B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay sản xuất rau đang là một xu hướng phát triển trong sản xuất
nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều vùng rau đang hình thành
và phát triển đặc biệt là các vùng chuyên canh rau, với số lượng và chủng loại
ngày càng phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người
tiêu dùng.
Song song với những loại rau truyền thống đã được nhiều người nông
dân sử dụng tại các vùng trồng rau, thì hiện nay đậu rau là loại cây trồng được
người trồng rau quan tâm và có xu hướng phát triển mạnh. Chúng vừa có giá
trị dinh dưỡng cao được người tiêu dùng ưa chuộng, lại vừa có giá trị kinh tế
cao được người trồng rau chú ý, đồng thời chúng còn có tác dụng cải tạo đất
được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Tuy nhiên cùng với sự chuyên canh ngày càng cao, thì trên đậu rau cũng
xuất hiện nhiều loại sâu hại nguy hiểm ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng
của đậu rau như: rệp, sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu đục quả, bọ trĩ…Trong đó
hiện nay rệp muội hại đậu rau là loại sâu hại đang được nhiều nhà khoa học
quan tâm. Theo tác giả Nguyễn Viết Tùng (1993) [18] thì rệp muội
(Aphididae), là nhóm côn trùng chích hút có tác hại to lớn và sâu xa đến năng
suất và phẩm chất của nhiều loại cây trồng qua sự gây hại trực tiếp cũng như
vai trò môi giới truyền bệnh virus của chúng. Ở vùng đồng bằng sông Hồng
nhóm sâu hại này khá phổ biến, rất hiếm có loài cây trồng nào không bị rệp
muội gây hại. Một số loài như rệp đào, rệp bông, rệp xám hại cải, rệp đen hại
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
1
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
đậu đã được ghi nhận là những sâu hại gây hại nguy hiểm cho mùa màng nước
ta.
Trong sản xuất hiện nay để phòng trừ loại côn trùng chích hút này
người nông dân chủ yếu sử dung biện pháp hoá học một cách tràn lan đã làm
ảnh hưởng lớn đến chất lượng đậu rau bởi sự ô nhiễm hoá chất gây ảnh hưởng
lớn đến sức khoẻ người tiêu dùng làm giảm giá trị của đậu rau. Để khắc phục
vấn đề này trong sản xuất thì biện pháp được nhiều nhà khoa học quan tâm là
biện pháp sinh học. Trong đó chú ý là sử dụng các loại thiên địch của chúng,
đặc biệt là các loài bắt mồi tiêu biểu là nhóm ruồi ăn rệp nhằm kìm hãm và
hạn chế sự phát triển của rệp muội đảm bảo năng suất và chất lượng đậu rau,
an toàn cho sức khoẻ người tiêu dùng và tránh ô nhiễm môi trường sinh thái.
Xuất phát từ yêu cầu đó của sản xuất thực tế chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu ruồi ăn rệp trên đậu rau vụ hè thu 2006 tại Đặng Xá – Gia
Lâm – Hà Nội”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Đề tài nhằm tìm hiểu vai trò của ruồi ăn rệp trên đậu rau và khả năng
bảo vệ khích lệ chúng nhằm hạn chế số lượng rệp hại đậu rau.
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định thành phần sâu hại và thiên địch bắt mồi sâu hại đậu rau.
- Điều tra diễn biến mật độ rệp và ruồi ăn rệp đậu rau.
- Xác định ảnh hưởng của thuốc BVTV đến ruồi ăn rệp và rệp muội hại
đậu.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
2
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sơ khoa học của đề tài
Đậu rau là cây trồng có vị trí quan trọng trong cơ cấu cây trồng của
nhiều vùng trồng rau. Việc thâm canh đậu rau đòi hỏi kỹ thuật cao và có nhiều
hiểu biết đặc biệt là hiểu biêt về sâu hại đậu rau. Hiện nay trong sản xuất đậu
rau vấn đề được nhiều người nông dân quan tâm là các loại sâu hại đậu rau và
cách phòng chống chúng như thế nào. Do việc chuyên canh rau nói chung và
đậu rau nói riêng cùng với việc lạm dụng thuốc trừ sâu trong phòng chống sâu
hại đã làm xuất hiện nhiều loại dịch hại nguy hiểm có tính chống thuốc và khó
phòng trừ. Để giải quyết vấn đề này lời khuyên của các nhà bảo vệ thực vật
(BVTV) dành cho người nông dân là cần phải sử dụng biện pháp phòng chống
sâu hại tổng hợp IPM trong đó trọng tâm là sử dụng biện pháp sinh học. Để
làm được điều này thì trước hết chúng ta cần phải lắm vững tình hình sâu hại
và các loại thiên địch của chúng mà điều này trên đậu rau vẫn còn bỏ ngỏ khá
nhiều. Do vậy việc điều tra tình hình, diễn biến mật độ sâu hại cùng kẻ thù tự
nhiên của chúng trên đậu rau là một việc làm rất quan trọng và có nhiều ý
nghĩa, đồng thời cũng cần tìm hiểu các đặc điểm sinh học, sinh thái học của
các loại thiên địch để có biện pháp tác động một các hợp lý nhất hạn chế đến
mức thấp nhất thiệt hại do sâu hại gây ra đó cũng chính là đóng góp và ý
nghĩa của đề tài này.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
3
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
2.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.2.1.1.Tình hình nghiên cứu rệp muội
Theo Gosh và CTV( 1981)[23] cho rằng rệp đen (Aphis craccivora
koch) là loài gây hại quan trọng của cây họ đậu ở quanh vùng Calcutta và đã
làm giảm sản lượng, chất lượng rau quả một cách nghiêm trọng.
Paik (1972) [31] cho rằng rệp đen (Aphis craccivora koch) lần đầu tiên
được phát hiện năm 1854 và nó được định loại với nhiều tên gọi khác nhau
như Aphis medicaquis (1857), Aphis laburui Kaltebach (1875).
