Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

Tiểu luận thi hành án dân sự 2014

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (92.68 KB, 14 trang )

Đề tài số 12: Miễn giảm nghĩa vụ thi hành án là gì? Tại sao lại có chủ
trương miễn giảm nghĩa vụ thi hành án? Ý kiến của em về vấn đề này?
Lời mở đầu
Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014 đã có những
thay đổi nhất định để kiện toàn công tác thi hành án dân sự được diễn ra thuận
lợi hơn trên thực tế. Đối với trường hợp khi bản án, quyết định của Tòa án có
hiệu lực pháp luật thì các chủ thể có quyền và nghĩa vụ phải thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, không phải lúc nào việc thi hành án cũng diễn
ra được thuận lợi bởi các lí do khác nhau từ người phải thi hành, từ tài sản phải
thi hành, do đó đối với những trường hợp này pháp luật thi hành án dân sự cần
có những quy định cụ thể. Theo đó, Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi
bổ sung năm 2014 với nội dung miễm giảm nghĩa vụ thi hành án đã có những
thay đổi nhất định phù hợp với quyền và lợi ích của đương sự, người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan, lợi ích nhà nước và xã hội. Qua đó, cụ thể hóa việc đảm
bảo, công nhận, tôn trọng quyền con người, quyền công dân ở Nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam theo Hiến pháp và pháp luật.

I.Một số vấn đề lí luận về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
1.Khái niệm miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
Tại Luật thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 (sau đây
gọi chung là Luật thi hành án dân sự- LTHADS) không có quy định giải thích về
miễn giảm nghĩa vụ thi hành án, tuy nhiên theo cách hiểu chung có thể hiểu
miễn giảm thi hành án có thể hiểu là trường hợp người phải thi hành án có nghĩa
1


vụ nộp một khoản tiền, tài sản để thu nộp ngân sách nhà nước theo bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa thực hiện hoặc mới thực
hiện được một phần mà có đủ các điều kiện do pháp luật quy định nên được Tòa
án có thẩm quyền quyết định miễn giảm thi hành toàn bộ hay một phần các
khoản thu nộp ngân sách nhà nước.


2. Điều kiện miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
Tại điều 61 LTHADS quy định điều kiện miễn gảm nghĩa vụ thi hành án
đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đối với từng trường hợp như sau:
Đối với người phải thi hành án được xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có
đủ hai điều kiện: Một là, không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo
quy định của pháp luật không được xử lí để thi hành án hoặc không có thu nhập
hoặc có thu nhập chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và
người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng. Hai là, hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày
ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị
dưới 2000000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành
án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2000000 đồng đến
dưới 5000000 đồng.
Điều 61 khoản 2 LTHADS quy định người phải thi hành án đã thi hành
được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước được xét miễn thi hành phần
nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện như sau: Một là, không có tài sản hoặc
có tài sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lí để thi
hành án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ đảm bảo cuộc sống tối
thiểu cho người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng.Hai
là,hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ
còn lại có giá trị dưới 5000000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra
quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5000000 đồng đến
dưới 10000000 đồng.
Tại khoản 3 điều 61 quy định, người phải thi hành án đã thi hành được
một phần khoản thu nộp từ ngân sách nhà nước mà thuộc một trường hợp quy
định tại điểm a khoản 1 điều 61 LTHADS thì được xét giảm một phần nghĩa vụ
thi hành án khi có một trong các điều kiện như sau: Một là, hết thời hạn 05 năm,
kể từ ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ
2



