hội, mọi chế độ.
Đạo đức thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần. Vì đây là một bộ phận
của thượng tầng kiến trúc xã hội, có cơ sở từ tồn tại xã hội, mặt khác xét về
những tiêu chuẩn giá trị thì những giá trị đạo đức lại nằm trong hình thái ý
thức. Ví dụ: Lẽ sống, hạnh phúc, nghĩa vụ và lương tâm con người sau đó
mới được bằng những hành vi. Hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức chỉ nảy
sinh một khi chủ thể đạo đức ý thức được điều đó, xây dựng cho mình có
được lí chí và sau đó tự nguyện, tự giác hành động. Qua phân tích này có thể
đưa ra một định nghĩa khái quát về đạo đức như sau: Đạo đức là một hình
thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan
niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Nó ra đời, tồn tại và
biến đổi từ nhu cầu xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi tự
giác của mình, điều chỉnh cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người
và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ giữa con người với con người,
giữa cá nhân và xã hội.
1.2. Khái niệm đạo đức cách mạng
Trong thời đại ngày nay, Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc,
là nhà văn hoá kiệt xuất, là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Từ
lối sống nếp sinh hoạt hàng ngày cho đến quá trình hoạt động của Người đều
thể hiện đạo đức cao quý, đẹp đẽ và văn hoá.
5
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là đạo đức hướng tới mục tiêu
lí tưởng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; hết lòng hết sức phục vụ
nhân dân, là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, dân tộc, cách mạng và với
Đảng ta để không ngừng tranh đấu cho lợi ích và hạnh phúc của nhân dân.
Hồ Chí Minh xem xét đạo đức cách mạng trên nền tảng của đạo đức truyền
thống và soi sáng nó bởi các giá trị và chuẩn mực đạo đức hiện đại của giai
cấp vô sản. Đây chính là quan hệ đạo đức cũ và đạo đức mới. Đạo đức cũ
chính là di sản đạo đức cổ truyền mà cha ông bao đời để lại cho hậu thế và
trở thành truyền thống, tập quán đạo đức dân tộc. Còn đạo đức mới, đó chính
là đạo đức cách mạng với một hệ thống giá trị tích cực: Cần-Kiệm-LiêmChính, Chí công vô tư, đặt lợi ích của dân tộc, giai cấp lên trên hết và quyết
tâm phấn đấu suốt đời cho cách mạng. Đạo đức mới phải nhằm mục tiêu là
phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp cải tạo và xây dựng một xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa.
2.
Vai trò, vị trí của đạo đức Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, những lãnh tụ cách
mạng đã bàn nhiều nhất tới vấn đề đạo đức. Người vừa là một nhà đạo đức
học lớn, lại vừa là tấm gương đạo đức trong sáng nhất, tiêu biểu nhất đã
được thế giới thừa nhận.
Vì vậy, tìm hiểu tư tưởng đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh không phải
chỉ thông qua những tác phẩm của Người về đạo đức, mà quan trọng hơn
phải thông qua chính hành vi được thể hiện trong toàn bộ hoạt động thực
tiễn của Người, thông qua những mẫu mực đạo đức trong sáng mà Người để
lại cho Đảng, dân tộc ta và toàn nhân loại. Người không bao giờ nghĩ rằng
chỉ cần mọi người tu thân tích đức là đất nước độc lập, dân tộc sẽ tự do hạnh
phúc. Phải bằng cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản Việt Nam, mới đi tới mục tiêu đó. Đạo đức là vũ khí sắc bén phục vụ cho
cuộc đấu tranh đó. Đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng, bởi vì làm cách
6
mạng thì trước hết con người phải có cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp đối
với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, với cả dân tộc mình. Cái tâm, cái
đức và phong cách ấy lại phải thể hiện trong các mối quan hệ xã hội hàng
ngày với dân, với nước, với đồng chí, đồng nghiệp, với mọi người chung
quanh mình. Phải có tâm, có đức thì mới giữ vững được chủ nghĩa Mác Lênin vào cuộc sống. Hồ Chí Minh tiếp thu đạo đức từ nhiều yếu tố trong đó
quan trọng nhất là Lênin. Hồ Chí Minh cho rằng chính Lênin đã đào tạo ra
các thế hệ cách mạng trên thế giới không chỉ bằng tư tưởng chính trị thiên tài
mà còn bằng cả tấm gương đạo đức cao cả và phong cách làm việc tuyệt vời.
Ở Việt Nam, bất kì người dân nào cũng có thể tìm thấy những đạo đức
mà Hồ Chí Minh đặt ra rất gần gũi với mình, những phẩm chất mìnhcần tu
dưỡng, những định hướng để vươn tới cái chân, cái thiện, cái mĩ của cuộc
sống con người. Đó là những vấn đề đạo đức Người rút ra từ chính cuộc đời
thực của bản thân, từ khi lớn lên chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, bao
năm bôn ba ở nước ngoài để tìm đường cứu nước và trở về lãnh đạo cách
mạng Việt Nam thành công. Người đã để lại một sự nghiệp cách mạng lớn
lao, mà hơn thế, Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức và tác phong,
người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc và
nhân dân Việt Nam.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đạo đức và tác phong Hồ Chí Minh
không chỉ một lần nữa tôn vinh một lãnh tụ vĩ đại, mà điều quan trọng hơn là
minh chứng những đức tính cao đẹp của Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn
Đảng, toàn quân ta noi theo. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay,
tấm gương của Người có ý nghĩa to lớn và cấp bách đối với cán bộ, đảng
viên. Điều đó, càng quan trọng hơn đối với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau,
bởi muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải có những con người
tin theo và học tập phẩm chất đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
7
Chương II. Tấm gương sáng ngời về đạo đức của trong suốt cuộc
đời của Hồ Chí Minh
Đạo đức Hồ Chí Minh là đỉnh cao và rực rỡ nhất của văn hoá Việt Nam,
biểu tượng của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, có quá trình hình
thành và phát triển gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp cách mạng sôi nổi hào
hùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chỉ để lại cho dân tộc ta một
sự nghiệp cách mạng vẻ vang chưa từng có trong lịch sử, mà qua “cuộc đời
oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng
trong sáng và đẹp đẽ” của mình, Người còn để lại cho toàn Đảng toàn dân ta
một di sản cao quý, đó là tấm gương sáng ngời về đạo đức của người cách
mạng, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm hồn, ý chí, nhân
cách của dân tộc và của loài người. Người nói: “Đảng ta là đạo đức, là văn
minh” và chính Người là đỉnh cao, là tượng trưng của đạo đức và văn minh
đó.
Tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh là một tấm gương của một vĩ
nhân – một vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người cộng sản vĩ đại, nhưng đó
đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình thường, ai cũng có
thể học theo để làm một người cách mạng, một công dân tốt hơn.
Nổi bật lên trong tấm gương cao đẹp của Người là những phẩm chất
của một nhà lãnh tụ kiểu mới của nhân dân: có lý tưởng mãnh liệt, ý chí kiên
cường, có trí tuệ và tầm nhìn chiến lược, có khả năng hấp dẫn và thuyết phục
đối với quần chúng, hết lòng thương yêu quý trọng nhân dân, trọng dụng
nhân tài, đời riêng trong sáng, nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi
thường...
2.1. Là người có lý tưởng mãnh liệt, ý chí kiên cường
Vấn đề số một trong đạo đức vĩ nhân - cũng như của một người bình
thường - là vấn đề lý tưởng, vấn đề lẽ sống: Sống cho ai? Sống vì cái gì?
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đó là lý tưởng, là lẽ sống mà cũng là
học thuyết chính trị – đạo đức của Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam.
8
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi nước đã mất, các phong
trào cứu nước như: Phong trào Cần Vương(1885-1895) mà tiêu biểu là cuộc
khởi nghĩa Hương Khê do cụ Phan Đình Phùng lãnh đạo; phong trào Đông
Du(1905-1909) do cụ Phan Bội Châu; phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do
cụ Lương Văn Can lãnh đạo; cuộc khởi nghĩa Yên Thế(1884-1913) do cụ
Hoàng Hoa Thám lãnh đạo; cuộc vận động cải cách của cụ Phan Chu Trinh
và phong trào chống thuế của nông dân Trung Kì, các phong trào này lần
lượt thất bại nhưng đã có ảnh hưởng sâu sắc đến Người. Người quyết chí ra
đi tìm đường cứu nước, vượt qua muôn trùng khó khăn thử thách, hiến dâng
toàn bộ cuộc đời mình cho dân tộc và cách mạng. Đến năm 1969, trước lúc
ra đi, Người còn luyến tiếc: “là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa,
nhiều hơn nữa”.
Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí và nghị lực
phi thường để tận tuỵ quên mình, để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo
khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”. Đó là những phẩm
chất đạo đức không thể thiếu ở người cách mạng, nhất là người cộng sản,
những con người “ quang minh chính đại” mà dưới thời phong kiến đó là khí
phách của các bậc trượng phu. Người nói về cụ Huỳnh Thúc Kháng: “… là
người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, uy vũ
không làm sờn gan”. Đó là một trong những tấm gương mà Hồ Chí Minh
đưa ra để cán bộ, đảng viên noi theo.
Đời hoạt động cách mạng của người là cả một ý chí kiên cường, bất
khuất, chiến đấu không mệt mỏi để chiến thắng tất cả. Những dấu mốc tiểu
sử có thể thấy như:
+ Năm 1911, khi ấy mới hơn 20 tuổi mà Người quyết tâm ra đi tìm
đường cứu nước với hai bàn tay trắng, Người làm thuê đủ moi việc và sống
một cách tằn tiện để nuôi ý chí cao cả. Năm 1912, sau khi đi tới nhiều nước
ở châu Phi, Người đến Mĩ; mùa hè năm 1913, Hồ Chí Minh từ Mĩ sang Anh,
rồi từ Anh trở về Pháp sống ở Pari năm 1917 và Người hoạt động ở Pháp, trở
9
thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1923 Người sang Liên xô
hoạt động; năm 1924, Người đến Quảng Châu(Trung Quốc) và truyền bá
chủ nghĩa Mác-Lênin, xúc tiến việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam.
+ Tháng 6 năm 1931, Người bị đế quốc Anh bắt giam tại Hồng Kông
đến năm 1933 mới ra khỏi nhà lao. Bị nhốt trong xà lim riêng rất cực khổ
nhưng Người không lo lắng cho số phận của mình, ngày đêm Người lo lắng
cho phong trào cách mạng trong nước.
+ Năm 1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc để liên
lạc với các lực lượng cách mạng của người cách mạng Việt Nam ở đó thì bị
chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam hơn một năm. Bị giải tới giải lui
khắp mười ba huyện và khoảng ba mươi nhà lao tỉnh Quảng Tây, Người đã
sống ngững ngày cực khổ, chịu đói chịu khát, áo quần không được thay, răng
rụng, tóc bạc thêm, thân hình tiều tuỵ ,… Trong hoàn cảnh đó Người đã viết
tập thơ “Nhật kí trong tù” bằng chữ Hán (gồm 133 bài), kèm theo bốn câu
thơ:
“ Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao,
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao”(1).
