Tải bản đầy đủ (.docx) (69 trang)

“Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà phu phan nhập nội được nuôi tại trại thực nghiệm gia cầm liên ninh – thanh trì – hà nội”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (279.38 KB, 69 trang )

MỤC LỤC

1

1


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô giáo khoa
Chăn nuôi – Thú y; trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang đã trực tiếp giảng dạy và
trang bị kiến thức cho em trong suốt thời gian qua. Đặc biệt em muốn bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến giảng viên, giáo viên hướng dẫn TS. Đoàn Phương Thúy,
người đã trực tiếp giúp đỡ, động viên và theo sát hướng dẫn em trong thời gian
thực tập tốt nghiệp. Em cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tập thể lãnh
đạo, cán bộ công nhân viên làm việc tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh –
Trung tâm Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi đã tạo điều kiện tốt nhất cho
em hoàn thành chương trình thực tập và hoàn thành kháo luận tốt nghiệp đúng
thời gian. Cảm ơn anh ThS. KSCN. Nguyễn Huy Tuấn trại trưởng Trại thực
nghiệm gia cầm Liên Ninh đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành tốt nhiệm vụ
thực tập tại cơ sở.Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, do bản thân còn thiếu kiến
thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy
cô và đơn vị thực tập rộng lòng bỏ qua.
Cuối cùng, em xin kính chúc qúy thầy cô cùng tập thể lãnh đạo, cán bộ
công nhân viên làm việc tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Trung tâm
Nghiên cứu và Huấn luyện chăn nuôi luôn dồi dào sức khỏe và gặt hái được
nhiều thành công hơn nữa.
Em xin trân trọng biết ơn.
Bắc Giang, ngày... tháng... năm 2017
Sinh viên thực hiện

Hồ Thị Ngọc Vinh



2

2


DANH MỤC BẢNG

3

3


DANH MỤC HÌNH , ĐỒ THỊ

4

4


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cm
CP
Cs
Đvt
G
Kcal
Kg
ME
Mean

Mm
n
NST
NT
Nxb
P
SE
ST
STT
TA
TATT
TCVN
TN
Tr
TTTA

5

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:
:

Centimet
Protein thô
Cộng sự
Đơn vị tính
Gam
Kilocalo
Kilogam
Năng lượng
Số trung bình
Milimet
Số lượng mẫu
Năng suất trứng
Ngày tuổi
Nhà xuất bản
Khối lượng cơ thể
Sai số của số trung bình
Sinh trưởng

Số thứ tự
Thức ăn
Thức ăn thu nhận
Tiêu chuẩn Việt Nam
Thí nghiệm
Trang
Tiêu tốn thức ăn

5


Phần I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng rất ưa chuộng các sản
phẩm thịt gà có giá trị và chất lượng cao trong đó có các giống gà da đen, thịt
đen, xương đen....Chính vì vậy nghiên cứu về các dòng gà đặc sản, giống gà da
đen, thịt đen, xương đen trong những năm gần đây được người sản xuất và tiêu
dùng đặc biệt quan tâm. Ở Việt Nam hiện nay các giống gà thuộc nhóm này đã
có cả giống bản địa và giống nhập nội như: gà H’Mông, gà Ác, gà Ác Thái Hòa,
gà Hắc Phong...và từ các giống gà này đã tạo ra một số lượng lớn các con lai
thương phẩm có chung đặc điểm da đen, thịt đen, xương đen. Mặc dù vậy nhưng
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường tiêu dùng về các sản phẩm có giá
trị dinh dưỡng cao do các giống gà trên còn có nhiều hạn chế về khả năng sinh
trưởng, khối lượng cơ thể và khả năng sinh sản thấp.
Gà Phu Phan là một giống gà thuộc nhóm gà da đen, thịt đen, xương đen
của Thái Lan mới nhập về Việt Nam năm 2015 thông qua dự án DA15 được
nuôi tại trại thực nghiệm và bảo tồn giống vật nuôi. Thế hệ xuất phát có 3 loại
màu lông, lông màu đen chiếm 86,23%; lông màu trắng chiếm 7,54% và màu
lông sẫm hoa mơ chiếm 6,23%; tất cả đều có da đen, thịt đen, xương đen. Nhằm

đánh giá được khả năng sản xuất của giống gà mới nhập, đồng thời phát huy lợi
thế về khối lượng và giá trị dinh dưỡng của giống gà Phu Phan có da đen, thịt
đen và xương đen chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá khả năng sản xuất của giống gà Phu Phan nhập nội được
nuôi tại Trại thực nghiệm gia cầm Liên Ninh – Thanh Trì – Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
-Đánh giá đặc điểm ngoại hình, khả năng thích nghi.
- Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và năng suất chất lượng thịt.

6


Phần II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm ngoại hình của gia cầm
Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những đặc trưng cho giống, thể
hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của chúng.
Màu sắc lông,da
Đây là một đặc điểm quan trọng để phân biệt giống, dòng. Màu lông có liên
quan tới một số chỉ tiêu chất lượng của giống, như tính kháng bệnh, khả năng
sản xuất. Màu sắc da lông là một chỉ tiêu chọn lọc: thông thường màu sắc đồng
nhất là thuần, nếu loang là không thuần. Tính trạng màu sắc da lông do một số ít
gen kiểm soát và ít chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh. Tình trạng này ở
gia cầm còn có gen liên kết với giới tính về màu sắc lông.
Ở gia cầm màu sắc lông rất đa dạng. Màu lông phụ thuộc vào sự biểu hiện
dưới dạng hạt hay hay phân bố đều của sắc tố melanin và dạng dịch của sắc tố
lipocrom. Sắc tố melanin quy định từ màu cafe đến màu đen; sắc tố lipocrom
quy định màu vàng, đỏ, xanh hoặc xanh sẫm. Ở gia cầm màu sắc lông khác nhau
có thể chia làm 2 nhóm lớn là lông màu và lông trắng.Theo Hutt (1978), sự thay