10000000 đồng đến 100000000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số
tiền còn lại phải thi hành. Hai là, Hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định
thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100000000 đồng, mỗi lần
giảm không quá một năm số tiền còn lại phải thi hành án nhưng tối đa không
quá 50000000 đồng.
Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC
giải thích tại điều 4 về điều kiện xét miễn, giảm thi hành án: “Thi hành được
một phần khoản thu, nộp ngân sách nhà nước quy định tại Khoản 2 và Khoản
3 hoặc một phần án phí quy định tại Khoản 4 Điều 61 Luật Thi hành án dân sự là
đã thi hành được ít nhất bằng một phần năm mươi khoản thu, nộp ngân sách nhà
nước hoặc khoản án phí phải thi hành theo bản án, quyết định của Tòa
án”.Trường hợp người đã được giảm một phần hình phạt tiền mà lại phạm tội
mới thì chỉ xét giảm tiếp khi đã thi hành được một phần hình phạt tiền
chung theo quy định của Bộ luật Hình sự về giảm mức hình phạt tiền đã tuyên.
Người phải thi hành án đã tích cực thi hành được một phần án phí, tiền
phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai,
hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục thi hành được phần
nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn
lại. Số lần được xét miễn hoặc giảm được quy định tại khoản 5 điều 61
LTHADS là một lần trong 01 năm đối với mỗi bản án, quyết định.Việc miễn
phần án phí, tiền phạt còn lại quy định tại Khoản 4 Điều 61 Luật Thi hành án
dân sự được thực hiện khi người phải thi hành án có đủ các điều kiện sau:
“a) Đã tích cực thi hành được một phần án phí quy định tại Khoản 1 Điều này;
thi hành được một phần tiền phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự về miễn
chấp hành phần tiền phạt còn lại;
b) Lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài hoặc lập công lớn.

3



Người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài là
người bị giảm sút hoặc mất thu nhập, mất toàn bộ hoặc phần lớn tài sản do tai
nạn, ốm đau, thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác dẫn đến không
đảm bảo hoặc chỉ đảm bảo được cuộc sống tối thiểu cho bản thân người đó
và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng từ mười hai tháng trở lên, kể từ thời
điểm xảy ra sự kiện đó đến thời điểm xét miễn, giảm thi hành án.
Người phải thi hành án lập công lớn là người đã có hành động giúp cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác
trong tình thế hiểm nghèo hoặc cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể, của
công dân trong thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác; có phát minh,
sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị lớn được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xác nhận”1.
3. Một số vấn đề khác về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
3.1. Nguyên tắc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
Về nguyên tắc việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án cho người phải thi
hành án phải do người được thi hành án quyết định, khi người được thi hành án
đồng ý, Tòa án mới có quyền quyết định việc miễn giảm nghĩa vụ thì hành án
cho người phải thi hành án. Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTCTANDTC-VKSNDTC ngày 15/9/2015 điều 3 quy định các nguyên tắc xét miễn,
giảm thi hành án: “1. Việc xét miễn, giảm thi hành án phải được thực hiện khách
quan, công khai, minh bạch, đúng đối tượng, đúng thời hạn và các quy định của
pháp luật về thi hành án dân sự, pháp luật có liên quan;2. Người được xét miễn,
giảm thi hành án không phải nộp chi phí liên quan đến việc xét miễn, giảm”.
Chi phí cho việc xét miễn, giảm thi hành án được lấy từ kinh phí hoạt
động của cơ quan thực hiện việc miễn, giảm thi hành án. Ngoài ra việc miễn
giảm nghĩa vụ thi hành án cần tuân thủ theo các quy định của pháp luật nói
chung.

1Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/9/2015.

4



3.2. Xác minh điều kiện để xét miễn giảm thi hành án
Việc xác minh điều kiện để xét miễn giảm thi hành án được thực hiện theo
quy định tại điều 44 LTHADS, ngoài ra cần lưu ý một số vấn đề được quy định
tại điều 5 TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC:
Thứ nhất, việc xác minh điều kiện để xét miễn, giảm thi hành án được
thực hiện khi có một trong các căn cứ sau đây:
Một là, Thủ trưởng cơ quan thi hành án đã ra quyết định về việc chưa có
điều kiện thi hành án đối với người phải thi hành án quy định tại Điều 44a Luật
Thi hành án dân sự; đủ điều kiện về thời hạn, mức tiền quy định tại Điều 61
Luật Thi hành án dân sự và điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 4 Thông tư liên
tịch này hoặc đủ điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch này;
Hai là, Cơ quan Thi hành án dân sự nhận được đơn đề nghị xét miễn,
giảm thi hành án của người phải thi hành án.Đơn đề nghị xét miễn, giảm được
gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện cho cơ quan Thi hành án dân sự.
Ba là, Cơ quan Thi hành án dân sự nhận được yêu cầu lập hồ sơ đề nghị
xét miễn, giảm thi hành án của Viện kiểm sát.Viện kiểm sát yêu cầu lập hồ sơ đề
nghị xét miễn, giảm khi có căn cứ xác định rõ người phải thi hành án có đủ điều
kiện để được xét miễn, giảm thi hành án, nhưng cơ quan Thi hành án dân sự
không lập hồ sơ.
Thứ hai, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có căn cứ quy định tại Khoản
1 Điều 5 TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC, Chấp hành viên
tiến hành xác minh để lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án; đối với
trường hợp quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này, nếu xét thấy người phải thi
hành án chưa đủ các điều kiện quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều này thì cơ
quan Thi hành án dân sự thông báo cho người phải thi hành án đã có đơn đề nghị
xét miễn, giảm thi hành án biết và không phải tiến hành xác minh.

