Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

Tìm hiểu thực trạng quản lý nhà nước đối với báo chí ở tỉnh kiên giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (149.66 KB, 24 trang )

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 25 năm đổi mới, cùng với kinh tế, nền báo chí cách mạng Việt Nam
đã không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng. Báo chí đã bám
sát đời sống xã hội, cung cấp những thông tin đa chiều, sâu sắc; tuyên truyền chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước hiệu quả. Vai trò của báo chí ngày càng
nâng cao trong đời sống xã hội, đặc biệt là trong quá trình đấu tranh chống tham
nhũng, quan liêu, lãng phí. Trước tình hình đó, ngày 17-10-1997, Bộ Chính trị Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 22-CT/TW về việc tiếp
tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản. Đây
chính là động lực để kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Báo chí ngày 12-6-1999. Điều này cho thấy, Nhà nước ta
đã thể hiện sự cố gắng trong quá trình quản lý hoạt động báo chí phù hợp với điều
kiện, tình hình mới.
Tuy nhiên, khi mà sự phát triển không đi cùng với việc nâng cao năng lực
quản lý phù hợp đã làm cho hoạt động báo chí bộc lộ nhiều bất cập, thiếu ổn định.
Đó chính là xu hướng thương mại hóa, xa rời tôn chỉ mục đích, đối tượng phục vụ;
làm lộ bí mật, an ninh quốc gia; nhiều tờ báo chạy theo thị hiếu tầm thường, đăng
bài ảnh dung tục, thiếu văn hóa, đi ngược lại thuần phong mỹ tục; nhiều địa phương
vì lý do này hoặc lý do khác đã gây cản trở hoạt động của phóng viên, cung cấp
thông tin sai lệch v.v... Trong khi đó, dưới góc độ Nhà nước thì các công cụ quản lý
về báo chí mà chủ yếu là pháp luật chưa hoàn thiện, không phù hợp với thực tiễn
phát triển sinh động trong lĩnh vực báo chí thời gian gần đây.
Tất cả đã đặt ra nhu cầu cần phải có những giải pháp hữu hiệu để nâng cao
hiệu quả quản lý Nhà nước cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn. Chính từ bức
xúc như vậy mà tác giả đã tiến hành chọn đề tài “Tìm hiểu thực trạng quản lý Nhà
nước đối với báo chí ở tỉnh Kiên Giang ” để làm tiểu luận môn học
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đây là một lĩnh vực tương đối mới có rất ít đề tài liên quan nghiên cứu đến
vấn đề này.


1


+ PGS.TS Lê Thanh Bình, ThS.Phí Thị Thanh Tâm: Quản lý Nhà nước và
pháp luật về báo chí (sách chuyên khảo dành cho học viên ngành báo chí truyền
thông) - NXB Văn Hóa Thông Tin, 2009.
+ TS.Lê Minh Toàn (chủ biên): Quản lý Nhà nước về thông tin và truyền
thông (sách chuyên khảo dành cho cán bộ, viên chức, học viên, sinh viên) - NXB
Chính Trị Quốc Gia, 2009.
Trên thực tế, nguồn tài liệu tham khảo, các sách khảo cứu chuyên đề về quản
lý báo chí không nhiều. Các công trình nghiên cứu khoa học trong tỉnh cũng chưa
có công trình nào nỗi bật.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về hoạt động báo chí và quản
lý Nhà nước đối với hoạt động báo chí, vai trò và đóng góp của báo chí trong đời
sống xã hội.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Nội dung được đề cập chủ yếu của đề tài là báo chí ở Kiên Giang, thực trạng
quản lý Nhà nước đối với hoạt động này.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chủ yếu để tiến hành nghiên cứu đề tài này dưa trên cơ sở
của phép biện chứng duy vật, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tác giả cũng sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp hệ thống hóa, phân tích,
so sánh.
6. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở bài và danh mục tài liệu tham khảo tiểu luận gồm có 2 chương

2



CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁO CHÍ
1.1. Khái quát về báo chí
1.1.1. Khái niệm và lịch sử hình thành báo chí Việt Nam
1.1.1.1. Khái niệm báo chí
Trong xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên thế giới như
hiện nay, hoạt động thông tin nói chung và báo chí nói riêng ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong đời sống xã hội. Báo chí đang thực sự có những bước đột biến, đi
vào chiều sâu về cả lượng và chất. Trong hơn 25 năm thực hiện chính sách và
đường lối đổi mới do Đảng ta lãnh đạo, các phương tiện truyền thông đại chúng
đóng vai trò hết sức quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Báo chí thực sự đã trở thành một trong những kênh thực hiện nhiệm vụ tuyên
truyền quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà
nước; phát hiện và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng; những vấn đề
bức xúc trong đời sống xã hội; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực,
quan liêu lãng phí và suy thoái đạo đức, lối sống… Báo chí cũng đã góp phần giáo
dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền thống cách mạng, góp phần nâng cao
dân trí, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao, phong phú và đa dạng về đời sống tinh thần
của nhân dân… Bên cạnh những vấn đề trên, báo chí nước ta trong quá trình đổi
mới và hội nhập đã góp phần nâng cao chất lượng thông tin đối ngoại, góp phần
quan trọng giới thiệu đất nước, văn hóa con người Việt Nam với bạn bè quốc tế;
thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng, đa phương hóa các quan hệ
quốc tế của Đảng, Nhà nước ta; góp phần nâng cao uy tín và vị thế Việt Nam trên
trường quốc tế.
Do vậy, việc nhận thức vai trò của báo chí là một vấn đề bức thiết trong mọi
thời đại, mọi hình thái Nhà nước. Nó có ý nghĩa rất lớn góp phần vào việc điều hoà
các mối quan hệ xã hội theo định hướng chung của Nhà nước, tạo ra một môi
trường ổn định để phát triển kinh tế, xã hội.


