PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh “Giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa,
hiện đại hóa” điều đó cho thấy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước tới sự
nghiệp giáo dục cũng như vai trò quan trọng của giáo dục trong sự phát triển
của đất nước, từ đó có những chính sách phù hợp nhằm phát triển giáo dục,
đặc biệt là giáo dục đại học.
Do những thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội mà các nhà tuyển dụng
đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sinh viên.
Đối với các nhà tuyển dụng, họ không chỉ yêu cầu sinh viên nắm vững
những kiến thức chuyên ngành mà còn phải có một số kỹ năng khác như: giao
tiếp, ứng xử, thuyết trình,… Thuật ngữ “kỹ năng sống” dùng để chỉ tập hợp
các kỹ năng cần thiết cho mỗi cá nhân khi tham gia vào cuộc sống xã hội. Bản
chất của kỹ năng sống là kĩ năng tự quản bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết
để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách
khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng
ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích
cực trước các tình huống của cuộc sống. Chủ đề “kỹ năng sống” đã trở thành
chủ đề thu hút được sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội.
Kỹ năng thể hiện sự cảm thông cũng là một kỹ năng sống cần được
giáo dục. Đây là một kỹ năng vô cùng quan trọng và đáng chú ý. Học cách
thông cảm là cách tốt nhất để không chỉ trở thành một người dễ thương và sâu
sắc hơn mà cuộc sống trở nên hạnh phúc hơn. Thực tế cho thấy các cá nhân
mà không nhận đợc sự quan tâm, đồng cảm của những người xung quanh thì
rất dễ dẫn đến những tệ nạn xã hội không mong muốn như ma túy, mại dâm,
stress, căng thẳng, hiện tượng tự tử…. Hầu hết nguyên nhân của các vụ tự tử
19
một phần là do bản thân họ cảm thấy cô đơn và không có ai chia sẻ khiến họ mất
lòng tin vào cuộc sống.
Cảm thông là một cách tuyệt vời để có thể học tập và làm việc vui vẻ có
ích với nhau. Nếu bạn học được cách thông cảm, bạn sẽ tự hào về bản thân mình
vì đã làm được sự đổi khác. Bạn có thể điều hòa hoặc ứng phó tốt đẹp đối với
những tình huống thay đổi tình cảm của người khác, dễ dàng hiểu rõ tâm trạng của
họ. Như vậy, học cách cảm thông: Hiểu mình và biết chấp nhận người khác, cũng
là một cách học kỹ năng giao tiếp để có nhiều thuận lợi hơn trong xã hội. Nhưng
thực trạng hiện nay cho thấy kỹ năng thể hiện sự cảm thông chưa được vận dụng
một cách hiệu quả kể cả trong học tập cũng như trong cuộc sống đặc biệt là sinh
viên hiện nay.
Chính vì lí do đó tác giả quyết định chọn đề tài “Thực trạng vận
dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông vào trong học tập và cuộc sống của
sinh viên hiện nay” để tìm hiểu thực trạng cũng như phương pháp, cách
thức vận dụng kỹ năng này.
2. Mẫu nghiên cứu:
Tổng số mẫu là 181 sinh viên, trong đó:
- Trường học:
+ Học viện Báo chí - Tuyên truyền: 86 sinh viên, chiếm 47.5%
+ Đại học Thương mại
: 95 sinh viên, chiếm 52.5%
- Năm học:
+ Năm thứ nhất: 23 sinh viên, chiếm 12.7%
+ Năm thứ hai : 35 sinh viên, chiếm 19.3%
+ Năm thứ ba : 41 sinh viên, chiếm 22.7%
+ Năm thứ tư
: 82 sinh viên, chiếm 45.3%
- Ngành học:
+ Xã hội học
: 33 sinh viên, chiếm 18.2%
+ Tuyên truyền: 53 sinh viên, chiếm 29.3%
+ Marketing
: 41 sinh viên, chiếm 22.7%
+ Tiếng Anh
: 54 sinh viên, chiếm 29.8%
20
PHẦN II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1, Thực trạng vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông
Từ xưa đến nay, các kỹ năng sống luôn được con người vận dụng trong
đó có kỹ năng thể hiện sự cảm thông. Kỹ năng thể hiện sự cảm thông là khả
năng thấu hiểu cảm xúc và nhu cầu của người khác và biểu hiện ra thành hành
động hợp lý.