Blackman và Eastop (1984) [20] cho biết rệp đen (Aphis craccivora
Koch) thuộc tộc Aphidini loài này thường gây hại trên các cây họ đậu như đậu
xanh, đậu đen, điền thanh, đậu ván và lạc…
Theo Van Emden H.F. (1972) [36] trên thế giới có 3805 loài rệp muội
được phân thành 10 họ phụ trong đó họ phụ Aphididae có 2236 loài chiếm gần
60% tồng số loài rệp. Còn theo Ghos A.k. (1976) [22] trên thế giới có hơn
4000 loài rệp muội được mô tả và chia thành 8 họ phụ trong đó vùng Đông
Nam Á có hơn 1000 loài. Đứng về phân bố địa lý thì tổng họ Aphidoidae có
số loài nhiều nhất.
D.F. WaterHouse [41] cho rằng ở Việt Nam loài rệp đen (Aphis
craccivora Koch) gây hại rất nghiêm trọng với mức “+++”. Đây là loài phân
bố khá phổ biến ở khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan, Myanma,
Malayxia, Singapo, Lào nhưng trong đó Việt Nam là chúng gây hại nặng nhất.
Theo Gozzomo (1994) [24] ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Miền Trung và Đông
Châu Á là những vùng có đầy đủ các nhóm trong tổng họ Aphidoidae. Khu
Vực Đông Nam Á trong đó ở Việt Nam đã thu được 22 loài rệp muội trên một
số cây trồng. Còn theo WaterHouse (1993) [40] cho rằng ở Việt Nam có 9 loài
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
4
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
rệp khá phổ biến chúng thường phá hại trên nhiều loại cây trồng như ngô, rau,
đậu đỗ các loại, thuốc lá, mía, bông, cam, chanh, cây dược liệu, cây cảnh.
Ở nhiệt độ 310C và ẩm độ 91,1% thời gian phát dục của rệp đen (Aphis
craccivora Koch) là:rệp non 4,4 ngày, rệp trưởng thành là 7,6 ngày, trung bình
một con rệp trưởng thành cánh ngắn có khả năng đẻ 45,7 rệp con. rệp thường
sống và phát triển mạnh trên cây đậu đen, đậu xanh, lạc, đậu hà lan (theo
Verma và CTV (1983))[37]
Helaly và CTV(1984)[25] cho rằng mật độ rệp đen (Aphis craccivora
Koch) trên đồng ruộng thường thay đổi tuỳ thuộc vào ký chủ. Trên giống đậu
đũa Fetricit thì rệp đen (Aphis craccivora Koch) gây hại có mật độ cao vào
22/8 và 4/9. Trên cây đậu đũa Azmerly mật độ rệp đen (Aphis craccivora
Koch) cao vào 17/7 và 15/8, trên đậu Faba rệp có mật độ cao vào tháng 1 và 2.
Theo Blackman và Eastop (1984)[20] rệp đen (Aphis craccivora Koch)
hại đậu xuất hiện và gây hại trên tất cả các vùng trồng đậu trên thế giới. Ngoài
ra chúng còn có mặt trên nhiều họ cây trồng khác. Chúng gây hại nặng ở vùng
nhiệt đới có khí hậu ấm áp và làm môi giới truyền khoảng 30 loại virus.
Thakur và CTV (1984)[32] đã đánh giá hiệu lực của 6 loại thuốc trừ sâu đối
với rệp đen (Aphis craccivora Koch) trên cây đậu lăng ( Lentil) đã có kết luận
các loại thuốc thí nghiệm đều có hiệu lực trừ rệp đen trong đó 2 loại thuốc
Bi58 và Dimicro có hiệu lực cao hơn so với thuốc Demeton Methyl và
Fenvalerate.
Biện pháp sử dụng giống chống chịu rệp cũng được coi như biện pháp
phòng chống rệp hữu hiệu. Ansari và CTV ( 1992)[19] nghiên cứu tính kháng
của 181 giống đậu đối với rệp đen (Aphis craccivora Koch) hại đậu tại viên
nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (IITA) với kết quả có 3 giống không
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
5
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
bị rệp tấn công đó là: giống 310, 408 – p2 và 802, 6 giống khác bị rệp đen
(Aphis craccivora Koch) tấn công ít.
Theo Defrani và CTV (1991) [21] ở Ai Cập tiến hành chương trình khảo
nghiệm trong 4 năm để xác định tính chống chịu của các giống đậu (Faba
bean) đối với rệp đen hại đậu (Aphis craccivora Koch). Kết quả chỉ ra rằng
trong 1756 giống đậu thí nghiệm có 114 giống kháng đối với rệp đen ( Aphis
craccivora Koch).
Trong các biện pháp phòng trừ loài rệp đen (Aphis craccivora Koch)
ngoài các biện pháp sử dụng thuốc hoá học, ký sinh, thiên địch. Masallo và
CTV (1982)[28] còn đưa ra biện pháp trồng cây có mùi để xua đuổi rệp đen
(Aphis craccivora Koch). Ông cho rằng trồng các hàng cúc vạn thọ cạnh bờ
ruộng thì mật độ rệp đen giảm hẳn so với các ruộng khác không trồng.
2.2.1.2. Tình hình nghiên cứu ruồi ăn rệp hoặc thiên địch của rệp muội
Ngoài tự nhiên rệp đen (Aphis craccivora Koch) bị khống chế bởi một
số kẻ thù tự nhiên như các loại bọ rùa Cheilomenes lunata( theo Ofuyo(1991))
[30]; Coelophora maequalis cả đời đực cái ăn hết 1821 – 3509 rệp đen hại đậu
(Mora (1993))[29]
Zhang (1992)[38] đã phát hiện 48 loài (thuộc 19 họ) kẻ thù tự nhiên của
rệp bông trong đó bọ rùa, ong ký sinh, ruồi ăn rệp đóng vai trò quan trọng
trong điều tiết số lượng rệp.