3


Theo triết học cổ Hy Lạp: “Chữ báo chí xuất phát từ chữ information có
nghĩa là thông tin, thông báo, báo tin và được hiểu như việc tạo ra hình thái giúp
cho sự hiểu biết của con người về thế giới xung quanh đang tồn tại bằng việc lấy
hiện thực khách quan để phản ánh một cách liên tục, xuyên suốt trong quan hệ chặt
chẽ giữa nhà báo - tác phẩm - công chúng”. 1
Tác giả Trần Hữu Quang trong cuốn Xã hội học truyền thông đại chúng thì
khẳng định: “Báo chí truyền thông là một quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao
đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với con người”. Theo
đó, tác giả này định nghĩa, “truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông
tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền
thông đại chúng như phát thanh, truyền hình”. 2
Điều 3 Luật Báo chí quy định: Báo chí nói trong luật này là báo chí Việt
Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói
(chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử
(được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc
thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài.
1.1.1.2. Lịch sử hình thành, phát triển của báo chí Việt Nam
Báo chí ra đời do nhu cầu thông tin, giao tiếp, giải trí và nhận thức của con
người. Mặc dù ra đời chậm hơn các hình thái ý thức xã hội khác nhưng báo chí đã
nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực xung kích bởi khả năng phản ánh
hiện thực xã hội đa dạng, sinh động và luôn vận động phát triển
Lịch sử báo chí Việt Nam tính từ năm 1865 khi tờ “Gia Định báo” ra đời,
tờ báo Quốc ngữ Việt Nam đầu tiên - Gia Định báo ra số 1 tại Sài Gòn, đánh dấu
cột mốc khởi nguyên của báo chí Việt Nam. Tuy nhiên trong thời gian này, thực dân
Pháp đã siết chặt sự quản lý đối với báo chí và chính vì lẽ đó, trước sự đấu tranh của
công luận, vào năm 1881, chính quyền thực dân Pháp buộc phải ban hành đạo luật

để nới lỏng kiểm soát báo chí tại Nam Kỳ.
Đến năm 1888, tờ nguyệt san “Thông loại khóa trình” số 1 - tờ báo Quốc
ngữ thứ tư đầu tiên được phát hành. Và sau đó một thời gian dài, lãnh tụ Nguyễn Ái
1
2

Dương Xuân Sơn (1995), Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, tr. 6
Trần Hữu Quang (2006), Xã hội học truyền thông đại chúng, Nhà Xuất bản Trẻ, tr. 3

4


Quốc sáng lập báo Thanh Niên và cho phát hành số đầu tiên vào ngày 21-6-1925,
khai sinh ra nền báo chí cách mạng Việt Nam. Ngày 21-6-1925 đã trở thành ngày kỷ
niệm Báo chí cách mạng Việt Nam hàng năm. Tiếp theo đó, vào ngày 5-8-1930, tạp
chí Cộng sản - tạp chí lý luận và chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập,
ban đầu có tên là Tạp chí Đỏ.
Liên tiếp trong các năm 1945 và 1946, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn
xã Việt Nam được thành lập. Cũng trong năm 1946, những người viết báo Việt Nam
đã tập hợp lại trong một tổ chức gọi là Đoàn Báo chí Việt Nam - tiền thân của Hội
Nhà báo Việt Nam hiện nay. Đến tháng 4-1949, lớp học về báo chí đầu tiên trong
lịch sử nước ta mang tên Huỳnh Thúc Kháng được Đoàn Báo chí kháng chiến mở
để đào tạo cán bộ báo chí, thu hút gần 60 học viên. Đây là lớp học báo chí đầu tiên
trong lịch sử báo chí Việt Nam. Và một năm sau, Đoàn Báo chí cách mạng được
chấn chỉnh thành Hội Những người viết báo Việt Nam. Ngày 2-6-1950, Chính phủ
chính thức ban hành quyết định thành lập Hội Những người viết báo Việt Nam và
Hội gia nhập ngay Mặt trận Liên Việt. Đại hội lần thứ nhất, Hội Những người làm
báo Việt Nam họp ở chiến khu Việt Bắc năm 1950. Đại hội đã ra bầu Ban Chấp
hành Trung ương Hội gồm 10 nhà báo, ông Xuân Thủy được bầu làm Hội trưởng.
Hội Nhà báo Việt Nam cũng chính thức được kết nạp vào tổ chức Tổ chức Quốc tế

Các nhà báo (OIJ) nhân Đại hội lần thứ III của tổ chức này, họp ở Phần Lan vào
tháng 7-1950. Đúng 20 năm sau, ngày 7-9-1970, Đài Truyền hình Việt Nam được
thành lập và Việt Nam đến thời điểm này đã hội đủ 3 loại hình báo chí truyền thống:
báo viết, báo nói và báo hình.
Vào ngày 7-7-1976, sau khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, Hội
Những người viết báo Việt Nam cùng với Hội Những người viết báo yêu nước và
dân chủ miền Nam hợp nhất thành Hội Nhà báo Việt Nam. Nhân kỳ họp thứ 6 vào
tháng 12-1989, Quốc hội khóa VIII quyết định thông qua Luật Báo chí (Luật Báo
chí được công bố và có hiệu lực từ năm 1990). Luật này thay thế Luật số 100-L002
ngày 20-5-1957, quy định chế độ báo chí. Và luật này được sửa đổi, bổ sung vào kỳ
họp thứ 5 Quốc hội khóa X diễn ra trong tháng 6-1999. Trước đó, vào tháng 4-1995,
Hội Nhà báo Việt Nam chính thức là thành viên Liên đoàn Báo chí các nước trong
Hiệp hội Đông Nam Á (CAJ).

5


Từ năm 1997, internet bắt đầu hoạt động tại Việt Nam đến nay, số lượng báo
điện tử, trang tin điện tử chính thức được thành lập. Loại hình này cũng tăng lên
nhanh chóng và dần chiếm ưu thế trong lĩnh vực báo chí.
Trong năm 2005, Đại hội lần thứ VIII Hội Nhà báo Việt Nam đã thông qua
Quy định về đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam gồm 9 điều, thông qua
Điều lệ sửa đổi Hội Nhà báo Việt Nam. Và gần đây nhất, vào tháng 8 - 2010, Đại
hội lần thứ IX Hội Nhà báo Việt Nam tiếp tục thông qua Điều lệ sửa đổi Hội Nhà
báo Việt Nam và khẳng định, báo chí Việt Nam tiếp tục giáo dục, nâng cao nhận
thức chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân, động viên mọi tiềm năng, sức mạnh
của toàn dân tộc thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và phát triển đất nước dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, báo chí cũng có trách nhiệm
vạch trần và làm thất bại mọi âm mưu phá hoại về tư tưởng của các thế lực thù địch,
tuyên truyền quảng bá văn hóa dân tộc, những thành tựu mọi mặt của công cuộc xây

dựng, phát triển đất nước, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sự đồng
thuận xã hội, sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân các nước trên thế giới. Báo chí
phải không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, tăng cường tính chuyên nghiệp,
đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới của đất nước và nhu cầu thông tin ngày càng
cao của xã hội.
1.2. Quản lý Nhà nước đối với báo chí
1.2.1. Khái niệm và các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với báo chí
1.2.1.1. Khái niệm quản lý Nhà nước đối với báo chí
Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội,
là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, là
diễn đàn của nhân dân lao động. Báo chí không chỉ làm nhiệm vụ thông tin mà còn
thực hiện công tác tuyên truyền làm cho các hoạt động xã hội phát triển theo định
hướng của nhà cầm quyền và bình ổn xã hội. Như vậy báo chí cũng là hình thức
hoạt động cần sự quản lý của Nhà nước.
Nói đến quản lý Nhà nước đối với báo chí là nói đến những hoạt động của
bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được ổn định và phù hợp
với xu thế phát triển chung của xã hội. Với vai trò là thiết chế trung tâm trong hệ
thống chính trị, Nhà nước đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho công dân được thực