đổi màu sắc lông là do màu sắc hình thức và sự phân bố các hạt màu trong tế
bào, do số lượng các lớp tế bào cấu trúc và khả năng thu nhận ánh sáng của các
tế bào ấy.
Mỏ và chân
Những gà có mỏ dài và mảnh không có năng suất cao. Những giống gà da
vàng thì mỏ cũng vàng, ở gà mái màu sắc này có thể bị nhạt đi vào cuối thời kỳ
đẻ trứng. Mỏ gà cần chắc chắn và cứng mới đem lại năng suất cao.
Chân của gia cầm được bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau về
màu sắc. Chân vàng là do sự có mặt của lipocrom đồng thời thiếu vắng của
melanin. Màu đen của chân là do sự xuất hiện của melanin. Khi màu đen có mặt ở
7


thể trội và màu vàng có mặt ở thể lặn thì chân sẽ xuất hiện màu lục (xanh lá cây).
Khi đồng thời cả 2 màu không xuất hiện thì chân có màu trắng. Về cường độ (độ
đậm nhạt) của màu vàng tùy thuộc vào hàm lượng xantophin trong khẩu phần.
2.1.2. Sức sống và khả năng kháng bệnh
Tỷ lệ nuôi sống ở gà con khi mới nở là chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá sức sống
của gia cầm, ở giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao
qua các giai đoạn sinh trưởng (Brandch và Bulchel, 1978). Khanvecman (1972)
cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ nuôi sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ nuôi sống.
Johanson (1972) cho biết sức sống được thể hiện ở khả năng có thể chống lại
những ảnh hưởng bất lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh.
Sức kháng bệnh là tính trạng do nhiều gen kiểm soát và chịu ảnh hưởng của
nhiều điều kiện môi trường (Đặng Hữu Lanh và cs, 1999).
Hệ số di truyền về sức sống ở gia cầm rất thấp. Theo Trần Huê Viên (2000),
hệ số di truyền của sức sống h2 = 0,05.
Marco và cs (1992), (dẫn theo Hoàng Toàn Thắng, 1996) cho biết sức sống
được thể hiện ở thể chất và xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở
động vật có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường

cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh.
Theo Ngô Giản Luyện (1994), mối liên quan giữa chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa
máu đối với sức sống và sản lượng trứng được Kotris và tại Viện Thú y
Matxcơva (1988) xác định số lượng bạch cầu trong máu gà Hybro liên quan đến
sức sống và sản lượng trứng, những gà mái có số lượng bạch cầu cao giai đoạn
60 - 110 ngày thì tương ứng với sức sống và sản lượng trứng cao.
Theo Gavano (1990), hệ số di truyền tỷ lệ chết ở gia cầm là 0,07; hệ số di
truyền của sức kháng bệnh là 0,25. Robertson và Lerner (1949) xác định hệ số
di truyền tỷ lệ nuôi sống và sức kháng bệnh thấp, phụ thuộc và dòng, giống, giới
tính và phụ thuộc nhiều nhất vào yếu tố nuôi dưỡng.

8


Theo Trần Long và cs (1996), tỷ lệ nuôi gà Ri giai đoạn gà con (0 – 6 tuần
tuổi) đạt 93,3%. Nguyễn Đăng Vang và cs (1999), cho biết tỷ lệ nuôi sống gà Ri
giai đoạn (0 – 9 tuần tuổi) và sinh sản (19 – 23 tuần tuổi) đạt tương ứng 92,11%
và 97,25%.
Nguyễn Thị Khanh và cs (1995), nghiên cứu trên gà Tam Hoàng cho biết
dòng 882 có tỷ lệ nuôi sống đến 6 tuần tuổi đạt 96,15% và dòng Jiangcun là
96,85%.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả chăn nuôi cần chọn những giống gia cầm có
khả năng thích nghi cao, đồng thời cần có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý
và thực hiện đúng quy trình phòng bệnh.
2.1.3. Khả năng sinh sản của gia cầm
2.1.3.1. Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Sinh sản là một quá trình để tạo ra thế hệ sau, sự phát triển hay hủy diệt
của một loài trước tiên phụ thuộc vào khả năng sinh sản của loài đó. Khả năng
sinh sản của gia cầm được thể hiện qua các chỉ tiêu về sản lượng,khối lượng,
hình dạng, chất lượng trứng, thụ tinh và tỷ lệ ấp nở. Đối với các giống gia cầm

khác nhau, khả năng sinh sản là khác nhau. Các nhà khoa học trên thế giới đã
tập trung nghiên cứu cơ sở di truyềnsức đẻ trứng của gia cầm và cho rằng việc
sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5 yếu tố di truyền mang lại.
+ Tuổi thành thục tính dục, ít nhất có 2 cặp gen chính tham gia vào yếu tố
này, một là gen E (liên kết giới tính) và e, còn cặp thứ 2 là E’ và e’. Gen trội E
chịu trách nhiệm tính thành thục sinh dục.
+ Cường độ đẻ: yếu tố này do 2 cặp gen R và r, R’ và r phối hợp lại để điều hành.
+ Bản năng đòi ấp do 2 gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau.
+ Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là đẻ vào mùa đông) do các gen M và m điều
khiển. Gia cầm có gen mm thì mùa đông vẫn tiếp tục đẻ đều. Thời gian kéo dài
của chu kỳ đẻ do cặp gen P và p điều hành.

9


+ Yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất là 2 yếu tố kết hợp với nhau, cũng có
nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau. Tất nhiên ngoài các gen
chính tham gia vào việc điều khiển các yếu tố trên, có thể còn có nhiều gen khác
tham gia phụ lực vào.
2.1.3.2. Tuổi đẻ quả trứng đầu
Nhiều tác giả nghiên cứu về tuổi đẻ quả trứng đầu ở gia cầm cho rằng,
đây là chỉ tiêu đánh giá sự thành thục về tính dục, cũng được coi là yếu tố cấu
thành năng suất trứng. Đối với từng cá thể, tuổi đẻ quả trứng đầu tiên được tính
từ khi nở ra đến khi đẻ quả trứng đầu tiên, đối với quần thể tuổi đẻ quả trứng đầu
tiên là lúc tỷ lệ đẻ đạt 5% số cá thể đàn đã đẻ, Pingel và Jewoch (1980).
Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) cho rằng có ít nhất 2 cặp
gen cùng quy định tuổi đẻ quả trứng đầu, ặp gen thứ nhất E và e liên kết giới
tính, cặp thứ 2 là E’ và e’. Tuổi đẻ và năng suất trúng có mối tương quan thuận,
tuổi quả trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế dộ nuôi dưỡng, yếu tố
môi trường. Đặc biệt là thời gian chiếu sáng sẽ thúc đẩy gia cầm thành thục sinh