Zubkov và CTV (1977) [39] cho rằng các loài ăn thịt mà chủ yếu là sâu
non ruồi ăn rệp (giòi) là nguyên nhân làm giảm 20% quần thể rệp ở vùng
Amur (Mỹ). Ông cũng đánh giá sự ảnh hưởng qua lại trong hệ thống con mồi
Brevicoryne brassicae Linne và vật mồi bao gồm bọ rùa.
Trivedi (1988)[34] đã tìm thấy 4 loài thiên địch của rệp đào trong đó có
loài ruồi ăn rệp Episyrphus balteatus và 3 loài bọ rùa.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
6
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
Khi nghiên cứ quần thể rệp đào hại cà chua và ớt Kuo sell (1989)[27] đã
phát hiện loài ruồi ăn rệp Xanthograma scutellare (Eschiodol scutellaris) và
loài Syrphus confrate cũng được phát hiện ở Ấn Độ trên rệp đào hại thuốc lá.
Cũng theo D.F.WaterHouse [41] thì rệp đen (Aphis craccivora Koch) bị
rất nhiều kẻ thù tự nhiên khống chế nằm trong 5 bộ là: bộ cánh màng, bộ cánh
cứng, bộ cánh lửa, bộ cánh cộc, bộ hai cánh. Trong đó bộ cánh màng có số
lượng đông đảo nhất. Riêng đối với bộ hai cánh thì chủ yếu là các loài ruồi ăn
rệp thuộc họ Syrphidae. Ông đã thống kê số lượng ruồi ăn rệp ở hai quốc gia
là Pakistan và Nigeria. Ở Pakistan có 7 loài là: Episyrphus baltertus, Syrphus
confraten, Ischiodon scutellaris, Microdon ( paragus) bicolor, Paragus
tibialis, Paragus serratus, syrphus spp. Còn ở Nigeria có 5 loài là: Allograpta
nasuta, Ischiodon aegyptius, Paragus barbonicus, Paragus longiventris,
Paragus serratus.
Theo Zhang (1985) và Zhang Zhi Quang (1992)[38]số lượng loài côn
trùng ăn thịt rệp muội là rất lớn. Có 10 bộ côn trùng, một bộ nhện lớn ăn thịt
(Araneae) và một bộ nhện nhỏ ăn thịt (Acarina) nhưng các loài ăn thịt có tác
dụng điều hoà số lượng rệp chủ yếu nằm ở hai họ là họ bọ rùa (coccinellidae)
thuộc bộ cánh cứng (coleoptera) và họ ruồi ăn rệp ( Syrphidae) thuộc bộ hai
cánh (Diptera).
Theo Sharma và Bhalla (1998) [35] ấu trùng của loài ruồi ăn rệp
Metasyrphus confrater, Scaeva pyrastri, Macrosyphus sp., Episyrphus
balteatus, Metasyphus corollae và Ischiodon scutellaris có sức ăn mồi khá
lớn. Trong thời gian phát dục một ấu trùng của các loài này tương ứng có thể
ăn được 418,8 : 384,9 : 268,2 : 252 : 235,1 và 222,8 rệp.
Temhunberg (1995) [33] cho rằng trong thời gian phát dục của ấu trùng
ruồi ăn rệp một ấu trùng ăn tối đa được 396 rệp. Số rệp bị ăn này chỉ bằng
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
7
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
50% số rệp mà chúng có thể ăn được khi nuôi trong phòng vì ở ngoài đồng
chúng phải mất thời gian để tìm kiếm thức ăn.
Kenya, Sudoi và CTV (1997) [26] đã tiến hành nuôi với số lượng lớn ấu
trùng của loài ruồi ăn rệp xanthogramma aegyptium (Ischiodon aegyptium).
Đây là tác nhân sử dụng như biện pháp sinh học đối với rệp muội hại chè
(Toxoptera aurantii). Tỷ lệ của giòi tăng nhanh cùng với sự gia tăng của lượng
thức ăn.
Weem (1954) [42] khi nghiên cứu về vai trò của loài Syrphus ribessi
Linne đã chỉ rõ khi mật độ quần thể sâu non của ruồi ăn rệp lên cao chúng có
khả năng khống chế quần thể rệp từ 70 – 100%.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.2.1.Tình hình nghiên cứu rệp muội
Theo Lương Minh Khôi và CTV (1990)[8] đã khẳng định lạc và đậu
xanh vùng Hà Nội bị 22 loài sâu hại thường xuyên xuất hiện gây hại và gây
hại nhiều hơn cả là rệp đen (Aphis craccivora ), sâu cuốn lá (Lamprosema
indicata), sâu khoang (Spodoptera litura), sâu đục quả…, trong vụ xuân mật
độ sâu cao thường xẩy ra dịch sâu khoang, sâu cuốn lá; trong vụ hè nhóm
chích hút phát triển mạnh.
Đặng Thị Dung (2003) [4] đã ghi nhận trong vụ xuân 2003 tại Gia Lâm
– Hà Nội trên đậu rau có 41 loài sâu hại. Trong đó có 4 loài là sâu hại chính
gồm sâu cuốn lá đậu tương (Hedelepta indicata Fabr), sâu dục quả (Maruca
testularis Geyer), sâu khoang (Spodoptera litura) và ruồi đục lá (Liriomyza
sativae B.).