6


hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có quyền về tự do ngôn luận, tự do báo
chí. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng
trong việc đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng chính sách tự do ngôn luận,
tự do báo chí để đưa ra các luận điệu sai trái, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa
bình” gây mất an ninh chính trị và trật tự trong nước.
Qua việc khái quát trên chúng ta có thể hiểu “Quản lý Nhà nước trong lĩnh
vực báo chí cũng như bất kỳ một dạng quản lý xã hội nào khác, là dạng quản lý
công vụ quốc gia của bộ máy Nhà nước - là công việc của bộ máy hành pháp. Nó là

sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật, trên cơ sở quyền lực
Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hoạt động báo chí do các cơ quan có
thẩm quyền trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực
hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, thỏa
mãn nhu cầu tự do báo chí của công dân”. 3
- Chủ thể của hoạt động quản lý: Nhà nước mà chủ yếu đó là các cơ quan
Nhà nước trong bộ máy Nhà nước hay các cá nhân quản lý chuyên ngành về hoạt
động báo chí được Nhà nước trao quyền về quản lý Nhà nước đối với báo chí.
- Khách thể của việc quản lý: Đó là trật tự quản lý trong quá trình truyền đạt,
tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối liên hệ giữa con người với
con người.
- Đối tượng của hoạt động quản lý: Tất cả những tổ chức, cá nhân v.v... thực
hiện những hoạt động liên quan đến báo chí.
- Mục đích của hoạt động quản lý: Phát huy mọi nguồn lực tạo ra một cơ chế
hợp lý cho hoạt động báo chí và đảm bảo quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên
báo chí của công dân.
1.2.1.2. Các nguyên tắc quản lý Nhà nước đối với báo chí
Các hoạt động của báo chí xét trên hình diện chung có ảnh hưởng rất lớn đến
đời sống xã hội. Vì vậy, muốn đảm bảo được các hoạt động này đi vào khuôn khổ
đặt dưới sự điều chỉnh của pháp luật, chúng ta cần có những nguyên tắc quản lý phù
hợp. Sau đây là những nguyên tắc cơ bản trong quản lý Nhà nước đối với báo chí.
* Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân
3

Đinh Văn Mậu và Phạm Hồng Thái (2005), Luật Hành chính Việt Nam, NXB Tổng Hợp TP.HCM, tr.19

7


Tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí là một nguyên

tắc hiến định. Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, đã
được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của
Quốc hội khóa X (sau đây gọi là Hiến pháp năm 1992) quy định công dân có quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quyền được thông tin 4. Quy định này đã được cụ
thể hoá bằng Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999. Cụ thể Điều 2, Luật Báo chí
sửa đổi, bổ sung năm 1999 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân
thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí
phát huy đúng vai trò của mình”. Và Điều 4 luật này cụ thể hóa như các quyền tự do
báo chí, tự do ngôn luận như sau: “Được thông tin qua báo chí về mọi mặt của tình
hình đất nước và thế giới; tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà
báo; gửi tin, bài, ảnh và tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt
của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin;
phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực
hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý
kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của
Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và thành viên của các tổ chức đó”.
Để đảm bảo nguyên tắc này, Nhà nước cần phải luôn tạo ra những cơ chế
pháp lý phù hợp với các loại hình hoạt động báo chí nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu
của đông đảo quần chúng nhân dân. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần đề ra một
phương thức hướng các hoạt động báo chí tuân thủ pháp luật, nhằm tạo điều kiện tốt
để các cơ quan chức năng Nhà nước thuận lợi hơn trong việc quản lý.
* Nguyên tắc đảm bảo quyền thụ hưởng thành quả hoạt động báo chí một cách
bình đẳng của tất cả công dân
Ở nước ta, pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với báo chí là công cụ khá
quan trọng nhằm bảo tồn, phát triển nền văn hóa dân tộc hiện đại, nhân văn; tiếp thu
tinh hoa văn hóa và tiến bộ về khoa học, công nghệ của nhân loại, đảm bảo cho quá
trình hội nhập môi trường thông tin, báo chí toàn cầu được nhanh chóng và thành
công. Tất cả thành quả này của báo chí cần được phổ cập đến toàn thể các đối
tượng thụ hưởng khác nhau trong xã hội. Đây được xem như một nguyên tắc biểu
4


Điều 69, Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

8


hiện tính nhân văn sâu sắc với mục tiêu nâng cao chất lượng dân trí.
Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã quy định: “Nhà nước có chính sách
hỗ trợ ngân sách, tạo điều kiện cho xuất bản, phát hành báo chí đến với nhân dân
các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn, đến với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”. 5
Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách để người dân được dễ dàng tiếp cận các ấn
phẩm của các loại hình báo chí. Huy động các nguồn lực khác nhau để bảo đảm sự
hoạt động của các cơ quan báo chí với nhiều tôn chỉ mục đích khác nhau nhằm phục
vụ tốt nhất nhu cầu về thông tin và phát triển dân trí của các tầng lớp khác nhau
trong xã hội. Cần có chính sách đẩy mạnh sự phát triển và khả năng sẵn sàng phục
vụ của các cơ quan báo chí đối với các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn
và đặc biệt khó khăn.
* Kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng việc tôn trọng tự do báo chí, tự do ngôn
luận làm trái pháp luật
Từ khi ra đời cho đến ngày nay, báo chí luôn có những ảnh hưởng nhất định đến
tình hình an ninh chính trị của một quốc gia và cả quốc tế bởi tính quần chúng của
nó. Nhất là ngày nay, vấn đề tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo
chí luôn được đặt ra và xem như quyền cơ bản của con người mà các thể chế chính
trị và hình thức nhà nước buộc phải tôn trọng. Ý thức được vấn đề này, các thế lực
thù địch và ngoại bang luôn tìm cách lợi dụng báo chí và các diễn đàn nhân dân làm
cơ sở cho việc chống phá Nhà nước ta, chống phá công cuộc xây dựng xã hội xã hội
chủ nghĩa, chống phá sự nghiệp đại đoàn kết nhân dân. Đây là những hành vi vô
cùng nguy hiểm làm thiệt hại đến lợi ích cả một quốc gia dân tộc Nhà nước ta luôn
luôn đề ra kim chỉ nam cho hoạt động của mình trước tình hình lợi dụng đó là kiên

