Tải bản đầy đủ (.pdf) (85 trang)

THỬ NGHIỆM HỢP CHẤT APEX ĐƯỢC ĐIỀU CHẾ TỪ THẢO MỘC ĐẾN SỰ TĂNG TRỌNG VÀ KHẢ NĂNG DIỆT SÁN LÁ TRÊN CÁ TRA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (596.35 KB, 85 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HCM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỬ NGHIỆM HỢP CHẤT APEX ĐƯỢC ĐIỀU CHẾ TỪ THẢO
MỘC ĐẾN SỰ TĂNG TRỌNG VÀ KHẢ NĂNG DIỆT SÁN LÁ
TRÊN CÁ TRA
(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)

Sinh viên thực hiện: ĐẶNG VĂN PHÚC
Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Chuyên ngành: NGƯ Y
Niên khóa: 2004 - 2008

Tháng 10/2008


THỬ NGHIỆM HỢP CHẤT APEX ĐƯỢC ĐIỀU CHẾ TỪ THẢO
MỘC ĐẾN SỰ TĂNG TRỌNG VÀ KHẢ NĂNG DIỆT SÁN LÁ
TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878)

Tác giả

ĐẶNG VĂN PHÚC

Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư
ngành Nuôi Trồng Thủy Sản, chuyên ngành Ngư Y

Giáo viên hướng dẫn: T.S NGUYỄN HỮU THỊNH


Tháng 10 năm 2008
i


LỜI CẢM ƠN

Tôi kính gửi lòng biết ơn chân thành đến:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh.
Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ
Chí Minh.
Cùng quí thầy cô Khoa Thủy Sản đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi hoàn
tất đề tài nghiên cứu cũng như tận tâm giảng dạy chúng tôi trong suốt quá trình học.
Xin cảm ơn các anh ở trại đã giúp đỡ tôi thật nhiều để hoàn thành đề tài. Và xin
cảm ơn các bạn lớp DH04NY đã động viên giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian
thực hiện đề tài.
Đặt biệt, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Hữu Thịnh đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Do thời gian thực hiện đề tài có hạn nên trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn
tất khóa luận còn nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô
và các bạn để luận văn được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.

ii


TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu : “Khảo nghiệm hợp chất APEX được điều chế từ thảo
mộc đến sự tăng trọng và khả năng diệt sán lá trên cá tra (pangasianodon
hypophthalmus Sauvage, 1878)”. Được tiến hành từ ngày 30/6/2008 đến ngày
25/8/2008, tại Nông Trường Sông Hậu, Thành Phố Cần Thơ.
Thí nghiệm được tiến hành nhằm đánh giá tác dụng của APEX lên khả năng

tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và khả năng diệt sán lá của cá tra. Chúng tôi thu
được kết quả như sau:
+ Về tác dụng của APEX lên khả năng tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức
ăn của cá tra thì kết quả là: ở chế độ cho ăn 1 kg APEX/tấn thức ăn cho cấ tăng trọng
nhanh nhất và hiệu quả sử dụng thức ăn là thấp nhất.
+ Về khả năng diệt sán lá trên cá tra của APEX có kết quả là: ở chế độ cho ăn
1 kg APEX/tấn thức ăn có hiệu quả trong việc điều trị sán lá trên mang.

iii


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN

ii

TÓM TẮT

iii

MỤC LỤC

iv

DANH SÁCH CÁC HÌNH

vii

DANH SÁCH CÁC BẢNG


viii

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

ix

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

x

Chương 1. MỞ ĐẦU

1

1.1 Đặt vấn đề

1

1.2 Mục tiêu đề tài

2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

2.1 Đặc Điểm Sinh Học của Cá Tra

3


2.1.1 Phân loại

3

2.1.2 Phân bố

3

2.1.3 Đặc điểm hình thái

4

2.1.4 Điều kiện môi trường sống

4

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng

5

2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng

5

2.1.7 Đặc điểm sinh sản

5

2.2 Sơ lược về tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá


6

2.2.1 Tình hình nghiên cứu kí sinh trùng trên thế giới

6

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam

7

2.3 Sán Lá Đơn Chủ (Monogenea)

8

2.3.1 Đặc điểm chung của lớp sán lá đơn chủ

8

2.3.2 Đặc điểm hình thái

8
iv


2.3.3 Đặc điểm cấu tạo

9

2.3.4 Tập tính sống


10

2.3.5 Chu kỳ phát triển của sán lá đơn chủ

10

2.3.6 Bệnh sán lá 16 móc (Dactylogyrosis)

11

2.3.6.1 Tác nhân gây bệnh

11

2.3.6.2 Dấu hiệu bệnh lý

11

2.3.6.3 Phân bố

12

2.3.6.4 Chẩn đoán bệnh

12

2.3.6.5 Mùa vụ xuất hiện bệnh

12


2.3.6.6 Phòng và trị bệnh

12

2.4 Một số thông tin về APEXTM 3050

13

2.5 Đặc điểm của một số cây thuốc thảo mộc

15

2.5.1 Tỏi (Allium sativum L.)

15

2.5.2 Ớt (Capsicum frutescens)