Với tinh thần sắt thép, không chịu khuất phục, không chịu thoả
hiệp với kẻ thù, với ý chí cách mạng tiến công, tập thơ “đã thể hiện phần nào
tinh thần, phẩm chất và đạo đức” của Người, một người yêu nước vĩ đại, một
người cộng sản vĩ đại. Đúng như Báo ấn Độ “Quốc gia” đã viết “ Đằng sau
cái cốt cách dịu
(1) Hồ Chí Minh: Nhật kí trong tù và những bài thơ khác, Nxb. Đồng nai, 1996, tr. 17.
dàng của cụ Hồ là ý chí sắt thép. Dưới cái bề ngoài giản dị là một tinh
thần quật khởi anh hùng không có gì uy hiếp nổi”(1).
10
+ Sáng ngày 30/05/1946, đồng bào Thủ đô tiễn đưa Người sang Pháp,
Người nói một cách thống thiết: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn
đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải
ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì
mục đích đó…Bất kì bao giờ, bất kì ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục
đích là làm cho ích quốc lợi dân. Vậy nên lần này, tôi xin hứa với đồng bào
rằng: Tôi cùng anh em đại biểu sẽ cố gắng làm cho khỏi phụ lòng tin cậy của
quốc dân”2).
+ Ngày 23/10/1946, Người tuyên bố về cuộc thăm chính thức nước
Pháp rằng: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ,
là một ngày tôi ăn không ngon ngủ không yên. Tôi trân trọng hứa với đồng
bào rằng. Với quyết tâm của đồng bào, với quyết tâm của toàn thể nhân dân,
Nam Bộ nhất định trở lại cùng thân ái chung trong lòng Tổ quốc”(3).
+ Chiều ngày 19/12/1946, Người ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến:
“Chúng ta phải đứng lên!...Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hi sinh đến giọt
máu cuối cùng để giữ gìn đất nước. Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với
một lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”. Trong thời
gian ngắn ngủi, nước Cộng hoà non trẻ của chúng ta đơn độc giữa vòng vây
của kẻ thù – hết quân Tưởng đến quân Pháp và bọn phản động tay sai – mỗi
ngày, mỗi giờ phải đối phó với biết bao nguy cơ và thách thức có quan hệ
đến sự tồn vong của dân tộc. Giữa dòng thác của lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí
Minh vẫn luôn luôn ung dung, sáng suốt, chèo lái con thuyền cách mạng
Việt Nam bình tĩnh vượt qua bao ghềnh thác hiểm nguy, vững vàng tiến
bước. Những đối sách linh hoạt, những chủ trương, biện pháp, sáng tạo của
Người trong đối phó với kẻ thù, xây dựng chế độ mới và chuẩn bị cho cuộc
kháng chiến biết là không tránh khỏi, đã thể hiện bản lĩnh, trí tuệ thiên tài
của lãnh tụ, mãi mãi là những bài học vô giá đối với chúng ta ngày nay.
2.2. Hình ảnh cao đẹp về sự gắn bó giữa lãnh tụ với quần chúng
(3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t. 4, tr. 419.
11
Hồ Chí Minh đã toát lên tấm lòng yêu thương con người, thương yêu
nhân dân hết sức bao la, sâu sắc. Người đã từng khái quát về triết lí cuộc
sống: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Vấn đề ở
đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau
khổ bị áp bức”(4). Trong cuộc đời, Người đã từng trải qua và chúng kiến biết
bao cảnh đau thương ngang trái, bất công,…
Đó cũng là nỗi đau của Người khi phải bế em đi xin sữa, mẹ chết không
được khóc, bố bị oan khuất và bị đẩy đi xa. Đó là cảnh nghèo đói của dân
quê Nghệ-Tĩnh, cảnh khổ sở của những dân phu làm đường Cửa Rào, Trấn
Minh, đó là cảnh phu xe gầy ốm, những người bán rong lam lũ bên cạnh
cảnh sống phè phỡn, xa hoa của bọn thống trị, thực dân và vua quan cai trị ở
kinh thành Huế, cảnh đấu tranh và bị đàn áp của nông dân trốn thuế mà
Người trực tiếp chứng kiến và giúp đỡ … Rồi đến các cảnh dân ở các thuộc
địa khác bị đàn áp tàn bạo. Hình ảnh người dân da đen ở ĐaKa bị đẩy xuống
biển chết trong gió to sóng lớn, những phụ nữ bị hãm hiếp, trẻ em bị phơi
đói ở Đahômay,v.v.. được Người phản ánh trong tác phẩm “Bản án chế độ
thực dân Pháp”(1925).
Lời ra mắt của báo “Người cùng khổ”(Le paria) năm 1921 do Người
sáng lập đã xác định rõ mục đích đấu tranh của “Hội liên hiệp các thuộc địa”
là “đi từ giải phóng những người nô lệ mất nước, những người lao động
cùng khổ đi đến giải phóng con người”.
Năm1946, những khi chuẩn bị cho cuộc kháng chiến, Người không lo thiếu
vũ khí, không lo dân ta thiếu tinh thần yêu nước mà chỉ sợ chiến sĩ đói, rét
mà phải đánh giặc. Và mùa đông năm ấy, năm mươi sáu tuổi, với chiếc gậy
trúc và đôi dép cao su, Người cùng chiến sĩ lên đường chiến đấu.