quyết đấu tranh và đấu tranh đến cùng để chống lại các hành vi đầy mưu đồ này. Vì
vậy, trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999
một mặt khẳng định sự tôn trọng quyền tự do báo chí của công dân, mặt khác đã tạo
ra hành lang pháp lý ngăn chặn triệt để những âm mưu này khi quy định: “ Báo chí,
nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không
một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không
5

Điều 17d, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999

9


ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân”. 6 Đây được xem như quan điểm
chung nhất nhằm nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận
trên báo chí để phá hoại hoà bình, độc lập, thống nhất đất nước, kích động bạo lực
và tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà
nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc; gây rối trật tự công cộng, xâm phạm
đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công
dân, hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Mọi hành
vi vi phạm đều được xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
1.2.2 Cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước đối với báo chí
Cách mạng Tháng 8 thành công, Đảng và Nhà nước ta đã chăm lo xây dựng
hệ thống văn bản pháp lý tạo cơ sở cho việc quản lý Nhà nước đối với báo chí.
Ngày 10-10-1945, Hồ Chủ tịch đã ra sắc lệnh về việc duy trì tạm thời các luật lệ
hiện hành, nhưng nêu rõ: “Những điều khoản trong các luật cũ được tạm thời giữ
lại do sắc lệnh này, chỉ thi hành khi nào không trái với nguyên tắc độc lập của nước
Việt Nam và chính phủ dân chủ cộng hòa”.
Và cũng từ thời điểm này, vấn đề hoạt động báo chí, ngôn luận rất được Nhà

nước ta quan tâm. Vì vậy, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được
thành lập, Hiến pháp đầu tiên 1946 ra đời đã ghi nhận quyền tự do báo chí, tự do
ngôn luận của công dân. Đến Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 đều
quy định về tự do báo chí, ngôn luận; không ai được xâm phạm đến quyền này của
nhân dân và cũng nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do báo chí để xâm phạm lợi
ích của Nhà nước, tập thể và công dân.
Tính đến nay đã có hơn 40 văn bản được Nhà nước ta ban hành liên quan đến
báo chí như: Sắc lệnh 41 ngày 29-3-1946 về chế độ kiểm duyệt báo chí; Sắc lệnh số
282 ngày 14-12-1956 về chế độ báo chí, Luật số 100/SL-L-002 ngày 20-5-1957 quy
định chế độ báo chí (Luật Báo chí 1957); Nghị định số 197/TTg ngày 9-7-1957 quy
định chế độ và quyền lợi của người làm báo chuyên nghiệp và Nghị định số
298/TTg ngày 9-7-1957 quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí năm 1957; Nghi
định số 133/HĐBT ngày 20-4-1992 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết thi
6

Điều 4, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999

10


hành Luật Báo chí về các mặt; Chỉ thị 63/CT-TW về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác báo chí-xuất bản; Nghị định số 384/HĐBT về tăng cường
công tác quản lý báo chí- xuất bản; Thông tư số 131/TT-VP ngày 20-11-1990 của
Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫn thi hành Nghị định 384/HĐBT và có điều chỉnh
một số tiêu chuẩn nghiệp vụ của chức danh viên chức báo chí, Bộ luật Hình sự
1999, Bộ luật Dân sự 1995… Mặc dù các văn bản này không đồng bộ và mang tính
phổ quát, thể hiện các quan điểm khác nhau của Nhà nước ta đối với báo chí trong
từng giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng phần nào đã đặt ra một cơ sở pháp lý để các
cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đối
với báo chí của mình.

Ngày 28-12-1989, Quốc hội thông qua Luật Báo chí và ngày 2-1-1990, Chủ
tịch Hội đồng Nhà nước ký lệnh công bố Luật Báo chí nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam thay thế Luật Báo chí năm 1957. Đến ngày 12-6-1999, Quốc hội
khóa X đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí và có hiệu
lực đến ngày nay.
Luật Báo chí năm 1990 vừa kế thừa những nguyên tắc đúng đắn của Luật
Báo chí năm 1957, vừa bổ sung và hoàn thiện một bước luật pháp của Nhà nước ta
về báo chí. Luật Báo chí năm 1990 cũng phản ánh những thay đổi to lớn trong đời
sống kinh tế - xã hội của nước ta trong sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi xướng và lãnh đạo.
Song song đó, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày
26-4-2002 quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí; Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Báo chí. Trong nghị định này, đã đi sâu vào quy định một số điểm
mới của Luật Báo chí hiện hành.
Nhìn chung, hai văn bản pháp luật hiện hành này đã khắc phục được một số
nhược điểm của các văn bản trước, định hình cho chức năng quản lý báo chí bằng
các cơ sở pháp lý rất cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ.
1.2.3. Nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí
Trên cơ sở quy định của pháp luật, để đảm bảo cho hoạt động báo chí được diễn
ra thông suốt, đáp ứng nhu cầu về thông tin của quần chúng nhân dân, Nhà nước
luôn xây dựng nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí trên cơ sở phù hợp với