Theo Nguyễn Thị Kim Oanh (1996) [14] thành phần rệp muội trên cây
đậu xanh, đậu đen ở vùng Hà Nội khá phong phú bao gồm 4 loài là: rệp đen
hại đậu (Aphis craccivora), rệp Aphis fabae, rệp bông (Aphis gossypii), rệp
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
8
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
đào (Myzus persicae). Trong 4 loài rệp kể trên loài rệp đen (Aphis craccivora)
là loài gây hại quan trọng trên đậu loài này thường không xuât hiện sớm trên
đậu. Ở giai đoạn cây 1 – 2 lá kép chúng tôi thấy xuất hiện rải rác có rệp bông
nằm mặt dưới của lá và phát triển thành ổ rệp nhỏ. Ở giai đoan khi cây đậu đã
vươn ngọn và phân cành thì rệp đen phát triển với mật độ cao và nhanh. Khi
cây đậu ra hoa và mang quả thì rệp bâu kín ngon và các chùm hoa. Khi rệp có
mật độ cao làm cho cây phát triển còi cọc, hoa bị thui không hình thành quả
đồng thời bị một lớp nấm đen bao phủ, cây bị rạc nhanh chóng.
Khi nghiên cứu về thành phần sâu hại lạc và đậu xanh Lương Minh
Khôi và CTV [8] cho rằng rệp đen hại đậu (Aphis craccivora ) gây hại trên
đậu rất nặng và gây hai tương đối năng trên lạc. Rệp đen thường có mật độ
cao khi cây đậu có hoa và ảnh hưởng đáng kể đến năng suất đậu.
Theo tác giả Nguyễn Viết Tùng (1992) [17] rệp đen hai đậu ( Aphis
craccivora) thường bắt gặp nhiều trên đậu đen, đậu đũa, đậu xanh, lac, đậu
rồng, điền thanh và mùa đông chúng sống trên các chùm hoa đâu ván, cốt khí.
Khi nghiên cứu về đặc điểm hình thái của rệp đen Nguyễn Thị Kim
Oanh (1996) [14] cho biết rệp trưởng thành không cánh có kích thước trung
bình: dài 1,71 ± 0,11(mm), rộng 1,02 ± 0,05(mm) cơ thể có màu đen bóng hoặc
bóng hơi ngả nâu, mép trán thẳng, râu đầu có 7 đốt, các đốt râu gần gốc có
màu nâu tối, các đốt râu phần ngọn có màu xanh tái, phần ngọn râu các đốt
râu dài hơn nhiều so vơi các đốt gốc râu, đốt râu thứ 3 có 3 – 5 lỗ cảm giác,
ống bụng có hình lưỡi dài gấp 1,5 lần phiến môi.
Cũng theo tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh (1996) [14] khi nghiên cứu về
thời gian phát dục của rệp đen cho biết thời gian phát dục của rệp đen như sau
: ở 200C tuổi 1 là 2,2 ngày, tuổi 2 là 2,5 ngày, tuổi 3 là 1,8 ngày, tuổi 4 là 1,3
ngày, trưởng thành là 7,3 ngày, vòng đời là 8,9 ngày tuổi thọ là 15,03 ngày;
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
9
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
còn ở nhiệt độ 25 0C tuổi 1 là 2,03 ngày, tuổi 2 là 2,03 ngày, tuổi 3 là 1,83
ngày, tuổi 4 là 1,33 ngày, trưởng thành là 7,20 ngày, vòng đời là 7,20 ngày,
tuổi thọ 14,47 ngày.
2.2.2.2. Tình hình nghiên cứu ruồi ăn rệp hoặc thiên địch của rệp muội
Theo Hà Quang Hùng, Hồ Khắc Tín (1995)[5] thì thành phần thiên địch
bắt mồi trên cam quýt, đậu, rau vùng Hà Nội rất phong phú với 44 loài, trong
đó có 19 loài bọ rùa, 10 loài chân chạy, 5 loài cánh cứng, 1 loài chuồn chuồn
kim, 1 loài bộ đuôi kìm, 5 loài nhện và 3 loài ruồi ăn rệp là: Ischiodon
scutellaris F., Syrphus serarius W., Menalastoma scolare F., chủ yếu xuất hiện
trên rau.
Đặng Thị Dung (2003) [4] khi nghiên cứu về côn trùng ký sinh chính
sâu hại đậu rau đã phát hiện 14 loài côn trùng ký sinh gồm 12 loài thuộc bộ
cánh màng, hai loài bộ hai cánh. Trong đó họ Braconidae có 8 loài, họ
Ichneuminidae có 3 loài, mỗi họ khác chỉ có 1 loài. Bốn loài có mức độ phổ
biến cao là ong ký sinh kén trắng đơn Dalichogenidae hanoii, ong ký sinh kén
nâu đơn Trathla flavo – orbitalis ký sinh trên sâu cuốn lá, sâu đục quả; ngoài
ra còn ong ký sinh sâu khoang Microlitis malilae, ong ký sinh ruồi đục lá
Sympieris parnarae.
Bùi Hải Sơn (1990) [14] đã thấy rõ sự gây hại nghiêm trọng của loài rệp
muội hại rau họ hoa thập tự và bước đầu nghiên cứu một số đặc tính của loài
ruồi ăn rệp Ischiodon scutellaris.
