1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm tai giữa cấp (VTGC) là tình trạng viêm nhiễm cấp tính ở niêm mạc
hòm nhĩ hay niêm mạc tai giữa. Bệnh cảnh của VTGC thay đổi tùy theo tuổi tác
của bệnh nhân, tùy theo vi trùng gây bệnh, tùy theo cơ địa... thời gian kéo dài
dưới 3 tháng. Tình trạng viêm nhiễm này có thể lan đến xương chũm, các tế
bào quanh mê đạo và đỉnh xương đá [6].
Đây là bệnh rất thường gặp trong cộng đồng, đặc biệt ở trẻ em dưới 5 tuổi [2],
[22]. Bệnh hay gặp ở trẻ em nhiều hơn là người lớn, nguyên nhân là do: giải phẫu và
sinh lý tai trẻ em khác với người lớn (vòi nhĩ nối giữa tai và mũi họng ngắn hơn, nằm
ngang và tư thế trẻ hay nằm hơn so với người lớn nên viêm nhiễm vùng mũi họng dễ
lan lên tai). Hơn nữa, trẻ em sức đề kháng yếu nên dễ bị viêm mũi họng, nhất là viêm
V.A hoặc hay bị nôn trớ, dịch dạ dày, thức ăn dễ trào vào vòi nhĩ. Từ đó, tạo điều kiện
thuận lợi cho VTG. Ngoài ra, niêm mạc đường hô hấp trên của trẻ em bao gồm niêm
mạc tai giữa rất nhạy cảm, dễ phản ứng, nên thường tăng tiết dịch, dễ phù nề cũng
góp phần trong cơ chế bệnh sinh [11].
VTGC thường gặp sau nhiễm khuẩn đường hô hấp trên ở trẻ em [20], [27].
Bệnh có thể không có triệu chứng đặc hiệu, hay tái phát nên nó đòi hỏi sự khám chữa
bệnh tỉ mỉ của bác sĩ [21], [26].
Nếu phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh khỏi và không để lại biến chứng [2], [3],
[4]. Nếu không được điều trị bệnh sẽ chuyển sang giai đoạn mạn tính dẫn đến biến
chứng như: thủng nhĩ, tiêu hủy chuỗi xương con, xơ dính hòm nhĩ, xẹp nhĩ, túi co
lõm, nghe kém, điếc… làm ảnh hưởng đến khả năng học tập, giao tiếp và chất lượng
cuộc sống của trẻ. Những trường hợp nặng có thể dẫn đến tử vong [9].
VTGC vẫn là vấn đề sức khỏe lớn trên toàn thế giới với 80% trẻ em mắc
1 lần trước khi 3 tuổi [27], [28]. Tại 5 nước Đông Âu, năm 2013, tỉ lệ chung của
2
bệnh VTGC được bác sĩ chẩn đoán từ 6/2011 đến 1/2013 là 160,7/1000 trẻ
dưới 6 tuổi [29].
Tại Việt Nam, có khoảng 5% dân số bị VTG các loại [9]. Trong nghiên cứu
tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương, tác giả Nguyễn Thành Chung [7] đã
chỉ ra rằng VTG ở trẻ em nhiều hơn người lớn (trẻ em: 54,21%, người lớn:
45,79%). Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Hoàng Sơn [10] năm 2004,
tần suất VTGC là 1,3- 1,4% ở trẻ 0 - 16 tuổi và cao ở lứa tuổi dưới 6 tuổi. Theo
sự hiểu biết của chúng tôi cho đến nay ở Hải Phòng chưa có đề tài nghiên cứu
nào về VTGC ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm lâm sàng và kết
quả nội soi ở bệnh nhân viêm tai giữa cấp dưới 5 tuổi tại khoa Tai Mũi Họng - Bệnh
viện Trẻ em Hải Phòng năm 2016” nhằm hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân viêm tai giữa cấp dưới 5 tuổi tại
khoa Tai Mũi Họng - Bệnh viện trẻ em Hải Phòng từ 01/01/2016 đến
31/12/2016.
2. Mô tả kết quả nội soi tai mũi họng ở các bệnh nhân trên.
Hy họng với kết quả thu được sẽ góp phần vào việc chẩn đoán và điều trị bệnh
VTGC - một bệnh thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Chương 1
TỔNG QUAN
3
1.1. SƠ LƯỢC VỀ GIẢI PHẪU VÀ CHỨC NĂNG TAI
1.1.1. Giải phẫu tai
Tai chia ra làm 3 phần [5]: Tai ngoài -Tai giữa - Tai trong.
- Tai ngoài: gồm vành tai và ống tai.
- Tai giữa: gồm hòm nhĩ, vòi nhĩ và các xoang chũm. Nó là một phần của đường hô
hấp trên, thông thương với vòm họng và hốc mũi (hình 1.1). Niêm mạc phủ hòm tai
liên tiếp với niêm mạc họng, mũi vì vậy bệnh lý của tai, mũi, họng liên quan mật thiết
với nhau.
