MỞ ĐẦU
Có thể nói vấn đề con người là một trong những vấn đề quan trọng nhất của
thế giới từ trước tới nay. Đó là vấn đề mà luôn được các nhà khoa học, các nhà
nghiên cứu phân tích một cách sâu sắc nhất. Không những thế trong nhiều đề tài
khoa học của xã hội xưa và nay thì đề tài con người là một trung tâm được các nhà
nghiên cứu cổ đại đặc biệt chú ý. Các lĩnh vực tâm lý học, sinh học, y học, triết
học, xã hội học.v.v...Từ rất sớm trong lịch sử đã quan tâm đến con người và không
ngừng nghiên cứu về nó. Mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó đều có ý nghĩa riêng đối với
sự hiểu biết và làm lợi cho con người.
Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnh vực triết học lại có nhiều mâu thuẫn
trong quan điểm, nhận thức và nó đã gây nên sự đấu tranh không biết khi nào dừng.
Những lập trường chính trị trình độ nhận thức và tâm lý của những người nghiên
cứu khác nhau và do đó đã đưa ra những tư tưởng hướng giải quyết khác nhau.
Khi đề cập tới vấn đề con người các nhà triết học để tự hỏi: Thực chất con
người là gì và để tìm cách trả lời câu hỏi đó phải giải quyết hàng loạt mâu thuẫn
trong chính con người. Khi phân tích các nhà triết học cổ đại coi con người là một
tiểu vũ trụ, là một thực thể nhỏ bé trong thế giới rộng lớn, bản chất con người là
bản chất vũ trụ. Con người là vật cao quý nhất trong trời đất, là chúa tể của muôn
loài. Chỉ đứng sau thần linh. Con người được chia làm hai phần là phần xác và
phần hồn. Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo thì cho rằng: Phần hồn là do thượng đế
sinh ra; quy định, chi phối mọi hoạt động của phần xác, linh hồn con người tồn tại
mãi mãi. Chủ nghĩa duy vật thì ngược lại họ cho rằng phần xác quyết định và chi
phối phần hồn, không có linh hồn nào là bất tử cả, và quá trình nhận thức đó không
ngừng được phát hiện. Càng ngày các nhà triết học tìm ra được bản chất của con
người và không ngừng khắc phục lý luận trước đó.
Sau này chủ nghĩa Mác đã kế thừa và khắc phục những mặt hạn chế đó, đồng
thời phát triển những quan niệm về con người đã có trong các học thuyết triết học
trước đây để đi tới quan niệm về con người thiện thực, con người thực tiễn cải tạo
tự nhiên và xã hội với tư cách là con người hiện thực.
Do đó việc nghiên cứu để áp dụng quan điểm triết học về con người vào
việc định hướng giải phóng con người hiện nay ở nước ta hiện nay là vấn đề
1
quan
trọng, không thể thiếu vì đó là cơ sở, là động lực để phát triển đất nước. Đó cũng
là những lý do mà người nghiên cứu chọn chủ đề: “Quan điểm của triết học
Mác – xít về con người – lý luận và vận dụng vào sự nghiệp đổi mới hiện
nay” làm tiểu luận nghiên cứu cho mình.
Mục đích của đề tài là đưa ra những định hướng nhằm giải phóng con
người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Để đạt được mục đích trên người
nghiên cứu dùng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu nhằm thu thập, phân
tích trên cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin về con người làm
nền tảng từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy nhân tố con người Việt Nam
trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
2
NỘI DUNG
I. Quan điểm triết học Mác - Lê Nin về con người
Đã từng có ý kiến cho rằng; triết học Mác-Lênin coi nhẹ vấn đề con người,
hoặc chỉ chú ý đến con người giai cấp, con người xã hội, ít chú ý đến con người
từ gốc độ sinh học, con người cá nhân ... Thực tế, những vấn đề của con người
về nguồn gốc, bản chất, con người với tính cách là sản phẩm và chủ thể của lịch
sử, giải phóng con người... được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến ở các tác
phẩm, trong nhiều giai đoạn. Có thể kể đến những tác phẩm điển hình như : Bản
thảo kinh tế - triết học năm 1844; Luận cương về Phoiơbắc; Hệ tư tưởng Đức,
Tư bản, Biện chứng của tự nhiên...
1. Con người - thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và xã hội
Con người là gì? Câu hỏi lớn đã đặt ra tư rất lâu khi con người biết tư duy
về thế giới xung quanh cũng như về bản thân mình. Kế thừa rất nhiều các thành
tựu khoa học tự nhiên cũng như các thành tựu lý luận đã có của nhân loại.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “con người là một bộ phận của giới tự
nhiên, giới tự nhiên là thân thể cô cơ của con người”; “giới tự nhiên - cụ thể là
các giới tự nhiên trong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể của con
người - là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên.
Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con
người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời
sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế
chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì
con người là một bộ phận của giới tự nhiên”.
Đây là sự cảm nhận vừa tinh tế vừa sâu sắc về mối quan hệ gắn bó chặt chẽ
của con người với tự nhiên cũng như khả năng tác động của con người đến giới
tự nhiên. Ở đây, chúng tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm của một số nhà
nghiên cứu cho rằng, quan điểm “giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người”
là tư tưởng độc đáo”. Bởi lẽ, trước Mác trong hầu hết các trường phái triết học
phương Đông cổ đại tuy có đề cao triết lý con người hòa hợp với tự nhiên, coi
3
con người với tự nhiên là một theo tinh thần “thiên nhân hợp nhất”, “thiên nhân
tương dữ”, “thiên nhân tương hòa”... song cũng chưa bao giờ nhắc đến việc coi
tự nhiên là thân thể con người. Hơn nữa, thời đại của Mác thì các vấn đề về môi
trường, sinh quyền, hiệu ứng nhà kính, sóng thần và các hiện tượng sinh thái
phức tạp khác mà ngày nay người ta gọi là khủng hoảng sinh thái chưa được đặt
ra một cách cấp bách.