5



Đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, Chấp hành
viên còn phải xác minh điều kiện xét miễn, giảm tại Trại giam, Trại tạm giam, cơ
quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện (sau đây gọi chung là cơ sở giam
giữ) nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù. Nội dung xác minh
làm rõ trong quá trình chấp hành hình phạt tù, phạm nhân là người phải thi hành
án thuộc một hoặc các trường hợp: lập công lớn; bị bệnh hiểm nghèo; có tài sản
gửi ở bộ phận lưu ký của cơ sở giam giữ; kết quả thi hành khoản thu, nộp ngân
sách nhà nước do cơ sở giam giữ thu (nếu có). Chấp hành viên có thể trực tiếp
xác minh tại cơ sở giam giữ hoặc cơ quan Thi hành án dân sự gửi phiếu đề nghị
xác nhận. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm kiểm tra, xác nhận vào phiếu xác nhận
để chuyển trực tiếp cho Chấp hành viên hoặc gửi phiếu xác nhận cho cơ quan
Thi hành án dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được phiếu đề nghị.
Thứ ba, trường hợp xác minh theo quy định tại Điểm b và Điểm c
Khoản 1 Điều 5 TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC, nếu
người phải thi hành án không đủ điều kiện xét miễn, giảm thì trong thời hạn
05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác minh, cơ quan Thi hành án dân
sự phải thông báo bằng văn bản cho người phải thi hành án đã có đơn đề
nghị xét miễn, giảm thi hành án hoặc Viện kiểm sát đã yêu cầu lập hồ sơ đề
nghị xét miễn, giảm thi hành án biết, nêu rõ lý do chưa đủ điều kiện xét
miễn, giảm.
3.3. Thẩm quyền miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
Điều 63 khoản 1 LTHADS quy định thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ
thi hành án thuộc Tòa án có thẩm quyền, cụ thể như sau: “Việc xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm
quyền của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án
quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và tương đương) nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ
chức việc thi hành án có trụ sở.

6


3.4. Hồ sơ và thủ tục miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
Trong 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác minh, nếu người phải
thi hành án có đủ điều kiện xét miễn giảm thi hành án, Chấp hành viên lập hồ sơ
đề nghị xét miễn giảm thi hành án, báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự để chuyển Viện kiểm sát cùng cấp thực hiện kiểm sát theo quy định pháp luật.
Hồ sơ đề nghị xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án do Cơ quan thi hành án dân
sự có thẩm quyền lập đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét được quy định cụ
thể tại điều 62 LTHADS bao gồm:
“1. Văn bản đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự hoặc của Viện trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp đề
nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt.
2. Bản án, quyết định của Tòa án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án
dân sự.
3. Biên bản xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án được thực
hiện trong thời hạn không quá 03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm.
4. Tài liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
của người phải thi hành án, nếu có.
5. Ý kiến bằng văn bản của Viện kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi
hành án dân sự đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án”.
Căn cứ điều 6 TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC, tài
liệu khác chứng minh điều kiện được xét miễn, giảm thi hành án của người phải
thi hành án quy định tại khoản 4 Điều 62 LTHADSlà một trong các loại tài liệu
sau:
a) Chứng từ thu - chi tiền thi hành án (nếu có);
b) Giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp huyện trở lên trong
trường hợp người phải thi hành án bị tai nạn, đau ốm kéo dài;