Trong những ngày sống ở Việt Bắc, mỗi lần Người đi công tác, có hai
cùng đi. Vì sợ Người mệt, nên hai đồng chí định mang hộ ba lô cho Người,
nhưng Người nói: Đi đường rừng, leo núi ai mà chẳng mệt, tập trung đồ đạc
(4
Hồ Chí Minh: Nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb. Pháp lý, H, 1990, tr. 174.
12
cho một người mang đi thì người đó càng chóng mệt. Cứ phân ra mỗi người
mang một ít. Khi mọi thứ đã được phân ra cho vào 3 chiếc ba lô rồi, Người
hỏi thêm: Các chú đã chia đều rồi chứ? Hai đồng chí trả lời: Thưa Bác, rồi ạ!
Rồi ba người lên đường, qua một chặng, mọi người dừng chân, Người đến
chỗ đồng chí bên cạnh, xách chiếc ba lô lên và nói: Tại sao ba lô của chú
nặng mà Bác lại nhẹ? Sau đó Người mở cả 3 ba lô ra xem thì thấy ba lô của
Người nhẹ nhất, chỉ có chăn, màn. Người đã bày tỏ: Chỉ có lao động thật sự
mới đem lại hạnh phúc cho con người. Và thế là hai đồng chí kia lại phải san
đều các thứ vào 3 chiếc ba lô.(Trần Thị Lợi – Sưu tầm). Đây là một trong
nhiều câu chuyện cảm động về cuộc sống đời thường của Người, rất đề cao
sự gắn bó và bình đẳng giữa con người với nhau trong mọi lĩnh vực.
Người khẳng định: “Lòng thương yêu của tôi đối với nhân dân và nhân
loại là không bao giờ thay đổi”. Tình cảm đó thể hiện sâu sắc và phong phú
trong suốt cuộc đời Hồ Chí Minh. Trước lúc vĩnh biệt đi xa, trong “Di chúc”,
Người viết: “Đầu tiên là vấn đề con người” và “cuối cùng, tôi để lại muôn
vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, các cháu
thiếu niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái tới các đồng chí, các
bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.
Người luôn luôn tin tưởng vào sức mạnh vô địch của nhân dân, giáo
dục cán bộ phải nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần trách nhiệm trước nhân
dân, phải chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bởi “nếu
nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng
có nghĩa lí gì”(1).
Năm 1954, mặc dù mới về Hà Nội, bận rộn nhiều công việc đối nội, đối
ngoại, Hồ Chủ tịch vẫn dành thời giờ để tiếp đón và đi thăm hỏi các tầng lớp
nhân dân, các đơn vị bộ đội, nhà máy, trường học, bệnh viện, thăm hỏi và
động viên cán bộ và đồng bào miền Nam vừa tập kết ra Bắc…
(1)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t. 4, tr. 56.
13
Chỉ trong năm 1958, Người đã hơn 20 lần đi xuống các địa phương, từ
những cuộc thăm viếng của Người không những làm cho bà con nông dân
phấn khởi sản xuất, đắp đê, chống hạn,…mà còn giúp cho bà con nhận thức
sâu sắc hơn, đúng đắn hơn về đường lối của Đảng và Chính phủ.
Cuối năm 1961, Người về thăm xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành
(Nghệ An), một xã có phong trào trồng cây tốt. Tại một ngọn đồi thấp,
Người đứng nói chuyện với nhân dân xã. Nhìn Người đứng giữa nắng trưa,
ai cũng băn khoăn. Đồng chí chủ tịch huyện cho tìm mượn được chiếc ô,
định giương lên che nắng cho Người, thì Người quay lại hỏi: Thế chú có đủ
ô che cho tất cả đồng bào không? Thôi, cất đi, Bác có phải là vua đâu?
Để hiểu dân, Người thường xuyên đi xuống cơ sở, tìm hiểu, “lắng tai
nghe ý kiến của đảng viên, của nhân dân, của những người không quan
trọng”(1). Vì vậy, nhân dân ta, từ các vị nhân sĩ, trí thức đến bà con lao động
bình thường, nhìn vào tấm gương của Hồ Chí Minh thấy toả ra ánh sáng của
một tâm hồn lớn, nhân cách lớn, của lẽ phải, tình thương và bao dung; đã từ
kính yêu người mà tự nguyện suốt đời đi theo lí tưởng và sự nghiệp của
Người,qua Chủ tịch Hồ Chí Minh mà càng thêm tin tưởng, gắn bó với Đảng,
với chủ nghĩa xã hội.
2.3. Là tấm gương đạo đức chí công vô tư, đời riêng trong sáng,
nếp sống giản dị và đức khiêm tốn phi thường.
Khi Lênin từ trần (1924), Hồ Chí Minh khẳng định rằng dân tộc
phương Đông sở dĩ kính mến Lênin vì vị thầy của cách mạng giải phóng lúc
sinh thời là một “người khinh thường xa hoa, yêu lao động, đời tư trong
sáng, nếp sống giản dị”. Và người phương Đông tôn kính Hồ Chí Minh cũng
bởi sự cần kiệm, giản dị, ít lòng ham muốn về vật chất của Người. Một cốt
cách giản dị, một sự giản dị vĩ đại, đó là tư cách đạo đức của người cách
mạng.
(1)
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t. 5, tr. 285.
14
Cho nên, khi dạy học lớp cán bộ đầu tiên (1925) trong sách “Đường
kách mệnh”, Người đặt 23 điều tư cách người cách mạng lên hàng đầu.
Trong kháng chiến chống Pháp, có câu chuyện thú vị về đức tính của
Người khi ở Việt Bắc. Một lần Người có việc phải đi giữa trời mưa rất to.