Hình 1.1: Sơ đồ mũi – họng – vòi nhĩ – hòm nhĩ – hệ thống tế bào chũm
(Bluestone, Pediatric Otolarynlogogy 1995)
Hòm nhĩ: giống như 1 hình trống dẹp, được chia thành 2 tầng: tầng thượng nhĩ
và tầng trung nhĩ (chứa không khí thông trực tiếp với vòi nhĩ). Hòm nhĩ có 6
thành:
4
•
Thành ngoài: phía trên là tầng
thượng nhĩ, phía dưới là màng
•
nhĩ hình bầu dục.
Thành trong: có đoạn nằm ngang của ống Fallope,
phần trên là thành trong của thượng nhĩ có gờ ống
bán khuyên ngoài, nằm ngay trên ống Fallope. Ở một
số trường hợp, dây thần kinh VII không có ống
xương che phủ do đó viêm tai giữa dễ dẫn đến liệt
mặt, phần dưới là thành trong của hòm nhĩ. Ở mặt
này có 2 cửa sổ: cửa sổ bầu dục ở phía sau và trên,
•
cửa sổ tròn ở phía sau và dưới.
Thành sau: phần trên của thành sau là ống thông
hang, nối liền hang chũm với hòm nhĩ, phía dưới của
thành sau là tường dây VII ngăn cách hòm nhĩ và
•
xương chũm.
Thành trước: nối thông với vòi nhĩ (Eustachi). Ở trẻ
em, lỗ vòi luôn mở thông với vòm mũi họng. Với đặc
điểm của vòi nhĩ nằm ngang, khá rộng và thẳng nên
viêm nhiễm vùng mũi họng dễ xâm nhập vào tai
•
giữa.
Thành trên: hay còn gọi là trần nhĩ, ngăn cách hòm
nhĩ với hố não giữa. Ở trẻ em, đường khớp đá trai bị
hở nên VTG dễ bị viêm màng não.
• Thành dưới: vịnh tĩnh mạch cảnh.
Vòi nhĩ (Eustachi): là một ống nhỏ nối thông hòm nhĩ với thành bên vòm mũi
họng, bình thường vòi khép lại, chỉ mở khi ta nuốt. Xung quanh lỗ vòi có tổ
chức lympho, còn gọi là amidan vòi.
Xương chũm: là một xương nhỏ ở phía dưới bên của hệ xương thái dương, phía sau
ống tai ngoài. Trong xương chũm có rất nhiều các hốc nhỏ gọi là xoang chũm. Xoang
5
chũm lớn nhất gọi là sào bào hay hang chũm, sào bào thông với hòm nhĩ bởi 1 ống
gọi là sào đạo hay ống thông hang. Tùy theo kích thước và số lượng các xoang chũm,
người ta chia xương chũm thành 3 loại: đặc ngà, xốp bào và thông bào.
- Tai trong: nằm trong xương đá, đi từ hòm nhĩ đến lỗ tai trong. Gồm 2 phần:
mê nhĩ xương bọc bên ngoài, mê nhĩ màng ở trong.
Mê nhĩ xương: gồm tiền đình và ốc tai.
Mê nhĩ màng: gồm ốc tai màng, hai túi cầu nang, soan nang,
ống nội dịch và 3 ống bán khuyên màng.
1.1.2. Chức năng tai
Tai có 2 chức năng nghe và thăng bằng [5].
- Chức năng nghe:
•
Tai ngoài: vành tai thu và định hướng sóng âm, ống tai truyền
•
sóng âm tới màng nhĩ.
Tai giữa: dẫn truyền và khuếch đại cường độ âm thanh (vòi nhĩ,
-
màng nhĩ, chuỗi xương con).
Chức năng thăng bằng:
• Thăng bằng vận động: do các ống bán khuyên, khi thay đổi
tư thế đầu làm nội dịch nằm trong ống bán khuyên di chuyển
gây kích thích tế bào thần kinh ở mào bán khuyên tạo nên
•
luồng thần kinh.
Thăng bằng tĩnh tại: tùy theo tư thế bất động (nằm hoặc
ngồi…), các hạt thạch nhĩ đè lên tế bào thần kinh ở bãi thạch
nhĩ tạo lên luồng thần kinh đưa thần kinh tiền đình đưa đến
các trung tâm ở não tạo nên các phản xạ điều chỉnh thăng
1.2.
bằng của cơ thể.
ĐỊNH NGHĨA VỀ BỆNH VIÊM TAI GIỮA CẤP
VTGC là tình trạng viêm nhiễm cấp tính ở niêm mạc hòm nhĩ hay niêm
mạc tai giữa. Bệnh cảnh của VTGC thay đổi tùy theo tuổi tác của bệnh nhân,
tùy theo vi trùng gây bệnh, tùy theo cơ địa... thời gian kéo dài dưới 3 tháng. Tình
6
trạng viêm nhiễm này có thể lan đến xương chũm, các tế bào quanh mê đạo và
đỉnh xương đá [6].
NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH VIÊM TAI GIỮA CẤP
- Nhiễm khuẩn:
+ Vi khuẩn: thường gặp nhất là Streptococcus pneumoniae, Heamophilus
1.3.
influenzae, Moraxella catarrhalis [15], [19], [28]. Trong đó: Streptococcus
pneumoniae (30 -35%), Heamophilus influenzae (20- 25%), Moraxella
catarrhalis (10 -15%), Streptococcus pyogenes…[12].
+ Virus: cúm, sởi…
(Các loại nhiễm trùng thường ở khu vực mũi họng từ đó lên tai thường theo
đường vòi nhĩ).
-
Chấn thương gây rách, thủng màng nhĩ: như ngoáy tai
bằng các vật cứng, chấn thương do sức ép bom mìn…[2].
Đối với người lớn, nguyên nhân gây VTGC đa dạng hơn, ngoài các nguyên
nhân trên, có thể còn do: polyp mũi, u xơ mũi sau, ung thư vòm thể bên… thay
đổi áp lực quá nhanh (thợ lặn, đi máy bay…), nhét bấc mũi sau quá lâu cũng gây
VTGC [2].
Còn ở trẻ em hay gặp nguyên nhân do nhiễm khuẩn hay gặp hơn vì
thường sau chấn thương màng nhĩ, trẻ được phát hiện và đưa đến khám ngay.
1.4 . ĐẶC ĐIỂM TỔN THƯƠNG
Bệnh tích chính là viêm niêm mạc hòm nhĩ [5]: niêm mạc trở nên dày đỏ,
chứa nhiều bạch cầu và tiết ra dịch rỉ viêm. Đồng thời niêm mạc của vòi
Eustachi cũng bị viêm và nề làm cho sự thông thương của loa vòi bị hạn chế.
Niêm mạc của sào bào và các tế bào chũm cũng tham gia vào quá trình viêm.
Trong sào bào cũng có thể có mủ nhưng tổn thương chỉ ở niêm mạc.
Tính chất mủ cũng thay đổi theo giai đoạn của bệnh. Lúc đầu, dịch trong
do hiện tượng thoát dịch, sau đó thoát bào thành mủ, mủ ứ trong hòm tai gây
tăng áp lực sẽ đưa tới rách thủng màng nhĩ [2].
7
1.5. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
Chia làm 3 giai đoạn theo diễn biến của bệnh [2].
1.5.1. Giai đoạn xung huyết màng nhĩ
Còn gọi là giai đoạn khởi phát. Diễn biến tr ong 1 -2 ngày đầu. Trên
một trẻ đang có viêm mũi họng cấp với các biểu hiện: sốt, ho, s ụt s ịt
mũi, nuốt đau, đột nhiên có các biểu hiện:
- Toàn thân: sốt cao, mệt mỏi, quấy khóc biểu hiện nhiễm trùng rõ.
- Cơ năng: đau tai tùy từng trường hợp.
•
•
Trẻ nhỏ: lắc đầu, dứt tai.
Trẻ lớn: kêu đau sâu trong tai.
Trên thực tế hiện nay, tình trạng thuốc kháng sinh bị lạm dụng khá
nhiều nên các triệu chứng bớt điển hình, ít gặp hơn trước. Đau tai
thường ở mức độ vừa phải. Thậm chí trẻ chỉ quấy khóc, sốt nhẹ, gia
đình không để ý. Trẻ được đưa đến khám thường ở giai đoạn sau.
- Khám thực thể: màng nhĩ đỏ xung huyết, ban đầu đỏ ở phần màng
chùng và cán búa, muộn hơn đỏ toàn bộ màng nhĩ.
1.5.2. Giai đoạn ứ mủ
Diễn biến từ ngày thứ 2 đến ngày th ứ 4.
- Toàn thân: Thể trạng nhiễm trùng rõ, trẻ bị sốt cao, mệt mỏi, thậm chí
có co giật, tinh thần vật vã kích thích hoặc mệt lả, rối loạn tiêu hóa,
buồn nôn…. (do kích thích màng não).
- Cơ năng:
•
Đau tai: là dấu hiệu nổi bật, đau dữ dội, ngày một tăng, đau sâu
trong tai theo nhịp mạch đập. Trẻ nhỏ biểu hiện: th ường xuyên
8
nằm nghiêng sang bên lành, khóc thét khi ấn vào n ắp tai. Thường
•
•
•
xuyên đưa tay sờ tai hoặc dứt tai…
Nghe kém: là dấu hiệu quan trọng, nghe kém âm trầm, thường
kèm ù tai. Triệu chứng này thường ít khai thác được ở trẻ nhỏ.
- Khám thực thể:
Ấn vào nắp tai bệnh nhân đau chói.