Kỹ năng này bao gồm những kỹ năng thành phần như: kỹ năng thể hiện
sự đồng cảm, kỹ năng thể hiện sự quan tâm, giúp đỡ hợp lí, kỹ năng lắng nghe
và tiếp nhận ý kiến.
Kỹ năng thể hiện sự đồng cảm là biết đặt mình vào hoàn cảnh của người
khác. Khi làm thế chúng ta mới hiểu vấn đề của họ, biết đồng cảm và chia sẻ với
họ hơn còn kỹ năng thể hiện sự quan tâm, giúp đỡ hợp lí là biết quan tâm, giúp đỡ
người khác mà không ảnh hưởng xấu tới lợi ích của bản thân
Thể hiện sự cảm thông không chỉ là biết đặt mình vào hoàn cảnh của
người khác hay quan tâm, giúp đỡ hợp lí mà còn phải biết lắng nghe và tiếp
nhận ý kiến. Điều này có nghĩa là lắng nghe những người xung quanh nói một
cách chân thành, tự nguyện và có phản hồi lại.
Ba kỹ năng này đều rất quan trọng, có liên quan và tác động đến nhau.
Trong thực tế, khi thể hiện sự cảm thông chúng ta nên vận dụng khéo léo
đồng thời cả ba kỹ năng này để đạt được hiểu quả tốt nhất.
Biểu đồ 1: Thực trạng vận dụng các kỹ năng thể hiện sự cảm thông của NTL (%)
21
Nhìn vào biểu đồ ta thấy trong 3 kỹ năng thành phần: kỹ năng thể hiện
sự đồng cảm, kỹ năng thể hiện sự quan tâm, giúp đỡ hợp lí và kỹ năng lắng
nghe, tiếp nhận ý kiến của kỹ năng thể hiện sự cảm thông, trong 181 người trả
lời, 100% khẳng định đã sử dụng kỹ năng trên trong cuộc sống, 99% khẳng
định có sử dụng kỹ năng trên trong học tập.
Tỷ lệ sinh viên sử dụng các kỹ năng thành phần này tương đối bằng
nhau chứng tỏ sinh viên đã biết cách thể hiện sự cảm thông cũng như vận
dụng nó hết sức phong phú.
Như vậy, tỷ lệ sinh viên vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong
cuộc sống cao hơn trong học tập.
Biểu đồ 2: Thực trạng vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong học
tập theo năm học của NTL (%)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy có sự khác nhau giữa các năm học trong việc
vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông vào học tập. Kỹ năng thể hiện sự
cảm thông được sinh viên năm thứ 1 thường xuyên vận dụng nhất (chiếm
50%) sau đó đến năm thứ tư (chiếm 42.2%). Kỹ năng này thể hiện cao nhất ở
năm thứ nhất bởi vì đây là năm đầu tiên các bạn bước vào trường đại học, còn
bỡ ngỡ và thiếu kinh nghiệm vì thế cảm thông cho nhau là lẽ đương nhiên.
Còn đối với sinh viên năm thứ 4 cũng đạt tỷ lệ cao bởi vì đây là năm cuối của
họ, mọi người chuẩn bị rẽ sang một bước ngoặt mới quan trọng của cuộc đời,
họ có nhiều mới quan tâm, trăn trở và lo ngại vì thế thể hiện sự cảm thông là
22
rất cần thiết. Tỷ lệ sinh viên thỉnh thoảng sử dụng kỹ năng này cao nhất là ở
năm thứ ba (chiếm 32.8%) sau đó đến năm thứ hai chiếm 31.7%. Tỷ lệ sinh
viên hiếm khi vận dụng kỹ năng này trong học tập chiếm tỷ lệ thấp.