dục. Thời gian chiếu sáng kéo dài sẽ thúc đấy gia cầm đẻ trứng sớm
(Khavecman, 1972).
2.1.3.3. Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), năng suất trứng là số lượng trứng đẻ ra
trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là một tính trạng di truyền, phản ánh
chất lượng giống và phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh. Năng suất trứng
có hệ số di truyền không cao. Hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12 –
0,13. Nhiều kết quả nghiên cứu cho biết việc sản xuất trứng do 5 yếu tố quyết
định, bao gồm: thời gian đẻ trứng, cường độ đẻ trứng, thời gian nghỉ đẻ, tuổi
thành thục và bản năng đòi ấp.
Thời gian đẻ
Thởi gian đẻ ảnh hưởng rõ rệt đến sức sản xuất trứng. Thời gian đẻ được
tính theo thời gian đẻ trứng của năm đầu, nghĩa là từ khi gia cầm bắt đầu đẻ quả
10


trứng đầu tiên đến khi thay lông hoàn toàn.
Thời gian đẻ chịu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng. Do vậy, để kéo dài
thời gian đẻ của gia cầm người ta thường sử dụng ánh sáng nhân tạo.
Cường độ đẻ trứng
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trong một thời gian ngắn nên không chịu ảnh
hưởng của môi trường. Chu kỳ đẻ trứng là sản lượng trứng đẻ ra trong một thời
gian liên tục không có sự ngắt quãng.
Bản năng đòi ấp
Ấp trứng là phản xạ không điều kiện của gia cầm nhằm hoàn thiện quá
trình sinh sản. Bản năng đòi ấp phụ thuộc vào yếu tố di truyền. Những giống có
khối lượng nhỏ thường không đòi ấp nhiều như những giống có khối lượng lớn
và trung bình.Bản năng đòi ấp chịu sự tác động của nhiệt độ và độ chiếu sáng,
nhiệt độ cao, độ chiếu sáng thấp thì bản năng đòi ấp tăng.
Tỷ lệ đẻ là một chỉ tiêu biểu thị khả năng sản xuất trứng. Tỷ lệ đẻ trứng

bình quân là một chỉ tiêu phản ánh đặc tính của khả năng đẻ trứng toàn đàn. Tỷ
lệ đẻ tỷ lệ thuận với năng suất trứng.
2.1.3.4. Khối lượng trứng và chất lượng trứng
Khối lượng trứng cũng là một tính trạng số lượng, là một tính trạng do nhiều
gen tác động cộng gộp quy định, nhưng đến nay người ta cũng chưa xác định được
số lượng gen quy định tính trạng này. Sau sản lượng trứng, khối lượng trứng là chỉ
tiêu quan trọng cấu thành năng suất của đàn bố mẹ. Khi cho hai dòng gia cầm có
khối lượng trứng lớn và khối lượng trứng nhỏ, trứng của con lai có khối lượng
trung gian nghiêng về một phía, Khavecman (1972)
Khối lượng trứng là một tính trạng có hệ số di truyền cao, nên có thể đạt
được mục đích nhanh chóng thông qua con đường lọc (Kushner, 1974). Ngoài
các yếu tố về di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại
cảnh như: chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm. Khối lượng trứng mang
tính đặc trưng của từng loài và tính di truyền cao. Hệ số di truyền của tính trạng
11


này là 0,48-0,8 (Brandsh và Bulchel, 1978). Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài
Tao (1985) cho biết, khối lượng trứng có tương quan âm với sản lượng trứng và
hệ số tương quan (r) nằm trong khoảng từ (-0,33) đến (-0,36), nhưng giữa khối
lượng trứng và khối lượng có tương quan dương (r = 0,31).
Các chỉ tiêu về chất lượng trứng có ý nghĩa kinh tế trong vận chuyển,
đóng gói, sản xuất trứng giống, trứng thương phẩm.
Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, chỉ số hình dạng của trứng là một chỉ
tiêu để xem xét chất lượng của trứng ấp, những quả trứng dài hoặc quá tròn đều
có tỷ lệ nở thấp. Nguyễn Quý Khiêm (1996) cho biết trứng gà Tam Hoàng chỉ số
hình dạng trứng trung bình 1,24 - 1,39 cho tỷ lệ nở cao hơn so với nhóm trứng
có chỉ số hình dạng nằm ngoài biên độ này.
Độ dày và độ bền (hay độ chịu lực) của vỏ trứng là những chỉ tiêu quan
trọng đối với trứng gia cầm, có ảnh hưởng đến kết quả ấp nở và vận chuyển. Độ

dày vỏ trứng được xác định bằng thước đo độ dày khi đã bóc vỏ dai, ở gà độ dày
vỏ bằng 0,32mm. Độ dày và độ bền của vỏ trứng phụ thuộc vào giống, tuổi, điều
kiện chăm sóc, nuôi dưỡng…Theo Trịnh Xuân Cư và cs (2001), trứng gà Mía ở
38 tuần tuổi có độ dày trung bình 0,36mm và độ chịu lực 2,88 kg/cm 2. Trứng gà
Lương Phượng Hoa ở 38 tuần có độ dày vỏ trung bình 0,35mm và độ chịu lực
4,46kg/cm2 (Nguyễn Huy Đạt và cs 2001).
Khi xem xét chất lượng của trứng thương phẩm cũng như trứng giống
cũng cần quan tâm đến chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh. Các
chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng trứng càng tốt và tỷ lệ nở càng cao (Tạ An
Bình, 1973). Đơn vị Haugh: đơn vị Haugh được Haugh (1930) xây dựng, sử dụng
để đánh giá chất lượng trứng, phụ thuộc khối lượng và chiều cao lòng trắng đặc.
Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt. Đơn vị Haugh bị ảnh hưởng
bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà càng già trứng có đơn vị
Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông đơn vị Haugh cao
hơn trước thay lông) và giống (Uyterwal và cs 1995). Vận chuyển trứng khi đi xa
12