Soi tai: ở giai đoạn này hình thái của mãng nhĩ khá đa dạng có th ể
thấy:
+ Màng nhĩ màu trắng đục hoặc nửa dưới trắng, n ửa trên đ ỏ.
+ Hoặc màng nhĩ sưng nề mất hình dạng bình th ường hoàn toàn
tạo hình ảnh như mặt kính đồng hồ.
+ Hoặc một phần màng nhĩ bị lồi ra như hình ảnh vú bò, do áp l ực
mủ ở hòm nhĩ đẩy lồi cục bộ một phần màng nhĩ bị tổn th ương.
1.5.3. Giai đoạn vỡ mủ
Giai đoạn này có thể tự vỡ hoặc do thầy thuốc trích rạch, diễn biến
từ ngày thứ 3 thứ 4 trở đi.
Các triệu chứng toàn thân và cơ năng đột ngột giảm :
- Toàn thân: giảm hoặc hết sốt, ăn được, ngủ được, giảm rối loạn tiêu
hóa, trẻ có thể chơi ngoan như bình thường.
- Cơ năng: trẻ đỡ đau tai hẳn, nghe khá lên.
- Khám thực thể: mủ đặc chảy ra ống tai ngoài, khi lau hết m ủ sẽ thấy lỗ
thủng ở màng nhĩ. Tùy trường hợp mà lỗ thủng có vị trí và kích th ước
khác nhau.
•
Trường hợp nhẹ: lỗ thủng thường nhỏ, lỗ thủng do trích rạch thì
•
rộng hơn và thường ở vị trí 1/4 sau dưới.
Trường hợp nặng: lỗ thủng thường ở trên cao hoặc thủng rộng
gần hết màng nhĩ. Nhìn qua lỗ thủng có thể thấy mủ đập theo
9
nhịp mạch, mủ thường có mùi thối như trường hợp có
Cholesteatoma.
Ở trẻ nhỏ đa phần là các trường hợp VTGC chảy mủ lành tính, ít g ặp
Cholesteatoma nên lỗ thủng thường thường nhỏ và ở vùng trung tâm.
Ngoài ra, trẻ thường có các triệu chứng khác của mũi, h ọng, amidan
kèm theo:
- Mũi:
+ Cơ năng: ngạt mũi, chảy nước mũi nhầy trong hoặc đục/ vàng/
xanh.
+ Khám thực thể: niêm mạc mũi nề đỏ, có dịch nhầy trong hoặc
dịch đục/ vàng/ xanh.
- Họng, amidan:
+ Cơ năng: đau rát họng, nôn, nuốt đau.
+ Thực thể: niêm mạc họng, amidan xung huyết hoặc có ch ấm m ủ.
1.6. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
VTGC nếu được điều trị sớm, kịp thời có thể khỏi sau 2 tuần, màng
nhĩ liền tốt không để lại di chứng [2].
Ngược lại, bệnh dễ chuyển sang VTG mạn tính hoặc có những biến
chứng nguy hiểm như :
- Liệt mặt: do tổn thương dây thần kinh VII, thường ở đoạn 2, đôi khi
ống Fallope ở đoạn này chỉ có một màng xương mỏng.
- Viêm màng não: do hệ mạch trong thùng tai trẻ em rất phong phú, liên
quan hệ mạch màng não qua khớp trai đá.
- Các biến chứng khác: viêm xương chũm cấp, viêm xương đá, áp xe não…
ít gặp ở trẻ em hơn so với người lớn.
Các biến chứng này tuy ít gặp nhưng thường rất n ặng và có th ể gây
tử vong ở trẻ.
10
1.7. CHẨN ĐOÁN
Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh VTGC ở trẻ em của Bộ Y tế
năm 2015 [2], [6].
1.7.1. Chẩn đoán xác định
1.7.1.1.Tuyến cơ sở
Khi không có đủ trang thiết bị khám chuyên khoa, các bác sỹ c ơ s ở
có thể dựa vào các yếu tố sau:
- Trẻ đang có viêm mũi họng hoặc V.A cấp.
- Có biểu hiện sốt, quấy khóc, lắc đầu, qu ờ tai hoặc r ối
loạn tiêu hóa.
- Để chậm vài ngày thấy mủ chảy ra ở tai.
1.7.1.2. Tuyến chuyên khoa
- Trẻ đang có viêm mũi họng hoặc V.A cấp.
- Trẻ có biểu hiện sốt, đau tai hoặc chảy mủ tai.
- Khám tai: có hình ảnh tổn thương màng nhĩ ở từng giai đoạn.
1.7.2. Chẩn đoán phân biệt
- Nhọt ống tai ngoài, viêm tấy ống tai ngoài:
• Cầm vành tai kéo lên bệnh nhân đau chói.
• Khám thấy ống tai có nhọt, màng nhĩ bình th ường. (VTGC: ấn n ắp
•
•
•
tai và ấn xương chũm đau).