Biểu đồ 3: Thực trạng vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong
cuộc sống theo năm học của NTL (%)
Có sự khác biệt trong việc vân dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông
trong cuộc sống theo từng năm học. Trong đó, tỷ lệ sinh viên năm thứ tư
thường xuyên sử dụng kỹ năng này cao hơn hẳn các năm khác (50.6%) còn
thấp nhất là ở năm thứ nhất chiếm 34.4%. Nhưng tỷ lệ sinh viên thỉnh thoảng
sử dụng kỹ năng này cao nhất là ở năm thứ nhất chiếm 37.5% sau đó đến năm
thứ ba chiếm 25%, thấp nhất là năm thứ tư chiếm 20%. Tỷ lệ sinh viên hiếm
khi sử dụng kỹ năng này cũng chiếm tỷ lệ thấp (dưới 5%). Như vậy tỷ lệ sinh
viên thường xuyên vận dụng kỹ năng này vào trong cuộc sống tỷ lệ thuận với
các năm học (tỷ lệ sinh viên vận dụng kỹ năng này tăng dần theo các năm
học) còn tỷ lệ sinh viên thỉnh thoảng vận dụng kỹ năng này trong cuộc sống
lại tỷ lệ nghịch với các năm học (tỷ lệ sinh viên vận dụng kỹ năng này giảm
dần theo các năm học)
Nhìn chung khi áp dụng kỹ năng này vào trong cuộc sống theo từng
năm học thì chiếm tỷ lệ cao hơn khi vận dụng vào trong học tập theo từng
năm học. Cụ thể: năm thứ nhất, tỷ lệ sinh viên thường xuyên vận dụng kỹ
23
năng này là 50% còn ở trong cuộc sống là 34.4%, Ở năm thứ hai, tỷ lệ sinh
viên thường xuyên sử dụng kỹ năng này trong học tập là 38.3% còn trong
cuộc sống lả 46.7%. Vào năm thứ ba, tỷ lệ sinh viên thường xuyên vận dụng
kỹ năng này vào trong học tập là 36.7% còn trong cuộc sống chiếm 47.7%.
Năm thứ tư, tỷ lệ sinh viên thường xuyên vận dụng kỹ năng này vào trong học
tập là 42.2% còn trong cuộc sống là 50.6%.
Như vậy, trong học tập và trong cuộc sống sinh viên đã biết vận dụng
kỹ năng thể hiện sự cảm thông. Trong học tập, sinh viên năm thứ nhất vận
dụng nhiều nhất còn trong cuộc sống sinh viên năm thứ tư lại vận dụng kỹ
năng này nhiều nhất.
Biểu đồ 4: Thực trạng vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong học
tập theo trường học của NTL (%)
Có sự chênh lệch tỷ lệ sinh viên sử dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông
trong học tập giữa 2 trường: Đại học Thương mại và Học viện Báo chí Tuyên
truyền. Tỷ lệ sinh viên trường Học viện Báo chí Tuyên truyền thường xuyên
sử dụng kỹ năng này trong học tập (44%) cao hơn trường Đại học Thương
mại (39.3%) nhưng mức chênh lệch cũng không nhiều . Nhưng số sinh viên
thỉnh thoảng sử dụng kỹ năng này trong học tập ở trường Thương mại
(30.3%) lại cao hơn so với Học viện Báo chí (27%). Tỷ lệ sinh viên hiếm khi
sử dụng chiếm tỷ lệ cao (25%) ở cả hai trường Đại học.
24
Biểu đồ 5: Thực trạng vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong
cuộc sống theo trường học của NTL (%)
Tỷ lệ sinh viên vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong cuộc
sống giữa các trường không có chênh lệch nhiều. Trong số sinh viên được hỏi,
tỷ lệ sinh viên sử dụng kỹ năng này trong cuộc sống ở Đại học Thương mại là
48.7% còn ở Học viện Báo chí Tuyên truyền chiếm 45%. Tỷ lệ sinh viên
thường xuyên vận dũng kỹ năng này của trường Đại học Thương mại cao hơn
của trường Học viện Báo chí – Tuyên truyền. Nhưng khi thỉnh thoảng vận
dụng kỹ năng này thì sinh viên trường Học viện Báo chí (26%) lại cao hơn
trường Đại học Thương mại (22.7%). Tỷ lệ sinh viên hiếm khi vận dụng kỹ
năng này chiếm tỷ lệ nhỏ ở cả hai trường đại học (gần 4%).
Như vậy trong học tập, sinh viên trường Học viện Báo chí vận dụng kỹ
năng này nhiều nhất (chiếm 44%) còn trong cuộc sống thì sinh viên trường
Đại học Thương mại lại vận dụng kỹ năng này nhiều nhất (chiếm 48.7%).