11


thẩm quyền pháp lý của từng chủ thể quản lý nhất định theo các điều kiện lịch sử
trong từng giai đoạn. Các nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí cũng được xác
định và xây dựng nhằm mục tiêu một mặt quá trình thực hiện chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về báo chí một cách nhanh chóng, chính xác, mặt khác
chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch lợi dụng tự do ngôn luận, tự

do báo chí để chống phá ta.
Các nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí đề cập ở đây xuất phát từ các
quy định hiện hành của Đảng và Nhà nước ta gồm Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung
năm 1999 và Nghị định 51/2002/NĐ-CP ngày 26-4-2002. Theo đó, Luật Báo chí
sửa đổi, bổ sung năm 1999 quy định các nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí
bao gồm:
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển sự
nghiệp báo chí;
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí;
xây dựng chế độ, chính sách về báo chí;
Tổ chức thông tin cho báo chí; quản lý thông tin của báo chí;
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp
cho đội ngũ cán bộ báo chí;
Tổ chức, quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực báo chí;
Quản lý hợp tác quốc tế về báo chí, quản lý hoạt động của báo chí Việt Nam
liên quan đến nước ngoài và hoạt động báo chí nước ngoài tại Việt Nam;
Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách, quy hoạch,
kế hoạch phát triển báo chí và việc chấp hành pháp luật về báo chí; thi hành các
biện pháp ngăn chặn hoạt động báo chí trái pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo,
xử lý vi phạm trong hoạt động báo chí". 7
Tóm lại, Nhà nước quản lý toàn bộ xã hội, hoạt động báo chí liên quan đến
nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau nên cần được Nhà nước quản lý. Mục đích quản lý
Nhà nước đối với báo chí nhằm bảo đảm cho hoạt động báo chí diễn ra trong khuôn
khổ của pháp luật vì lợi ích chung cho toàn xã hội.
1.2.4. Ý nghĩa của việc quản lý Nhà nước đối với báo chí
7

Điều 17a, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999

12



Quản lý Nhà nước đối với báo chí là một chức năng thật sự cần thiết của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền. Nó đáp ứng nguyện vọng của đông đảo quần chúng
nhân dân trong xã hội. Bới lẽ vấn đề tự do báo chí và tự do ngôn luận trên báo chí là
một nhu cầu có thực của xã hội, nó đánh giá tiêu chuẩn phát triển về các quyền tự
nhiên mang tính nhân bản trong toàn xã hội. Nhu cầu về tự do báo chí, ngôn luận sẽ
vẫn còn tiếp tục tiếp diễn và có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình trị an, trật tự xã hội
của đất nước. Bên cạnh dó, trên bình diện quốc tế, các thông tin mà báo chí cung
cấp cũng như các hoạt động liên quan đến báo chí cũng có những ảnh hưởng nhất
định đến vấn đề an ninh chính trị của toàn cầu.
Quản lý Nhà nước đối với báo chí có ý nghĩa to lớn khi vừa đảm bảo được
trật tự an ninh, an toàn xã hội vừa đảm đảm bảo tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do
ngôn luận trên báo chí của công dân. Ngoài ra trước tình hình xuyên tạc của các thế
lực thù địch, quản lý Nhà nước đối với báo chí sẽ làm cho báo chí hoạt động và phát
triển theo đúng chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đấu tranh tích cực,
làm thất bại các âm mưu sử dụng diễn đàn của nhân dân cho chiến lược diễn biến
hòa bình trên phương diện thông tin đại chúng và văn hóa xã hội.

CHƯƠNG II.
13


THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁO CHÍ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
2.1. Thực trạng quản lý Nhà nước đối với báo chí ở tỉnh Kiên Giang
trong giai đoạn hiện nay
2.1.1. Những thành tựu đạt được
Cùng với báo chí cả nước, hoạt động của Báo chí Kiên Giang đã tham gia
tích cực, có trách nhiệm và hiệu quả, thực sự trở thành vũ khí sắc bén của xã hội,

công cụ hiệu quả của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong cuộc đấu tranh phòng
chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, và các tệ nạn xã hội. Nhiều vụ việc tiêu cực
đã được các cơ quan báo chí phát hiện, đưa ra ánh sáng, nhờ đó mà ngăn chặn được
những hành vi xâm hại tiền bạc, tài sản của công hoặc gây thất thoát, lãng phí
nguồn nhân lực đất nước. Nhiều nhà báo và tập thể báo chí đã dũng cảm, kiên quyết
đấu tranh, bất chấp những khó khăn, nguy hiểm, theo đuổi tới cùng để xử lý những
vụ việc tham nhũng, tiêu cực. Báo chí cũng đã có những đóng góp tích cực trong
việc hướng dẫn nhận thức xã hội, đấu tranh chống lại những âm mưu, thủ đoạn và
luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình
thông qua phương tiện thông tin đại chúng.
Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông ghi nhận, đồng thời đánh giá cao
việc bám sát tình hình địa phương để thông tin, tuyên truyền của các cơ quan báo
chí. Ngoài những nội dung đã định hướng trong báo cáo, thời gian tới, các cơ quan
báo chí cần tiếp tục tuyên truyền về việc triển khai, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị
của Đảng; các ngày lễ lớn, các sự kiện nổi bật, tình hình phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương
Sở Thông tin và Truyền thông đã ra mắt Trang thông tin điện tử tổng hợp của
Sở và công bố quyết định của Cục Quản lý Phát thanh, Truyền hình và Thông tin
điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông về việc cấp phép hoạt động Trang thông tin
điện tử tổng hợp; quyết định thành lập Ban biên tập Trang thông tin điện tử tổng
hợp Sở Thông tin và Truyền thông.
Các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh đã thông tin, tuyên truyền đúng định
hướng, thực hiện đúng tôn chỉ mục đích, kịp thời thông tin các hoạt động văn

14


hóa, văn nghệ, kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, các ngày lễ lớn: , tổ chức
lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Dự thảo Luật Đất
đai (sửa đổi), tuyên truyền chủ quyền biển đảo, thanh niên nhập ngũ, việc học