cần phải bao gói cẩn thận, có thể dùng khay chuyên dụng để trứng cho vào lồng
nhựa hoặc hộp giấy coston. Trứng được vận chuyển đến nơi nhận cần được dỡ ra
và để trứng cố định từ 10 - 12 giờ trong phòng có nhiệt độ thích hợp, không khí
thoáng mát.
2.1.3.5. Khả năng thụ tinh và tỷ lệ ấp nở
Khả năng thụ tinh
Tỷ lệ trứng có phôi ở gia cầm là khả một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
về khả năng sinh sản của con trống và con mái. Tỷ lệ thu tinh phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn đôi giao phối,
điều kiện ngoại cảnh...Giao phối cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh. Trong
cùng một giống, dòng gà khối lượng cơ thể lớn có tỷ lệ thụ tinh kém hơn so với
dòng gà có khối lượng cơ thể nhỏ hơn. Hệ số di truyền của tỷ lệ trứng thụ tinh là

0,11 – 0,13 (Nguyễn Văn Thiện, 1995).
Tỷ lệ ấp nở
Tỷ lệ ấp nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức ống của
gia cầm non. Đối với những trứng có chỉ số hình thái chuẩn, khối lượng trung
bình của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất.
Kết quả ấp nở được xác định bằng các công thức khác nhau tùy vào mục
đích chăn nuôi. Thông thường trong sản xuất, tỷ lệ ấp nở được xác định bằng tỷ
lệ phần trăm giữa số gia cầm con nở ra so với tổng số trứng đem ấp. Trong
nghiên cứu, để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nở hoặc chất lượng
máy ấp, người ta tính tỷ lệ ấp nở bằng tỷ lệ phần trăm giữa số gà con nở ra so
với số trứng có phôi. Tỷ lệ giữa gà con nở ra so với số trứng đẻ ra được dùng để
xác định chất lượng toàn bộ đàn giống.
Kết quả ấp nở phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Người ta chia thành 2 nhóm
yếu tố chính là các yếu tố thuộc môi trường bên trong và bên ngoài.
Môi trường bên trong quyết định bởi đàn bố mẹ, chất lượng trứng, khối
lượng trứng, sự cân đối giữa các thành phần cấu tạo và cấu trúc vỏ ảnh hưởng

13


đến tỷ lệ ấp nở. Theo Nguyễn Quý Khiêm và cs (1999), những quả trứng có khối
lượng quá to hoặc quá nhỏ tỷ lệ ấp nở kém hơn những quả có khối lượng trung
bình của giống. Nguyên nhân là sự mất cân bằng giữa các thành phần cấu tạo
của trứng.
Môi trường bên ngoài bao gồm: các khâu vệ sinh, thu nhặt, bảo quản
trứng, kỹ thuật ấp trứng.... Trứng sau khi đẻ ra có sự thay đổi đột ngột giữa môi
trường bên trong với môi trường bên ngoài cơ thể mẹ làm phôi tạm ngừng phát
triển. Trứng được thụ tinh và bảo quản tốt thì sự thay đổi này không đáng kể.
Các nghiên cứu cho thấy sau 7 ngày bảo quản, tỷ lệ nở giảm 1% sau mỗi ngày.
Do vậy, nên đưa trứng vào ấp sau khi bảo quản 2 – 4 ngày để có kết quả ấp nở

tốt nhất.
2.1.4. Khả năng sinh trưởng
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein,
nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá khả năng
sinh trưởng, sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những
quy luật nhất định.
2.1.4.1. Khái niệm sinh trưởng
Theo Chambers (1990) định nghĩa: Sinh trưởng là sự tổng hợp quá trình
tăng lên của các bộ phận trên cơ thể như thịt, da, xương. Tuy nhiên có khi tăng
khối lượng chưa phải là sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là tăng các tế
bào của mô cơ, tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể. Tóm lại
sinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là:
+ Phân chia để tăng khối lượng tế bào.
+ Tăng thể tích tế bào.
+Tăng thể tích giữa các tế bào.
Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc tính của các
bộ phận trong cơ thể hình thành nên quá trình sinh trưởng là sự tiếp tục thừa hưởng

14


các đặc tính di truyền từ đời trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn thiện hay
không hoàn thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường.
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, vì thế
người ta thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng.
Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992), sinh trưởng là
quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao,
chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ
sở di truyền của đời trước. Sự sinh trưởng chính là quá trình tích lũy dần dần
các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ tích lũy của các chất cũng chính là

tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Mà sự
hoạt động của các gen điều khiển này chịu ảnh hưởng của hệ thống tuyến nội
tiết. Đặc biệt là hormon STH (Somato Tropin Hormon) của thùy trước tuyến
yên, có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình sinh trưởng của sinh vật.
Theo Johanson (1972), cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai
đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con vật. Ở giai đoạn
phôi là quá trình hình thành, phát triển các tổ chức mới của cơ thể. Còn giai
đoạn sau khi nở, sự sinh trưởng là sự lớn lên của các mô, sự tăng lên về khối
lượng, kích thước tế bào.
Sự sinh trưởng ở gia cầm sau khi nở được chia làm hai thời kỳ, thời kỳ gà
con và thời kỳ gà trưởng thành.
+Thời kỳ gà con
Ở thời kỳ gà con, quá trình sinh trưởng diễn ra rất mạnh do lượng tế
bào tăng nhanh cả về số lượng, kích thước và khối lượng tế bào, trong khi đó
các cơ quan nội tạng nhất là bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh về chức năng,
các men tiêu hoá trong hệ tiêu hoá chưa đầy đủ, vì thế thức ăn ở giai đoạn này
ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gà. Ở gà con còn diễn ra quá
trình thay lông, đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm. Do vậy, cần
chú ý cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gia cầm nhất là
các acid amin không thay thế như: Lysine, Methionine, Tryptophan…
15