7


c) Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã trong trường hợp người phải thi
hành án bị thiệt hại tài sản do thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng
khác;
d) Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp người
phải thi hành án lập công lớn;
đ) Phiếu xác nhận của cơ sở giam giữ nơi người phải thi hành án đang chấp hành
án phạt tù đối với các thông tin được quy định tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư liên
tịch này;
e) Quyết định của Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự về việc người phải thi
hành án chưa có điều kiện thi hành án quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 44a
Luật Thi hành án dân sự;
g) Tài liệu chứng minh khác liên quan đến điều kiện xét miễn, giảm thi hành án
(nếu có).
Đối với thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án được thực hiện theo
quy định tại điều 63 và điều 9TTLT số 12/2015/BTP-BTC-TANDTCVKSNDTC như sau:
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án phải thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý
hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm thi hành án, Chánh án Tòa án có thẩm quyền xét
miễn, giảm thi hành án phân công một Thẩm phán thụ lý hồ sơ và giải quyết
việc xét miễn, giảm thi hành án. Thẩm phán được phân công có quyền yêu cầu
Viện kiểm sát hoặc cơ quan Thi hành án dân sự giải thích những điểm chưa rõ
hoặc bổ sung giấy tờ cần thiết trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được yêu cầu. Quá thời hạn nêu trên, nếu cơ quan được yêu cầu không giải thích
hoặc bổ sung giấy tờ cần thiết thì Thẩm phán trả lại hồ sơ cho cơ quan đã đề
nghị.Trường hợp hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm bị Tòa án trả lại do chưa đầy đủ
8



hoặc thực hiện không đúng thủ tục, Viện kiểm sát hoặc cơ quan Thi hành án dân
sự có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ, thủ tục và đề nghị Tòa án có thẩm quyền
xem xét trong kỳ xét miễn, giảm gần nhất.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Phiên họp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ trì, có sự
tham dự của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề
nghị xét miễn, giảm.Khi tiến hành xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, đại diện
cơ quan thi hành án dân sự trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại
diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm. Trên cơ sở
xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện của Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân
sự, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp nhận một phần hoặc không chấp
nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người được xét
miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp,
cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, trại
giam, trại tạm giam nơi người được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành đối với
khoản thu nộp ngân sách nhà nước đang chấp hành hình phạt tù.
Quyết định miễn, giảm thi hành án của Tòa án có hiệu lực thi hành kể
từ ngày hết thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp theo quy
định tại Khoản 1 Điều 64 LTHADS mà Viện kiểm sát không kháng nghị.
II.Lý giải về việc có quy định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
1. Cơ sở lí luận của việc quy định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
Đảng và Nhà nước định hướng xây dựng nền pháp chế Xã hội chủ nghĩa,
xây dựng Nhà nước pháp quyền dân chủ nhân dân, trong đó, tư pháp phải được
đề cao, ưu tiên hàng đầu. Theo quy định tại điều 103 Hiến pháp 2013, Tòa án
thực hiện việc xét xử và giữ quyền tư pháp. Như vậy, Tòa án đóng vai trò trung

tâm trong nhánh quyền lực tư pháp. Để bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
9


lực pháp lực thì cần có cơ chế bảo đảm thực hiện, theo đó, thi hành án đóng vai
trò quan trọng trong cơ chế này.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền- mọi hoạt
động, mọi điều đều tuân theo sự điều chỉnh của pháp luật, đề cao tinh thần
thượng tôn pháp luật, trên cơ sở tính chất nhân đạo cũng như sự điều chỉnh cho
phù hợp giữa kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng, thì việc quy định miễn
giảm nghĩa vụ thi hành án trong một số trường hợp khi đáp ứng đủ điều kiện,
thực hiện theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định là một trong những
chủ trương quan trọng, chính sách thiết thực của Đảng, Nhà nước ta.
2. Cơ sở thực tiễn của việc quy định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
Thi hành án dân sự trước hết là vì quyền và lợi ích hợp pháp của người
được thi hành, do đó, việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án cho người phải thi
hành án phải do người được thi hành án quyết định. Tuy nhiên, trong một số
trường hợp được người được thi hành án đồng ý hoặc người được thi hành án đề
nghị hoặc đối với các khoản thi hành án thu cho ngân sách nhà nước thì Nhà
nước (Tòa án) có quyền quyết định việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án cho
người phải thi hành án.
Như đã nói, bản án, quyết định của Tòa án chỉ thực sự có tính nghiêm
minh khi có cơ chế đảm bảo thực thi trên thực tế. Thế nhưng trên thực tế, có
nhiều trường hợp việc thi hành không thể thực hiện được do người phải thi hành
án qua một thời gian dài vẫn không có tài sản để thi hành án và khả năng họ có
tài sản để thi hành bản án, quyết định là không có. Hay trong trường hợp khác,
khi tài sản của người phải thi hành án có giá trị rất nhỏ, nhưng tổ chức thi hành
án lại đòi hỏi kinh phí cao và do đó hiệu quả thi hành sẽ rất thấp. Nếu các cơ
quan có thẩm quyền cứ buộc họ phải thực hiện nốt phần nghĩa vụ thì sẽ mất
nhiều thời gian, công sức, mặt khác có thể không đem lại hiệu quả, đối với một

