A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Là người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xây
dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản thành một Đảng Cộng sản chân chính, Bộ
tham mưu sáng suốt và kiên cường của giai cấp công nhân và dân tộc Việt
Nam, để lãnh đạo nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng
dân tộc thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong
những di sản tư tưởng mà Người để lại, những luận điểm của Người về Đảng
cộng sản, về xây dựng Đảng đặc biệt trong điều kiện Đảng cầm quyền, là một
phần cực kỳ quan trọng. Quán triệt và vận dụng tư tưởng của Người nhằm
chỉnh đốn và đổi mới Đảng, làm cho Đảng thật sự trong sạch vững mạnh,
xứng đáng là lực lượng chính trị lãnh đạo toàn xã hội, là một trong những
nhiệm vụ chủ yếu nhất của toàn Đảng, toàn dân ta. Đây thật sự là vấn đề then
chốt đảm bảo thắng lợi cho công cuộc đổi mới đang được triển khai rộng khắp
trên cả nước ta hiện nay.
2. Mục đích của đề tài
Đề tài nghiên cứu này nhằm mục đích là: Góp phần làm rõ cơ sở lý
luận và thực tiễn, sự hình thành, quá trình phát triển, hoàn thiện đường lối,
chính sách và sự lãnh đạo của Đảng để rút ra những bài học về việc nâng cao
sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng.
3. Kết cấu của đề tài
Nội dung tiểu luận gồm 4 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về Đảng cầm quyền
Chương 2: Vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền
Chương 3: Một số vấn đề cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây
dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện Đảng cầm quyền
Chương 4: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền trong
sự nghiệp cách mạng hiện nay.
Và phần Tài liệu tham khảo
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN CẦM QUYỀN
1. Chủ nghĩa Mác - Lênin về Đảng Cộng sản cầm quyền
Từ thế kỷ XIX, Mác và Ăngghen đã nghiên cứu sâu sắc sự phát triển
của chủ nghĩa Tư bản Tây Âu, nơi có sự phân hoá xã hội đạt đến cực điểm,
với mâu thuẫn cơ bản ngày càng phát triển gay gắt là mâu thuẫn giữa vô sản
với tư sản. Các ông dành sự quan tâm đặc biệt vào vấn đề thành lập Đảng
Cộng sản ở các nước tư bản phát triển, nơi mà vấn đề dân tộc đã được giải
quyết nhờ các cuộc cách mạng tư sản trước đó, nhằm tiến hành cách mạng vô
sản, thiết lập chuyên chính vô sản.
Học thuyết Mác khẳng định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Giai cấp công nhân chỉ có thể trở thành một giai cấp “cho mình”, thực hiện
vai trò lãnh đạo của cách mạng vô sản khi tổ chức được một chính Đảng cách
mạng của riêng mình và cũng chỉ khi đó phong trào công nhân mới trở thành
một phong trào tự giác. Theo Mác, chừng nào mà giai cấp công nhân chưa
thành lập được một chính Đảng của mình đối lập với các chính đảng hiện của
giai cấp tư sản, thì chừng đó giai cấp công nhân chưa thể hành động với tư
cách một giai cấp được. Sự thành lập và vai trò lãnh đạo của cách mạng của
Đảng Cộng sản là tất yếu nhằm mục tiêu “tổ chức những người vô sản thành
giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản dành lấy chính
quyền”. Đảng Cộng sản được thành lập phản ánh cuộc đấu tranh của giai cấp
công nhân đến thời kỳ tự giác. Theo học thuyết Mác Lênin, Đảng Cộng sản là
Đảng của giai cấp vô sản, là đội tiên phong có tổ chức cao nhất, Bộ tham mưu
của giai cấp vô sản, lãnh đạo của đấu tranh giai cấp, lật đổ sự thống trị của
giai cấp tư sản, thiết lập chuyên chính vô sản.
Giai cấp vô sản tồn tại trong từng quốc gia dân tộc. Trước khi hoàn
thành sứ mệnh lịch sử thế giới, giai cấp vô sản phải hoàn thành sứ mệnh với
dân tộc mình. Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác - Ăngghen nêu rõ:
“Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội
dung không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình
thức đấu tranh dân tộc”. Vì thế, “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải dành
lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở
thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản
hiểu”. Điều đó có nghĩa là việc thành lập Đảng Cộng sản phải được thực hiện
trong phạm vi từng quốc gia dân tộc chứ không phải trong từng khu vực của
thế giới. Các quốc gia dân tộc, nhất là những quốc gia láng giềng có quan hệ
với nhau về nhiều mặt, nhưng mỗi quốc gia đó có những đặc điểm riêng về
truyền thống lịch sử, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, phong tục tập quán,
tâm lý dân tộc….cần phải thành lập ở mỗi quốc gia một Đảng riêng để đề ra
đường lối chính trị phù hợp với hoàn cảnh của từng nước.