+ Thời kỳ gà trưởng thành
Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đã phát triển hoàn
thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục. Thời kỳ này gà
đã có khả năng thích nghi tốt với sự thay đổi của điều kiện môi trường. Trong cơ
thể gà lúc này xảy ra quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng và năng lượng một
phần để duy trì cơ thể, một phần để tích luỹ mỡ, do vậy tốc độ sinh trưởng chậm
hơn so với thời kỳ gà con. Vì vậy, giai đoạn này cần xác định tuổi giết mổ thích

hợp để cho hiệu quả kinh tế cao nhất.
2.1.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá sinh trưởng
Theo Chambers (1990), để đánh giá sức sinh trưởng của gia cầm người ta
thường dùng các chỉ tiêu chính như: Kích thước cơ thể, sinh trưởng tích luỹ
(khối lượng cơ thể), tốc độ sinh trưởng (sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương
đối) và đường cong sinh trưởng.
+ Kích thước cơ thể
Kích thước cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng cho sự sinh trưởng, đặc trưng
cho từng giai đoạn sinh trưởng, từng giống, qua đó góp phần vào việc phân biệt
giống. Giới hạn kích thước của loài, cá thể…do tính di truyền quy định. Tính di
truyền của kích thước không tuân theo sự phân ly đơn giản theo các quy luật
Mendel.Kích thước cơ thể luôn có mối tương quan thuận chặt chẽ với khối
lượng cơ thể. Kích thước cơ thể còn liên quan đến các chỉ tiêu sinh sản như tuổi
thành thục về thể trọng, chế độ dinh dưỡng, thời gian giết thịt thích hợp trong
chăn nuôi.
+ Khối lượng cơ thể
Ở từng giai đoạn phát triển, chỉ tiêu này xác định sự sinh trưởng của cơ
thể tại một thời điểm, nhưng lại không khẳng định được sự sai khác về tỷ lệ
sinh trưởng giữa các thành phần của cơ thể trong cùng một thời gian ở các độ
tuổi. Khối lượng cơ thể được tính bằng g/con hoặc kg/con. Và được biểu thị
bằng đồ thị sinh trưởng tích lũy.
16


+ Sinh trưởng tuyệt đối
Sinh trưởng tuyệt đối là sự tăng lên về khối lượng, kích thước cơ thể trong
một đơn vị thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39 - 77, 1997). Sinh trưởng
tuyệt đối được tính bằng g/con/ngày. Giá trị sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì
hiệu quả kinh tế càng lớn và ngược lại.
+ Sinh trưởng tương đối

Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối
lượng (thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình khảo sát so với thời
điểm đầu khảo sát (TCVN 2.40 - 77, 1997). Gà còn non có sinh trưởng tương
đối cao sau đó giảm dần theo tuổi.
Sau giai đoạn trưởng thành là giai đoạn già cỗi, ở thời kỳ này khối lượng
cơ thể không tăng mà có chiều hướng giảm. Nếu vẫn có hiện tượng tăng khối
lượng thì đây là do quá trình tích luỹ mỡ. Thời kỳ này sớm hay muộn phụ thuộc
vào giống, tuổi và điều kiện sống của con vật. Thời kỳ già cỗi được tính từ khi
con vật ngừng sinh trưởng, khả năng sinh sản và mọi khả năng khác đều giảm
(Lê Huy Liễu và cs, 2004).
2.1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
Các tính trạng về sinh trưởng là các tính trạng số lượng nên ngoài phần
ảnh hưởng do các yếu tố của bản thân con vật (giống, tính biệt), chúng còn chịu
ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như: Nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, thức ăn,
phương thức chăn nuôi...
+ Ảnh hưởng của dòng, giống
Mỗi dòng hay mỗi giống gia cầm có nhiều điểm khác nhau về đặc điểm
ngoại hình, sức sản xuất, khả năng kháng bệnh…từ đó ảnh hưởng rất lớn đến sự
sinh trưởng. Nhiều nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của từng cá thể,
giữa dòng, giống có sự sai khác.
Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) cho biết sự khác nhau giữa các giống
gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500 700g (từ 15 - 30%).
17


Theo Kushner (1969), hệ số di truyền khối lượng sống của gà 1 tháng
tuổi là 0,33; 2 tháng tuổi là 0,46; 3 tháng tuổi là 0,44; 6 tháng tuổi là 0,55 và
của gà trưởng thành là 0,43.
Theo Hoàng Phanh (1996), khối lượng gà Mía lúc 12 tuần tuổi là 1503g.
Còn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Đạt và cs (2005) trên gà Đông Tảo

giai đoạn 12 tuần tuổi là 1404,7g.
Kết quả nghiên cứu 3 dòng AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái Nguyên của
Nguyễn Thị Thúy Mỵ (1997) cho thấy: Khối lượng cơ thể của 3 dòng khác nhau
ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09g; 2423,28g và 2305,14g.
+ Ảnh hưởng của tính biệt
Giới tính khác nhau thì đặc điểm và chức năng sinh lý cũng khác nhau nên
khả năng đồng hoá, dị hoá và quá trình trao đổi chất dinh dưỡng của chúng là khác
nhau. Thường con trống có cường độ sinh trưởng lớn hơn so với con mái.
Theo Jull (1923), gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái từ 24 32%. Các tác giả cho rằng sự sai khác này do gen liên kết giới tính, những gen
này ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái. North (1990) đã rút ra kết luận: Lúc
mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng thì sự khác nhau càng lớn,
ở 2 tuần tuổi hơn 5%; 3 tuần tuổi hơn 11%; 5 tuần tuổi hơn 17%; 6 tuần tuổi hơn
20%; 7 tuần tuổi hơn 23%;8 tuần tuổi hơn 27%.
+ Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chamber (1990) cho biết: “Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến tốc độ sinh
trưởng, đến sự phát triển của từng mô khác nhau và gây nên sự biến đổi trong
quá trình phát triển của mô này đối với mô khác. Dinh dưỡng không chỉ ảnh
hưởng tới sự sinh trưởng mà còn ảnh hưởng đến sự di truyền về sinh trưởng”.
Có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực sinh lý sinh dưỡng đã chứng minh để
đạt được năng suất cao nhất không những phải cung cấp đầy đủ các chất dinh
dưỡng mà còn phải chú ý đến tỷ lệ thích hợp nhất giữa chúng.