- Viêm xương chũm mạn tính hồi viêm:
Có tiền sử chảy tai, nghe kém từ trước.
Mủ đặc, thối khẳn…
Cần phối hợp chụp phim Xquang xương chũm.
- Zona tai: Zona cũng gây ra đau tai, chảy tai và đi ếc nh ưng trong zona
thấy có mụn nước ở nắp tai, vành tai , ống tai ngoài và ở màng nhĩ kèm
theo giảm cảm giác đau rát ở vùng nói trên (vùng Ramsay-Hunt).
1.8. PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI TAI MŨI HỌNG
1.8.1. Lịch sử ra đời của khám nội soi tai mũi họng
Khám nội soi tai mũi họng ra đời cùng với sự phát triển của kĩ thuật mổ nội soi
mũi xoang. Ca nội soi mũi xoang được thực hiện đầu tiên năm 1901 bởi Hirchmann
11
[2], ông đã cải tiến ống soi bàng quang để khám hốc mũi và xoang hàm qua ổ răng.
Năm 1925, tác giả Maltz [2] đã hoàn thiện kĩ thuật chẩn đoán bệnh lý của xoang hàm
bằng nội soi qua ngách mũi dưới và qua hố nanh. Tiếp theo, Messerklinger và Wigan
[2] là hai tác giả có công lớn nhất trong việc hoàn thiện thiết bị nội soi tai mũi họng.
Ở Việt Nam, nội soi tai mũi họng được truyền bá đầu tiên bởi giáo sư Bùi Minh
Đức (người Mỹ gốc Việt – là hội viên của hội Tai Mũi Họng Hoa Kỳ) từ những năm
đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ 20 [2]. Và vào năm 1992, trung tâm tai mũi họng thành
phố Hồ Chí Minh là cơ sở đầu tiên ở Việt Nam được trang bị phương tiện nội soi để
phục vụ cho phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang. Cho đến nay, thiết bị nội soi tai
mũi họng đã trở nên rất phổ biến trong chuyên ngành tai mũi họng để phục vụ cho
công tác khám chữa bệnh và phẫu thuật [2].
1.8.2. Ưu, nhược điểm của phương pháp nội soi tai mũi họng
So với khám bằng đèn clar thông thường:
-
Cho phép quan sát rõ hơn và sâu hơn: do phương pháp này đưa
nguồn phát sáng đến sát vị trí cần quan sát và ghi nhận hình ảnh
quan sát bằng camera độ phân giải cao; đặc biệt là trong khám
-
mũi xoang.
Đưa ra được hình ảnh bệnh lý rõ ràng và khách quan: phục vụ
cho công tác chẩn đoán, theo dõi điều trị [2].
Ngày nay, phương pháp nội soi tai mũi họng gần như là một xét nghiệm cận
lâm sàng đầu tay của các bác sĩ tai mũi họng.
1.9.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
VTGC vẫn là vấn đề sức khỏe lớn trên toàn thế giới với 80% trẻ em mắc
1 lần trước khi 3 tuổi [27]. Tại 5 nước Đông Âu, năm 2013, tỉ lệ chung của
bệnh VTGC được bác sĩ chẩn đoán từ 6/2011 đến 1/2013 là 160,7/1000 trẻ
dưới 6 tuổi [29].
12
Tại Việt Nam, có khoảng 5% dân số bị VTG các loại [9]. Trong nghiên cứu ở
bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương,tác giả Nguyễn Thành Chung [7] đã chỉ ra
rằng VTG ở trẻ em nhiều hơn người lớn (trẻ em: 54,1%, người lớn: 45,79%).
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Đặng Hoàng Sơn [10] năm 2004, tần suất
VTGC là 1,3 - 1,4% ở trẻ 0 - 16 tuổi và cao ở lứa tuổi dưới 6 tuổi. Nghiên cứu
của tác giả Bùi Duy Khả [8] tại Bệnh viện nhi Quảng Nam năm 2014, bệnh hay
gặp chủ yếu ở trẻ em từ 0 - 5 tuổi chiếm 84,62% trong số 39 bệnh nhi được
chẩn đoán VTGC có mủ đến khám và điều trị tại phòng khám.
Tuy nhiên theo một số nghiên cứu gần đây từ nhiều quốc giakhác nhau
công bố tỷ lệ mặc VTGC thấp hơn [16]. Theo Wang PC và cộng sự (CS) [30]
năm 2011, ước tính tỷ lệ cụ thể mắc bệnh tai giữa hàng năm là 71,7/1000 trẻ
dưới 2 tuổi và 158,8/1000 trẻ từ 3 đến 5 tuổi, 4/1000 trẻ từ 6 đến 12 tuổi.
Nghiên cứu này thể hiện sự khác biệt hoàn toàn về tỷ lệ VTG ở trẻ em tại Đài
Loan với các nước khác. Một số nghiên cứu đang tiến hành nhằm đánh giá sự
phổ biến của tỷ lệ mắc, dịch tễ học của VTG ở trẻ em và so sánh sự khác biệt
của dịch tễ học VTG với các nghiên cứu khảo sát trước đây ở Đài Loan [20].