Anh em cảnh vệ lo tìm ngựa để Người đi cho đỡ mệt nhưng Người nói:
Chúng ta có 7 người, ngựa chỉ có một con, Bác đi sao tiện. Bác cháu ta phải
cùng nhau đi bộ chứ. Thôi, đem trả ngựa cho dân. Anh em nằn nì mãi, Người
mới đồng ý cho dẫn ngựa theo để mang đỡ đồ đạc; ở khu an toàn, mặc dù xa
địch, nhưng mỗi lần chuyển địa điểm, ngoài việc làm lán trại, Người thường
giúp đỡ các chiến sĩ bảo vệ vẽ mẫu hầm, phá đất đá, nện “choòng”…Ngay
trong mỗi nhà, mỗi lán Người đều cho đào công sự đề phòng máy bay tập
kích bất ngờ, cây rừng đổ xuống. Cứ mỗi ngày Người đào một ít, sau giờ
làm việc vài ba buổi là xong. Ai muốn đến giúp Người không đồng ý và nói:
Đây là quyền lao động của Bác!
Năm 1954, hoà bình lập lại trên nửa nước. Đồng bào các địa phương có
sản vật gì quý đều gửi một ít lên biếu Người để giới thiệu thành tích tăng gia
với Người. Trong một bữa cơm, Người thấy có món cà Nghệ, quả nhỏ, cùi
dòn, ngâm mắm. Bữa ấy, Người ăn rất ngon. Hôm sau lại có món cà quê
hương. Người ăn hết vài ba quả. Thấy thế đồng chí anh nuôi lại dọn cà.
Người hỏi: Cà muối mua hay ai cho thế? Thưa Bác, đồng bào Nghệ An đưa
ra tặng Bác! (Người hỏi tiếp)-Có nhiều không? Dạ, một ô tô ạ! Người chậm
rãi nói: Thế này nhé. Cà Nghệ ăn rất ngon. Bác ăn mấy bữa liền là đủ rồi.
Bây giờ ai muốn ăn nữa thì trả tiền cho đồng bào Nghệ An.
Cuộc đời của Người, từ hai bàn tay trắng, làm đủ mọi việc để kiếm
sống khắp năm châu bốn bể đến khi làm Chủ tịch nước giữa Thủ đô Hà Nội,
vẫn là cuộc đời thanh bạch, giản dị, tao nhã.
Ngôi nhà sàn của Người chỉ có hai phòng nhỏ, một cái giường, một cái
bàn, một cái ghế, một giá sách, một tủ quần áo với hai bộ kaki, một đôi dép
lốp, một cái quạt giấy, một máy thu thanh, một chiếc đồng hồ đã mờ mặt. Đó
15
là tất cả những gì người sáng lập Đảng Cộng sản, Nhà nước, người thầy của
cách mạng Việt Nam đã có ở trên trái đất này.
Nét nổi bật trong đạo đức Hồ Chí Minh là đức khiêm tốn phi thường.
Mặc dù có công lao rất lớn, Người không để ai sùng bái cá nhân mình, trái
lại Người luôn luôn nêu cao sự nghiệp anh hùng của toàn Đảng, toàn dân,
của các chiến sĩ anh hùng của chúng ta. Theo Người, quần chúng mới là
người làm nên lịch sử và lịch sử chính là lịch sử của họ chứ không phải của
một cá nhân nào.
Vị tổng thống anh hùng của nước Cộng hoà Chilê X. Agienđê đã khái
quát: “Nếu như muốn tìm một sự tiêu biểu cho tất cả cuộc đời của Chủ tịch
Hồ Chí Minh thì đó là đức tính vô cùng giản dị và sự khiêm tốn phi
thường”(1).
Bấy nhiêu đức tính cao cả chung đúc lại trong một con người đã làm
cho tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tưởng như trở nên siêu việt, vô song
“khó ai có thể sánh kịp, khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết hợp những
đức tính đó, Người cũng là tấm gương làm nhiều người khác có thể noi
theo” để làm người cách mạng và người dân tốt hơn, có ích hơn.
2.4. Người là một tấm gương không ngừng học tập và rèn luyện,
không ngừng tự đổi mới và nâng mình lên để trở thành bất tử.
Việc rèn luyện bền bỉ và luôn luôn có ý thức trau dồi đạo đức cách
mạng là việc làm thường xuyên, do sàng lọc từ cuộc sống “gian nan rèn
luyện” mà có, do giáo dục mà nên. Những đức tính quý báu của vĩ nhân
không phải là bẩm sinh. Cũng như mọi người, Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh
ra, lớn lên, không ngừng học tập, lao động, chiến đấu và nâng mình lên, từng
bước hấp thụ tinh hoa dân tộc, tinh hoa nhân loại để trở thành bất tử.
Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một bậc đại trí, đại dũng, hi sinh
chẳng quản, gian nguy không sờn. ở những thời điểm then chốt của lịch sử,
(1)
Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. CTQG, H, 1976, tr.76.
16
với tầm nhìn xa trông rộng của một “phượng hoàng đại ngàn”, Hồ Chí Minh
đã sáng suốt và dũng cảm đi tới những phán quyết lịch sử.
+ Năm 1945, khi thời cơ cách mạng đã tới, Người chỉ thị: “Dù có
đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”. Và Người
đã quyết tâm cho chuẩn bị mọi vật chất và tinh thần sằn sàng chiến đấu để
quyết giành cho được độc lập, tự do cho đất nước.
+ Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 10 mở rộng (9/1956), Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã phê bình một cách nghiêm khắc về cuộc vận động cải cách
ruộng đất đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng: “Vì ta thiếu dân chủ nên
nghe ít, thấy ít…Tôi nhận trách nhiệm trong lúc sóng gió này…Khuyết điểm
của tôi đã ảnh hưởng đến sai lầm của cải cách ruộng đất và chỉnh đồn tổ
chức”. Người đã thẳng thắn xin nhận khuyết điểm trước quốc dân đông bào
và kiên quyết sửa chữa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương trung
thực, dũng cảm của một người đứng đầu Đảng và Nhà nước về tự phê bình
và phê bình.
+ Vào giữa những năm 60, lợi dụng khó khăn của ta, khi phong
trào cộng sản quốc tế có xung đột và chia rẽ nghiêm trọng, đế quốc Mĩ đã ồ
ạt đổ hơn nửa triệu quân vào miền Nam Việt Nam và tăng cường cho không
quân, hải quân ném bom, bắn phá dữ dội miền Bắc, hòng đưa miền Bắc trở
về thời kì đồ đá. Trước tình hình đó, Người vẫn thể hiện quyết tâm và khí
phách của toàn Đảng, toàn dân ta: dù chiến tranh tàn phá ác liệt tới đâu cũng
phải giải phóng miền Nam cho kì được. Thật hiếm có một nhà lãnh đạo nào,
trong những giờ phút thử thách bình tĩnh, gan dạ, quên mình, kiên nghị,
dũng cảm một cách phi thường như vậy”. Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức
của tinh thần thắng không kiêu, khó không nản. Cuộc đời Hồ Chí Minh là
một chuỗi những năm tháng vô cùng gian khổ: bốn lần ngồi tù, một lần lãnh
án tử hình; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao, có giai
đoạn bị hiểu lầm, ngộ nhận, lâm vào cảnh “như là sống ở bên lề, sống bên
ngoài của Đảng” (xem Hồ Chí Minh:Toàn tập, t. 3, tr. 90). Để kiên trì chân
17
lí, giữ vững quan điểm độc lập tự chủ, Người đã bình tĩnh chủ động vượt qua
những năm tháng khó khăn đó. Từ lúc bước vào đời cho tới khi từ giã cõi
đời, từ người bồi tàu, quét tuyết đến vị Chủ tịch nước, luôn chịu đựng mọi
gian khổ, gánh vác những trọng trách lớn với đất nước, Người vẫn coi trọng
việc trau dồi kiến thức trí tuệ. Chính vì đức tính học hỏi không mệt mỏi mà
Người đã biết gần 30 ngoại ngữ, trong đó có tới chục ngoại ngữ đọc thông
viết thạo, am tường kiến thức Đông Tây kim cổ.
Đặc biệt Hồ Chí Minh đã tự nêu gương đạo đức trong sáng tuyệt
vời, tiêu biểu cho tinh hoa khí phách dân tộc được toàn dân tin theo tinh thần
“nước lấy dân làm gốc”, suốt đời không ngừng học tập và rèn luyện thực
hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư, sống giản dị, khiêm tốn thanh
cao.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, với cương vị Chủ tịch nước,
Người kêu gọi đồng bào ta nhường cơm sẻ áo và chính Người gương mẫu
thực hiện nghĩa cử cao đẹp đó. Người nói: “Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào
cả nước và tôi xin thực hiện trước: cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, một tháng
nhịn ăn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy,
thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo chờ mùa lúa năm sau, khỏi
đến nỗi chết đói”(1). Người nói nhưng thường thực hiện trước, “nói đi đôi với
làm” mà suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cách triệt để,
trọn vẹn và nghiêm túc. ở Người nói đi đôi với làm và cao hơn, làm rồi mới
nói, làm nhiều, nói ít và thậm chí làm hết lòng, làm tận tuỵ mà không nói,
không tự phô trương mình. “Vì vậy, địa vị càng cao uy tín càng rộng, đức độ
của Người càng lớn, càng đẹp, càng toả sáng” (2). Bấy nhiêu đức tính cao cả
chung đúc lại trong một con người đã làm cho tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh trở nên siêu việt, vô song khó ai có thể vượt hơn. Nhưng với sự kết
1(1 )
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 1995, t. 4, tr. 31.
GS. Song Thành (Chủ biên), Hồ Chí Minh: Tiểu sử, Nxb. Lý luận chính trị, H, 2006, tr.
728.
(2)
18
hợp những đức tính đó Người cũng là tấm gương mà nhiều người khác có
thể noi theo.
ở Hồ Chí Minh, đạo đức đã đạt tới một sự thống nhất chặt chẽ giữa nói
và làm, giữa đời công và đời tư, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời
thường. Do đó Người đã trở thành “tinh hoa và khí phách, lương tâm và vinh
dự”, thành biểu tượng của đạo đức văn minh nhân loại. Để tôn vinh đạo đức
cao cả đó, Đảng ta khẳng định: “Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như ánh
sáng. Đó là tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần
độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân thắm thiết, đạo đức chí
công vô tư, tác phong khiêm tốn giản dị, tư tưởng và đạo đức cao cả của
Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta”(1).
Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã làm trong sáng thêm lương tâm
của dân tộc và của loài người.
(1)
Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên
giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, H, 1976, tr.36.
19
Chương III . Giá trị trường tồn của đạo đức Hồ Chí Minh
Hồ Chủ tịch suốt đời tận tuỵ, hi sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc,
cho tự do và hạnh phúc của nhân dân, cho lí tưởng cộng sản chủ nghĩa.
Phẩm chất và đạo đức đó còn mãi mãi là tấm gương sáng chói cho cán bộ và
nhân dân ta soi chung.