Để lãnh đạo cách mạng, giai cấp công nhân phải có lý luận tiền phong,
“Chỉ đảng nào có một lý luận tiền phong hướng dẫn thì Đảng đó mới làm tròn
vai trò chiến sĩ tiên phong . Nhưng theo Lênin trong tác phẩm Làm gì, tự bản
thân giai cấp công nhân không thể có ý thức xã hội dân chủ được, mà nhiều
lắm mới chỉ có được ý thức công liên chủ nghĩa mà thôi. Ý thức xã hội chủ
nghĩa chỉ có thể là từ bên ngoài đưa vào. Lúc đầu phong trào công nhân và ý
thức xã hội chủ nghĩa tồn tại độc lập với nhau vì chúng có nguồn gốc phát
sinh khác nhau. Giai cấp công nhân là sản phẩm của chế độ kinh tế – xã hội tư
bản chủ nghĩa, còn chủ nghĩa xã hội khoa học lại là sản phẩm của sự nghiên
cứu và phát minh khoa học. Nếu phong trào công nhân không tiếp thu chủ
nghĩa Mác - Lênin thì nó mãi dừng ở trình độ tự phát không thể trở thành một
phong trào tự giác được, ngược lại nếu chủ nghĩa Mác – Lênin không thâm
nhập vào phong trào công nhân thì nó sẽ mãi dừng ở lĩnh vực lý luận, mà
không thể trở thành lĩnh vực hành động thực tiễn. Vì thế, hai yếu tố này cần
có sự kết hợp với nhau, trong đó giai cấp công nhân là vũ khí vật chất của chủ
nghĩa Mác - Lênin, còn chủ nghĩa Mác - Lênin là vũ khí tinh thần của phong
trào công nhân”.
Sự kết hợp của chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân là quy
luật chung cho sự ra đời của các Đảng Cộng sản trên thế giới. Nhưng sự kết
hợp đó không theo một khuôn mẫu giáo điều, cứng nhắc mà nó có nét đặc thù
do sự chi phối của những điều kiện lịch sử cụ thể, được thực hiện bằng con
đường riêng biệt. Lênin chỉ rõ: Trong tất cả các nước, chỉ có sự kết hợp chủ
nghĩa xã hội với phong trào công nhân mới xây dựng được một cơ sở vững
chắc cho cả hai. Nhưng trong mỗi nước, sự kết hợp ấy lại là một sản phẩm
của lịch sử, lại được thực hiện bằng con đường đặc biệt, tuỳ theo điều kiện
không gian và thời gian.
2. Đặc điểm của Đảng Cộng sản cầm quyền
2.1. Nhiệm vụ chính trị của Đảng đã thay đổi căn bản
Từ khi chưa có chính quyền đến có chính quyền là một bước ngoặt căn
bản của cách mạng. Và một bước phát triển mới về chất trong sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân. Khi chưa có chính quyền, nhiệm vụ là lật đổ chế độ
cũ, đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp bóc lột, Đảng lãnh đạo nhân dân
giành chính quyền. Hiện nay khi đã giành được chính quyền, nhiệm vụ chủ
yếu của Đảng là lãnh đạo nhân dân xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ
thành quả đất nước đã giành được, như theo cách nói của Lênin: Khi đã có
chính quyền thì chủ nghĩa xã hội khoa học từ lĩnh vực lý luận đã chuyển sang
lĩnh vực thực tiễn, nhiệm vụ quản lý đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu và trung
tâm.
Đảng cầm quyền có nghĩa là Đảng chịu trách nhiệm trước lịch sử về
vận mệnh lịch sử toàn diện của xã hội, về sự phồn vinh của đất nước, về tự
do, ấm np hạnh phúc của nhân dân. Nếu trước đây khi chưa có chính quyền
nhiệm vụ hàng đầu là nhiệm vụ quân sự, thì hiện nay khi đã giành được chính
quyền thì nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng và phát triển kinh tế.
2.2. Có nhà nước xã hội chủ nghĩa
Giành được chính quyền là một thắng lợi có ý nghĩa quyết định trong
sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là
công cụ chủ yếu để thông qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối
với toàn xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng thể hiện tập trung ở nhà nước và được
thực hiện chủ yếu thông qua nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà
nước của dân, do dân và vì dân, là tổ chức tập trung nhất ý chí, nguyện vọng
của nhân dân. Trong hệ thống chính trị của chủ nghĩa xã hội, Nhà nước giữ vị
trí trung tâm và có vai trò cực kỳ quan trọng. Sự lãnh đạo của Đảng thông qua
Nhà nước chính là để thực hiện mục đích ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
ngoài ra Đảng không có mục đích tự thân nào khác. Tuy nhiên cần phân biệt
rõ chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ giữa sự lãnh đạo của Đảng với sự quản
lý của Nhà nước để tránh tình trạng bao biện làm thay hoặc hạ thấp vai trò
lãnh đạo của Đảng.
2.3. Có chính quyền, phương thức lãnh đạo của Đảng cũng thay đổi
Có Chính quyền nhiệm vụ trung tâm của Đảng là lãnh đạo công cuộc
xây dựng đất nước của nhân dân ta, trước hết là lĩnh vực kinh tế. Lúc này
cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục nhưng bằng những hình thức phương
pháp khác. Lênin đã chỉ rõ “khi tình hình đã thay đổi và chúng ta phải giải
quyết những nhiệm vụ thuộc loại khác, thì không nên nhìn lại đằng sau và sử
dụng những phương pháp của ngày hôm qua”.