số trường hợp còn là không thể hiện được tính chất nhân đạo, khoan hồng của
pháp luật. Trên cơ sở đó, để bảo đảm hiệu quả công tác thi hành án, LTHADS và
văn bản hướng dẫn liên quan đã quy định về miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
trong một số trường hợp cho người phải thi hành án.
Trên cơ sở dựa vào tình hình thực tế, tình tình tài sản của người phải thi
hành án dân sự, về thời gian và hiệu quả công tác thi hành bản án, quyết định
10


vẫn chưa được thi hành, về giá trị khoản thu nộp ngân sách nhà nước, cũng như
một số chính sách của Đảng và Nhà nước ta, việc pháp luật quy định về các
trường hợp được miễn giảm nghĩa vụ thi hành án, quy định các trình tự thủ tục,
tiêu chuẩn để được miễn giảm nghĩa vụ thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng
trong việc đảm bảo hiệu quả, chất lượng thi hành án dân sự và giảm bớt khó
khăn về tài chính cho người phải thi hành án.
III.Vướng mắc trong việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án và giải pháp
hoàn thiện
1.Vướng mắc trong việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
Thứ nhất, về xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đối với trường hợp
không xác định được địa chỉ hoặc nơi cư trú của người phải thi hành án theo quy
định tại điều 61 LTHADS. Tuy nhiên đối với trường hợp chưa xác định được địa
chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án thì việc xem xét miễn, giảm còn có ý
kiến, cách hiểu khác nhau và khó thực thi trong thực tiễn, cụ thể:
Ý kiến thứ nhất cho rằng: Đối với trường hợp chưa xác định được địa chỉ, nơi cư
trú của người phải thi hành án thì việc xem xét miễn, giảm chỉ cần xác định
người phải thi hành án không có tài sản hoặc có tài sản nhưng tài sản đó theo
quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành án hoặc không có thu nhập
hoặc có thu nhập chỉ đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án và
người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và đảm bảo thời hạn theo quy định tại
Điều 61 LTHADS là đủ điều kiện xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.

Ý kiến thứ hai cho rằng: Đối với trường hợp chưa xác định được địa chỉ, nơi cư
trú của người phải thi hành án thì thủ trưởng Cơ quan Thi hành án không xem
xét việc miễn, giảm mà ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành (theo
Điều 44 LTHADS) vì việc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người
phải thi hành án thì không có cơ sở để xác định nhân thân, tài sản của người phải
thì hành án để xây dựng hồ sơ miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Ý kiến thứ ba cho rằng: Đối với trường hợp chưa xác định được địa chỉ, nơi cư
trú của người phải thi hành án mà Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án xây dựng hồ
11