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
13
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là 515 bệnh nhân dưới 5 tuổi được chẩn
đoán là VTGC điều trị nội trú tại khoa Tai Mũi Họng của Bệnh viện Trẻ em Hải
Phòng từ 01/01/2016 đến 31/12/2016.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
Được chẩn đoán là VTGC.
Khám nội soi có hình ảnh của VTGC.
• Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ:
• Các bệnh án không có kết quả nội soi Tai Mũi Họng.
• Các bệnh nhân có bệnh lý mãn tính khác hoặc dị tật bẩm sinh cơ thể.
• Bệnh nhân hoặc người nhà không đồng ý tham gia vào nhóm bệnh nhân
•
•
-
nghiên cứu.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Địa điểm: khoa Tai Mũi Họng - Bệnh viên Trẻ em Hải Phòng.
- Thời gian: từ 01/01/2016 đến 31/12/2016.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu một loạt ca bệnh.
2.2.3. Phương pháp chọn mẫu:
- Cỡ mẫu: 515 bệnh nhân.
- Kĩ thuật chọn mẫu: chọn tất cả các bệnh nhân VTGC.
2.2.4. Nội dung nghiên cứu:
- Đặc điểm lâm sàng của bệnhVTGC tại khoa Tai Mũi Họng - Bệnh viện Trẻ em Hải
Phòng từ 01/01/2016 đến 31/12/2016: đau tai, chảy mủ tai, sốt,…
- Kết quả nội soi tai mũi họng ở bệnh VTGC: màng nhĩ xung huyết, màng nhĩ phồng
ứ mủ, màng nhĩ thủng,…
14
2.2.5. Biến cố và chỉ số nghiên cứu: Dữ liệu về mỗi bệnh nhân được thu nhập vào
một mẫu bệnh án chung theo mục tiêu đã đề ra bao gồm:
2.2.5.1. Đặc điểm lâm sàng:
+ Số thứ tự, họ và tên bệnh nhân, ngày vào viện, mã bệnh nhân, địa chỉ, khu
vực nông thôn hay thành thị, mùa.
+ Tuổi.
+ Giới tính: nam hay nữ.
+ Đau tai.
+ Chảy mủ tai.
+ Triệu chứng của mũi: bình thường, ngạt mũi, chảy nước mũi trong, chảy nước
mũi đục/vàng/xanh.
+ Sốt: chia 4 mức độ: 37,5-38,4°C; 38,5- 38,9°C; 39- 39,9°C; ≥ 40°C.
+ Triệu chứng khác: ho, quấy khóc, khàn tiếng, rối loạn tiêu hóa, co giật.
2.2.5.2. Kết quả nội soi tai mũi họng:
+ Tai : *Màng nhĩ sáng bình thường.
* Màng nhĩ xung huyết.
* Màng nhĩ phồng ứ mủ.
* Màng nhĩ thủng.
+ Mũi : * Niêm mạc mũi bình thường.
* Niêm mạc mũi nề đỏ.
* Mũi có dịch nhầy trong.
* Mũi có dịch đục/ vàng/ xanh.
+ Họng – Amidan: * Niêm mạc họng, amidan bình thường.
15
* Niêm mạc họng, amidan xung huyết.
* Niêm mạc họng nề đỏ, amidan chấm mủ.
2.2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Các số liệu được xử lý theo phương
pháp thống kê y học dựa vào phần mềm SPSS 20.0.
2.3. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu được sự đồng ý của bộ môn Nhi - trường Đại học Y Dược Hải Phòng.
- Thông tin thu thập từ bệnh nhân được bảo mật và chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên
cứu.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA VIÊM TAI GIỮA CẤP
3.1.1. Tuổi
16
Bảng 3.1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Tuổi
Tỷ lệ
(tháng)
Số bệnh nhân
(n)
0 – 11
168
32,6
12 – 23
205
39,8
24 – 35
80
15,5
(%)
36 – 47
43
8,4
48 – 59
19
3,7
Tổng
515
100
p
TB± SD
(năm)
<0,05
2,11± 0,047
17
Nhận xét: Đa số bệnh nhân mắc VTGC vào viện điều trị ở độ tuổi dưới 3 tuổi
chiếm 87,9% (n = 453), trong đó tập trung chủ yếu nhóm 1 – 2 tuổi đạt 39,8%
(n=205). Tuổi càng lớn thì tỷ lệ mắc bệnh càng giảm. Sự khác biệt giữa các nhóm
tuổi mắc bệnh có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Tuổi trung bình mắc bệnh là: 2,11±
0,047 tuổi.
3.1.2. Giới tính
Hình 3.1: Phân bố bệnh nhân VTGC theo giới tính.