Nếu so sánh giữa mức độ thường xuyên vận dụng kỹ năng này trong học tập
và cuộc sống cho thấy sinh viên hai trường đều vận dụng nhiều hơn trong
cuộc sống.
25
Bảng 6: Mức độ vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong học tập
theo ngành học của NTL (%)
Mức độ thường
xuyên sử dụng
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Hiếm khi
Không bao giờ
Có sự khác
Xã hội học
Ngành học
Tuyên truyền Marketing
38.4
50
30.8
22.9
5.8
2.1
25
25
nhau trong việc vận dụng kỹ
36.7
32.8
5.5
25
năng thể hiện
Tiếng anh
41.3
28.5
3.5
26.7
sự cảm thông
trong học tập giữa 4 ngành: Xã hội học, Tuyên truyền, Marketing và Tiếng
anh của 2 trường. Khoa Tuyên truyền có tỷ lệ sinh viên thường xuyên vận
dụng kỹ năng này là cao nhất, chiếm 50% (do đặc tính nghề nghiệp của khoa:
thường xuyên giao lưu, tiếp xúc với mọi người nên cơ hội thể hiện và vận
dụng sự cảm thông cao hơn những khoa khác) sau đó đến khoa Xã hội học
chiếm 38.4%. Khi xét mức độ thỉnh thoảng sử dụng kỹ năng này thì tỷ lệ sinh
viên khoa Marketing chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 32.8% sau đó đến khoa Xã
hội học chiếm 30.8%. Tỷ lệ sinh viên không bao giờ sử dụng kỹ năng này
trong học tập là khá cao, chiếm 25%.
26
Bảng 7. Mức độ vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong cuộc
sống theo ngành học của NTL (%)
Mức độ thường
xuyên sử dụng
Xã
Ngành học
hội Tuyên truyền Marketing
Tiếng anh
học
Thường xuyên
48.1
41.7
47.7
49.4
Thỉnh thoảng
21.2
31.2
25
20.9
Hiếm khi
5.7
2.1
2.3
4.7
Không bao giờ
25
25
25
25
Khi vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong cuộc sống thì khoa
Tiếng anh thường xuyên vận dụng chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 49.4% sau đó
đến khoa Xã hội học chiếm 48.1%. Tuy nhiên khi xét mức độ thi thoảng sử
dụng kỹ năng này thì khoa Tuyên truyền chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 31.2%
sau đó đến khoa Marketing chiếm 25%.
Như vậy, cả trong học tập và cuộc sống sinh viên của 4 khoa: xã hội
học, marketing, tuyên truyền và tiếng anh đã biết vận dụng kỹ năng thể hiện
sự cảm thông. Trong học tập, mức độ thường xuyên vận dụng kỹ năng này
của sinh viên khoa Tuyên truyền chiếm tỷ lệ cao nhất là 50% còn trong cuộc
sống khoa Tiếng anh chiếm tỷ lệ cao nhất là 49.4%.
Kỹ năng thể hiện sự cảm thông là kỹ năng vô cùng cần thiết cả trong
học tập và cuộc sống. Nó thể hiện sự khéo léo, khả năng ứng biến của bản
thân vì thế nó nên được sinh viên vận dụng triệt để.
2. Hình thức thể hiện sự cảm thông
Trong cuộc sống, có rất nhiều cách để chúng ta thể hiện sự cảm thông.
Mỗi người có một cách thể hiện khác nhau, không ai giống ai. Và mỗi cách
mang lại những lợi ích khác nhau tùy theo từng đối tượng cụ thể. Khi những
người xung quanh chúng ta gặp vấn đề, chúng ta có thể thể hiện sự cảm thông
bằng cách: lắng nghe họ tâm sự và hoàn toàn yên lặng; lắng nghe họ nói, cùng
họ trò chuyện, khuyên nhủ và cùng tìm cách giải quyết; chúng ta có thể đưa
27
họ đi xem phim, mua sắm, tham quan, du lịch và cũng có thể cùng họ thâm
gia các hoạt động thể dục thể thao như chạy bộ, bơi lội, đá bóng.... Còn có rất
nhiều cách khác nhau từng theo từng cá nhân cụ thể.