tập, quán triệt Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI),............. phóng viên của các
báo thường trú trên địa bàn tỉnh phải báo cáo các hoạt động trong quý để phục
vụ cho các cuộc họp giao ban
Sở Thông tin và Truyền thông đã thành lập Tổ Tổng hợp, tiếp nhận, xử lý cung
cấp thông tin cho báo chí. Tổ gồm 05 đồng chí, do đồng chí Lê Văn Chuyển, Phó
Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông – Tổ trưởng. Hiện nay, việc tiếp cận để lấy
thông tin chính thống về các vấn đề nóng, nhạy cảm được xã hội quan tâm có liên
quan đến các sở, ban, ngành và địa phương của các phóng viên báo, đài còn gặp
nhiều khó khăn, do đó việc thành lập Tổ Tổng hợp, tiếp nhận, xử lý cung cấp thông
tin cho báo chí là hết sức cần thiết.
Tổ Tổng hợp, tiếp nhận, xử lý cung cấp thông tin cho báo chí có nhiệm vụ:
hàng tháng tổng hợp các tin, bài viết về Kiên Giang, trích từ các nguồn báo điện tử
và báo in: Báo Nhân dân, Báo Thanh niên, Báo Công an TP.HCM, Nhà báo và Công
luận, Nông nghiệp Việt Nam, Nông thôn ngày nay, Báo Tuổi trẻ…, riêng những vấn
đề nóng, nhạy cảm được xã hội quan tâm sẽ báo cáo ngay với Giám đốc; Tiếp nhận
và tổng hợp các yêu cầu, đề xuất của các cơ quan báo chí, giúp Giám đốc Sở trình
UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan có liên quan trả lời các câu hỏi, yêu cầu, đề xuất
của các cơ quan báo chí.
Các cơ quan báo chí có thể gởi câu hỏi, đề xuất và yêu cầu bằng văn bản hoặc
qua hộp thư. Biên soạn sổ tay, phát hành tờ rơi thông tin, tuyên truyền; khảo sát nhu
cầu đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thông tin, tuyên truyền
khu vực biên giới, biển, đảo; Tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn; Tổ chức giao lưu
với các ấp kết nghĩa giữa Việt Nam – Campuchia; Phối hợp với Đài Tiếng nói Việt
Nam thường trú tại khu vực ĐBSCL và Thông tấn xã Việt Nam – Phân xã Kiên
Giang, Đài Truyền thanh một số huyện Kiên Hải, huyện Giang Thành, thị xã Hà
Tiên, huyện Phú Quốc để thông tin, tuyên truyền và thông tin đối ngoại về biên
giới, biển, đảo
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin như hiện nay, hệ thống truyền thanh cơ sở vẫn

15



đang phát huy tốt tác dụng trong việc cung cấp thông tin cho nhân dân và đang có
những bước phát triển, thích ứng để tồn tại, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị ở địa
phương, góp phần nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền ở cơ sở nhất
là đối với các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo.
Xác định được vị trí quan trọng của hệ thống truyền thanh cơ sở, trong nhiều
năm qua, tỉnh Kiên Giang đã triển khai, thực hiện việc đầu tư phát triển mạng lưới
truyền thanh đến cơ sở. Đến năm 2012, toàn tỉnh có 15/15 đài truyền thanh huyện,
thị xã, thành phố, (trong đó, huyện Phú Quốc và thị xã Hà Tiên là Đài Truyền thanh
– Truyền hình), 62/145 xã, phường thị trấn có trạm truyền thanh, 16 ấp, hợp tác xã
có trạm truyền thanh (huyện Tân Hiệp).
Công tác thông tin, tuyên truyền trên báo chí thực hiện khá tốt, dành nhiều diện
tích và thời lượng khá kịp thời tuyên truyền các hoạt động đối nội, đối ngoại của các
đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, thông tin về tình hình kinh tế, xã hội và các giải
pháp của tỉnh, Chính phủ nhằm ổn định thị trường. Nội dung và hình thức, chất
lượng tin, bài và phát thanh, truyền hình được nâng lên, xây dựng mới nhiều chuyên
mục, chuyên trang phù hợp với tình hình thực tế địa phương, hiệu quả cao. Có
nhiều cố gắng thực hiện nhiều đề tài mang tính phát hiện được dư luận quan tâm,
nhiều chương trình đã được cải tiến nội dung và hình thức tạo sức hấp dẫn đến bạn
đọc, nghe, xem đài. Các phóng viên thường trú và TTX Việt Nam - Phân xã tại KG
bám sát định hướng tuyên truyền của Ban Biên tập và của tỉnh tuyên truyền khá đầy
đủ trên các lĩnh vực...
Hệ thống báo chí trên địa bàn tỉnh đã có những đóng góp quan trọng trong công
tác thông tin tuyên truyền sự nghiệp phát triển của đất nước nói chung và của tỉnh
nhà nói riêng. Thông qua các phương tiện phát thanh, truyền hình, báo in và mạng
internet, thông tin về những thành tựu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước
về các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, của địa phương. Các sự kiện, vấn đề
cũng như các thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật trng nước và thế giới đã được
báo chí tỉnh Kiên Giang phản ánh phong phú, kịp thời hơn, góp phần tăng cường

trình độ nhận thức lí luận cho nhân dân trên địa bàn tỉnh. Nâng cao nhận thức chính

16


trị, định hướng tư tưởng, văn hóa cho nhân dân.
Cơ quan báo chí đã tham gia tích cực các hoạt động xã hội, từ thiện, vận
động đóng góp tiền của, vật chất ủng hộ đồng bào bị thiên tai, tai nạn, giúp đỡ
những người có hoàn cảnh khó khăn, các gia đình chính sách, tổ chức nhiều sự kiện
gây quỹ hổ trợ trẻ em nghèo hiếu học......
2.1.2. Những hạn chế
Kiên Giang là vùng đất tận cùng ở phía Tây Nam của Tổ quốc, có 14 đơn vị
hành chính cấp huyện, thị. Với diện tích tự nhiên 6.269 km 2, dân số gần 1,7 triệu
người. Trong đó dân tộc Kinh: 84,41%; Khmer: 12,23%; Hoa: 2,97%. Dân số của
tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông
ngòi và một số đảo. Chính đặc điểm này cũng là một trong những vấn đề khó khăn
cho hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh, sự đa dạng về dân tộc đòi hỏi công tác báo
chí phải đi sâu đi sát quần chúng để nắm bắt được những vấn đề dư luận quan tâm.
Nhưng thực tế đội ngũ nhà báo tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm chưa nhiều, sự quản lí
còn buông lỏng nên hiệu quả hoạt động chưa cao. Có nhiều bài báo còn mang nặng
tính dân tộc, sự kì thị về dân tộc do đó chưa thực sự trở thành phương tiện để tạo ra
sự đoàn kết giữa các dân tộc trên địa bàn tỉnh. Đây cũng là một vấn đề rất nhạy cảm
đòi hỏi cần phải có quản lí, định hướng đúng đắn của nhà nước để hoạt động báo
chí thực sự là một trong những lĩnh vực tư tưởng văn hóa góp phần ổn định chính trị
- xã hội trên địa bàn tỉnh.
Hoạt động báo chí tỉnh Kiên Giang trong thời gian qua cũng vấp phải
những khuyết điểm và hạn chế nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến các xu hướng
phát triển xã hội nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng. Một số nhà báo thiếu nhạy
bén chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng, văn hóa, chưa thực hiện tốt tôn chỉ,
mục đích. Trong thông tin tuyên truyền thiếu chính xác, chưa làm tốt công tác phát

hiện, tuyên truyền về các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, cổ vũ phong
trào thi đua yêu nước trên địa bàn tỉnh.
Cơ quan lãnh đạo chưa thật sự quan tâm sâu sát với hoạt động báo chí, quản lí
còn buông lỏng. Vì vậy, chất lượng báo chí còn thấp chưa đi sâu, gắn chặt vào sự