Nhận xét: Trong 515 bệnh nhân VTGC thì số bệnh nhân nam nhiều hơn nữ. Số
bệnh nhân nữ là 215 chiếm 41,7% so với 300 bệnh nhân nam chiếm 58,3%, tỷ lệ
nam/nữ là 1,39. Sự khác biệt về giới có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
3.1.3. Địa dư
Hình 3.2: Phân bố bệnh nhân VTGC theo địa dư.
Nhận xét: Trong số các bệnh nhân VTGC thì số trẻ sống ở nông thôn chiếm
59,6% (n = 307) trong khi có 40,4% (n = 208) bệnh nhân sống ở thành thị. Sự khác
biệt giữa nông thôn và thành thị có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.
3.1.4. Mùa
Hình 3.3: Phân bố bệnh nhân VTGC theo mùa.
Nhận xét: Trong năm, bệnh VTGC thường hay gặp vào mùa đông xuân (mùa
xuân có 185 bệnh nhân chiếm 35,9% và mùa đông có 133 bệnh nhân chiếm 25,8%).
18
Còn 2 mùa hè thu số bệnh nhân nhập viện ít hơn. Sự khác biệt giữa các mùa có ý
nghĩa thông kê với p< 0,05.
3.1.5. Triệu chứng sốt
Hình 3.4: Tỷ lệ bệnh nhân VTGC có sốt.
Nhận xét: Trong số các trẻ bị VTGC nhập viện thì hầu hết các trẻ đều có sốt. Số
bệnh nhân có sốt là 347 trẻ chiếm 67,4% và 168 bệnh nhân không sốt chiếm 32,6%.
Sự khác biệt giữa hai nhóm có sốt và không sốt có ý nghĩa thông kê với p< 0,05.
3.1.6. Phân độ sốt
Bảng 3.2: Phân bố bệnh VTGC theo sốt.
19
Nhiệt độ
Số bệnh nhân
Tỷ lệ trong số trẻ
có sốt (%)
74
21,3
112
32,3
143
41,2
18
5,2
347
100
Sốt nhẹ
(37,5 – 38,4°C)
Sốt vừa
(38,5 – 38,9°C)
Sốt cao
(39 – 39,9°C)
Sốt rất cao
(≥ 40°C)
Tổng
p
<0,05
Nhận xét: Trong tổng số trẻ mắc VTGC có sốt thì đa số các trẻ có sốt vừa và
cao. Nhiều nhất là sốt cao chiếm 41,2% (n = 143), sau đó tới sốt vừa chiếm 32,3%
(n = 112), tiếp đến là sốt nhẹ chiếm 21,3% (n = 74), cuối cùng là sốt rất cao từ 40°C
trở lên chiếm 5,2% (n = 18). Sự khác biệt về độ sốt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05.
3.1.7. Triệu chứng đau tai
20
Hình 3.5: Tỷ lệ đau tai trong các bệnh nhânVTGC.
Nhận xét: Trong số các trẻ bị VTGC nhập viện thì phần lớncó triệu chứng đau
tai chiếm 68,2% (n = 351), các trẻ không có triệu chứng đau tai chiếm 31,8%
(n = 164). Sự khác biệt giữa hai nhóm có đau tai và không đau tai có ý nghĩa thông kê
với p< 0,05.
3.1.8. Triệu chứng chảy mủ tai
Hình 3.6: Tỷ lệ chảy mủ tai trong các bệnh nhânVTGC.
Nhận xét: Trong số các trẻ mắc VTGC nhập viện, hầu hết các trẻ không chảy
mủ tai chiếm 92,0% (n = 474), trẻ có chảy mủ tai chỉ chiếm 8,0% (n = 41). Sự khác
biệt giữa hai nhóm có chảy mủ tai và không chảy mủ tai có ý nghĩa thông kê với
p< 0,05.
3.1.9. Triệu chứng tại mũi
Hình 3.7: Các dấu hiệu ở mũi trong bệnh VTGC.
Nhận xét: Trong số các trẻ mắcVTGC, thường kèm theo triệu chứng mũi, có
312 trẻ chảy nước mũi trong chiếm 60,6% và 61 trẻ chảy nước mũi đục/vàng/xanh
chiếm 11,8%; 21 trẻ có biểu hiện ngạt mũi chiếm 4,1%. Còn lại 121 trẻ không có
triệu chứng kèm theo về mũi chiếm 23,5%. Sự khác biệt giữa các triệu chứng của
mũi có ý nghĩa thông kê với p< 0,05.
21
3.1.10. Các triệu chứng lâm sàng khác
Bảng 3.3: Các triệu chứng lâm sàng khác ở bệnh nhân VTGC.
Bệnh nhân
Tỷ lệ
(n)
(%)
Ho
430
83,5
Quấy khóc
48
9,3
Khàn tiếng
30
5,8
Rối loạn tiêu hóa
91
17,7
Co giật
17
3,3
Biểu hiện lâm sàng
Nhận xét: Trong 515 trẻ mắc VTGC nhập viện, triệu chứng ho gặp nhiều nhất
chiếm 83,5% (n = 430), tiếp đó là triệu chứng rối loạn tiêu hóa chiếm 17,7% (n = 91).