18


Kết quả nghiên cứu của các tác giả Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1995),
Bùi Quang Tiến và (1995) đều khẳng định thức ăn và dinh dưỡng có ảnh hưởng
rất lớn đến sự sinh trưởng của gia cầm. Hàm lượng các acid amin là rất quan
trọng, đặc biệt nếu thiếu Methionin trong khẩu phần sẽ có hại cho sinh trưởng và
hiệu số chuyển hóa thức ăn.

Cũng theo Bùi Đức Lũng và (1996) nghiên cứu bổ sung khoáng và
vitamin vào khẩu phần nuôi gà HV85 cho thấy khối lượng cơ thể gà ở 7 tuần
tuổi tăng 85.3g so với lô đối chứng.
Lã Văn Kính (1995) đã kết luận: Nên nuôi gà thịt V135 tốt nhất là khẩu
phần chứa 24% CP, 3000 – 3150 kcal ME, chỉ số ME/CP = 131 – 138 cho giai
đoạn 0 – 4 tuần tuổi và 20% CP, 3150 - 3300 kcal ME, chỉ số ME/CP = 158 –
165 giai đoạn 5 - 8 tuần tuổi.
Meller David Soares và Josepbb (1981) đã xác định được sự ảnh hưởng
của hàm lượng Clorocid, Sulfat và lượng Natri, Photpho trong chế độ dinh
dưỡng tới sinh trưởng của gà.
+ Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường.
Các yếu tố môi trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự sinh trưởng của gia
cầm như: Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng...Trong đó nhiệt độ và ẩm
độ là hai yếu tố luôn thay đổi theo mùa vụ và có ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ
sinh trưởng của gia cầm. Đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh được sự ảnh
hưởng của hai yếu tố này.
Reddy (1999) cho rằng khi nhiệt độ môi trường lên cao trên 36 – 37 0C sẽ
gây stress nhiệt, làm giảm quá trình trao đổi chất và hoạt động của cơ thể, từ đó
giảm lượng thức ăn tiêu thụ và giảm tốc độ sinh trưởng. Do vậy, cần phải đảm bảo
điều kiện chuồng nuôi có độ thông thoáng tốt, cung cấp đủ oxy, đồng thời có mật
độ nuôi cũng như chế độ chiếu sáng thích hợp để tăng hiệu quả chăn nuôi.
Theo Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (1995), gà Broiler nuôi trong vụ hè
cần phải tăng mức ME (năng lượng trao đổi) và CP (protein thô) cao hơn nhu
cầu vụ đông 10 – 15%.
19


Trong chăn nuôi gia cầm cần phải chú ý đến yếu tố ánh sáng, vì gia cầm
là loài rất nhạy cảm với ánh sáng, đặc biệt là giai đoạn gà con và giai đoạn gà
đẻ. Nếu thời gian và cường độ chiếu sáng phù hợp thì thuận lợi cho hoạt động

ăn, uống từ đó ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng.
Hãng Arbor Acres (1995) khuyến cáo: Với gà Broiler giết thịt sớm 38 –
42 ngày tuổi; từ 1 ngày tuổi đến 3 ngày tuổi chiếu sáng 24/24 giờ với cường độ
chiếu sáng là 20lux, từ ngày thứ 4 trở đi thời gian chiếu sáng 23/24 giờ cường
độ chiếu sáng 5lux. Gà Broiler nuôi dài ngày 49 – 56 ngày: Thời gian chiếu sáng
ngày thứ 1 là 24 giờ; ngày thứ 2 là 20 giờ; ngày thứ 3 đến ngày thứ 15 là 12 giờ;
ngày thứ 16 – 18 là 14 giờ; ngày thứ 19 – 22 là 16 giờ; ngày 23- 24 là 18 giờ; từ
ngày thứ 25 đến kết thúc là 24 giờ. Cường độ chiếu sáng ở những ngày đầu là
20lux, những ngày sau là 5 lux.
2.1.5. Khả năng cho thịt và một số chỉ tiêu đánh giá
Khả năng cho thịt được phản ánh qua các chỉ tiêu năng suất và chất lượng
thịt. Khả năng cho thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, sự phát triển của hệ cơ,
kích thước và khối lượng khung xương (Brandch và Biil, 1978). Hệ số di truyền
rộng ngực là 25% (20 - 30%), của góc ngực là 40% (30 - 45%), hệ số di truyền
của góc ngực gà lúc 8 tuần tuổi là 24 - 30%
2.1.5.1. Năng suất thịt
Năng suất thịt hay tỷ lệ thịt xẻ chính là tỷ lệ phần trăm của khối lượng
thân thịt so với khối lượng sống của gia cầm. Năng suất thịt phụ thuộc vào dòng,
giống, tính biệt, chăm sóc nuôi dưỡng và quy trình vệ sinh thú y.
Ricard và Rouvier (1967) cho thấy mối tương quan giữa khối lượng sống
và khối lượng thịt xẻ là rất cao, thường là 0,9; còn giữa khối lượng sống và khối
lượng mỡ bụng thấp hơn thường từ: 0,2 - 0,5.
Tỷ lệ cơ ngực và cơ đùi so với khối lượng thịt xẻ là chỉ tiêu phản ánh rõ
nhất khả năng cho thịt (năng suất thịt) của gia cầm. Theo Nguyễn Duy Hoan và

20


cs (2001), thông thường khi tỷ lệ thịt xẻ cao thì tỷ lệ cơ ngực và cơ đùi cũng cao
và ngược lại