Tiếp nối các dòng tư duy ấy, các ông khẳng định con người không hoàn
toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật. Chỗ khác các ông viết;
“Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định
việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những khỏi những đặc
tính vốn có của con vật, thành thử bao giờ cũng chỉ có thể nói đến việc những
đặc tính ấy có nhiều đến sự chênh lệch về mức độ thú tính và tính người mà
thôi”. Khi phê phán quan điểm duy tâm, tư biện của Hêghen về con người, ngay
từ năm 1843, C.Mác đã quan niệm con người là thực thể hiện thực. Trong tác
phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen, C.Mác khẳng định:
con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới.
Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội. Cùng với việc
khẳng định mặt sinh vật tự nhiên, các ông tập tung làm rõ mặt xã hội ở con
người. Xuất phát từ một tiền đề khách quan rằng phương thức tồn tại của con
người ngay từ đầu đã khác với con vật ở chỗ con người biết sản xuất, biết lao
động để tạo ra những tư liệu sinh hoạt cho mình.
Từ khi con người biết lao động sản xuất, đó là hoạt động xã hội quan trọng
để con người khẳng định phẩm chất người của mình. Các ông khẳng định:
“Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi tình trạng
thuần túy của loài vật”. Chính lao động là điều kiện tồn tại của con người, còn là
môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người và tự nhiên. Qua hoạt động lao
động con người thoát ra khỏi thế giới động vật, con người bước vào xã hội, vào
các lĩnh vực lịch sử. Chỉ trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con người mới có tinh
chất người. Với cách hiểu cơ bản ấy, “con người - thực thể thống nhất giữa mặt
sinh vật và mặt xã hội” là cách diễn đạt của phần lớn các tài liệu nghiên cứu
quan niệm mácxít về con người. Theo một số nhà nghiên cứu, trong các tác
4
phẩm kinh điển hiện nay chưa bắt gặp chỗ nào Mác viết nguyên văn như vậy,
xong cách diễn đạt này mặc nhiên được xem là định nghĩa (hay cách diễn đạt
tương đương định nghĩa).
Như vậy, một mặt khẳng định con người từ động vật mà ra, một bộ phận
trong tiến hóa của tự nhiên, con người không thoát khỏi những đặc vốn có của tự
nhiên, không thể đối lập con người với tự nhiên và con người phải học cách
sống với tự nhiên, học các ứng xử với đời sống tự nhiên trong quá trình xây
dựng đời sống xã hội. Những việc con người làm một cách tùy tiện, tàn phá tự
nhiên như đốt rừng để sản xuất, làm ô nhiễm môi trường thì con người sẽ phải
trả giá. Các ông khẳng định: “Nếu chúng ta đã phải trải qua hàng nghìn năm lao
động mới có thể, trong một chừng mực nào đó, đánh giá trước được những hậu
quả tự nhiên xa xôi của những hành động sản xuất của chúng ta thì chúng ta lại
phải trải qua nhiều khó khăn hơn nữa mới có thể hiểu biết được những hậu quả
xã hội xa xôi của những hành động ấy”.
Quan niệm về con người nêu trên không chỉ đúng về tiến bộ trong thời kỳ
đó mà cùng với thời gian, với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học,
công nghệ cũng như trong lĩnh vực sinh học càng là minh chứng sinh động cho
nhận định của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin. Điều này có thể hiểu:
Thứ nhất, con người không thoát ly khỏi đặc tính sinh học tự nhiên vốn có.
Con người hiện thực cụ thể luôn chịu ảnh hưởng của quy luật tự nhiên, quy luật
sinh học, chịu sự chi phối của nền tàng tự nhiên về gen, cấu tạo hệ thần kinh,
nhóm máu... khoa học hiện đại đã chứng minh rằng, nhiều căn bệnh nan y quái
ác của con người như ung thư, tim mạch, tiểu đường... ngoài những nguyên
nhân có tính xã hội như môi trường sinh sống, lối sống, hoạt động... của con
người còn có những nguyên nhân bắt nguồn từ “sự sai lầm trong ngôn ngữ
truyền đạt” của gen cũng như sự mắc lỗi trong quá trình hình thành và phát triển
của cơ thể...
Thứ hai, con người sinh học không bao giờ thoát ly khỏi con người xã hội.
Tồn tại với tư cách người khi sống trong xã hội, buộc họ phải tham gia vào các
quan hệ xã hội, chịu quy định của xã hội, do đó các dấu ấn của xã hội cụ thể
luôn in đậm trong mỗi con người (dấu ấn về thời đại, về điều kiện kinh tế, về
5
văn hóa dân tộc, văn hóa gia đình... và cả sự tự rèn luyện của cá nhân mỗi
người). Điều đó biểu hiện ra ở chỗ, các cá nhân khác nhau sẽ có nhiều sự khác
nhau không chỉ về hình thể mà còn khác nhau về tính cách, lối tư duy, lối ứng
xử, nhân cách và vai trò của họ trong xã hội.
Thứ ba, yếu tố sinh học và yếu tốt xã hội hòa quyện thống nhất với nhau
cùng góp phần tạo ra bản chất người và nét đặc thù của mội cá nhân riêng biệt,
không tách rời yếu tố sinh học khỏi yếu tố xã hội, việc thỏa mãn các nhu cầu
sinh học của con người cần đặt trong hoàn cảnh xã hội cụ thể, trong các quan hệ
xã hội cụ thể, trong hoàn cảnh pháp luật, văn hóa, kinh tế cụ thể. Ngược lại, sự
phát triển của xã hội, tiến bộ xã hội sẽ được biểu hiện bằng sự quan tâm đến việc
thỏa mãn các nhu cầu sinh học cần thiết của con người cho tương ứng với trình
độ phát triển xã hội. Các chuyên gia nghiên cứu y học và xã hội đã chỉ ra rằng,
không chỉ các yếu tố sinh học ảnh hưởng đến tinh thần và thể chất của con
người, mà chính các yếu tố kinh tế - văn hóa - xã hội là những nhân tố quan
trọng trong tác động tới tinh thần, thể chất và tuổi thọ của con người. Vì vậy, chỉ
số HDI là một trong những chỉ số phản ánh sự tiến bộ của xã hội.