Khi bạn bè xung quanh gặp vấn đề, họ rất cần sự cảm thông, chia sẻ để
tự tin và có sức mạnh vượt qua khó khăn đó. Chúng ta có thể vận dụng các
hình thức trên để thể hiện sự cảm thông đối với những người khác.
Biểu đồ 8. Hình thức thể hiện sự cảm thông (%)
Khi trả lời câu hỏi “Khi bạn bè gặp vấn đề nào đó, bạn thường thể hiện sự
cảm thông bằng cách?” thì trong số sinh viên được hỏi, có 55.1% người lựa chọn
phương án “lắng nghe, trò chuyện, khuyên nhủ và cùng tìm cách giải quyết”, có
18.8% sinh viên lựa chọn phương án “lắng nghe họ tâm sự và hoàn toàn yên lặng”,
có 16.9% sinh viên lựa chọn phương án “đưa họ đi xem phim, mua sắm, tham
quan, du lịch...” và có 10.1% sinh viên lựa chọn phương án “cùng họ tham gia các
hoạt động thể dục thể thao”.
“Mỗi khi bạn mình gặp vấn đề gì thì mình thường rủ bạn mình đi mua sắm và đi ăn
.Bạn bè mình cũng thường xuyên áp dụng cách này, vừa vui lại vừa không có thời gian để
nghĩ linh tinh.”
(Nữ, Sinh viên khoa Marketing, năm thứ ba)
28
“Với bạn bè thân mình thường tâm sự và cùng nhau tìm cách giải quyết còn với
những người bạn bình thường mình nghe họ tâm sự và khuyên họ không nên suy nghĩ
nhiều ”
(Nữ, Sinh viên khoa Tuyên truyền, năm thứ ba)
Như vậy các hình thức thể hiện sự cảm thông đã được sinh viên vận
dụng một cách triệt để. Mọi người biết quan tâm đến nhau và làm thế nào để
hiểu được nhau.
Chúng ta biết khi bạn bè gặp khó khăn, mỗi người thường có những
hành động khác nhau: có người thì giúp đỡ bạn bằng mọi cách, có người lại
lựa chọn giúp đỡ khi điều đó không gây ảnh hưởng xấu tới bạn, có người lại
lựa chọn không giúp đỡ và cũng có người lựa chọn giúp đỡ chỉ khi điều đó
mang lại lợi ích cho bạn. Như vậy có rất nhiều cách hành động khác nhau
nhưng khi được hỏi “Khi bạn bè gặp khó khăn, bạn thường?” thì số lượng
người lựa chọn phương án “giúp đỡ bằng mọi cách” chiếm tỷ lệ cao nhất là
48% sau đó đến phương án “giúp đỡ khi điều đó không gây ảnh hưởng xấu tới
bạn” chiếm 47%. Số sinh viên chọn phương án “chỉ giúp đỡ khi điều đó mang
lại lợi ích cho cho bạn” chiếm tỷ lệ thấp nhất là 1%.
Biểu đồ 9. Hành động thể hiện sự cảm thông của NTL (%)
Như vậy, khi bạn bè gặp khó khăn những sinh viên được hỏi đã biết
cách giúp đỡ họ. Đây cũng là con số đáng mừng và tích cực thể hiện một lối
sống có tình nghĩa giữa con người với nhau.
29
3. Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm
thông trong học tập và cuộc sống
Cả trong học tập và cuộc sống, trong số sinh viên được hỏi đều đã biết
vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông. Tuy nhiên mỗi sinh viên có một
cách vận dụng khác nhau nên hiệu quả của việc vận dụng kỹ năng này cũng
tương đối khác nhau.
Bảng 10: Đánh giá của sinh viên về hiệu quả vận dụng kỹ năng thể hiện
sự cảm thông trong học tập và cuộc sống chia theo trường học (%)
Hiệu quả của việc
vận dụng
Trong học tập
Học viện
Đại học
Trong cuộc sống
Học viện
Đại học
Báo chí
Thương mại
Báo chí
Thương mại
Tốt
40
37.3
60
44
Bình thường
52
52
36
48
Không tốt
8
10.7
4
8
Trong học tập, hầu như sinh viên đánh giá hiệu quả của việc vận
dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông ở mức bình thường và tốt, ở mức không
tốt chiếm tỷ lệ thấp trong đó mức bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất (đều
chiếm 52% đối với sinh viên nam và nữ). Tỷ lệ sinh viên ở trường Học viện
Báo chí vận dụng hiệu quả kỹ năng này chiếm 40% cao hơn so với trường Đại
học Thương mại (chiếm 37.3%). Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng kỹ
năng này ở mức bình thường thì trong số sinh viên được hỏi, sinh viên của cả
hai trường đều chiếm tỷ lệ bằng nhau là 52%.