Người đã vận dụng một cỏch sáng tạo chủ nghĩa Mỏc-Lờnin vào điều
kiện cụ thể của nước ta để định ra đường lối, chính sách đứng đắn của Đảng
ta. Thấm nhuần chủ nghĩa Mỏc-Lờnin điều tra nghiên cứu tình hình cụ thể,
tổng kết và học tập kinh nghiệm đấu tranh giai cấp và kinh nghiệm sản xuất
của quần chúng, cần cù, tận tuỵ, giản dị, khiêm tốn, trung thành tuyệt đối với
sự nghiệp giải phóng dân tộc và lí tưởng cộng sản chủ nghĩa, đó là những
đức tính làm cho Hồ Chí Minh trở thành một lãnh tụ sáng suốt được nhân
dân tin yêu và noi theo.
3.1. Sống, chiến đấu, học tập lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ
đại
Bình sinh chủ tịch Hồ Chí Minh không thích hình thức, chống nói
suông, và rất coi trọng việc làm thiết thực. Từ năm 1947, viết về tư cách
người cách mạng ở trong trang đầu tác phẩm “ Đường cách mệnh”, Bác đã
giặn chúng ta: “ Nói thì phải làm”. Thương yêu Người, tưởng nhớ Người,
trung thành với Người là làm việc thiết thực cho nước, cho dân, suốt đời như
vậy và trong từng ngày, từng giờ đều như vậy.
“ Muôn vàn tình thân yêu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với
chúng ta và của chúng ta với Người là tình cảm đối với tổ quốc Việt Nam,
đối với lí tưởng xã hội chủ nghĩa, đối với sự nghiệp cách mạng, đối với đồng
bào, đồng chí.
Người lãnh tụ của dân tộc Việt Nam và là một trong những lãnh tụ
của phong trào hoà bình, dân chủ thế giới.
Căm thù thực dân Pháp, dân tộc Việt Nam biết ơn Chủ tịch Hồ Chí
Minh, người lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến ngày cách
20
mạng tháng Tám năm 1945 thành công, đến ngày thành lập nước Việt Nam
dân chủ công hoà, ngày vẻ vang nhất của lịch sử Việt Nam. Biết ơn Người,
dân tộc Việt Nam đã vượt qua bao gian khổ và đã đi đến giành thắng lợi đế
quốc Mỹ.
Nhân dân ta tin tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh vì con đường của
Người là con đường độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là con đường cách mạng
chân chính, con đường tất thắng, con đường vinh quang. Bởi vì Hồ Chí
Minh là hiện thân của đạo đức vô song, là cây đại thọ trường tồn về tác
phong hành động.
Suốt đời Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy chúng ta phải “trung với
nước, hiếu với dân” và chúng ta còn phải học mãi câu nói ấy, và thế hệ mai
sau cũng sẽ như vậy. Học ở Người là học phấn đấu chống giặc ngoại xâm,
đồng thời cũng học phấn đấu chống giặc đói, chống giặc dốt, chống giặc
yếu, phấn đấu để kháng chiến, phấn đấu để kiến quốc. Điều quan trọng
không kém là phấn đấu chống con người cũ: chủ nghĩa vị kỉ, quan liêu, chậm
linh hoạt, thiếu đạo đức,…Xây dựng con người mới theo gương Hồ Chí
Minh. Người thường nói: không có cái gì dễ và cũng không có cái gì khó.
Nghĩa là có dễ đi nữa thì cũng phải tích cực học tập, rèn luyện mới thành
công, còn khó mấy mà quyết tâm phấn đấu, trau dồi có phương pháp, có kế
hoạch thì sẽ thắng lợi.
Đây là bài học tinh thần, tinh thần chiến đấu quyết liệt, tinh thần cách
mạng cao siêu của kẻ bị áp bức, bài học nghị lực, can đảm, quyết tâm trong
mọi việc, mọi cảnh, bài học bền chí, nhẫn nại khắc khổ trong sinh hoạt hằng
ngày để có được phẩm giá đạo đức và tác phong như Hồ Chí Minh. Toàn bộ
cuộc đời của Người toát lên chủ nghĩa nhân văn cao đẹp, chủ nghĩa nhân văn
cao cả.
Tác phẩm “sửa đổi lề lối làm việc”(1947) của Người vẫn còn giá trị, mà
ở đó Người đặt ra yêu cầu với Đảng ta, yêu cầu với tư cách cán bộ, đảng
viên, các căn bệnh trong Đảng và cách sửa chữa. Tác phẩm này mang tính
21
chất là tác phẩm lí luận chỉnh đốn Đảng. Đây là việc làm thường xuyên của
Đảng ta hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào cõi vĩnh hằng và để lại cho chúng ta
bản “Di chúc” lịch sử thiêng liêng và bất hủ. Di chúc của Người là tài sản
tinh thần vô giá, mãi mãi khắc sâu trong trong tâm khảm mỗi người dân Việt
Nam, mỗi cán bộ, đảng viên và mãi mãi soi sáng con đường đi tới vinh
quang và thắng lợi của dân tộc ta, Đảng ta thực hiện di chúc của Người, hơn
30 năm sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đặc biệt là 20 năm thực hiện
đường lối đổi mới, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên con
đường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã
hội. Trải qua bốn kì đại hội Đảng, kể từ Đại hội VII đến Đại hội X, Đảng ta
khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, nhân dân ta. Mục tiêu
tới năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện
đại. Tuy rất ngắn gọn song nó chứa đựng biết bao giá trị tư tưởng và tình
cảm, là sự kết tinh một đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đem lại
những di sản bất hủ về đạo đức cách mạng và phong cách của Người cho
nhiều thế hệ sau.