Con người còn được hiểu với tư cách là một cá nhân. Bởi lẽ, con người tồn
tại qua những cá nhân người, mỗi cá nhân người là một chỉnh thể gồm một hệ
thống những nhân tố, bao hàm cả những đặc điểm cụ thể không lặp lại, khác biệt
với những cá nhân khác về cơ chế, tâm lý, trình độ...Cá nhân được hình hình và
phát triển chỉ trong quan hệ xã hội. Nhưng xã hội thay đổi thường xuyên nên cá
nhân là một hiện tượng có tính lịch sử. mỗi thời kỳ lịch sử có một “kiểu xã hội
của cá nhân” mang tính định hướng về thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt
động của con người - cá nhân thời kỳ lịch sử cụ thể đó. Như vậy, cá nhân là một
chỉnh thể đơn nhất vừa mang tính cá biệt tính phổ biến, là chủ thể của lao động,
của quan hệ xã hội và của nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và
chức năng xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội.
2. Về bản chất con người
Luận đề thứ 6 trong Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác viết: “Phoiơbắc hòa
tan bản chất tôn giáo vào bản chất con người. Nhưng bản chất con người không
6
phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực
của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”.
Không có con người chung chung, trừu tượng, mà chỉ có những con người
sống, hoạt động trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử - cụ thể nhất định, một
xã hội nhất định, một thời đại nhất định; những con người cùng với xã hội hiện
thực, họ tồn tại sinh hoạt xã hội, phát triển ý thức, hoạt động tương tác... Trong
rất nhiều các quan hệ xã hội hiện thực cụ thể ấy, con người mới bộc lộ bản chất
thực sự của mình. Đây là nhận định cơ bản của C.Mác về cấp độ bản chất người.
Khi thừa nhận con người là thực thể tự nhiên có tính người, hay bằng cách khác
ông diễn đạt, chỉ có trong xã hội, tồn tại tự nhiên của con người mới là tồn tại có
tính người. Điều đó cho thấy, triết học Mác không bỏ qua bản tính tự nhiên của
con, song cũng nhấn mạnh trong các quan hệ ấy, bằng các hoạt động thực tiễn
tác động qua lại giữa con người với các quan hệ ấy, bản chất tự nhiên của con
người cũng được biến đổi, bản chất xã hội của con người được hình thành. Vì
vậy, có thể nói bản chất của con người không phải là có sẵn, nó hình thành và
cũng biến đổi theo môi trường, điều kiện cũng như các quan hệ xã hội nhất định.
Khắc phục những quan điểm về con người trong các tư tưởng triết học
trước Mác, khi nói đến bản chất xã hội của con người chỉ nhấn mạnh từng khía
cạnh như chính trị, ý thức, suy nghĩ, lao động hay đạo đức ... C.Mác cho rằng tất
cả các quan hệ xã hội đều tham gia vào việc hình thành, chi phối bản chất người.
Trong muôn vàn các mối quan hệ vốn có của con người như quan hệ gia đình,
bạn bè, giai cấp, dân tộc ... quá khứ, hiện tại, đều tác động đến con người.
Các quan hệ xã hội được biểu hiện cụ thể ở những quan hệ chung song lại
được thể hiện qua từng thời đại, chế độ, từng cộng đồng riêng biệt. Nó không
chỉ thể hiện những quan hệ xã hội hiện tại mà còn thể hiện cả những quan hệ xã
hội truyền thống đã được di chuyển qua nhiều thế hệ trước đó. Ví như, khi xã
hội xuất hiện các quan hệ giai cấp thì con người mang tính giai cấp, bên cạnh
đó, mỗi con người cũng đứng trong nhiều quan hệ xã hội khác tạo thành cái
chung của loài người. Do đó, khi xem xét bản chất của con người không thể quy
vào một quan hệ cơ bản nào đó, việc quy bản chất con người chỉ là chất giai cấp
và tất cả mọi hoạt động của con người đều được giải thích từ đây lại là cách
7
xuyên tạc thực chất quan điểm mácxít về bản chất con người. Về vấn đề này,
Giáo sư Trần Đức Thảo trong cuốn sách Vấn đề con người và chủ nghĩa lý luận
không có con người đã viết: “Cái luận điểm cho rằng con người giai cấp và con
người nói chung là tuyệt đối loại trừ lẫn nhau, chỉ có con người giai cấp, không
có con người nói chung, là một luận điểm siêu hình, hoàn toàn đối lập với chủ
nghĩa Mác-Lênin”.
Khi khẳng định bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội, nó
không chỉ là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật mà còn
là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa các cá nhân với cá nhân trong cộng
đồng. Bởi lẽ, mỗi cá nhân có một hoàn cảnh khác nhau, với những hoạt động
thực tiễn khác nhau nên quan hệ xã hội của họ cũng khác nhau.
Việc nhấn mạnh trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng
hòa các quan hệ xã hội là bước tiến của triết học Mác. Đây là cơ sở để chỉ ra con
đường đúng đắn giải phòng con người: Muốn thay đổi thân phận, địa vị, nhận
thức, nhân cách, bản chất của con người thì phải thay đổi những quan hệ xã hội
mà ở đó họ tham gia.
3. Vấn đề giải phóng con người
Vấn đề giải phóng con người đã được nhiều học thuyết đề cập. Các học
thuyết triết học duy tâm và tôn giáo cho rằng, giải phóng con người là giải
phóng về mặt tâm linh để con người có thể đạt được cuộc sống cực lạc vĩnh cửu
ở kiếp khác ngoài cuộc sống trần thế. Vì vậy, sự giải phóng này không có tính
hiện thực mà mang tính hư ảo, như sự an ủi, đền bù về mặt tinh thần cho con
người. Lịch sử cũng ghi nhận những cố gắng của các cuộc cách mạng tư sản
phương Tây trong việc giải phóng con người khỏi những ràng buộc bởi các luật
lệ, nghĩa vụ hà khắc của chế độ phong kiến, đòi quyền tự do cho các cá nhân.
Tuy nhiên, do bản chất của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư, vì vậy sự
tự do của con người ở đây mới dừng ở mức “tự do bán sức loa động của mình”.
Thực tế, khi chủ nghĩa tư bản phát triển ở trình độ cao, xã hội đã có những bước
tiến mới, đời sống của người lao động đã được cải thiện, vấn đề nhân quyền đã
được mở rộng thì xu hướng chủ đạo ấy cũng không mất đi mà nó được cải biến
nhiều hình thức khác.