Trong cuộc sống, sinh viên đánh giá hiệu quả vận dụng kỹ năng này
cao hơn so với trong học tập. Cụ thể: tỷ lệ sinh viên đánh giá ở mức “bình
thường” đã giảm đi so với trong học tập. Từ 52% của sinh viên ở cả hai
trường trong học tập thì khi vận dụng vào cuộc sống, sinh viên trường Học
viện báo chí chỉ chiếm 36% còn sinh viên trường Đại học thương mại chiếm
48%. Sinh viên trường Học viện Báo chí đánh giá hiệu quả vận dụng kỹ năng
30
này ở mức tốt (chiếm 60%) cao hơn trường Đại học thương mại (chiếm 44%).
Sự chênh lệch này phần nhiều là do tính chất của các môn học.
Ở hai lĩnh vực học tập và cuộc sống tuy có một số ít sinh viên đánh giá
hiệu quả việc vận dụng kỹ năng này ở mức không tốt nhưng chúng ta cũng
cần có những biện pháp khắc phục, sinh viên cần được trang bị kỹ năng này
tốt hơn bởi vì xã hội ngày nay có rất nhiều bất ổn, một cá nhân độc lập thì sẽ
không thể tồn tại được. Có nhiều biến cố xảy ra và ai cũng cần sự cảm thông,
đồng cảm để vượt qua tất cả, cùng nhau tồn tại.
Biểu đồ 11: Đánh giá của sinh viên về hiệu quả vận dụng kỹ năng thể
hiện sự cảm thông trong học tập chia theo ngành học (%)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy, hầu hết sinh viên trong 4 khoa đánh giá hiệu
quả việc vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông ở mức “bình thường”. Đánh
giá hiệu quả ở mức tốt thì khoa Tuyên truyền chiếm tỷ lệ cao nhất là 50% sau
đó đến khoa Marketing chiếm 43.7%. Khi đánh giá ở mức “bình thường” thì
khoa Tiếng anh chiếm tỷ lệ cao nhất là 62.8% sau đó đến khoa Xã hội học
chiếm 61.5%. Tỷ lệ sinh viên vận dụng không tốt kỹ năng này chiếm tỷ lệ
không nhỏ ở cả 4 khoa.
Chúng ta biết hiện nay trên thế giới xảy ra một số vụ tự tử của sinh
viên. Một phần lí do dẫn đến những cái chết bất hạnh đó là do họ cảm thấy cô
đơn, bị sống cô lập và tách việt trong một tập thể người. Họ không tìm được
31
sự quan tâm, đồng cảm của bạn bè xung quanh vì thế họ đã lựa chọn sự giải
thoát cho bản thân mình.
Biểu đồ 12: Đánh giá của sinh viên về hiệu quả vận dụng kỹ năng thể
hiện sự cảm thông trong cuộc sống chia theo ngành học (%)
Trong cuộc sống, hầu hết sinh viên đánh giá hiệu quả cả việc vận
dụng kỹ năng này ở mức tốt và cao hơn so với trong học tập. Khoa Xã hội học
đánh giá ở mức tốt với tỷ lệ cao nhất chiếm 61.5% sau đó đến khoa Tuyên
truyền chiếm 58.3%. Hai khoa của trường Đại học Thương mại chiếm tỷ lệ
thấp hơn, lần lượt là khoa Tiếng anh chiếm 39.5% và khoa Marketing chiếm
50%. Khi đánh giá mức độ hiệu quả của kỹ năng này ở mức bình thường thì
khoa Tiếng anh chiếm tỷ lệ cao nhất là 53.5% sau đó đến khoa Tuyên truyền,
khoa Marketing chiếm 40.6% và khoa Xã hội học chiếm 30.8%.