Ngày nay, toàn Đảng, toàn dân ta vững bước tiến vào kỉ nguyên
mới, Đảng ta luôn kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin,
những giá trị tư tưởng, đạo đức và tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhằm giải quyết những đòi hỏi mà thực tiễn cách mạng nước ta đặt ra.
3.2. Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại:
Có thể nói trong tầm nhìn của nhân loại tiến bộ, tư tưởng, tấm
gương đạo đức và tác phong Hồ Chí Minh để lại những dấu ấn không thể
phai mờ. Ngược dòng thời gian đến năm 1988, đó là lúc các nước xã hội chủ
nghĩa Đông Âu đang rạn nứt và sụp đổ. Năm đó, Đại hội đồng UNESCO
họp để xét tặng các danh nhân thế giới tròn 100 tuổi để tổ chức kỉ niệm. Hồ
Chí Minh đã được phong tặng danh hiệu “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà
22
văn hoá kiệt xuất”. Năm 1990, sau khi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu
sụp đổ, Lliên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết đang đứng trên bờ
vực thẳm, UNESCO đã tổ chức kỉ niệm trọng thể lần thứ 100 ngày sinh Chủ
tịch Hồ Chí Minh, “một vĩ nhân đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển
của nhân loại”.
Nhân loại cũng đang nói nhiều một “ngôi sao bắc đẩu”, một “ngọn
hải đăng”, một “nguồn chiếu sáng”…Đó chính là Hồ Chí Minh. Điều cần
đến và dễ hiểu, như bà Mácxêla Lômbácđô, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu
triết học chính trị và xã hội Mêhicô đã nhận định: “Rõ ràng là những sự kiện
bây giờ cho thấy thế giới đang chuẩn bị cho thiên niên kỉ thứ ba, mà sự đối
đầu không phải là vũ khí quân sự nữa, mà bằng sức mạnh tư tưởng…”. Cũng
rõ ràng là con người tiến bộ vẫn tiếp tục khám phá và tìm về Hồ Chí Minh
như tìm về “lí do để sống”, một cuộc sống “đi tới tương lai của vũ trụ và thế
giới: tìm về Hồ Chí Minh là tìm về lòng tốt của con người, tình bạn, lòng
nhân ái, một con người không nghĩ đến mình, giản dị, khiêm tốn, không tự
giam mình trong tháp ngà, một con người của quần chúng…”(1).
Trong cơn khủng hoảng về sự tiến bộ tinh thần, về các giá trị đạo
đức, nhân loại tự hào có Hồ Chí Minh và hướng về Người. Trong khi trăn trở
về một thế giới đang đứng trước thảm hoạ tha hoá về vật chất, con người
đang bị xô đẩy và đòi hỏi cuộc sống tiện nghi tối đa xa dần cuộc sống thiên
nhiên, xa cuộc sống giữa người với người, sống không có đạo lí, tức là một
thế giới trong đó - như nhà sử học Mỹ, bà Ghitenson đã nói một số đông
người đã tha hoá chạy theo cuộc sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân
phẩm đạo đức, coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống, nhân loại lại tìm
về tấm gương sáng chói nhân cách của Hồ Chí Minh, một tấm gương cho
mọi thế hệ tiếp sau”(2).
1
Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại, Nxb. Lao động-Nxb. QĐND, H, 1993, t.
103,111.
2
Gi. Xtenxown: Hồ Chí Minh là nhân cách thời đại, Nguyệt san báo Tiền phong, số 594, tr.23.
23
Khó có thể nói hết những lời ngợi ca của nhân loại về tư tưởng,
đạo đức và tác phong của Hồ Chí Minh . Bởi vì “Người là một con người kì
diệu cho tất cả mọi thời đại”. Với giá trị đạo đức và tác phong Hồ Chí Minh,
không chỉ dân tộc Việt Nam mà còn cả thế giới hiện nay và tương lai, nhân
loại sẽ vẫn coi đạo đức và tác phong Hồ Chí Minh là bài học kinh nghiệm, là
vũ khí tinh thần phục vụ sự tiến bộ, hạnh phúc của con người trong một thế
giới văn minh.
24
KẾT LUẬN
Hồ Chí Minh là người sống một cuộc đời trước sau như một, nhằm
những mục tiêu cao cả được xác định từ lúc bắt đầu và từng bước để thực
hiện. Cuộc sống hàng ngày của Hồ Chí Minh là công việc, là làm việc, là
đấu tranh, là con người Hồ Chí Minh hầu như không có ngày nghỉ và ngày
nào cũng như ngày nào, bao giờ cũng có chương trình làm việc với những
giờ giấc nghiêm ngặt, mà Hồ Chí Minh là người gương mẫu trong việc tuân
thủ kỉ luật sinh hoạt đó. Hồ Chí Minh là con người của lí tưởng và lí tưởng
thể hiện trong một con người. Đây là con người lịch sử và làm ra lịch sử.
Nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, hẳn ai cũng
không khỏi xúc động và kính phục về một con người vừa giản dị vừa vĩ đại,
mà lại là người cộng sản vĩ đại. Phẩm chất đạo đức cách mạng và tác phong
của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có sức sống đối với nhân dân ta.
Chủ tịch Phiđen Cattơrô đã viết: “Cuộc đời của Hồ Chủ tịch là
một tấm gương sáng ngời của những đức tính và đạo lí làm người cao cả”.
Hồ Chí Minh là một con người như vậy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
25