Peter (1959), Ristic và Shon (1977) (dẫn theo Trần Thị Mai Phương,
2004) đã tổng hợp trên nhiều loại gia cầm và đưa ra tỷ lệ các phần của thân thịt
như sau: Khối lượng sống của gia cầm 100%, trong đó khối lượng thân thịt
chiếm khoảng 64% (trong đó 52% là thịt và 12% là xương), phủ tạng chiếm
khoảng 6%, máu, lông, đầu, chân, ruột chiếm khoảng 17% và tỷ lệ hao hụt khi
giết mổ chiếm khoảng 13%.
2.1.5.2. Chất lượng thịt
Thịt gia cầm có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao và có mùi vị hấp dẫn,
điều này liên quan đến đặc điểm sinh thái của tổ chức cơ và tính chất lý học của
nó như độ mềm, độ ướt... Những sợi cơ của thịt gà rất mỏng và các tổ chức liên
kết giữa chúng nhỏ hơn thịt một số loài gia súc khác. Nhìn chung thịt gia cầm có
giá trị sinh học cao.
Chất lượng thịt phụ thuộc vào thành phần hoá học của thịt và có sự khác
nhau giữa các dòng, giống, cùng một chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, cùng một lứa
tuổi và cùng một giống thì không có sự khác nhau về thành phần hoá học của thịt.
Prias (1984) đã xác định được hệ số di truyền về tỷ lệ thịt xẻ như: Độ ẩm là 0,38;
protein là 0,47; mỡ là 0,48 và khoáng là 0,25 (dẫn Theo Chambers, 1990).
Thịt trắng có giá trị sinh học cao hơn thịt đỏ, bởi nó có hàm lượng protein
cao và tỷ lệ giữa các axit amin cân đối hơn. Kết quả nghiên cứu của Lương Thị
Hồng (2005) cho biết hàm lượng protein thô của gà H’Mông là 22,04% và tỷ lệ
Methionine là 1,504%, Glutamic là 3,487%, Aspartic là 2,115%. Ngoài việc xác
định thành phần hoá học của thịt, người ta còn có thể đánh giá chất lượng thịt
theo các chỉ tiêu cảm quan (mầu sắc, trạng thái, mùi vị), khả năng giữ nước của
thịt, vệ sinh an toàn thực phẩm (các chất tồn dư độc hại: Hormon, kháng sinh,
kim loại nặng).

21


2.1.5.3. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt gia cầm

Khả năng cho thịt của các loại gia cầm có liên quan mật thiết với đặc điểm
ngoại hình, thể chất, tốc độ sinh trưởng…
Trong ngành chăn nuôi gia cầm hướng thịt, phải đánh giá gia cầm sống
theo các chỉ tiêu: Trọng lượng, tốc độ mọc lông, ngoại hình và sự phát triển của
cơ lưỡi hái, chi phí thức ăn cho tăng trọng, tỷ lệ nuôi sống của đàn nuôi thịt và
đàn mẹ. Đây là các chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất thịt của gia cầm.
Cần chú ý thời điểm thay lông của gia cầm, nếu gia cầm mọc lông muộn đặc
biệt là lông lưng, các chân lông ở dưới da thì sẽ làm giảm chất lượng thịt. Sự
biến dạng của xương ngực, xương chân và xương chậu đều làm cho chất lượng
thịt không đạt yêu cầu.
Đồng thời, sau khi giết thịt thì cần quan tâm đến các chỉ tiêu: Lườn không
được nhô ra, hướng của lườn song song với trục của thân. Da phải nhẵn, không
rách, không có lông măng. Thịt tươi, ngon, mịn, sáng, hàm lượng mỡ không quá
cao. Sự hao hụt nhiều hay ít sau khi mổ, sau khi bảo quản và sau khi chế biến
phản ánh chất lượng thịt tốt hay không tốt. Trong thịt có chứa hàm lượng nước
nhất định, điều đó sẽ làm tăng sự ngon miệng của thịt. Các công trình nghiên
cứu đã chứng minh là độ ngon miệng phụ thuộc vào hàm lượng tuyệt đối của
nước trong thịt. Thịt có hàm lượng nước tuyệt đối cao do khả năng giữ nước
kém nên mất nhiều nước sẽ làm giảm giá trị.
Để nâng cao chất lượng thịt gia cầm cần áp dụng nhiều biện pháp như:
chọn lọc, lai tạo, quản lý thích hợp. Hiện đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
để bảo tồn các giống: Gà Ri, gà H’Mông, gà Ác… Đây là những giống gà có
chất lượng thịt thơm ngon, nhưng số lượng còn ít và bị lai tạp nhiều.
2.1.6. Hiệu quả sử dụng thức ăn
Hiệu quả sử dụng thức ăn được định nghĩa là mức độ tiêu tốn thức ăn cho
một đơn vị sản phẩm. Tiêu tốn thức ăn trên một kg tăng khối lượng là tỷ lệ
chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọng, là chỉ tiêu hết sức quan trọng
22



ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi. Khi sinh trưởng nhanh thì quá trình trao
đổi chất của cơ thể tốt hơn, Hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn do đó lượng tiêu
tốn thức ăn giảm.
Chambers (1990), xác định hệ số tương quan di truyền giữa tăng khối
lượng của cơ thể với tiêu tốn thức ăn , hệ số tương quan này thường rất cao từ:
0,5 - 0,9 còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là
thấp và âm (từ: - 0,2 đến - 0,8).Tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào dòng, giống, tính
biệt và độ tuổi. Theo Trần Công Xuân và cs (1998), khi nuôi thịt đến 15 tuần
tuổi gà Tam Hoàng 882 tiêu tốn 3,61 kg thức ăn/kg tăng trọng.
Đối với gia cầm sinh sản lấy trứng giống hoặc thương phẩm, tiêu tốn thức
ăn thường được tính cho 10 quả trứng hoặc 1kg trứng. Theo Nguyễn Đăng Vang
và cs (1999), tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng của gà Đông Tảo trong 36 tuần
đẻ là 4,14kg. Gà Ai Cập tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng trong 43 tuần đẻ là
2,23kg (Phùng Đức Tiến và cs, 1999).
Vì vậy, cần chọn lọc nhằm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn cũng như định
ra thời gian giết thịt phù hợp cho từng dòng, giống gia cầm.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới các công trình nghên cứu về giống gà thịt đen, xương đen,
da đen chưa nhiều.
Theo Mehner (1962) gà thịt đen, thịt đen, xương den mang gen lặn màu
lông trắng. Kiểu hình biểu hiện bên ngoài của lông gà trưởng thành không có sự
khác nhau giữa màu lông trắng trội hay lông trắng lặn. Ở gà con nếu mang gen
trắng trội có biểu hiện lông bên ngoài màu hơi vàng hơn so với gà con có màu
lông trắng lặn.
HoldenRied và cs (1984) và Mehner (1962) cho biết gà da đen, thịt đen,
xương đen là giống gà có từ rất lâu đời do Marco Polo phát hiện từ thế kỷ thứ 13
ở Trung Quốc. Giống gà này là sự đột biến ngẩu nhiên giữa các giống gà hoặc
23