8
Chủ nghĩa Mác-Lênin bên cạnh việc chỉ ra những thành tựu lớn mà xã hội
tư bản mang lại, củng chỉ ra những mâu thuẫn về mặt kinh tế, chính trị ngay
chính trong lòng xã hội tư bản. Con người với tư cách là sản phẩm tất yếu của
các quan hệ xã hội bị tha hóa nặng nề. Trong xã hội phổ biến là sở hữu tư nhân
mà người lao động lại không có sỡ hữu nào khác ngoài sức lao động của mình,
vì vậy theo các ông, nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự tha hóa là chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất. Tiền đã trở thành lực lượng trung gian thao túng các quan hệ
xã hội như C.Mác đã khẳng định: “Tiền là bản chất đã tha hóa của lao động và
của tồn tại của con người ra khỏi con người và cái bản chất xa lạ đó chi phối con
người, còn con người thì quỳ gối trước bản chất đó”. Tiền chi phối lao động,
trong quá trình lao động con người bị tha hóa xa lạ với chính mình, quan hệ
người với người cũng biến thành quan hệ giữa vật với vật, nó làm cho lao động
của người công nhân thuộc về nhà tư bản giống như người nô lệ thuộc về chủ nô
nhưng dưới hình thức khác, lao động sản xuất ra những vật phẩm diệu kỳ cho
người giàu nhưng chính nó lại sản xuất ra sự bần cùng hóa công nhân. Con
đường tất yếu để giải phóng con người khỏi sự tha hóa đó chính là xây dựng một
xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Trong quá trình giải phóng con người khỏi sự tha hóa các ông cũng đặt vấn
đề giải phóng lao động trẻ em và giải phóng phụ nữ bằng những con đường hết
sức cụ thể. Các ông cho rằng: “Chỉ có thể giải phóng được người phụ nữ khi
người phụ nữ có thể tham gia sản xuất trên quy mô xã hội rộng lớn và chỉ phải
làm công việc trong nhà rất ít. Nhưng chỉ với nền đại công nghiệp hiện đại, là
nền công nghiệp không những thu nhận lao động của phụ nữ trên quy mô lớn,
mà còn trực tiếp đòi hỏi phải có lao động phụ nữ và ngày càng có xu hướng hòa
tan lao động tư nhân của gia đình trong nền sản xuất công cộng, thì mới có thể
thực hiện điều nói trên”. Xã hội tạo điều kiện để họ tham gia vào lực lượng lao
động xã hội, tham gia các hoạt động, hạn chế bớt gánh nặng công việc gia đình.
Các ông viết: “Muốn thực hiện được việc giải phóng cho bản thân mình và
đồng thời đạt được hình thức sinh hoạt cao hơn mà xã hội hiện đại, do bản thân
sự phát triển kinh tế của nó, đang không thể nào không hướng tới, thì nó sẽ phải
trải qua nhiều cuộc đấu tranh lâu dài, và trải qua cả một loạt những quá trình lịch
9
sử làm hoàn toàn biến đổi cả hoàn cảnh và con người”. Các ông củng chỉ rõ, sức
mạnh giải phòng của họ không phải là sức mạnh của những cá nhân đơn độc mà
chỉ khi nào những người lao động bị áp bức nhận thức được và tổ chức dược
“những lực lượng của bản thân” thành những lực lượng xã hội - thành những lực
lượng chính trị thì giải phóng con người mới thực hiện được. Đó chính là vai trò
của giai cấp vô sản - những người công nhân hiện đại có sứ mệnh xóa bỏ xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới với những quan hệ sản xuất mới. Đó là điều kiện cơ
bản để giải phóng con người khỏi sự tha hóa. Xã hội mới hướng tới hiện thực
hóa các cơ hội, các điều kiện để con người phát triển tự do, toàn diện và thể hiện
các năng lực của mình.
II. Vận dụng quan điểm triết học Mác – xít về con người vào sự nghiệp
đổi mới ở Việt Nam hiện nay.
1. Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát huy nhân tố con người.
Một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm tại Đại hội XII của Đảng được xác định
là: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập
trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực
làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh”.
Sáu nhiệm vụ trọng tâm được Đảng ta xác định tại Đại hội XII của Đảng,
mỗi nhiệm vụ có nội dung, vị trí, vai trò riêng, nhưng quá trình quán triệt, vận
dụng, triển khai thực hiện đặt ra phải có tính thống nhất, đồng bộ từ trong nhận
thức đến hành động; từ Trung ương đến cơ sở và trong mỗi người dân Việt Nam.
Trong đó, phát huy nhân tố con người là nhiệm vụ thứ sáu, nhưng lại là nhiệm
vụ mang ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển và thịnh vượng của đất nước
trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đang hội nhập với thế giới ngày càng sâu
rộng, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Có thể nói, mọi thắng lợi của cách mạng đều bắt nguồn từ sức mạnh của
con người. Đặc biệt đối với nước ta, từ lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ
nước cho đến nay, mọi thắng lợi càng cho thấy rõ vai trò có tính quyết định của
nhân tố con người. Nếu không phát huy được nhân tố con người thì làm sao có
thể giải thích được, một dân tộc đất không rộng, người không đông, liên tục phải
chống lại những cuộc xâm lăng của các thế lực thù địch lớn hơn, tiềm năng kinh
10
tế, quân sự mạnh hơn, nhưng chúng ta vẫn giành thắng lợi. Truyền thống lịch sử
đó đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, phát huy trong lãnh đạo,
đưa cách mạng nước ta vượt qua những khó khăn, thử thách ác liệt của chiến
tranh cách mạng đưa đất nước đi đến thắng lợi vẻ vang, cũng như gặt hái được
những thành tựu “to lớn có ý nghĩa lịch sử” trong 30 năm đổi mới.
Phát huy nhân tố con người hiện nay luôn gắn liền với xây dựng con người
về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc. Đạo đức, nhân
cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc là cơ sở, tiền đề, điều kiện của phát
huy nhân tố con người. Phát huy nhân tố con người không phải chung chung, mà
có tính hiện thực, bắt đầu từ những tiềm năng thực tế. Trong điều kiện cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức phát triển, hội nhập gia
tăng, phát huy nhân tố con người không chỉ là vấn đề trí tuệ, năng lực làm việc
mà quan trọng là có đạo đức, nhân cách, lối sống phải ngang tầm nhiệm vụ.