16

2.5.3 Gừng (zingiber officinale Roscoe)

18

2.5.4 Hồi (Illicium verum Hook)

20

2.5.5 Cây hương thảo (Ruta graveolen)


21

2.5.6 Quế (Cinnamonum cassia Blume)

22

2.5.7 Cỏ xạ hương (Thymus vulgaris)

24

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

26

3.1 Thời Gian và Địa Điểm

26

3.2 Đối tượng nghiên cứu

26

3.3 Dụng cụ và vật liệu

26

3.4 Phương pháp nghiên cứu

26


3.4.1 Phương pháp sử dụng thuốc điều trị

26
v


3.4.2 Phương pháp kiểm tra cường độ cảm nhiễm và tỷ lệ cảm nhiễm

27

3.4.3 Phương pháp thu mẫu

27

3.4.4 Phương pháp kiểm tra sán lá

27

3.4.5 Phương pháp xử lý số liệu

27

3.4.6 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu trong quá trình thí nghiệm

27

3.4.6.1 Các chỉ tiêu môi trường

27


3.4.6.2 Lượng thức ăn

28

3.5 Phương pháp bố trí thí nghiệm

28

3.5.1 Khảo nghiệm tác dụng của APEX đến mức độ tăng trưởng cá nuôi

29

3.5.2 Khảo nghiệm tác dụng của APEX trong việc điều trị sán lá mang

29

Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

31

4.1 Các Chỉ Tiêu Môi Trường

31

4.1.1 Hàm lượng oxy hòa tan

31

4.1.2 Hàm lượng NH3


32

4.1.3 Nhiệt độ

32

4.1.4 pH

33

4.2 Khảo nghiệm tác dụng của APEX đến tốc độ tăng trưởng

33

và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá
4.3 Tỷ lệ sống

37

4.4 Khảo nghiệm tác dụng của APEX đến việc trị sán lá mang

38

4.4.1 Tỷ lệ cảm nhiễm

38

4.4.2 Cường độ cảm nhiễm

40


Chương 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

43

5.1 Kết luận

43

5.2 Đề nghị

43
vi


DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Công thức cấu tạo của gingerol

18

Hình 2.2: Công thức cấu tạo của anethol

21

Hình 2.3: Công thức cấu tạo của aldehyd cinnamic

23

Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm


28

Hình 3.2: Vị trí các giai bố trí thí nghiệm trong ao

29

Hình 4.1: Cho cá ăn

34

Hình 4.2: Sán lá

39

vii


DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Hàm lượng ôxy hòa tan trong thời gian thí nghiệm

31

Bảng 4.2: Hàm lượng NH3 trong suốt thời gian thí nghiệm

32

Bảng 4.3: Nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm

32


Bảng 4.4: pH trong thời gian thí nghiệm

33

Bảng 4.5: Trọng lượng trung bình và lượng thức ăn của cá

34

Bảng 4.6: Hệ số biến đổi thức ăn và tỷ lệ tăng trưởng

35

Bảng 4.7: Lượng thức ăn trung bình và lượng APEX trung bình cá hấp thụ trên ngày

36

Bảng 4.8: Phần trăm trọng lượng trung bình đạt được của các nghiệm thức

36

Bảng 4.9: Tỷ lệ sống trung bình của các nghiệm thức

37

Bảng 4.10: Tỷ lệ cảm nhiễm trung bình giữa các nghiệm thức ở tuần 2, 3 và tuần 4

39

Bảng 4.11: tỷ lệ cảm nhiễm trung bình ở các tuần 5, 6, 7, 8


40

Bảng 4.12: Cường độ sán lá trung bình trong tuần 1 và tuần 2 của thí nghiệm

41

Bảng 4.13: Cường độ sán lá trung bình trong tuần 4 và tuần 5 của thí nghiệm

41

Bảng 4.14: Cường độ sán lá trung bình trước trong tuần 7 và tuần 8 của thí nghiệm

41

viii


DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ chuyển đổi thức ăn và hệ số thức ăn sau 8 tuần

35

Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ sống của cá

37

Biểu đồ 4.3: tỷ lệ cảm nhiễm trung bình ở các nghiệm thức sau thí nghiệm

38


Biểu đồ 4.4: Cường độ cảm nhiễm trung bình của sán lá trong 8 tuần thí nghiệm

40

ix


DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SGR Specific growth rates.
FCR Feed conversion rate.
SR

Survival rate.

FI

Feed intake.