Như vậy cả trong học tập và cuộc sống, kỹ năng thể hiện sự cảm
thông được sinh viên vận dụng phong phú, vận dụng ở mức tốt và bình
thường chiếm tỷ lệ cao. Điều này chứng tỏ việc vận dụng kỹ năng này đã có
những hiệu quả nhất định.
Biểu đồ 13: Đánh giá của sinh viên về hiệu quả vận dụng kỹ năng thể
hiện sự cảm thông trong học tập chia theo năm học (%)
32
Ở đây sinh viên năm thứ nhất đánh giá hiệu quả của việc vận
dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông ở mức tốt chiếm tỷ lệ cao nhất là 50%
sau đó đến sinh viên năm thứ 3 chiếm 43.8%, sinh viên năm thứ 4 chiếm
35.6% và cuối cùng là sinh viên năm thứ 2 chiếm 26.7%. Nhưng khi đánh giá
ở mức bình thường thì sinh viên năm thứ 2 chiếm tỷ lệ cao nhất là 66.7% sau
đó đến sinh viên năm thứ 4 chiếm 60%. Sinh viên năm thứ 3 đánh giá ở mức
độ không tốt chiếm 18.7% và cao nhất so với các năm còn lại (năm thứ 1
chiếm 12.5%, năm thứ 2 chiếm 6.6% và năm thứ 4 là 4.4%) – đây là một tỷ lệ
không nhỏ.
Biểu đồ 14: Đánh giá của sinh viên về hiệu quả vận dụng kỹ năng thể
hiện sự cảm thông trong cuộc sống theo năm học (%)
33
Hầu hết sinh viên đánh giá hiệu quả của việc vận dụng kỹ
năng này ở mức tốt và bình thường, nhưng ở mức tốt vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn.
Cao nhất ở mức tốt là sinh viên năm thứ nhất với 62.5% sau đó đến sinh viên
năm thứ 2 chiếm 53.7%, sinh viên năm thứ 3 chiếm 50% và thấp nhất ở mức
tốt là sinh viên năm thứ 4 với 42.2%. Ở mức bình thường thì giữa các năm
không có sự chênh lệch đáng kể. Sinh viên năm thứ 4 chiếm tỷ lệ cao nhất là
51.1%, sau đó đến sinh viên năm thứ 3 chiếm 40.6%, sinh viên năm thứ 3
chiếm 40% và thấp nhất là sinh viên năm thứ nhất chiếm 37.5%. Đặc biệt
khi đánh giá ở mức không tốt thì không có sinh viên nào của năm thứ nhất
lựa chọn.
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Từ kết quả khảo sát thực tế trên, có thể rút ra một số nhận định
chính như sau:
Thứ nhất, hầu hết sinh viên đã biết và có kỹ năng thể hiện sự cảm thông
tuy nhiên mỗi sinh viên có mức độ khác nhau và còn hạn chế. Các đối tượng
sinh viên khác nhau có kỹ năng thể hiện sự cảm thông khác nhau.
Thứ hai, sinh viên đã vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông vào
trong học tập và cuộc sống chiếm tỷ lệ khá cao (trong học tập chiếm 99% và
trong cuộc sống là 100%)
Thứ ba, theo ngành học, sinh viên các ngành liên quan tới giao tiếp,
hoạt động xã hội như ngành: Xã hội học, Tuyên truyền, Tiếng anh thì thường
xuyên sử dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông hơn các khoa khác. Trong học
tập, mức độ thường xuyên vận dụng kỹ năng này của khoa Tuyên truyền
chiếm tỷ lệ cao nhất là 50% còn trong cuộc sống thì khoa Tiếng anh chiếm tỷ
lệ cao nhất là 49.4%.
Thứ tư, theo năm học, sinh viên năm thứ nhất có mức độ thường xuyên
vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông trong học tập cao hơn 3 năm còn lại
34
(chiếm 50%) nhưng khi vận dụng vào cuộc sống thì sinh viên năm thứ tư lại
dùng thường xuyên hơn (chiếm 50.6%).