Phấn đấu mục tiêu “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát
triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc,
nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần
vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển
bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh” và “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và
con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách,
đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa
vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân
tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình,
cộng đồng, xã hội và đất nước”1.
Để đạt được mục tiêu trên, đòi hỏi trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội ra sức “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam
phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào
dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận
1 NQ số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của BCH Trung ương Đảng “ về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”
11
thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự
hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc”2.
2. Một số kiến nghị về giải pháp phát triển con người Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay
2.1. Con người Việt Nam phải có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc,
phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất
nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự
nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Về tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc: Đây là tiêu chí bao trùm, xuyên
suốt nói lên phẩm chất chính trị của công dân đối với đất nước. Yêu nước ngày
nay là phải gắn với mục tiêu, lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội; yêu nước là
phải thể hiện ý chí quyết tâm thoát nghèo từ mỗi người dân, mỗi địa phương để
vươn lên làm giàu cho mình và cho xã hội, tạo nên sức mạnh cho đất nước phát
triển theo mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra là xây dựng một nước Việt
Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; thực hiện lý
tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; có ý thức giữ gìn và bảo vệ
bản sắc văn hóa dân tộc; yêu thương, tôn trọng con người trong mỗi hoạt động
sống; có những hoạt động tích cực để bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền
vững.
Trong giai đoạn hiện nay và cả trong vài thập kỉ tới, xu thế toàn cầu hóa
tiếp tục phát triển mạnh mẽ, quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, sự hợp tác
và cạnh tranh giữa các quốc gia dân tộc ngày càng mãnh liệt, thì ý thức dân tộc
hay tinh thần dân tộc càng trở thành một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất
nước.
Trong toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tinh thần dân tộc sẽ cố kết cả cộng
đồng thành một khối thống nhất để hợp tác và cạnh tranh. Không tạo được khối
thống nhất đó để mỗi người đứng riêng lẻ, tách biệt, rời rạc thì sẽ không có sức
mạnh, không đủ khả năng hợp tác và cạnh tranh, càng không có khả năng đưa cả
dân tộc vượt qua khó khăn, thử thách trong toàn cầu hóa. Do vậy, để nhìn nhận,
2 NQ số 33-NQ/TW, ngày 09/6/2014 của BCH Trung ương Đảng “ về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.
12
đánh giá một con người trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập khu vực và quốc
tế, yêu cầu tinh thần dân tộc càng phải được chú trọng nhằm một mặt, phải khơi
dậy, bồi dưỡng, cổ vũ, khuyến khích tinh thần dân tộc; mặt khác, để sử dụng nó
như một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập. Khơi dậy
tinh thần dân tộc cũng là khơi dậy tự hào dân tộc, phát huy tất cả những gì tốt
đẹp, thích hợp cho công cuộc đổi mới, hội nhập và gạt bỏ, sửa đổi tất cả những
gì không còn phù hợp, cản trở sự phát triển. Tinh thần dân tộc trong điều kiện
phát triển hòa bình của đất nước là một đảm bảo cho sự đoàn kết dân tộc, cho ý
chí phấn đấu để dân tộc ta có thể “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.
Để tạo dựng, khơi dậy và phát huy tinh thần dân tộc trong mỗi con người,
trước hết, công tác văn hóa, tư tưởng và công tác chính trị phải đi vào lòng
người và ở từng giai đoạn, phải biết hướng tinh thần vào việc giải quyết một vấn
đề cụ thể của đất nước. Ngoài ra, chú trọng giáo dục tinh thần dân tộc đối với
học sinh ngay từ lúc còn ở tuổi học đường. Thêm nữa, cần phải mở rộng cánh
cửa giao lưu với thế giới bên ngoài để mỗi người có thể nhìn được ra thế giới,
nhận thức, so sánh, hiểu rõ về cái hay, cái đẹp của dân tộc và thấy rõ những tiêu
cực bất cập để loại bỏ, khắc phục.
Mặt khác, tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm
mỹ cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên. Phát huy vai trò của văn
học - nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm của con người. Bảo
đảm quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của mỗi người dân và của cộng
đồng.
Như vậy, trong điều kiện hiện nay, tạo dựng, khơi dậy và phát huy tinh thần
dân tộc là một đòi hỏi tất yếu để hội nhập và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Đó là mục tiêu nhưng đó cũng là thước đo, tiêu chí để đánh giá
một con người, một doanh nghiệp, một đoàn thể xã hội hội nhập và phát triển.
Về tinh thần đoàn kết: Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, truyền thống
đoàn kết cộng đồng của người Việt Nam đã tạo nên sức mạnh to lớn, góp phần
đưa dân tộc ta vượt qua biết bao thử thách, gian nguy, giành và giữ vững quyền
độc lập, tự do. Nối tiếp truyền thống đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng
khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam dựa trên nền tảng liên minh công, nông,
13
trí thức vững chắc. Người đã kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của
thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng Việt Nam giành những
thắng lợi to lớn. Ngọn cờ tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính
là sức mạnh để Đảng Cộng sản Việt Nam hội nhập và phát triển, mở rộng và
nâng khối đại đoàn kết lên một tầm cao mới.
Tư tưởng đoàn kết hiện nay không chỉ là đoàn kết dân tộc, đoàn kết trong
đảng, đoàn kết toàn dân, đó còn là đoàn kết quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam
đã chỉ rõ: “Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt
Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định
bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” . Trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đặt ra cho mỗi người cần phải nâng
cao ý thức trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ
mà Đảng và nhân dân giao phó trong đó có lợi ích của bản thân mình. Thực hiện
được điều này đòi hỏi mỗi người phải đấu tranh với chính mình, vượt qua chính
mình, ra sức tu dưỡng rèn luyện đạo đức, sống có nhân cách, xử lý hài hòa giữa
lợi ích chung và lợi ích riêng.