DO

Dissolve Oxygen.

x


Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành thủy sản nước ta đã có những bước phát triển vượt

bậc. Sản lượng xuất khẩu không ngừng gia tăng. Trong đó, cá tra là đối tượng được xuất khẩu
với tỷ trọng nhiều về sản lượng, giá trị và các mặt hàng cá tra đông lạnh được xuất khẩu với
hơn 40 nước trên thế giới.
Trước tình hình đó, diện tích nuôi cá tra tăng nhanh với mật độ ngày càng dày hơn để
đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu. Tuy nhiên, bệnh trên cá cũng xảy ra ngày một nhiều do chất
lượng nước ngày càng ô nhiễm. Người nuôi cá đã sử dụng rất nhiều hóa chất và kháng sinh
trong đó có những hóa chất đã bị cấm sử dụng trong phòng trị bệnh.
Hạn chế trong việc sử dụng kháng sinh và hóa chất trong nuôi cá tra nói riêng cũng
như nuôi trồng thủy sản nói chung là một trong những mục tiêu quan trọng nhằm giúp nghề
nuôi thủy sản phát triển bền vững. Các giải pháp hiện nay là nghiên cứu và ứng dụng các hợp
chất, sản phẩm có chế phẩm sinh học thay thế cho hóa chất và kháng sinh trong phòng trị
bệnh cá. Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về thuốc thảo mộc để trị bệnh cho cá. Nó
không những không ảnh hưởng đến môi trường và cũng không gây hại cho sức khỏe con
người.
Một trong những bệnh gây tác hại nhiều đến cá tra là bệnh sán lá mang. Bệnh chủ yếu
xảy ra trên cá giống, bệnh đặt biệt phát triển mạnh vào mùa mưa làm cho cá suy yếu, ốm và
giảm sức đề kháng và có khi bị chết.
Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông
Lâm, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo nghiệm hợp chất APEX được điều chế từ
thảo mộc đến sự tăng trọng và khả năng diệt sán lá trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus
Sauvage, 1878)”.

1


1.2 Mục tiêu đề tài
Xem xét ảnh hưởng của APEX đối với sự tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của
cá tra.
Đánh giá tác dụng của APEX trong điều trị bệnh sán lá mang trên cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878).


2


Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc Điểm Sinh Học của Cá Tra
2.1.1 Phân loại
Ngành: Chordata.
Ngành phụ: Vertebrata.
Lớp: Osteichthyes.
Bộ: Siluriformes.
Họ: Pangasiidae.
Giống: Pangasianodon.
Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage,1878).
Tên tiếng Anh: Tra Catfish
Tên Việt Nam: Cá tra
2.1.2 Phân bố
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mê Kông, có mặt cả ở 4 nước Lào, Việt Nam,
Campuchia và Thái Lan. Ở nước ta những năm trước đây, khi chưa có sản xuất giống nhân
tạo thì cá bột và cá giống được vớt trên sông Tiền và sông Hậu.
Cá tra trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong tự nhiên thuộc địa phận Việt
Nam do cá có tập tính di cư ngược dòng trên sông Mêkông để sinh sống và tìm nơi sinh sản.
Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở địa phận Campuchia cho thấy cá di chuyển ngược dòng từ
tháng 10 – 4 và di chuyển về hạ lưu từ tháng 5 – 9 hàng năm.

3



2.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá tra có đầu rộng, dẹp bằng, mõm ngắn. Răng nhỏ mịn, răng vòm miệng chia làm bốn
đám nhỏ mỏng chia làm đường vòng cung. Có hai đôi râu, râu mép ngắn kéo dài chưa đến
gốc vây ngực.
Thân thon dài, không vảy, màu sắc đen xám trên mặt lưng của đầu và thân, bụng màu
trắng bạc, phần chót đuôi hơi đỏ, tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của đầu cá tra lớn hơn cá
basa.
Đường bên kéo dài hoàn toàn theo chiều dọc của thân và phân nhánh bắt đầu từ mép
trên của lỗ mang đến gốc vây đuôi, mặt sau của gai vi lưng và vi ngực có răng cưa.
Cá khi còn nhỏ phần lưng của đầu và thân có màu xanh lục và hai sọc màu xanh lục
chạy dài theo chiều dọc của thân, sọc này lợt dần và mất đi khi cá lớn.
Theo Robert và ctv, (1991). Số tia vây bụng của cá tra V = 8 – 9. Vây hậu môn
A = 31 – 33. Lược mang 29 – 38, bóng hơi chỉ có một ngăn nằm duỗi thẳng trong xoang bụng
(Phạm Văn Khánh, 1996).
2.1.4 Điều kiện môi trường sống
Cá tra sống ở các thủy vực nước chảy và nước tĩnh.
Nhiệt độ: 26oC – 30oC (ở 15oC cường độ bắt mồi của cá giảm, ở 39oC cá bơi lội không
bình thường).
Ôxy hòa tan: số lượng hồng cầu trong máu cá tra (1,69 x 106 tế bào/mL máu) nhiều
hơn các loài cá khác (Quách thị tài, 1990). Chúng có cơ quan hô hấp phụ, có thể hô hấp bằng
bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường thiếu ôxy hòa tan. Hàm lượng ôxy hòa tan tối
ưu cho cá là 3 – 6 mg/L.
pH tối ưu: 6,5 – 8 (pH = 5 cá mất nhớt, râu teo hoạt động chậm chạp, pH = 11 cá lờ đờ
có biểu hiện mất nhớt (Dương Tấn Lộc, 2004).
Độ mặn: Cá có thể sống ở độ mặn từ 8 – 10o/oo, tuy nhiên cá chủ yếu sống ở các thủy
vực nước ngọt.