17


phát triển chung của tỉnh nhằm góp phần ổn định tình hình tư tưởng chính trị xã hội
trên địa bàn tỉnh. Đa số cơ quan cấp trên chỉ họp giao ban và chỉ đạo trực tiếp cho
hoạt động báo chí mà ít đưa ra những công văn, chỉ thị để chỉ đạo hoạt động báo chí
trên địa bàn tỉnh.
Trong bối cảnh hiện nay đang tồn tại những khó khăn, bất cập về cơ chế tổ
chức, quản lý về chế độ chính sách đối với đội ngũ làm truyền thanh. Cụ thể là biên
chế của đài truyền thanh cấp huyện còn quá ít đa số các huyện chỉ có 5 đến 6 biên
chế, từ đó nhiều nơi phải hợp đồng thêm nhân viên để đảm đương công việc. Đại đa
số cán bộ chưa có trình độ chuyên môn về báo chí, một số đồng chí mới được tập
huấn ngắn ngày; kinh phí ngân sách cấp cho hoạt động sự nghiệp truyền thanh
hàng năm không đồng đều bình quân mỗi huyện khoảng 500 triệu đến 700
triệu, một số đài được cấp thấp hơn như đài truyền thanh Kiên Hải 150 triệu,
Châu Thành 165 triệu, hay Tân Hiệp chỉ có 67,5 triệu... Bên cạnh đó, nội dung
thông tin, chất lượng âm thanh, kỹ thuật truyền dẫn, thời điểm, thời lượng, âm
lượng... còn nhiều hạn chế. Đối với hệ thống truyền thanh cơ sở chất lượng
máy móc, thiết bị quá kém, thường xuyên hư hỏng. Hiện nay chỉ có khoảng
20/62 trạm truyền thanh cấp xã còn hoạt động; thông tin địa phương còn đơn
điệu, cán bộ quản lý đài thay đổi thường xuyên do sự sắp xếp tổ chức, do thu
nhập quá thấp nên một số người không yên tâm công tác.
Chưa tổ chức những buổi hội thảo về nâng cao hoạt động báo chí trên địa
bàn tỉnh trong giai đoạn mới. Do đó, hoạt động báo chí còn rời rạc, thông tin thiếu
sinh động hấp dẫn, chậm đưa tin kịp thời.

Chậm đổi mới nội dung và hình thức, nội dung tuyên truyền chưa hấp dẫn,
do đó hiệu quả tuyên truyền không cao. Còn có hiện tượng khai thác thông tin,
phim, chương trình nước ngoài với tỷ lệ quá cao, thiếu chọn lọc về văn hóa, thậm
chí có sai lệch về chính trị.
Cá biệt còn có những cán bộ, phóng viên báo chí, văn phòng đại diện cơ quan
báo chí tại địa phương thiếu rèn luyện đạo đức, phẩm chất, vi phạm đạo đức nghề
nghiệp, thậm chí vi phạm pháp luật. Không ít phóng viên lợi dụng danh nghĩa nhà

18


báo vào mục đích vụ lợi, đăng tin thiếu khách quan, gây sức ép với doanh nghiệp.
Hiện tượng sao chép tin, bài giữa các báo mà không xin phép, không trích nguồn
đang diễn ra khá phổ biến, khiến những cơ quan báo chí làm việc nghiêm túc phải
chịu thiệt thòi.
Báo chí chưa thật sự nhạy bén trong công tác phối hợp đấu tranh ngăn ngừa,
phòng chống tôi phạm ở các vùng biên giới giữa Việt Nam và Cămpuchia. Nhiều
thông tin chưa chính xác về diễn biến giữa vùng giáp ranh giữa Việt Nam và
Cămpuchia điều này ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình chính trị - xã hội cũng như
gây ra những dư luận hoang mang trong quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh, gây
khó khăn trong công tác phối hợp đấu tranh ngăn chặn những luồng dư luận không
tốt, làm mất trật tự công cộng. Chính vì vậy, việc quản lí nhà nước đối với báo chí
trên địa bàn tỉnh là rất quan trọng. Không những góp phần ổn định tình hình tư
tưởng chinhd trị của người dân trong tỉnh, kiều bào ở Cămpuchia mà còn tạo ra
được một mối quan hệ tốt giữa nước ta với nước khác đảm bảo ổn định chính trị -xã
hội, góp phần sự nghiệp đổi mới chung toàn diện của đất nước nói chung và trên địa
bàn tỉnh Kiên Giang nói riêng được thực hiện một cách có hiệu quả.
2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với báo chí
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
2.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý Nhà nước đối với báo chí

Sự phát triển của thực tiễn, đặc biệt là sự phát triển có tính chất bước ngoặt của
công nghệ thông tin và truyền thông, đòi hỏi cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật
báo chí và sửa đổi một cách căn bản Luật Báo chí hiện hành nhằm bao quát được
đầy đủ các loại hình báo chí và mô hình hoạt động báo chí mới xuất hiện, chấn
chỉnh các hiện tượng tiêu cực, tạo điều kiện cho báo chí tiếp tục phát triển lành
mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Việc chậm
hoàn thiện hệ thống pháp luật và sửa đổi Luật Báo chí trong lúc các quy định pháp
luật hiện tại bộc lộ nhiều bất cập, một mặt có thể gây trở ngại cho sự phát triển của
báo chí và công tác quản lý báo chí, mặt khác sẽ dẫn đến tình trạng một số quy định
pháp luật mất tác dụng điều chỉnh thực tế, làm giảm tính tôn nghiêm của pháp luật.