Trong điều kiện hiện nay, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế trở thành
nhân tố của sự ổn định, động lực của sự phát triển, hạt nhân thúc đẩy mọi phong
trào. Xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và quốc tế trên lập trường
của giai cấp vô sản là định hướng giá trị và lý tưởng sống của con người. Để có
thể hòa mình vào tổ hợp sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, mỗi người không chỉ
phải tự giác, đặt trách nhiệm phải tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân, mà
mỗi người còn phải tự xây dựng, nỗ lực phấn đấu để xứng đáng với vị trí, vai trò
và tầm vóc của mình.
2.2. Con người Việt Nam phải có trình độ chuyên môn cao, khả năng
thích nghi nhanh và kỹ năng lao động giỏi.
Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế,
của kinh tế tri thức và xã hội học tập. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của
con người Việt Nam trong thời kỳ mới.
14
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và
hiện đại hóa. Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần phải sử dụng các
thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại, phải tiến hành cách mạng khoa học
và công nghệ. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi con người Việt Nam hiện đại phải có
trình độ chuyên môn cao để có thể nắm bắt được các thành tựu khoa học - công
nghệ hiện đại của thế giới và ứng dụng chúng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
của đất nước, nhằm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa. Bởi lẽ,
như C.Mác đã khẳng định: “Sự ngu dốt là sức mạnh của ma quỷ và chúng ta lo
rằng, nó sẽ còn là nguyên nhân của nhiều bi kịch khác nữa” .
Trình độ chuyên môn cao được thể hiện ở khả năng nắm bắt, tiếp cận
nhanh nhạy, kịp thời và đúng hướng xu thế phát triển của những vấn đề thuộc
lĩnh vực lao động của mình, để có thể lao động một cách sáng tạo, độc lập, có
năng suất và hiệu quả tốt. Trong thời đại ngày nay, trình độ chuyên môn cao
trong lao động còn thể hiện ở khả năng vận dụng tốt, kịp thời các thành tựu khoa
học công nghệ hiện đại, có khả năng cải tiến, hoàn thiện và hiện đại hóa các
công cụ và phương thức lao động ở phạm vi và lĩnh vực chuyên môn của chính
mình trên cơ sở của khoa học và công nghệ hiện đại.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời đại cách mạng khoa học và công
nghệ đòi hỏi khá cao về phẩm chất trí tuệ ở người lao động - một phẩm chất
được coi là quan trọng nhất hiện nay. Đó là người lao động phải có năng lực
sáng tạo, năng lực hoạt động thực tiễn tốt; có khả năng áp dụng những thành tựu
của khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; có năng lực thu
thập và xử lý thông tin trong điều kiện bùng nổ thông tin; có sự nhạy bén, thích
nghi nhanh và thực sự làm chủ khoa học, kỹ thuật, công nghệ hiện đại. Đồng
thời, người lao động phải có khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề
nghiệp, nghĩa là phải có kỹ năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề,
mức độ thành thạo chuyên môn nghề nghiệp.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta được tiến hành trong xu thế toàn
cầu hóa nền kinh tế thế giới với tư cách là xu thế phát triển khách quan, do đó
đòi hỏi người lao động Việt Nam còn phải biết chủ động hội nhập quốc tế nhằm
tiếp thu tri thức, kinh nghiệm, sức mạnh của thế giới bên ngoài để phát huy, tăng
15
cường sức mạnh của đất nước mình. Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp
nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài trong điều kiện Việt Nam còn nhiều mặt
hạn chế, yếu kém, đặt ra những đòi hỏi bức xúc về chất lượng nguồn lực con
người Việt Nam.
Hiện nay, đầu tư nước ngoài đang vào Việt Nam với tốc độ và quy mô ngày
càng lớn, trong khi chúng ta có đội ngũ lao động trẻ dồi dào nhưng lại thiếu trình
độ chuyên môn, vì vậy việc tận dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư nước ngoài
có nhiều hạn chế. Mặt khác, do không có trình độ chuyên môn và tính chuyên
nghiệp nên lao động người Việt Nam ít được vào làm việc trong các lĩnh vực
quan trọng, hoặc trong các cơ sở sản xuất có trình độ khoa học công nghệ cao,
mà phần lớn chỉ được lao động trong các cơ sở sản xuất có hàm lượng kỹ thuật
và công nghệ thấp hoặc trung bình, vì vậy việc xuất khẩu lao động của Việt Nam
còn hạn chế.
Như vậy, trình độ chuyên môn cao và tính chuyên nghiệp là một trong
những yếu tố cấu thành và quyết định chất lượng nguồn nhân lực hiện đại. Thiếu
nó, con người chỉ có sức lao động mà không có khả năng lao động trong nền sản
xuất hiện đại.
Thực tế ở nước ta nhiều năm qua kể từ khi mở cửa, hội nhập khu vực và
quốc tế, tình trạng yếu kém về chuyên môn và thiếu tính chuyên nghiệp trong
lao động bộc lộ một cách rõ rệt. Mặt khác, quá trình hội nhập trong điều kiện
Việt Nam có trình độ công nghệ và kinh tế chậm phát triển; năng lực cạnh tranh
của các sản phẩm của Việt Nam yếu hơn so với các nước khác. Do vậy, để hội
nhập quốc tế một cách vững chắc, đòi hỏi Việt Nam buộc phải nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, đào tạo nguồn nhân lực theo hướng tạo dựng nguồn nhân
lực có trình độ chuyên môn cao, có tính chuyên nghiệp trong lao động và thích
ứng nhanh với tiến bộ của nền khoa học - công nghệ nhân loại, nhất là cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ 4.0 hiện nay.
2.3. Con người Việt Nam phải có đạo đức mới.
Nói đến đạo đức mới là nói đến hệ thống các quy tắc, chuẩn mực quan hệ
đạo đức, tương ứng với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
16
dựng kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế để phân biệt với hệ thống các quy tắc,
chuẩn mực đạo đức đã từng tồn tại trong các thời kỳ trước đây.