4



2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá tra sau khi tiêu hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn
nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho ăn đầy đủ,
thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn lẫn nhau trong đáy vợt. Ngay khi vừa hết noãn
hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn nhau cần nhanh
chóng chuyển cá ra ao ương sau khi trứng nở 18 – 24 giờ. Trong quá trình ương nuôi thành cá
giống trong ao, chúng ăn các loài phù du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng và
ăn thức ăn nhân tạo. Các nhóm phiêu sinh động vật mà cá tra có thể ăn được như: Copepoda,
Cladocera, Rotifera.
Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi
loại thức ăn. Trong ao nuôi, cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau
như: cám, động vật đáy.
2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra có tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, khi còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài.
Cá ương trong ao sau 2 tháng đạt chiều dài 10 – 12 cm (14 – 15 g). Thông thường khi cá con
vớt trên sông có chiều dài từ 1,2 - 1,5 cm (khoảng 12 – 15 ngày tuổi), đưa vào nuôi trong ao
sau 14 ngày đạt chiều dài 2,6 cm và trọng lượng là 0,52 g. Từ khoảng 2,5 kg trở đi, trọng
lượng của cá tăng nhanh hơn chiều dài của cơ thể.
Cá tra nuôi trong ao có thể đạt 7 – 8 kg với chiều dài 60 cm. Trong tự nhiên, cá tra có
thể sống trên 20 năm và đã gặp cá nặng 18 kg hoặc có con dài hơn 1,8 m.
2.1.7 Đặc điểm sinh sản
Tuổi thành thục của cá đực là 2 tuổi và cá cái là 3 tuổi, trọng lượng cá thành thục lần
đầu là 2,5 – 3 kg. Trong tự nhiên, ta chỉ gặp cá thành thục ở địa phận Campuchia và Thái Lan.
Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), cho nên nếu chỉ nhìn bên
ngoài thì khó phân biệt được đực, cái.
Ở thời kỳ thành thục sinh dục, tuyến sinh dục cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay
tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào. Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt
được đực cái từ giai đoạn II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều.
Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 – 6 dương lịch, cá có tập
tính di cư sinh sản trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận

Campuchia và Thái Lan, cá không đẻ tự nhiên ở phần sông của Việt Nam.
5


Trong sinh sản nhân tạo, người ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong
tự nhiên, cá có thể tái phát dục một đến ba lần trong một năm. Sức sinh sản tuyệt đối của cá
tra từ 200.000 đến vài triệu trứng. Sức sinh sản tương đối 135.000 trứng/kg cá cái. Kích thước
của trứng cá tra tương đối nhỏ và dính.
2.2 Sơ lược về tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá
2.2.1 Tình hình nghiên cứu kí sinh trùng trên thế giới
Những nghiên cứu ký sinh trùng trên cá đã được thực hiện từ thời Linnae (1707 1778).
Ở Liên Xô cũ, Dogiel (1882 – 1956) với những công trình nghiên cứu của mình đã đặt
nền móng cho việc nghiên cứu ký sinh trùng trên cá.
Cho đến năm 1962, Bychowsky và các cộng sự đã xuất bản công trình nghiên cứu khu
hệ ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Liên Xô. Công trình mô tả hơn 2.000 loài ký sinh trùng ở
233 loài cá thuộc 25 họ cá nước ngọt ở Liên Xô.
Năm 1983, Musselius đã đưa ra phương pháp nghiên cứu tác nhân gây bệnh ký sinh
trùng ở cá.
Từ 1958 – 1997 Jiri Lom và các cộng sự đã nghiên cứu và xuất bản cuốn “Ký sinh
trùng đơn bào (Protozoa) của cá”.
Năm 1976, Grupcheva và Lom đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào của cá chép ở
Tiệp Khắc và Bungari.
Từ giữa thế kỷ 20, ở Trung Quốc đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng
trên cá. Chenchihleu (1973) là chủ biên cuốn sách ký sinh trùng cá nước ngọt ở Hồ Bắc, điều
tra trên 50 loài cá nước ngọt và phân loại được 375 loài ký sinh trùng.
Từ 1958 – 1971 nhà ký sinh trùng học người Nhật Yamaguti đã tổng kết kết quả các
nghiên cứu về giun sán ký sinh trong ở động vật và người trên thế giới. Nagasawa, Awakura
và Urawa (1989) đã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokkaido – Nhật
Bản và định danh được 96 loài ký sinh trùng, còn 38 loài chưa xác định được tên loài.
Ấn Độ cũng là nước có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên cá. Trong đó

có: Gussev (1976) đã nghiên cứu khu hệ sán lá đơn chủ ở 37 loài cá nước ngọt ở Ấn Độ. Phân
loại được 57 loài sán lá đơn chủ trong đó có 40 loài mới.