có thể từ gà hoang. Gà trống có cơ thể khỏe mạnh. Đầu nhỏ, hơi nghếch về phía
sau, mào cờ ngắn màu đỏ sậm. Mắt đen nâu, cổ ngắn khỏe, lưng rộng ngắn,
ngực đầy tròn sâu, cánh ngắn, rộng, đuôi ngắn có ít lông ống. Bụng đầy, chân
ngắn có phủ lông, ngón ngắn xanh đen có 5 ngón. Bộ lông xước có nhiều lông
màu trắng. Gà mái có đầu mảnh trung bình, màu lông trắng.
Theo Well Rong (1987) các đặc điểm ngoại hình của gà da đen, thịt đen
xương đenTrung Quốc nuôi ở vùng Vũ Hán cũng có những đặc điểm tương tự.
Thịt gà da đen, thịt đen, xương đen được được nuôi ở vùng Vũ Hán chủ yếu
được dùng như một vị thuốc. Các thí nghiệm cho thấy thịt gà da đen, thịt đen,
xương đen có chứa những hormone nhất định, các sắc tố xanh và axid amin cần
thiết cho cơ thể con người, có hiệu quả rất tốt trong điều trị các bệnh của phụ nữ
như vô sinh, sảy thai, các bệnh sau khi sinh... Trứng của chúng cũng có hiệu quả
trong điều trị bênh đau đầu và là nguồn dinh dưỡng lý tưởng cho người gài và
người có huyết áp cao vì nó có chứa hàm lượng cholesterol thấp và các axid
amin tự do cao hơn so với các giống khác.
Triệu Xương Đình và Vương Tuyền (2001) cho biết có một số giống gà da
đen, thịt đen, xương đen được gọi tên theo vị trí địa lý như: Gà Thái Hòa, gà
Hắc Phong (lông màu đen); gà Dư Can (lông đen); gà Giang Sơn (lông trắng);
gà Kim Dương (lông tơ trắng); gà Tuyết Phong (lông đen tuyền, lông trắng và
màu lông tạp). Khối lượng cơ thể các giống gà này có khác nhau đôi chút nhưng
nhìn chung đều có khối lượng cơ thể nhỏ (khối lượng gà mái từ 1kg – 1,2kg; gà
trống 1,3kg – 1,5kg). Tuổi đẻ quả trứng đầu từ 160 – 180 ngày; năng suất trứng
đạt từ 100 – 130 quả/mái/năm; khối lượng trứng nhỏ thường chỉ đạt 35-45g. Tỷ
lệ trứng có phôi cao khoảng 90-95%, và tỷ lệ nở đạt 80-85%.
Báo cáo khoa học và đời sống Trung Quốc (1996) thịt gà da đen, thịt đen,
xương đen ở Trung Quốc được coi là một biệt dược quý và có hàm lượng sắt cao
hơn gà thường 45% ( dẫn theo Trần Thị Mai Phương (2004).

24



2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Song song với việc phát triển chăn nuôi các giống gia cầm có năng suất và
chất lượng cao như gà chuyên thịt, chuyên trứng, việc nghiên cứu chọn lọc và lai
tạo các giống quý hiếm, đặc sản cũng đã bắt đầu được triển khai mạnh ở một số
cơ quan nghiên cứu và sản xuất. Chăn nuôi các giống gà da đen, thịt đen, xương
đen là một trong những hướng phát triển mới.
Cuc Simianer và cs (2010) trong nghiên cứu về đa dạng di truyền và xác
định đối tượng ưu tiên bảo tồn giống gà nội Việt Nam sử dụng kỷ thuật
Microsatellite kết hợp với các chỉ tiêu đánh giá khả năng tiệt chủng của giống
dựa vào các yếu tố kinh tế, xã hội đã chỉ ra rằng giống gà Mía là giống gà có đa
dạng di truyền cao và khả năng tiệt chủng là thấp nhất. Do vậy giống gà này
không ưu tiên để tiếp tục đầu tư bảo tồn mà nên nuôi giữ theo hướng khai thác,
phát triển.
Gà H’Mông thuộc nhóm gà da đen, thịt đen, xương đen được đồng bào
H’Mông nuôi chăn thả quảng can. Xương, thịt của nó có thể làm vị thuốc chữa
bệnh, bồi dưỡng sức khỏe. Không những thế giống gà này còn nổi tiếng bởi
lượng mỡ rất ít, thịt dai chắc, thơm, ngọt phù hợp với sở thích ẩm thực của
người Việt Nam. Giống gà này đã được Viện Chăn Nuôi chọn lọc nhân thuần mở
rộng quần thể đưa ra khai thác phát triển thành công trở thành một vật nuôi
giống gốc cung cấp con giống cho sản xuất.
Nguyễn Văn Thiện và cs (2000) cho biết gà Ác là giống gà có khối lượng
cơ thể nhỏ nhất trong các giống gà nội. Khối lượng gà Ác 1 ngày tuổi con trống
là 16,32g-19,90g và gà mái 17,42g-18,90g. Khối lượng cơ thể khi 8 tuần tuổi ở
gà trống là 295,7g và gà mái là 260,21g.
Đào Lệ Hằng (2001) nghiên cứu giống gà H’Mông tại Viện Chăn Nuôi cho
biết: Gà H’Mông có ngoại hình trung bình, mào cờ, chân có nhiều lông, màu sắc
lông đa dạng. Tỷ lệ nuôi sống đến 7 tuần tuổi là 94.64-98,31%; khối lượng sơ sinh
31,96g,lúc trưởng thành (16 tuần tuổi) gà trống nặng 1232,55g; gà mái nặng

25


×