Đạo đức mới của con người Việt Nam hiện nay không thoát ly, tách biệt với
những nội dung đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà nó là sự tiếp thu,
kế thừa những nội dung tốt đẹp của đạo đức truyền thống dân tộc, đồng thời, cải
biến một số nội dung cũ cho phù hợp với xã hội hiện đại, gạt bỏ những nội dung
lỗi thời không còn thích hợp với bối cảnh xã hội hiện nay. Đạo đức mới bao hàm
trong nó những nội dung rộng lớn từ lý tưởng phấn đấu cho độc lập dân tộc, đất
nước phồn vinh, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ,công bằng, văn minh đến
hành vi tiết kiệm, nếp sống văn minh, lòng trung thực, nhân nghĩa, lối sống lành
mạnh…
Các nội dung đạo đức, hay nói cách khác, khía cạnh đạo đức trong mỗi con
người không bao giờ đứng độc lập, tách rời các khía cạnh khác, mà thường hòa
trộn lẫn nhau, đan xen vào nhau, kết hợp bổ sung cho nhau làm nên phẩm chất
của mẫu hình con người của thời đại, của từng giai đoạn lịch sử, vừa có kế thừa,
tiếp thu những nét trong mẫu hình con người của quá khứ vừa mang những nét
mới đặc trưng cho mẫu hình con người của giai đoạn mới. Ngay cả những nét cũ
tiếp thu từ quá khứ, thì nội dung, tinh thần và cốt cách của nó cũng đã mang dấu
ấn của thời kỳ mới, hay được cải biến cho phù hợp với những điều kiện mới.
Lối sống giản dị, chất phác, chân thành, khiêm tốn trong ứng xử, tiết kiệm,
ứng xử hợp lý, hợp tình cũng là một nội dung của đạo đức mới. Con người Việt
Nam vốn có lối sống tiết kiệm, giản dị, chân thành, chất phác và khiêm tốn như
một nét tự nhiên, tất yếu, bắt nguồn từ điều kiện sống và lao động của họ. Trong
bối cảnh hội nhập quốc tế lối sống thực dụng, trọng đồng tiền, xa hoa, lãng phí
đã và đang ít nhiều ảnh hưởng đến một bộ phận dân cư. Do đó, việc phát huy
các chuẩn mực lối sống tiết kiệm, giản dị, chân thành, chất phác và khiêm tốn
như một yêu cầu đối với con người Việt Nam hiện đại lại càng cần thiết. Điều
đó, sẽ giúp cho việc xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có
định hướng đúng, ngăn ngừa và ngăn chặn tác hại của lối sống trái ngược với
thuần phong mĩ tục, xa lạ với bản chất nhân nghĩa của người Việt Nam.
17
Điểm quan trọng và thiết yếu trong nội dung đạo đức mới của con người
Việt Nam hiện nay là chống chủ nghĩa cá nhân. Đây là một trong những nội
dung đạo đức cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trước đây “đạo đức
mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngẩng lên trời” . “Đạo
đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích
chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” . Xây dựng và phát huy lối sống
"Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người" hình thành lối sống có ý
thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi
trường kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội đề cao trách
nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội. Khẳng định, tôn vinh cái
đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, việc xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức
mới đòi hỏi phải sửa đổi những việc rất phổ thông, rất cần thiết trong đời sống
của tất cả con người từ cách ăn, mặc, ở, đi lại, cách làm việc.... Xây dựng phong
cách sống khiêm tốn, giản dị, điều độ, chừng mực, ngăn nắp, quý trọng thời
gian, ít ham muốn bất hợp lý về vật chất, chức quyền, danh, lợi, khoan dung, độ
lượng, xây dựng tác phong quần chúng, tác phong dân chủ, tác phong khoa học
là rất cần thiết. Xây dựng thuần phong mỹ tục để có lối sống đẹp cho cả cộng
đồng, xóa bỏ những phong tục tập quán không còn phù hợp, tạo dựng một nếp
sống văn hóa và có văn hóa ngày càng cao.
Bên cạnh đó, ra sức đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn,
lạc hậu, chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây
dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp khắc phục những mặt
hạn chế của con người Việt Nam.
2.4. Phải quan tâm giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích theo phương
châm bảo đảm công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển.
Lợi ích chính là điểm mấu chốt, là một trong những động lực hàng đầu
nhằm phát huy nhân tố con người. Trong thực tiễn cách mạng trước đây, do nhu
cầu giải phóng dân tộc nổi lên hàng đầu nên lợi ích toàn dân tộc phải được đặt
lên trên hết trong giải quyết mọi mối quan hệ lợi ích. Tuy nhiên, khi đất nước
hoà bình, các nhu cầu và lợi ích chính đáng của người dân cần được tôn trọng và
18
bảo đảm ngày càng tốt hơn. Theo đó, để phát huy vai trò của nguồn lực con
người trong sự nghiệp đổi mới đất nước, không thể không đặt ra vấn đề giải
quyết hài hoà giữa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng và lợi ích toàn xã hội,
giữa lợi ích trực tiếp trước mắt với lợi ích lâu dài, giữa lợi ích vật chất với lợi
ích tinh thần... Bên cạnh đó, cần coi trọng và thực hiện tốt hệ thống chính sách
xã hội theo hướng lấy con người là trung tâm. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước cần
có chính sách bảo đảm công bằng xã hội, tạo điều kiện cho tất cả mọi người đều
được hưởng lợi từ sự tăng trưởng của nền kinh tế, có cơ hội bình đẳng trong việc
tiếp cận các dịch vụ liên quan đến phát triển con người. Đó chính là quá trình
tích luỹ về lượng để có những biến đổi về chất và trong trường hợp mà chúng ta
đang xem xét, là sự cống hiến ở mức cao nhất năng lực cá nhân của mỗi con
người cho cộng đồng, xã hội.
2.5. Cần xây dựng và thực hiện một cơ chế dân chủ hoá mọi mặt đời
sống xã hội nhằm tạo môi trường, điều kiện thiết yếu để phát huy vai trò của
nguồn lực con người trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nhân tố con người chỉ được khai thác và phát huy tối đa khi con người thực
sự làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ chính mình. Để phát huy tính
tích cực, tự giác, sáng tạo của con người trong mọi hoạt động thì nhất thiết phải
xây dựng và thực hiện một cơ chế dân chủ, trong đó ngày càng quan tâm đến
dân chủ trực tiếp nhằm hiện thực hoá những giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa
trong đời sống xã hội. Việc phát huy dân chủ không chỉ tạo cơ hội thuận lợi cho
tất cả mọi người có thể cống hiến năng lực của mình cho xã hội, mà còn có ý
nghĩa tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế phản biện xã hội với tinh thần lành
mạnh, xây dựng và phát huy trách nhiệm công dân. Nói cách khác, thông qua
quá trình dân chủ hoá, trí tuệ của toàn dân được huy động và đóng góp vào sự
phát triển chung của xã hội. Đó cũng là lý do tại sao Hồ Chí Minh coi dân chủ
là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi vấn đề mà thực tiễn cách mạng đặt ra.