Hà Quang Hùng (2004) [6] khi nghiên cứu thành phần ruồi ăn rệp họ
Syrphidae vụ thu đông 2004 tại Hà Nội tác giả đã phát hiện 7 loài ruồi ăn rệp
là: Clythia sp., Syrphus confrater W., Syrphus ribessi L., Megasphis zonata
Fabr., Episyrphus balteatus G., Ischiodon scutellaris Fabr., Paragus
quadrifaeiatus M., trong đó loài Syrphus ribessi có múc độ phổ biến cao nhất.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
10
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
Tác giả cũng đã nghiên cứu đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học và khả
năng ăn rệp của loài Syrphus ribessi Linne trên thức ăn là rệp bông Aphis
gossypii và đi đến kết luận thời gian phát dục của sâu non phụ thuộc vào nhiệt
độ và ẩm độ. Ở nhiệt độ 26,04 0C ± 0.34, ẩm độ 73,14 ± 1,06% vòng đời của
ruồi là 16,50 ± 0,60 ngày, ở nhiệt độ 28,33 ± 0,240C và ẩm độ 73,14 ± 1,14%
vòng đời của ruồi là 15,00 ± 0,26 ngày,ở nhiệt độ 29,81 ± 0,140C và ẩm độ
78,00 ± 0,94% vòng đời của ruồi là 14,50 ± 0,31 ngày. Ruồi Syrphus ribessi L.
có khả năng ăn mồi lớn, ở pha sâu non (giòi) của ruồi có thể ăn trung bình
39,55 rệp/ngày
Khi nghiên cứu về hai loài ruồi ăn rệp Episyrphus balteatus Deg. Và
Ischiodon scutellaris Fabr. Quách Thị Ngọ (1996) [10] đã kết luận rằng cả hai
loài ruồi ăn rệp đều đa thực và phổ biến trên quần thể rệp muội hại cây trồng
như ngô, cam, dưa chuột, và đặc biệt là quần thể rệp xám (Brevicoryne
brasicae) hại rau họ hoa thập tự. Ngoài ra chúng chúng còn có cả trên rệp
muội hại cây dại ngoài tự nhiên khi trên đồng ruộng vắng mặt ký chủ chính
(rệp muội) trên cây. Trong cùng điều kiện nhiệt độ, ẩm độ loài ruồi ăn rệp
Ischiodon scutellaris Fabr., có các giai đoạn phát dục tỏ ra dài hơn loài
Epiyrphus balteatus Deg., nhưng sức ăn rệp kém hơn tuy không nhiều. Cả hai
loài ruồi ăn rệp đều có sức ăn rệp rất lớn, có khả năng hạn chế mật độ rệp
muội hại cây trồng.
Cũng theo Quách Thị Ngọ (2005) [11] khi nghiên cứu về vai trò của
ruồi ăn rệp họ Syphidae, đã nghiên cứu về 3 loài ruồi ăn rệp là Episyphus
balteatus, Syrphinella miranda, Ischiodon scutellaris và xác định được khả
năng ăn rệp của hai loài ruồi ăn rệp là loài Episyphus balteatus và loài
Ischiodon scutellaris trong một đời giòi sức ăn tương ứng của hai loài là
276,5 – 435,4 : 414,5 rệp xám.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
11
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
Hà Quang Hùng, Nguyễn Thị hồng (2005) [7] khi nghiên cứu về loài
ruồi ăn rệp Clythia sp. nuôi trên thức ăn là rệp bộng (Aphis gossypii) đã xác
định được thời gian phát dục của loài ruồi ăn rệp này trong 3 đợt thí nghiệm ở
điều kiện nhiệt độ và ẩm độ khác nhau. Ở nhiệt độ 29,82 0C ẩm độ 78% thì
vòng đời là 14,35 ± 0,17 ngày; nhiệt độ 28,83 0C, ẩm độ 73,4% vòng đời 14,83
± 0,13 ngày; còn ở nhiệt độ 26,04 0C ẩm độ 73,14% thì vòng đời là 14,97 ±
0,06 ngày.
Tóm lại: Rệp muội và ruồi ăn rệp đã được các nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước biết đến và nghiên cứu từ rất lâu, đặc biệt là ở nước ngoài những
nghiên cứu về rệp muội và và kẻ thù tự nhiên của chúng trong đó có ruồi ăn
rệp rất phong phú và đa dạng. Còn ở nước ta thì những nghiên cứu vẫn còn rất
hạn chế, nhất là các nghiên cứu về ruồi ăn rệp mới chỉ dừng lại ở những
nghiên cứu bước đầu chưa đi sâu nghiên cứu để sử dụng loài thiên địch và áp
dụng chúng trong phòng chống rệp hại. Vì vậy đề tài nghiên cứu này góp phần
làm phong phú thêm những nghiên về rệp muội và ruồi ăn rệp từng bước hoàn
chỉnh quy trình sử dụng biện pháp sinh học trong phòng chống dịch hại nói
chung và đậu rau nói riêng.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
12
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
PHẦN III
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Địa điểm, thời gian, đối tượng nghiên cứu
3.1.1.Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành điều tra tại HTX Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội
- Nghiên cứu trong phòng được tiến hành tại bộ môn Côn trùng – khoa
Nông học - trường ĐHNNI – Hà Nội
3.1.2.Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 7 đến tháng 12 – 2006
3.1.3 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
3.1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các loại sâu hại trên đậu rau, chủ yếu là sâu hại trên đậu quả xanh.
- Các loại thiên địch (nhóm bắt mồi) sâu hại đậu rau, trong đó chủ yêu
là các loại ruồi ăn rệp, đặc biệt là loài ruồi ăn rệp Clythia sp.
3.1.3.2. Vật liệu nghiên cứu
- Một số giống đậu rau đang trồng tại Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội
,trong đó chủ yếu là nghiên cứu trên các giống đậu quả xanh
- Một số loại thuốc trừ sâu hại như: Actara 35WG, Sutin 5EC và
Reasgant 1,8EC
3.1.3.3. Dụng cụ nghiên cứu.
- Vợt, lọ đựng mẫu, hộp nhựa, kính lúp, bông thấm, giấy hút ẩm, lồng
nuôi, kéo, pank…
- Sổ, sách, bút, thước kẻ…
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
13
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
3.2. Phương pháp nghiên cứu.
3.2.1. Phương pháp xác định thành phần sâu hại và các loài thiên địch bắt
mồi sâu hại đậu rau.