6


Ở Châu Phi, Trung Cận Đông đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên
cá. Năm 1996, Paperra xuất bản cuốn ký sinh trùng về bệnh truyền nhiễm ở cá Châu Phi.
Ở Banglades, Ahmed và Ezaz (1997) đã nghiên cứu ký sinh trùng của 17 loài cá da
trơn kinh tế nước ngọt và đã xác định được 96 loài giun sán ký sinh.
Hoffman (1998) tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng của cá nước ngọt ở Bắc Mỹ.
Một số nước ở khu vực Đông Nam Á đã có các công trình nghiên cứu ký sinh trùng
trên cá từ đầu thế kỷ 20. Ở Philippines: Các tác giả nghiên cứu ký sinh trùng sớm nhất là
Tuibangui (1928 – 1946), Vasquez-Colet (1938 – 1943), Africa (1936 – 1938). Các tác giả
Arthur, Luman-May (1997) tổng kết được 201 loài ký sinh trùng ở 172 loài cá. Ở Thái Lan:
Chinabut Surpamce (1991, 1996 – 1997) đã nghiên cứu sán lá đơn chủ (monogenan) trên một
số loài cá nước ngọt. Ở Lào: Moravec và Scholz (1988) đã xác định được 11 loài giun tròn
(nematoda) ký sinh ở 10 loài cá nước ngọt.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam là bác sĩ Albert Billet (1856 –
1915). Ông mô tả 1 loài sán lá song chủ Distomum hypselobagri ký sinh trong bong hơi ở cá
nheo của Việt Nam.
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở cá nước ngọt được tiến hành từ
1960 ở Miền Bắc và từ sau năm 1975 ở các tỉnh Miền Trung, các tỉnh Tây Nguyên và Đồng
Bằng Sông Cửu Long. Từ những năm 1961 – 1976 các nhà khoa học của Liên Xô Lebedev,
Oschanarin, Mamaev, Paruchin đã điều tra ký sinh trùng ở hơn 60 loài cá ở Vịnh Bắc Bộ. Các
tác giả đã xác định 190 loài giun sán, trong đó mô tả 9 giống và 37 loài mới đối với khoa học.
Công trình nghiên cứu ký sinh trùng đầy đủ nhất thuộc về phó giáo sư Hà Ký (1968 –
1971), ông đã diều tra 16 loài cá kinh tế nước ngọt ở Miền Bắc Việt Nam. Ông xác định được
120 loài ký sinh trùng, mô tả được 1 họ và 42 loài mới cho khoa học.

Các tác giả Lê Văn Hòa và Phạm Ngọc Khuê (1867), Lê Văn Hòa và Phạm Thị Liên
Hương (1969) đã nghiên cứu, phân loại giun tròn ở Nam Bộ. Các tác giả đã mô tả 1 giống và
2 loài mới là Pseudoproleptus lamyi, Campanarougetra campanarougetae (Bùi Quang Tề,
2001).
Nguyễn Thị Muội và ctv (1981 – 1985) đã diều tra ký sinh trùng ở 1 số loài cá nước
ngọt ở Tây Nguyên, trong đó có lớp sán lá đơn chủ (Monogenean). Nguyễn Thị Muội (1976)

7


và ctv đã nghiên cứu giun đầu gai trên cá thuộc Đồng Bằng Bắc Bộ, bước đầu phân loại được
9 loài ký sinh trùng trên 12 loài cá.
Bùi Quang Tề (2001) đã điều tra ký sinh trùng ở 41 loài cá kinh tế nước ngọt ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long, xác định được 157 loài ký sinh trùng, 70 giống, 46 họ trong đó có 121
loài đầu tiên được phát hiện ở Việt Nam. Ông cũng đã đưa 1 số giải pháp để điều trị bệnh ký
sinh trùng.
2.3 Sán Lá Đơn Chủ (Monogenean)
2.3.1 Đặc điểm chung của lớp sán lá đơn chủ
Lớp sán lá đơn chủ (Monogenean) có khoảng 1.500 loài, đa số là ngoại ký sinh thường
ký sinh trên da, mang của cá nước ngọt và cá biển. Một số ít ký sinh trên lưỡng thê, baba, giáp
xác, . . . Hầu hết các loài có kích cỡ không vượt quá 3 mm, tuy nhiên có 1 số loài sống ở biển
có thể đạt tới 3 cm.
Lớp sán lá đơn chủ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian, không xen kẽ
giữa thế hệ và không thay đổi ký chủ.
2.3.2 Đặc điểm hình thái
Cơ thể sán lá đơn chủ nhỏ, chiều dài khoảng 0,5 đến vài mm. Những loại ký sinh trên
cá nước ngọt có hình dạng ít thay đổi, cơ thể thường hình lá, hình trụ hoặc hơi có hình bầu
dục. Trong khi các loài ký sinh trên cá biển có sự thay đổi nhiều hơn về hình dạng, kích thước
và thường lớn hơn so với ký sinh trùng cùng giống ở cá nước ngọt.
2.3.3 Đặc điểm cấu tạo