Tuy nhiên, thực hiện dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ cương pháp
luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; khắc phục mọi biểu hiện dân chủ cực đoan hoặc
lợi dụng “dân chủ” để chia rẽ khối đại đoàn kết, làm rạn nứt sự đồng thuận xã
hội. Lấy dân chủ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước làm nòng cốt để thực hiện
19
tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường dân chủ nhằm giải phóng mọi năng lực
sáng tạo của quần chúng nhân dân, góp phần ổn định chính trị - xã hội, tạo điều
kiện cho sự nghiệp đổi mới thắng lợi.
2.6. Con người Việt Nam phải có thể lực tốt.
Thể lực, sức khỏe tốt có ý nghĩa quan trọng, quyết định năng lực hoạt động
của con người. Phải có thể lực, con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan
hệ của mình trong xã hội. Đây là yêu cầu đầu tiên đối với người lao động ở mọi
thời đại lịch sử, mọi quốc gia, dân tộc khác nhau, song ở từng thời đại, mỗi quốc
gia, dân tộc khác nhau có những yêu cầu với mức độ, nội dung khác nhau. Thể
lực tốt được hiểu không phải chỉ là tình trạng không có bệnh tật, mà còn là sự
thoải mái, hoàn thiện về thể chất, về trí lực và về xã hội. Song, trước hết con
người phải có sức khỏe cơ thể với tư cách là điều kiện tiên quyết để duy trì và
phát triển trí tuệ, là phương tiện thiết yếu để chuyển tải trí thức vào hoạt động
thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Đồng thời, phải có trí lực đó là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, là sức mạnh của niềm tin và ý chí, là
sức sáng tạo và khả năng vận động của trí lực. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người
dân khỏe mạnh tức là cả nước mạnh khỏe… Dân cường thì quốc thịnh” . Cũng
như để giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần
có sức khỏe mới thành công. Sức khỏe của con người phải là sự thống nhất giữa
hai yếu tố tinh thần và thể chất. Sức khỏe phải gắn liền với cuộc sống lao động,
gắn với một nếp sống đẹp, có văn hóa, hướng tới lao động hữu ích. Sức khỏe cá
nhân là một bộ phận, gắn liền với sức khỏe của cộng đồng, mỗi người khỏe
mạnh, cả dân tộc khỏe mạnh. Một quốc gia, dân tộc phát triển thì đời sống của
con người được nâng cao, tạo điều kiện để mỗi người dân được nâng cao sức
khỏe. Do vậy, luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi một người
yêu nước.
Thể lực của con người được xác định bởi kết cấu cơ thể sinh học của con
người (chiều cao, cân nặng, sự cân đối của cơ thể, sự nhạy cảm và sức chịu
đựng…) hoạt động theo những chức năng tự nhiên do cơ thể sinh học điều tiết
20
và điều khiển. Với sự phát triển của nền kinh tế, nền văn minh xã hội, cơ thể con
người cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện theo quy luật tiến hóa.
Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ, công nghiệp hóa gắn
liền với hiện đại hóa, hàm lượng trí tuệ, chất xám trong mỗi sản phẩm lao động
chiếm tỷ trọng rất lớn, thì yêu cầu về trí lực càng cao. Bởi lẽ, trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như trong cuộc cạnh tranh quyết liệt như
hiện nay, vai trò quyết định thuộc về lao động trí tuệ và năng lực sáng tạo của
đội ngũ lao động. Song, muốn lao động trí tuệ có hiệu quả, muốn thúc đẩy năng
lực sáng tạo thì người lao động không những phải có sức khỏe, thể lực tốt, mà
hơn thế nữa, còn phải có trí lực cao. Để có trí lực cao, họ cần phải có sức khỏe
tốt, thể lực không khỏe mạnh thì sẽ hạn chế đáng kể sự phát triển trí lực - yếu tố
quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người. Mặt khác, họ phải được
giáo dục và đào tạo kỹ lưỡng, thể hiện qua trình độ học vấn và vốn văn hóa, nhất
là phải được sống và làm việc trong một môi trường xã hội thuận lợi, có văn hóa
đạo đức, thực sự dân chủ, bình đẳng, được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời.
KẾT LUẬN
Với thực tiễn nước ta hiện nay và bối cảnh quốc tế hiện thời, để phát triển
con người Việt Nam, để “bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người”, “phát huy
nguồn lực con người” với tư cách là yếu tố cơ bản cho sự phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững, để có thể “cần và có thể rút ngắn thời gian,
vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt” trong quá trình đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đời sống xã hội. Chúng ta cần quan
tâm hơn nữa đến phát triển con người, thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách,
giải pháp phát triển nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục, đào tạo theo hướng mở, hội nhập, xây dựng xã hội học tập, phát triển toàn
diện năng lực, thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật
và trách nhiệm công dân”.
Mỗi tổ chức Đảng phải chú trọng đến giáo dục, rèn luyện đảng viên và phát
huy nhân tố con người đảng viên trong xây dựng con người của Đảng, xây dựng
21
môi trường văn hóa Đảng lành mạnh làm gương cho các tổ chức xã hội khác.
Tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết
Trung ương 4, khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn,
đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự
diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày
09/6/2014 của BCH Trung ương Đảng “về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, từ đó sẽ tạo sự
đồng bộ trong nhận thức và hành động của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên
và toàn xã hội đối với việc phát huy nhân tố con người Việt Nam trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, cha ông ta đã sáng suốt
khi dựa vào nhân tố con người để đạt đến mọi thành công. Ngày nay, trong bối
cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn
của nguồn lực con người và lấy đó làm điểm tựa vững chắc là điều kiện để
chúng ta đưa sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam đến thắng lợi. Phát huy nguồn lực con người để phát triển xã hội, đó là
một vấn đề có tính quy luật./.
22