Thứ năm, theo trường học, sinh viên trường Học viện Báo chí thường
xuyên vận dụng kỹ năng này trong học tập cao hơn sinh viên trường Đại học
Thương mại (chiếm 44%) nhưng khi vận dụng vào cuộc sống thì sinh viên
được hỏi của trường Đại học thương mại chiếm tỷ lệ cao hơn (chiếm 48.7%)
Thứ sáu, các hình thức thể hiện sự cảm thông được sinh viên vận dụng
triệt để: nhiều sinh viên lựa chọn cách lắng nghe bạn bè tâm sự, nhiều sinh
viên chọn cách rủ bạn đi chơi, nhiều sinh viên lựa chọn cùng bạn bè tham gia
hoạt động thể dục thể thao....
Thứ bảy, kỹ năng thể hiện sự cảm thông được vận dụng một cách tương
đối hiệu quả. Cụ thể: theo trường học, trong số những sinh viên được hỏi thì
mức độ vận dụng ở mức tốt của trường Học viện Báo chí trong học tập chiếm
tỷ lệ là 40% cao hơn trường Đại học Thương mại và khi vận dụng vào cuộc
sống thì trường Học viện báo chí cũng cao hơn trường Đại học Thương mại
và chiếm 60%. Theo ngành học, khoa tiếng anh vận dụng kỹ năng này trong
học tập ở mức tốt chiếm tỷ lệ cao nhất là 62.8% nhưng khi vận dụng vào cuộc
sống thì khoa Xã hội học lại chiếm tỷ lệ cao hơn là 61.8%. Theo năm học, khi
vận dụng kỹ năng thể hiện sự cảm thông vào học tập và cuộc sống, sinh viên
năm thứ 1 đạt mức tốt chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là 50% và 62,5%
2. Khuyến nghị:
Thứ nhất, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ Đoàn, Hội, giáo
viên, sinh viên về sự cần thiết phát triển kỹ năng và hỗ trợ phát triển kỹ năng
thể hiện sự cảm thông cho sinh viên. Cụ thể: Tuyên truyền để sinh viên hiểu
rằng phát triển kỹ năng thể hiện sự cảm thông không chỉ hướng tới hoàn thiện
về phẩm chất, tính cách mà còn hướng tới đáp ứng yêu cầu của thị trường lao
động trong bối cảnh hội nhập. Đồng thời cũng phải tăng cường tổ chức các
hoạt động nhằm tạo môi trường cho sinh viên hình thành và phát triển kỹ
năng thể hiện sự cảm thông ví dụ như thường xuyên tổ chức các buổi sinh
hoạt, nói chuyện chuyên đề, hội thảo, giao lưu, trao đổi giữa các chuyên
35
gia với sinh viên, tăng cường tổ chức các diễn đàn để sinh viên chia sẻ
kinh nghiệm, thực hành kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng rất hữu ích mà
sinh viên chưa thường xuyên vận dụng như: kiểm soát cảm xúc, thể hiện
sự đồng cảm,…
Thứ hai, đẩy mạnh các hoạt động tình nguyện, chung sức cùng cộng
đồng trong sinh viên, trong đó chú trọng phát triển các đội hình, các tổ, nhóm
tình nguyện nhằm trạng bị kỹ năng làm việc nhóm, hòa nhập với cộng đồng,
Thứ ba, hình thành đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội nòng cốt hướng dẫn, hỗ
trợ phát triển kỹ năng cho sinh viên, đặc biệt cán bộ nòng cốt câu lạc bộ, đội,
nhóm kỹ năng tại các trường.
Thứ tư, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng tích
cực, có tính tương tác giữa giáo viên và sinh viên, khuyến khích sự tham gia
của sinh viên.
Thứ năm, tăng cường phối hợp, liên kết với các tổ chức, các doanh
nghiệp để sinh viên có nhiều cơ hội học tập thông qua mô hình lớp học thực
tế, kỳ kiến tập, thực tập, thực hành kỹ năng.
Thứ sáu, Trung ương Đoàn, Trung ương Hội sinh viên Việt Nam cần
chỉ đạo thành lập Trung tâm hỗ trợ sinh viên, Trung tâm đào tạo kỹ năng
cho sinh viên trong tất cả các trường Đại học, đồng thời có sự giám sát
một cách sát sao, thường xuyên nhằm đảm bảo chất lượng hoạt động của
các trung tâm này.
Thứ bảy, biên soạn bộ tài liệu chuẩn những nội dung cơ bản về kỹ năng
thể hiện sự cảm thông cho sinh viên.
36