Monogenean tiêu biểu có thân đối xứng 2 bên, dẹt về phía lưng bụng, cơ thể được bao
bọc bởi cutin, bên trong là lớp nguyên sinh chất hợp bào mỏng, trong suốt. Cơ thể chúng được
bao bọc bởi 1 lớp nguyên sinh chất mỏng, trong suốt do tầng tế bào thượng bì phân tiết mà tạo
thành. Tiếp theo là các tầng cơ để bảo vệ cơ thể và giúp cho sán lá vận động.
Phía trước cơ thể có miệng và cơ quan đầu dùng để lấy thức ăn và vận động. Cơ quan
tiêu hóa gồm có miệng hầu, thực quản, ruột hình ống thẳng hoặc phân thành hai nhánh, chỉ có
ruột trước, ruột giữa và không có hậu môn.
Sán lá đơn chủ có thân bám rất phát triển, phía trước cơ thể có các giác hút, phía sau
cơ thể có đĩa bám lớn, cấu tạo gồm có móc lớn ở giữa (anthor) và các móc rìa (marginal) ở
xung quanh bằng chất kitin, có thể cắm sâu và gây hại tổ chức ký chủ, gây tổn thương cơ học
8


, mở đường cho vi sinh vật, nấm và các ký sinh trùng khác xâm nhập vào gây viêm loét. Cấu
tạo và hình dạng của cơ quan bám là chỉ tiêu quan trọng để phân loại Monogenean.
Sán lá đơn chủ hút máu và niêm dịch, kích thích cơ thể tiết ra chất nhầy, phá hoại cơ
năng và sinh lý bình thường của ký chủ. Khi chúng ký sinh trên cơ thể với số lượng lớn làm
cho cá hương và cá giống chết hàng loạt.
Cơ quan bài tiết là nguyên thận.
Hệ thần kinh là những hạch thần kinh đầu và các dây thần kinh dọc nối liền thành các
vòng giao nhau.
Hệ sinh dục lưỡng tính. Cơ quan sinh dục đực gồm: tinh hoàn, ống dẫn tinh, các tuyến
phụ. Hệ sinh dục cái gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, noãn hoàn, các tuyến phụ. Cấu tạo của
cơ quan giao cấu là tiêu chuẩn quan trọng để phân loại đến loài.
2.3.4 Tập tính sống
Hầu hết các Monogenean có tính đặc hiệu ký chủ và vị trí ký sinh trên ký chủ rất cao.
Mỗi loài sán lá khác nhau có vị trí ký sinh trên mang khác nhau, có nhiều loài xuất hiện trên
cả 4 cung mang. Vị trí ký sinh trên một cung mang cũng thường khác nhau, một số loài (chủ
yếu Dactylogyrus) ký sinh trên toàn bộ chiều dài của mang, trong khi những loài khác chỉ ký
sinh ở phần đầu hoặc phần cuối của mang.

Nồng độ ôxy ảnh hưởng đến vị trí ký sinh của một số loài. Ví dụ loài Dactylogyrrus
solidus hoạt động di chuyển ra phần đầu của mang thứ nhất, thứ tư khi nồng độ ôxy trong
nước tăng.
2.3.5 Chu kỳ phát triển của sán lá đơn chủ
Dựa vào hình thức sinh sản, Monogenean được chia thành hai nhóm:
Nhóm đẻ con (chỉ có Gyrodactylidea)
Nhóm đẻ trứng
Trung bình, Dactylogyrus đẻ 20 trứng trong một giờ ở 24oC. Trứng thường bám vào
thực vật thủy sinh hoặc lắng xuống thủy vực. Trứng nở thành ấu trùng bơi tự do, có khả năng
nhiễm vào tất cả các ký chủ. Đây là đời sống của Dactylogyrus sống ở nước ngọt, được
nghiên cứu nhiều nhất là Dactylogyrus vastator Nybelin.

9


Sự phát triển của trứng bên ngoài cơ thể phụ thuộc vào nhiệt độ nước. Trứng của các
Monogenean nở nhờ sự kích thích hóa học (chất nhầy của cá) và các yếu tố môi trường (nhiệt
độ, ánh sáng, ...)
Theo Nybelin, khi nhiệt độ của nước ấm lên thì sự sinh sản diễn ra mạnh mẽ. Trong
thời gian này một số thế hệ sán lá được tạo ra, sau đó khi nhiệt độ của nước hạ thấp xuống,
sán lá bắt đầu đẻ trứng mùa đông. Những trứng này ngủ đông ở dưới đáy thủy vực và chúng
phát triển vào mùa hè năm sau đó.
Theo Bychowsky, khi nhiệt độ của nước từ 21,5 - 24,5oC thì thời gian phát triển của
trứng từ lúc đẻ ra đến khi nở thành ấu trùng mất 4 ngày, ở 18,2oC là 5 ngày, ở 16,4oC là 7
ngày.
2.3.6 Bệnh sán lá 16 móc (Dactylogyrosis)
2.3.6.1 Tác nhân gây bệnh
Lớp: Monogenean.
Bộ: Dactylogyridea Bychowsky, 1937.
Họ: Dactylogyridae Bychowsky, 1933.