sơ đề nghị xem xét việc miễn, giảm nghĩa vụ thu nộp ngân sách nhà nước hoặc
ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án theo Điều 44a Luật thi hành
án dân sự đều không có cơ sở. Vì đã không xác định được địa chỉ, nơi cư trú của
người phải thi hành án thì không có cơ sở để xác định nhân thân hay tài sản của
người phải thì hành án hoặc xác định người đó có hay không có tài sản để thi
hành nên không có căn cứ để xây dựng biên bản xác minh điều kiện thi hành án.
Thứ hai, về xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đối với trường hợp bản
án, quyết định của Tòa án có tuyên về lãi suất chậm thi hành án của khoản thu
nộp ngân sách nhà nước quy định tại TTLT số 12/2015/TTLT-BTp-BTCTANDTC-VKSNDTC: “Các khoản thu nộp cho ngân sách nhà nước thuộc diện
được xét miễn, giảm thi hành án gồm tiền phạt, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất
chính …; lãi chậm thi hành án đối với khoản được miễn giảm (nếu có)”.
Ý kiến thứ nhất cho rằng: Tiền lãi chậm thi hành án là một khoản tiền còn phải
thi hành của đương sự, vì vậy cần cộng với các khoản còn phải thu nộp ngân
sách nhà nước thành tổng giá trị khoản phải thu nộp ngân sách nhà nước. Khi
xem xét miễn, giảm phải căn cứ vào tổng giá trị khoản còn phải thu nộp ngân
sách nhà nước bao gồm cả phần lãi chậm thi hành án (phần gốc + phần lãi) để
xác định điều kiện, thời hạn được xét miễn, giảm.
Ý kiến thứ hai rằng: Lãi suất chậm thi hành án là một khoản được xem xét miễn,
giảm độc lập với khoản phải thu, nộp ngân sách. Khi đề nghị xem xét miễn,

giảm chỉ cần căn cứ vào tổng giá trị khoản còn phải thu nộp ngân sách nhà nước
(phần gốc) để xác định điều kiện, thời hạn được xét miễn, giảm không bao gồm
phần lãi chậm thi hành án.
2. Giải pháp hoàn thiện quy định miễn giảm nghĩa vụ thi hành án
Thứ nhất, cần quy định cụ thể việc xem xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành
án đối với bản án, quyết định của Tòa án có tuyên về lãi suất chậm thi hành án
của khoản thu nộp ngân sách Nhà nước khi xem xét miễn giảm chỉ căn cứ vào
12


tổng giá trị khoản còn lại phải thu nộp ngân sách nhà nước để xác định điều
kiện, thời hạn được xét miễn giảm không bao gồm phần lãi chậm thi hành án.
Thứ hai, cần quy định rõ trường hợp chưa xác định được địa chỉ hoặc nơi
cư trú của người phải thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án không
được xem xét việc miễn giảm thi hành mà ra quyết định về việc chưa có điều
kiện để thi hành.
Thứ ba, hoàn thiện thêm các văn bản hướng dẫn thi hành LTHADS theo
hướng đồng bộ, thống nhất với luật chuyên ngành khác, đồng thời đảm bảo tính
thực thi trên thực tiễn, đảm bảo phục vụ công tác thi hành án nói chung trong đó
có việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án nói riêng, cũng như việc phối hợp hoạt
động giữa các cơ quan tư pháp đạt được hiệu quả tốt nhất.
Kết luận
Để đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực tế,
đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cũng như quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước thì việc giảm thiểu thực
thi án tồn đọng, nhất là trong việc xem xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đóng
vai trò rất quan trọng và thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Các quy định
mới nhất là những nội dung liên quan đến việc miễn giảm thi hành án được thực
thi chặt chẽ sẽ đảm bảo tính tuân thủ pháp luật trong các bản án, quyết dịnh của
Tòa án, hạn chế tối đa tình trạng lợi dụng pháp luật để trốn tránh nghĩa vụ thi

hành án. Việc quy định cụ thể chặt chẽ quy định pháp luật cũng đặt ra trách
nhiệm cho các cơ quan tư pháp trong quá trình thực hiện miễn giảm nghĩa vụ thi
hành án. Có thể khẳng định rằng, việc thực hiện tốt miễn giảm nghĩa vụ thi hành
án trước tiên nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của người phải thi hành án, thực
hiện tốt chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước, góp phần giải quyết án
tồn đọng, thông qua đó nâng cao kết quả và chất lượng công tác, góp phần tạo
niềm tin của người dân vào Đảng, Nhà nước./.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, NXB Chính
trị Quốc gia Sự thật.
2. Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, NXB Chính trị
Quốc gia.
3. Nghị định 62/2015/NĐ-CP ngày 18/07/2015.
13


4. Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-BCA-VKSNDTC-TANDTC
ngày 15/09/2015 về hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với
khoản thu, nộp ngân sách nhà nước.
5. Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 về quy định mức thu, chế độ
thu, nộp quản lí và sử dụng phí thi hành án dân sự.
6. />7. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam,
NXB Công an Nhân dân, 2012.

14



×