Khi đã có chính quyền, những biện pháp trước đây không còn phù hợp
nữa thì loại bỏ những phương pháp cũ, nhưng còn có tác dụng thì phải đổi
mới, cải tiến để sử dụng, đặc biệt là phải sáng tạo ra những phương pháp thích
hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước.
2.4. Các căn bệnh quan liêu tự mãn, chủ quan, duy ý chí, dễ có điều
kiện phát triển
Đảng sinh ra và lớn lên từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế
tiêu nông lạc hậu, đội ngũ Đảng viên phần lớn xuất thân từ giai cấp nông dân.
Những tàn dư tư tưởng và thói quen cũ, lạc hậu không dễ gì bỏ ngay được, do
đó những căn bệnh như: chủ quan, duy ý chí có điều kiện tiêm nhiễm và phát
triển trong Đảng, nhất là khi Đảng trở thành Đảng duy nhất cầm quyền. Đảng
rất quan liêu duy ý chí, dẫn đến sai lầm về đường lối. Hậu quả của nó không
chỉ làm suy yếu bản thân Đảng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến vai trò, chức
năng, sức mạnh của Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị.
Từ rất sớm, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh
rất quan tâm đến vấn đề rèn luyện Đảng, đặc biệt cảnh báo nguy cơ của bệnh
quan liêu, tự mãn. Vì vậy, quán triệ quan điểm của các nhà kinh điển và tư
tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp thiết thực
đấu tranh với bệnh quan liêu và đạt được một số kết quả nhất định. Tuy
nhiên, vẫn có một số nơi nem nhẹ vấn đề này, chưa thực sự nghiêm túc cho
nên bệnh quan liêu, tự mãn có chiều hướng phát triển nhanh, đã và đang là
nguy cơ thách thức lớn. Cuộc đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ này
cùng với tệ nạn tham nhũng có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta và chế độ xã
hội chủ nghĩa hiện nay.
2.5. Cơ cấu thành phần, trình độ, nhu cầu của đội ngũ Đảng viên
của Đảng ta đa dạng hơn và cao hơn trước.
Hiện nay đội ngũ Đảng viên có thành phần xuất thân, độ tuổi, dân tộc,
trình độ văn hoá, nguồn trưởng thành, giới rất đa dạng. Nhìn chung trình độ
các mặt của đội ngũ Đảng viên cao hơn trước rất nhiều, đặc biệt khả năng tình
độ nắm bắt thông tin, cập nhật kiến thứ mới. Đây là một thuận lợi rất lớn để
Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo toàn diện các mặt của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, trong cơ cấu đội ngũ Đảng viên đang còn tồn tại những bất
hợp lý như số Đảng viên tuổi cao rất nhiều, sự phân bố Đảng viên không đồng
đều giữa các vùng miền… cơ cấu trên đã đặt ra cho Đảng rất nhiều vấn đề cần
giải quyết, nhất là về công tác tổ chức giáo dục, quản lý đội ngũ đảng viên.
3. Vai trò của Đảng Cộng sản cầm quyền
Trong lãnh đạo, giai cấp nào cầm quyền cũng tổ chức ra hệ thống chính
trị để thông qua đó thực hiện mục tiêu chính trị của giai cấp mình. Hệ thống
chính trị của chủ nghĩa xã hội là hệ thống công cụ mới do giai cấp công nhân
cầm quyền, thông qua đội tiền phong chính trị là Đảng Cộng sản. Trong hệ
thống chính trị xã hội chủ nghĩa thì Đảng Cộng sản là người lãnh đạo, đồng
thời là một hệ thống của hệ thống đó. Vị trí đó đòi hỏi khách quan vì sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân quy định, chứ không phải do ý chí chủ quan
của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam là lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân
Việt Nam, lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhằm thực hiện
mụ tiêu chính trị của giai cấp. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, do bản
chất giai cấp của nó, tất yếu phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Hiện nay,
khẳng định vị trí vai trò lãnh đạo của Đảng trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã
hội là đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp cách mạng nước ta trong thời kỳ mới.
Vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam từ trước đến
nay và từ nay về sau là một tất yếu lịch sử. Đảng ta ra đời là kết quả của sự
kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước, đã thể hiện cả tính tất yếu chính trị ngay từ khi ra đời. Trải qua hơn 70
năm lãnh đạo đất nước, Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng về cơ
bản phản ánh được ý chí nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân, nhân
dân lao động của cả dân tộc, đã không ngừng đưa cách mạng Việt Nam đi lên
theo phương hướng gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân
ta tự nguyện thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng ra, rõ ràng không phải là do sự
áp đặt mà xét đến cùng là do tính tất yếu khách quan của cách mạng nước ta.
Vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam trong thời
kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là vấn đề quy luật và có tính nguyên tắc.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh thì vấn đề này
càng trở nên cấp thiết.
4. Chức năng, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng
sản cầm quyền