Giống: Dactylogyrus Diesing, 1850.
Cơ thể của Dactyloryrus nói chung rất nhỏ, dài, lúc còn nhỏ có màu trắng nhạt và vận
động rất hoạt bát. Phía trước cơ thể có 4 điểm mắt, phía sau cơ thể có đĩa bám, chính giữa đĩa
bám có một đôi móc lớn và xung quanh đĩa bám có 7 đôi móc rìa vì thế thường có tên gọi sán
lá 16 móc.
Cơ quan tiêu hóa của sán lá 16 móc gồm: miệng hình phểu ở trước, hầu, thực quản
ngắn, ruột chia thành 2 nhánh chạy dọc cơ thể xuống phía sau rồi tiếp hợp lại tạo thành ruột
kín.
Dactylogyrus có cơ quan sinh dục lưỡng tính, cơ quan sinh dục đực và cơ quan sinh
dục cái cùng nằm trên một cơ thể. Dactyloryrus đẻ trứng và quá trình đẻ trứng của nó phụ
thuộc vào nhiệt độ, đẻ nhanh khi nhiệt độ nước ấm, nhiệt độ thuận lợi cho Dactyloryrus đẻ
trứng là 23 – 25oC (trích bởi Bauer, 1977).
2.3.6.2 Dấu hiệu bệnh lý
Dactyloryrus ký sinh trên mang và da của cá nhưng chủ yếu là mang. Lúc ký sinh
chúng dùng móc của đĩa bám sau bám vào tổ chức, tuyến đầu tiết ra men hyaluronidaza phá
10


hoại tế bào tổ chức da, mang của cá làm cho da và mang tiết ra nhiều dịch nhờn. Mang bị
viêm loét, thối rửa, sợi mang bị đứt rời ảnh hưởng đến hô hấp của cá, nên cá có dấu hiệu bơi
lội bất thường, mang có hiện tượng sưng, phù nề và bơi lội chậm chạp, cơ thể gầy yếu, có thể
gây chết từ rải rác tới hàng loạt cá hương, cá giống.
Cá bị bệnh sán lá 16 móc thường bơi lội chậm chạp, gầy yếu.
2.3.6.3 Phân bố
Sán lá phân bố rộng, thành phần loài rất phong phú. Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, đã
phát hiện được hơn 50 loài sán lá đơn chủ trên 31 loài cá. Tác hại chủ yếu là trên cá giống.
Giống Dactylogyrus có tính đặc hữu cao nhất của lớp sán lá đơn chủ, mỗi loài sán chỉ
ký sinh trên một loài cá. Dactylogyrus ký sinh trên nhiều loài cá nước ngọt, gây bệnh nghiêm
trọng ở giai đoạn cá hương và cá giống.
Ở Việt Nam phát hiện khoảng 46 loài Dactylogyrus ký sinh trên nhiều loài cá thuộc họ

cá chép (Cyprinidae), cá tra (Pangasiidae) và cá tự nhiên. Bệnh thường phát triển mạnh trong
các ao nuôi mật độ cao, điều kiện môi trường nước bẩn, nhiệt độ thích hợp cho chúng phát
triển là 22 – 28oC.
2.3.6.4 Chẩn đoán bệnh
Để chẩn đoán tác nhân gây bệnh Dactylogyrosis, chúng ta có thể kiểm tra dịch nhờn
của da và mang dưới kính hiển vi.
2.3.6.5 Mùa vụ xuất hiện bệnh
Bệnh xuất hiện vào mùa xuân, mùa thu ở Miền Bắc và mùa mưa ở Miền Nam.
2.3.6.6 Phòng và trị bệnh
Ta áp dụng phương pháp phòng bệnh chung. Tăng cường chăm sóc cá giống, cho ăn
đầy đủ, cá chóng lớn vượt qua giai đoạn dễ nhiễm bệnh.
Có rất nhiều loại hóa chất để trị bệnh sán lá:
+ Dipterex tắm cho cá, nồng độ 5 – 10 ppm (mg/L). Thời gian 15 – 20 phút hoặc
rãi trực tiếp xuống bể, ao nuôi nồng độ 0,5 – 1 ppm (g/m3 nước).
+ Dùng muối NaCl 3 – 4% tắm cho cá từ 5 – 10 phút.
+ Dùng formalin tắm nồng độ 150 – 200 ppm trong thời gian 30 – 60 phút hoặc
phun trực tiếp xuống ao, bể nuôi cá nồng độ 15 – 20 ppm….
11


2.4 Một số thông tin về APEXTM 3050
Thành phần:
Gồm 1 tập hợp các chất trích ly từ các loại dược thảo sau: cây hương thảo, tỏi, gừng,
cây xạ hương, hồi, quế, ớt và các loại dược thảo khác.
Tính chất vật lý của APEXTM 3050
+ Dạng bột, màu trắng ngà.
+ Không tan.
+ Màu tự nhiên của các loại dược thảo, không bổ sung màu tổng hợp.
+ Màu tự nhiên của hạt hồi.
+ Không bổ sung thêm chất chống ôxy hóa.