3.2.1.1. Phương pháp điều tra thành phần sâu hại.
Điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên 1 tuần 1 lần trên ruộng đậu từ
khi trồng đến khi thu hoạch đậu rau, điểm điều tra không cố định càng nhiều
điểm càng tốt, quan sát và đếm số lượng sâu hại tại mỗi điểm điều tra. Thu bắt
toàn bộ sâu hại trên cây điều tra, ngâm mẫu về định loại tại bộ môn Côn trùng.
chỉ tiêu theo dõi:
Tần suất xuất hiện (%) =
Tổng số điểm bắt gặp sâu hại
Tổng số điểm điều tra
X 100
Chỉ tiêu đánh giá mức độ phổ biến của sâu hại
-
Rất ít xuất hiện (tấn suất xuất hiện < 5%)
+
Ít phổ biến ( tần suất xuất hiện từ 5 – 25%)
++
phổ biến (tấn suất xuất hiện từ 25 – 50%)
+++ Rất phổ biến (tấn suất xuất hiện > 50%)
3.2.1.2. Phương pháp điều tra thành phần các loài bắt mồi.
Tiến hành điều tra cùng với điều tra thành phần sâu hại, thu bắt các loài
thiên địch bắt mồi như: bọ rùa, ruồi ăn rệp, bọ xít bắt mồi, nhện bắt mồi…
Chỉ tiêu theo dõi là: Tần suất xuất hiện (%)
Toàn bộ mẫu thu được về đinh loại tại bộ môn Côn trùng – khoa Nông
học. GS.TS Hà Quang Hùng định loại, Kỹ sư Nguyễn Đức Tùng chụp ảnh.
3.2.2. Phương pháp điều tra diễn biến số lượng rệp hại và ruồi ăn rệp trên
đậu rau.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
14
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
3.2.2.1. Phương pháp điều tra diễn biến mật độ rệp hại đậu rau.
- Điều tra 1 tuần 1 lần, tiến hành điều tra từ khi cây bắt đầu trồng đến
khi thu hoạch quả lần cuối.
- Điều tra trên các ruộng đại diện cho giống, địa điểm trồng.
- Mỗi đại diện chọn một ruộng điều tra treo 5 điểm chéo góc.
- Mỗi điểm điều tra 3 cây, mỗi cây đếm toàn bộ số rệp hại.
Chỉ tiêu điều tra:
Tổng số rệp điều tra được (con)
Tổng số cây điều tra (cây)
3.2.2.2.Phương pháp điều tra diễn biến mật độ ruồi ăn rệp.
- Mật độ rệp hại (con/cây) =
Điều tra diễn biến mật độ ruồi ăn rệp tiến hành đồng thời cùng với điều
tra diễn biến mật độ rệp hại.
Chỉ tiêu điều tra:
Tổng số ruồi ăn rệp điều tra được (con)
Tổng số cây điều tra (cây)
3.2.3. Phương pháp nuôi sinh học để xác định đặc điểm sinh học của loài
Mật độ ruồi ăn rệp (con/cây) =
ruồi ăn rệp Clythia sp.
3.2.3.1 Phương pháp nhân nguồn
Tiến hành trồng đậu quả xanh tại phòng nuôi sâu bán tự nhiên của bộ
môn Côn trùng khoa Nông học, khi cây được 3 – 4 lá kép thì tiến hành thu bắt
rệp đen (Aphis craccivảa Koch) trên đậu quả xanh tại Đặng Xá – Gia Lâm –
Hà Nội về thả lên cây đậu quả xanh tại khu thí nghiệm, dùng li lông để che và
quây xung quanh nhằm che mưa và hạn chế ánh sáng, đồng thời ngăn cản một
số kẻ thù tự nhiên của rệp vào tấn công đặc biệt là các loại bọ rùa tạo điều
kiện thuận lợi cho rệp phát triển quần thể. khi rệp đã phát triển mạnh thì tiến
hành thu bắt sâu non (giòi) ruồi ăn rệp trên cây đậu quả xanh tại Đặng Xá –
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
15
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
Gia Lâm – Hà Nội để thả vào nhằm nhân quần thể ruồi ăn rệp. Khi mật độ
ruồi đã tăng cao tiến hành thu bắt một số giòi non của loài ruồi ăn rệp Clythia
sp đưa vào hộp nuôi sâu có lót giấy hút ẩm đã được tẩm ướt và lá cây đậu sạch
có chứa rệp làm thức ăn cho giòi phát triển. Khi giói hoá nhộng tiến hành thu
nhộng đưa vào các ống tuýt thuỷ tinh (5nhộng/1 ống) để chúng hoá trưởng
thành. Khi ruồi vũ hoá tiến hành đánh các cây đậu nhỏ khoảng 2 - 3 lá kép
trên có chứa rệp đã được chuẩn bị sẵn cho vào lồng nuôi lớn kích thước 30 x
25 x 30cm rồi tiến hành thả ruồi trưởng thành ở các ống tuýt vào trong lồng,
đồng thời cung cấp thức ăn cho chúng là mật ong 50% để chúng đẻ trứng.
Tiến hành theo dõi hàng ngày vào 8 giờ sáng, khi thấy trên cây xuất hiện
trứng thì tiến hành bỏ cây đậu ra ngoài và thay vào cây đậu khác có rệp để
chúng tiếp tục đẻ trứng trên đó.
3.2.3.2. Phương pháp nuôi sinh học xác định các đặc điểm sinh học của
loài ruồi ăn rệp Clythia sp.
* Xác đinh thời gian các pha phát dục của ruồi ăn rệp Cythia sp.