19


2.2.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực tiễn quản lý Nhà nước đối
với báo chí
Hoàn thiện việc xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và
phát triển báo chí trên địa bàn tỉnh.
Lựa chọn, xây dựng mô hình cơ quan báo chí phù hợp với xu thế phát triển
chung của thế giới và phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội, trình độ dân
trí của Tỉnh Kiên Giang và cụ thể là thành lập các tập đoàn báo chí. Cần xây dựng
một lộ trình phù hợp để hình thành nên những tập đoàn báo chí lớn xứng tầm khu
vực và thế giới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin, giải trí của nhân dân.
Xây dựng phương án điều chỉnh cơ quan chủ quản kịp thời theo đúng quy định
của Luật Báo chí.
Bên cạnh đó, tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ đối với cán bộ
báo chí và việc thực hiện chức năng của cơ quan chủ quản.
Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực báo chí là việc làm quan trọng.
Mặc dù ngành báo chí sử dụng nhân lực từ nhiều nguồn khác nhau (văn học, lịch
sử, ngôn ngữ, triết học, xã hội học, vật lý, kinh tế, luật...) nhưng để làm báo chuyên

nghiệp thì phải đào tạo bồi dưỡng bài bản và hệ thống.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng trong hoạt động báo chí.
Hoạt động thanh tra, kiểm tra, khen thưởng là một hoạt động quan trọng và thường
xuyên trong quản lý Nhà nước đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong
lĩnh vực báo chí, hoạt động này còn quan trọng gấp bội phần khi nó liên quan đến
vấn đề định hình tư tưởng, văn hóa và lối sống của đông đảo quần chúng nhân dân.
Bởi lẽ, báo chí không chỉ phản ánh dư luận và còn định hướng dư luận và thực hiện
nhiệm vụ phản biện xã hội, có ý nghĩa đối với một chế độ chính trị.
Để nâng cao hoạt động của báo chí trên địa bàn tỉnh Giám đốc sở thông tin
truyền thông chỉ ra một số lưu ý trong thời gian tới như: bảo đảm thông tin chính
xác, khách quan, tránh đưa tin, bài trùng lắp, sai chính tả; Sở Thông tin và Truyền
thông nên đánh giá tin, bài và hoạt động của phóng viên thường trú, của báo trung
ương trên địa bàn nhất là các mặt tiêu cực. Định hướng thông tin, tuyên truyền quý

20


tới tập trung số vấn đề trọng tâm: Triển khai Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ
tỉnh lần thứ IX của tỉnh và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng; tuyên truyền các hoạt động lễ hội đầu năm, nhất là Tết Nguyên đán; Năm an
toàn giao thông, tập trung tuyên truyền đậm nét nhằm giảm tai nạn giao thông ; các
hoạt động lãnh đạo tỉnh thăm, tặng quà gia đình chính sách, công tác đảm bảo an
sinh xã hội, vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng, chống cháy nổ…
Để không ngừng phát huy dân chủ, đưa các chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, đặc biệt là thông tin về khoa học kỹ thuật
trong sản xuất, xây dựng nông thôn mới… công tác tuyên truyền qua hệ thống
truyền thanh, hoạt động của báo chí đóng vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy, việc
quan tâm đầu tư phát triển mạng lưới truyền thanh cơ sở, nâng cao hoạt động nghề
nghiệp báo chí đã và đang đặt ra cho các cấp lãnh đạo, các cơ quan quản lý cũng
như cơ quan chuyên môn nhiều vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn để phát triển

tương xứng với yêu cầu cuộc sống đang đặt ra ở cơ sở.

21


KẾT LUẬN
Trong xu thế khách quan của toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế, các hoạt động
báo chí được mở rộng, tạo điều kiện cho giao lưu, hội nhập văn hoá, đồng thời cũng
đang diễn ra cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia
và bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và
đang sử dụng hệ thống báo chí để chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng tinh vi và quyết liệt hơn. Chính vì lẽ đó mà
cần đến sự quản lý chặt chẽ và có hiệu quả đối với báo chí trong giai đoạn hiện nay
với mục tiêu vừa đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân, vừa
tạo nên trật tự quản lý góp phần phát triển xã hội, ổn định an ninh trật tự trong nước
và hội nhập quốc tế.
Báo chí là công cụ chính trị của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức, đoàn
thể xã hội, là diễn đàn của nhân dân. Vai trò của báo chí trong đời sống chính trị - xã
hội thể hiện rõ trong hai cuộc kháng chiến của nhân dân ta là chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ để giải phóng đất nước. Báo chí thật sự đã trở thành vũ khí sắc bén
trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, mặt khác, nó cũng tạo những điều kiện cần thiết để
cho mọi người dân có thể tham gia vào đời sống chính trị của đất nước. Vì vậy, ý
nghĩa của thông tin báo chí rất quan trọng. Với nội dung thông tin có định hướng
đúng đắn, chân thật, có sức thuyết phục, báo chí có khả năng hình thành dư luận xã
hội, dẫn đến hành động xã hội, phù hợp với sự vận động của hiện thực theo những
chiều hướng có chủ định. Báo chí còn giữ vai trò tuyên truyền tập thể, cổ động tập
thể, tổ chức tập thể; điều này càng phù hợp với thời đại bùng nổ thông tin hiện nay.
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ,
đặc biệt là công nghệ thông tin đã tác động sâu sắc đến lĩnh vực báo chí, đưa thế
giới từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin báo chí và phát triển kinh

tế tri thức. Sự hội tụ giữa thông tin, viễn thông, tin học là một xu hướng quan trọng
trong xu thế phát triển báo chí trên phạm vi toàn cầu. Đầu tư cho báo chí từ chỗ
được coi là đầu tư cho phúc lợi xã hội chuyển thành đầu tư cho sự phát triển.

22


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nxb. Chính trị
Quốc gia. Hà Nội, 2004.

2.

Nghị định 51- NĐ/CP của Chính phủ qui định chi tiết thi hành
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí
(26/4/2002).

3.

Thông báo số 162- TB/TW Kết luận của Bộ Chính trị về một số
biện pháp tăng cường quản lí báo chí trong tình hình hiện nay

4.

Chỉ thị 37/2006 CTTg của Thủ tướng Chính phủ Về việc thực hiện
kết luận của Bộ Chính trị về một số biện pháp tăng cường lãnh
đạo và quản lí báo chí.


5.

Báo cáo hoạt động báo chí tỉnh Kiên Giang 2012-2013

23


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
CHƯƠNG I......................................................................................................3
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG.........................................................3
VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁO CHÍ........................................3
1.1. Khái quát về báo chí.................................................................................3
1.2. Quản lý Nhà nước đối với báo chí...........................................................6
CHƯƠNG II..................................................................................................14
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁO CHÍ................14
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG.......................................................14
2.1. Thực trạng quản lý Nhà nước đối với báo chí ở tỉnh Kiên Giang
trong giai đoạn hiện nay...............................................................................14
2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với báo chí
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang..........................................................................19
KẾT LUẬN....................................................................................................22
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................23

24



×