Tác dụng của APEX:
+ Tăng cường miễn dịch: hoạt động như chất chống ôxy hóa.
Phòng ngừa các bệnh về gan thận: tăng lipid peroxide và giảm triglycerides
trong gan.
Hạn chế các dịch bệnh khác bằng cách hạn chế các gốc tự do.
Duy trì chức năng và sự chuyển hóa các tế bào.
Giúp tăng sức đề kháng và khả năng miễn dịch, phòng chống virus, nhiễm
trùng.
Tác dụng kháng sinh
+ Kháng khuẩn
Các chất azole, diallil disulfite và các hợp chất chứa lưu huỳnh có trong APEXTM 3050
có khả năng ức chế 70 loài vi khuẩn gram (-) và gram (+) kể cả những vi khuẩn đã lờn thuốc
kháng sinh thường dùng.
APEXTM 3050 hoàn toàn không gây tác dụng phụ, không làm lờn kháng sinh, giúp vật
nuôi đáp ứng kháng sinh rất tốt trong trường hợp bắt buộc phải sử dụng kháng sinh
(Thyamphenicol, Flophenicol, Thyamphenicol,...) khi sử dụng phối hợp.
APEXTM 3050 có thể thay thế hoàn toàn các kháng sinh: Tylosin, Chlortetracyline,
Sulfamethazine và Penicilin khi dùng như chất kháng sinh kích thích tăng trưởng.
12


+ Kháng virus: APEXTM 3050 có thể phòng ngừa các bệnh do virus gây ra.
+ Diệt ký sinh trùng và nguyên sinh động vật:
Phòng chống hữu hiệu nội ký sinh (sán lá gan và các loại ký sinh đường ruột
khác) và các bệnh do ngoại ký sinh (nấm thủy mi, trùng bánh xe, ...).
APEXTM 3050 có chứa Talin làm tăng mùi vị của thức ăn, kích thích tính thèm
ăn của vật nuôi, giúp vật nuôi chuyển hóa hữu hiệu qua lượng thức ăn ăn vào, mức tăng trọng
tốt và có hình thể tốt hơn so với khi dùng kháng sinh.
Liều lượng sử dụng
+ Liều phòng liên tục 300 – 500 g/tấn thức ăn.

+ Liều trị: 1kg/tấn thức ăn 7 – 10 ngày liên tục.
APEXTM 3050 thích hợp cho sản xuất thức ăn viên, trộn với hỗn hợp với pre-mix
(khoáng chất/vitamin) hoặc đưa trực tiếp vào máy trộn thức ăn. APEXTM 3050 đã được xử lý
để có thể chịu được nhiệt độ ép viên, ép đùn.
Quy cách đóng gói
+ Sản phẩm được đóng trong bao 25 kg.
Thời hạn sử dụng
+ 18 tháng kể từ ngày sản xuất
Điều kiện lưu trữ
Lưu trữ nơi khô ráo và thoáng mát, tránh ánh nắng mặt trời trực tiếp chiếu vào.
2.5 Đặc Điểm của Một Số Cây Thuốc Thảo Mộc
2.5.1 Tỏi (Allium sativum L.)
Tên khoa học: Allium sativum
Tên nước ngoài: Garlic, son leek (Anh), ail commun (Pháp).
Họ: Liliacae
Thành phần hóa học
+ Thành phần kháng khuẩn chủ yếu của tỏi là: chất Alicine (C6H10OS2), alicine là
một hợp chất sulphu có tác dụng diệt khuẩn mạnh, phổ diệt khuẩn rộng với nhiều loại vi khuẩn
như: thương hàn, phó thương hàn, lỵ, tả, trực khuẩn, bạch hầu, vi khuẩn gây thối rửa.
13


+ Trong tỏi tươi không có chất alicine mà nó có chất aliin là một acid amin dưới tác
dụng của men alinaza có trong củ tỏi để tạo thành alicine.
Men alinaza
2CH2 – CH – CH – CH2 – CH - COOH

CH3 – CO – COOH + 2NH3
H 2O


aliin

acid pyruvic

amoniac

NH2
+ CH2 = CH – CH2 – S – S – CH2 – CH = CH2
O
Alicine

+ Chất alicine tinh khiết là một chất dầu không màu, tan trong cồn, benzen, ete.
Alicine cho vào dung dịch nước dễ bị thủy phân làm mất tính ổn định, độ thủy phân 2 – 5%.
Có mùi hôi của tỏi. Chất alicine để ở nhiệt độ mát trong phòng sau 2 ngày không còn tác dụng,
gặp môi trường kiềm cũng biến chất nhưng trong môi trường aicd yếu không bị ảnh hưởng. Củ
tỏi nghiền thành bột khô bảo quản lâu.
Công dụng
+ Khả năng diệt trùng của alicine do ôxy nguyên tử, alicine rất dễ kết hợp với một
acid amin có gốc SH là cystein của tế bào vi khuẩn để tạo thành hợp chất làm vi khuẩn hết khả
năng sinh sản dẫn đến ức chế. Ôxy nguyên tử trong alicine cũng dễ tách ra làm mất tác dụng
kháng khuẩn của alicine.
+ Nồng độ alicine trong dung dịch từ 1:50 000 đến 1:125 000 có khả năng ức chế
sinh trưởng nhiều vi khuẩn gram (-) và gram (+), hoạt tính của 1 mg alicine tương đương với
15 IU penixilin. Chất alicine không bị para amino benzoic acid làm ảnh hưởng đến tác dụng
như sulphamid.
2.5.2 Ớt (Capsicum frutescens L.)
Tên đồng nghĩa Capsicum annuum L.
Tên khác: Phiên tiêu
Tên nước ngoài: Red pepper, Chile pepper.
Họ: Cà (solanaceae)


14


×