Các dấu hiệu khác như: quấy khóc chiếm 9,3% (n = 48), khàn tiếng chiếm 5,8%
(n = 30). Triệu chứng co giật ít gặp nhất chiếm 3,3% (n = 17).
22
3.2. KẾT QUẢ NỘI SOI TAI - MŨI - HỌNG
3.2.1. Vị trí tổn thương taiqua nội soi
Hình 3.8: Vị trí tai tổn thương qua kết quả nội soi.
Nhận xét: Trong 515 trẻ mắc VTGC nhập viện, 406 trẻ có tổn thương đồng thời
hai tai chiếm hầu hết tổng số (78,8%). Còn lại là các trẻ tổn thương một tai (trái hoặc
phải) có số lượng gần tương đương nhau: 55 trẻ có tổn thương một tai bên trái chiếm
10,7% và 54 trẻ có tổn thương một tai bên phải chiếm 10,5%. Sự khác biệt giữa các
vị trí tai tốn thương có ý nghĩa thông kê với p< 0,05.
3.2.2. Kết quả nội soi tai từng bên
Bảng 3.4: Đặc điểm tổn thương tai qua kết quả nội soi.
Kết quả nội soi
Số bệnh nhân
(n)
Tỷ lệ
(%)
Tai trái
Màng nhĩ sáng
53
10,3
(n = 515)
Màng nhĩ xung huyết
90
17,5
P
<0,05
23
Tai phải
(n = 515)
Màng nhĩ phồng ứ mủ
341
66,2
Màng nhĩ thủng
31
6,0
Màng nhĩ sáng
55
10,7
Màng nhĩ xung huyết
96
18,6
Màng nhĩ phồng ứ mủ
323
62,7
Màng nhĩ thủng
41
8,0
Nhận xét: Trong số 515 trẻ bị VTGC nhập viện, hầu hết các trẻ có tổn thương
tai ở giai đoạn ứ mủ: tai trái có 341 trẻ có kết quả nội soi tai thấy màng nhĩ phồng ứ
mủ chiếm 66,2%, tai phải có 323 trẻ có kết quả nội soi tai thấy màng nhĩ phồng ứ mủ
chiếm 62,7%. Sau đó có 90 trẻ có kết quả nội soi tai trái xung huyết chiếm 17,5%, tai
phải xung huyết chiếm 18,6%. Cuối cùng là tình trạng màng nhĩ thủng chiếm tỷ lệ
thấp nhất: 31 trẻ có kết quả nội soi tai thấy màng nhĩ thủng chiếm 6%, 41 trẻ có kết
quả nội soi tai thấy màng nhĩ thủng chiếm 8%. Sự khác biệt giữa tình trạng tổn
thương từng bên tai có ý nghĩa thông kê với p< 0,05.
Hình 3.9: Hình ảnh màng nhĩ sáng
Hình 3.10: Hình ảnh màng nhĩ
bình thường.
xung huyết.
24
Hình 3.11: Hình ảnh màng nhĩ ứ mủ bị lồi ra như hình ảnh vú bò.
Hình 3.12: Hình màng nhĩ căng phồng
Hình 3.13:Hình ảnhmàng nhĩ thủng
ứ mủ như mặt đồng đồ.vỡ mủ ra ngoài.
3.2.2.Kết quả nội soi mũi ở bệnh nhân viêm tai giữa cấp
Bảng 3.5: Hình ảnh mũi qua nội soi.
Kết quả
Số bệnh nhân
Tỷ lệ
(n)
(%)
25
Niêm mạc mũi bình thường
121
23,5
Niêm mạc mũi đỏ nhẹ
21
4,1
Mũi có dịch nhầy trong
312
60,6
Mũi có dịch đục/vàng/xanh
61
11,8
515
100
Tổng
Nhận xét: Trong 515 trẻ mắc VTGC viện điều trị, 312 trẻ có dịch nhầy trong ở
mũi chiếm 60,6%, tiếp đó là 121 trẻ có niêm mạc mũi bình thường chiếm23,5% và
có 61 trẻ có dịch đục/ vàng/ xanh ở mũi chiếm 1,8%. Một số ít trẻ có kết quả nội soi
mũi đỏ nhẹ: 21 trẻ có niêm mạc mũi đỏ nhẹ chiếm 4,1%. Sự khác biệt giữa các kết
quả nội soi mũi có ý nghĩa thông kê với p< 0,05.
3.2.3. Kết quả nội soi họng – amidan ở bệnh nhân viêm tai giữa cấp
Bảng 3.6: Hình ảnh họng– amidan qua nội soi.
Kết quả
Số bệnh nhân
Tỷ lệ
(n)
(%)