Khi đã thu được cây đậu có trứng của loài ruồi ăn rệp, tiến hành dùng
kéo cắt rời từng đoạn cành, mỗi cành có chứa một quả trứng và rệp ở trên đó
đưa vào các hộp nuôi sâu đã được chuẩn bị sẵn để xác định thời gian phát dục
của các pha của ruồi ăn rệp. Mỗi đợt thí nghiệm tiến hành theo dõi 20 cá thể,
ngoài ra con nuôi thêm một số cá thể dự phòng để thay thế khi cần thiết. Tiến
hành theo dõi 2 lần/ngày vào 8 giờ sáng và 4 giờ chiều để theo dõi sự chuyển
pha phát dục của ruồi ăn rệp, thời gian từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều được tính
là 1/3 ngày còn thời gian từ 4 giờ chiều đến 8 giờ sáng hôm sau được tính là
2/3 ngày
Chỉ tiêu theo dõi:
Thời gian phát dục ở từng pha
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
16
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
X =
NguyÕn Trung
X 1 + X 2 + ... + Xn
N
X1, X2, …Xn là thời gian phát dục của từng cá thể ở pha theo dõi
N là tổng số cá thể theo dõi (mỗi đợt nuôi 20 cá thể)
* Xác định kích thước các pha phát dục của ruồi ăn rệp
Đo kích thước các pha phát dục của ruồi ăn rệp được tiến hành song
song với quá trình nuôi xác định thời gian phát dục. Tiến hành đo kích thước
của 20 cá thể ruồi ăn rệp ở mỗi pha phát dục trên kính lúp soi nổi ở vật kính 2
sau đó quy đổi ra đơn vị là mm
Kích thước trung bình của pha phát dục
X =
X 1 + X 2 + ... + Xn
N
X1,X2, …, Xn là kích thước của từng cá thể ở pha phát dục được đo
N là tổng cá thể đem đo
* Phương pháp nuôi sinh học xác định khả năng rệp của loài ruồi
ăn rệp Clythia sp.
Được tiến hành cùng với thí nghiệm nuôi sinh học xác định thời gian
phát dục của ruồi ăn rệp. Khi trứng nở thành giòi non thì tiến hành cho rệp
vào để thử khả năng ăn mồi của giòi, mỗi lần cho vào hộp 50 rệp, tiến hành
theo dõi đếm số lượng rệp còn lại trong hộp, đếm 1 ngày 2 lần cùng với thời
gian theo thời gian phát dục, cứ một ngày lại tiến hành bổ xung thay rệp một
lần.
Chỉ tiêu đánh giá:
Khả năng ăn rệp trung bình ở từng pha phát dục của ruồi ăn rệp
X =
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
X 1 + X 2 + ... + Xn
N
17
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
X1, X2, …., Xn là số rệp bị ăn của từng cá thể sâu non ruồi ăn rệp (giòi)
ở từng tuổi.
N là tổng cá thể giòi thí nghiệm.
3.2.4. phương pháp đánh giá ảnh hưởng của ruồi ăn rệp đến sự phát triển
của quần thể rệp đen (Aphis craccivora)
Thí nghiệm được tiến hành hành tại khu nhân nuôi rệp và ruồi ăn rệp
như ở trên đã nói. Theo dõi mật độ rệp và ruồi ăn rệp ở những cây có và
không có ấu trùng (giòi) của ruòi ăn rệp. Từ đó đánh giá ảnh hưởng của ruồi
ăn rệp đến sự phát triển quần thể rệp khi mật độ quần thể rệp thấp và mật độ
quần thể rệp cao. Thí nghiệm được tiến hành như sau: chọn ra 10 cây để theo
dõi trong đó có 5 cây có xuât hiện ruồi ăn rệp và 5 cây không xuất hiện ruồi
ăn rệp. Hàng ngày theo dõi đếm số lượng rệp và ruồi ăn rệp trên từng cây.
Đánh giá khả năng hạn số lượng rệp của giòi ăn rệp qua hiệu đính theo
công thức Henderson – Tilton
Tỷ lệ rệp bị giảm(%) =
(1 -
Ta * C b
)x100
Tb * C a
Trong đó:
Ta là số rệp sống ở công thức có ruồi ăn rệp sau theo dõi.
Tb là số rệp sống ở công thức có ruồi ăn rệp trước theo dõi
Ca là số rệp sống ở công thức không có ruồi ăn rệp sau theo dõi.
Cb là số rệp sống ở công thức không có ruồi ăn rệp trước theo dõi
3.2.5. Đánh giá ảnh hưởng của thuốc BVTV đến ruồi ăn rệp và rệp trong
phòng thí nghiệm
Sử dụng 3 loại thuốc BVTV được dùng rộng rãi để trừ sâu hai trên cây
đậu quả xanh tại Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội lá Actara 35WG, Sutin 5EC,
Reasgant 1,8EC
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
18
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
Tiến hành thí nghiệm theo hai phương pháp là cho ruồi ăn rệp tiếp xúc
trực tiếp và gián tiếp với thuốc BVTV
3.2.5.1. phương pháp cho ruồi ăn rệp và rệp tiếp xúc trực tiếp với thuốc
BVTV
Khi tiến hành nhân nuôi rệp và ruồi ăn rệp đạt mật độ cao lúc mà rệp
bâu kín các chùm quả . Tiến hành ngắt các quả có mật độ rệp cao, đếm số
lượng rệp và ruồi ăn rêp. Sau đó tiến hành phun các loại thuốc thí nghiệm với
nồng độ khuyên cáo trực tiếp vào quấn thể rệp và ruồi ăn rệp. Đối với thí
nghiệm tính hiệu lực của thuốc đối với rệp thì cần bỏ hết ruồi ăn rệp ra khỏi
quần thể rệp trước khi phun thuốc. Sau đó đặt chúng vào hộp đã chuẩn bị sẵn.
Tiến hành theo dõi và đếm số lượng rệp và ruồi ăn rệp sống xót sau 1 ngày, 2
ngày, 3 ngày sau phun.
Thí nghiệm tiến hành với 3 lần nhắc lại, công thức đối chứng tiến hành
phun nước lã.
3.2.5.2. Phương pháp cho ruồi ăn rệp và rệp tiếp xúc gián tiếp với thuốc
BVTV.
Thí nghiệm được tiến hành cùng với thí nghiệm theo phương pháp cho
ruồi ăn rệp tiếp và rệp tiếp xúc trực tiếp với thuốc BVTV. Dùng thuốc BVTV
đã được pha theo nồng độ khuyến cáo phun lên lá cây, sau khoảng 1 giờ thì
ngắt lá cây cho vào hộp nhựa đã được chuẩn bị sẵn rồi dùng bút lông để cho
rệp và ruồi ăn rệp vào từ những quả đậu có số lượng rệp và ruồi ăn rệp tương
tự như ở các công công thức đối với thí nghiệm cho tiếp xúc trực tiếp.
Thí nghiệm cũng được tiến hành với 3 lần nhắc lại, công thức đối chứng
phun nước lã, theo dõi đếm số lượng rệp và ruồi ăn rệp sống xót sau 1 ngày, 2
ngày, 3 ngày sau phun thuốc
Chỉ tiêu đánh giá:
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
19
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
- So sánh tỷ lệ cá thể rệp và ruồi ăn rệp sống xót ở hai phương pháp cho
tiếp xúc với các loại thuốc BVTV thí nghiệm.
- Tính hiệu lực của các loại thuốc thí nghiệm đối với ruồi ăn rệp và rệp
theo công thức tính hiệu lực của các loại thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm
của Abbott
A ( %) =
C −T
X 100
C
Trong đó:
A(%) là hiệu lực của thuốc
C là tỷ lệ (%) cá thể sống xót ở công thức đối chứng
T là tỷ lệ (%) cá thể sống xót ở công thức thí nghiệm
3.2.6. Tính toán kết quả:
Khoảng tin cậy 95% ( X ± ∆ )
Trong đó:
∆=
Sx =
Sx * t (0,05; n − 1)
n
∑ ( Xi − X )2
n −1
t là giá trị tra ỏ bảng phân phối student ở mức xác suất 0,05 và độ tự do
n-1
3.3. Sử lý số liệu
Toàn bộ số liệu được sử lý trên chương trình Excel thông thường và trên
chương trình Excel ứng dụng dùng trong thống kê mô tả (Data Analysis),
IRRISTAT 4.0
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
20
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
PHẦN IV
KẾT QUẢN NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên cây đậu quả xanh
(Vigna radiata) vụ hè thu 2006 tại Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
21
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
Thành phần sâu hại trên một loại cây trồng là thông số cơ bản đối với
công tác bảo vệ thực vật, để từ đó chúng ta biết được đối với một loài cây
trông cụ thể có bao nhiêu loài sâu phá hại, trong đó loài sâu hại nào là chủ yếu
để có biện pháp phòng trừ hợp lý kịp thời. Đối với thành phần thiên địch cũng
vậy nó cho chung ta biết đâu là những loại sinh vật có ích cần phải bảo vệ
khích lệ chúng phát triển. Trên cây đậu quả xanh trước hết chúng ta cũng cần
điều tra để nắm được các thông số này.
4.1.1. Thành phần và mức độ phổ biến sâu hại trên đậu quả xanh vụ hè
thu 2006 tại Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội.
Tiến hành điều tra trên cây đâu quả xanh tại Đặng Xá – Gia Lâm – Hà
Nội từ ngày ngày 16/7/2006 đến ngày 17/9/2006 đã thu được kết quả về tình
hình sâu hại trên cây đậu quả xanh và mức độ phổ biến của chúng được trình
bày qua bảng 1. Qua bảng 1cho thấy trên cây đậu quả xanh vụ hè thu 2006 tại
Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội có 18 loài sâu hại, trong đó có 5 loài sâu hại
chính có mức độ phổ biến cao và khả năng gây hại lớn trên các giống đậu quả
xanh đó là: rệp đen (Aphis craccivora Koch), sâu cuốn lá đậu (Lamprosema
indicata Fabr.), sâu đục quả đậu (Maruca testularis Geyer), sâu khoang
(Spodoptera litura Fabr.), bọ trĩ xanh (Thrip palmi karny). Đây là những loài
sâu hại nghiêm trọng ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng đậu quả
xanh.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
22
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
NguyÕn Trung
23
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
4.1.2. Thành phần và mức độ phổ biến của các loài bắt mồi trên ruộng
đậu quả xanh vụ hè thu 2006 tại Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội
Tiến hành điều tra các loài bắt mồi trên đậu quả xanh được tiến hành
cùng với điều tra sâu hại, kết quả điều tra được trình bày ở bảng 2. Qua bảng 2
ta thấy trên cây đậu xanh vụ hè thu 2006 tại Đặng Xá – Gia Lâm – Hà Nội
chúng tôi thu được 12 loài bắt thuộc 5 bộ trong đó số lượng loài nhiều nhất là
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
24
Trêng
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
HiÕu – BVTV48A
NguyÕn Trung
bộ cánh cứng với 5 loài trong đó có 4 loài bọ rùa phổ biến nhất là loài bọ rùa
đỏ (Micracpis discolor Fabr). Ngoài ra chúng tôi còn thu được 3 loài ruồi ăn
rệp là loài Clythia sp., Syrphus ribesii L., Syrphus confrater Wiedemann, đây
nhóm thiên địch của rệp muội trong đó chủ yếu là loài rệp đen (Aphis
craccivora Koch), ngoài ra còn có 1 loài bọ xít bắt mồi, 1 loài bọ trĩ vằn, và 2
loài nhện trong đó đáng chú ý có loài bọ trĩ vằn chúng có mức độ phổ biến cao
xuất hiện sớm trong suốt thời gian sinh trưởng của cây, đây cũng là một loài
thiên địch rất có triển vọng cần chú ý nghiên cứu nhiều hơn.
Khoa N«ng hoc
§HNNI – Hµ Néi
25
Trêng