Tải bản đầy đủ (.doc) (14 trang)

SKKN một số BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG dạy học PHÂN môn tập làm văn lớp 4

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (149.91 KB, 14 trang )

SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM
VĂN LỚP 4

Người thực hiện : Hoàng Thị Lê Na
Chức vụ : Giáo viên
Chuyên môn : Đại học Tiểu học

ĐẶT VẤN ĐỀ

1


Trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, phân môn Tập làm văn
đóng vai trò quan trọng, mang tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp và
sáng tạo. Đối với học sinh tiểu học, hoạt động chủ đạo của các em thiên về
cảm tính, mỗi em có một cách nhìn riêng về cùng một vấn đề, với đặc điểm
tâm sinh lý lứa tuổi nhỏ, học sinh thích tìm tòi, học hỏi, khám phá cái mới
trong nhận thức và trong cuộc sống xã hội.
Ngay khi nhận lớp 4, tôi thấy đa số học sinh viết câu sai ngữ pháp,
dùng từ chưa phù hợp với hoàn cảnh và đặc biệt là viết thiếu ý, ngại phát
biểu trong giờ học, dẫn đến chất lượng học tập phân môn Tập làm văn chưa
cao. Cho nên, việc áp dụng đổi mới phương pháp dạy học Tập làm văn theo
hướng phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh vào quá
trình học tập, tự học và thực hành sẽ góp phần giúp học sinh có thể dạn dĩ
trước đám đông, trình bày to, rõ, mạch lạc bằng lời lẽ tự nhiên, dễ hiểu trong
bài văn do chính tay mình làm. Vì vậy, việc áp dụng đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng trên là hết sức cấp thiết.
Tuy nhiên, dạy Tập làm văn như thế nào để phù hợp với trình độ học


sinh lớp 4. Điều đó khiến tôi tìm tòi, suy nghĩ trong các năm qua. Trong
phạm vi sáng kiến này, tôi xin được trình bày: “Một số biện pháp nâng cao
chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn lớp 4”. Nhằm tìm ra được
phương pháp, hình thức tổ chức thích hợp, vận dụng tốt nhất trong quá trình
giảng dạy. Hy vọng rằng, sáng kiến này sẽ giúp chúng ta tìm ra được giải
pháp tốt để thực hiện nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn lớp 4 đáp
ứng được với yêu cầu trong giai đoạn hiện nay.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

2


1. Cơ sở lí luận của vấn đề
Nhận thức được tầm quan trọng của tiếng Việt trong sự nghiệp giáo dục con
người. Từ xa xưa ơng cha ta đã sử dụng nó một cách tự giác nhằm giáo dục
trẻ.
Khi chưa có nhà trường, trẻ được giáo dục trong gia đình. Từ thuở
năm nơi, các em được bao bọc trong tiếng ru của mẹ, của bà , lớn lên chút
nữa những câu chuyện kể có tác dụng to lớn, là dòng sữa ngọt ngào ni
dưỡng tâm hồn trẻ, rèn luyện cho trẻ con người có nhân cách, có bản sắc dân
tộc, góp phần hình thành con người mới đáp ứng u cầu của xã hội.
Cùng với sự phát triển của xã hội, giáo dục trong nhà trường xuất phát
như một điều tất yếu, đón bước thiếu nhi cắp sách tới trường. Cả thế giới
đang mở trước mắt các em. Kho tàng văn minh nhân loại được chuyển giao
từ những điều sơ đẳng nhất. Q trình giáo dục được thực hiện ở mọi nơi,
mọi lúc, ở tất cả các mơn hoc nói chung và đặc biệt ở mơn học tiếng Việt nói
riêng.
Những điều sơ đẳng nhất góp phần rất quan trọng trong việc sử dụng
ngơn ngữ vào hoạt động giao tiếp và cách cảm nhận của học sinh thơng qua

bài Tập làm văn. Ngơn ngữ là thứ cơng cụ có tác dụng vơ cùng to lớn. Nó có
thể diễn tả được những gì con người nghĩ ra, nhìn thấy biết được những điều
trừu tượng mà các giác quan khơng thể vươn tới được. Các mơn học ở Tiểu
học có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau nhằm giáo dục tồn diện cho học sinh phải
kể đến Tập làm văn, một phân mơn chiếm thời lượng khá lớn trong mơn
Tiếng Việt ở Tiểu học. Nó tách thành một phân mơn độc lập nhưng nó là kết
quả tổng hợp của các mơn học khác nói chung và mơn Tiếng Việt nói riêng.
2. Thực trạng của vấn đề
Khi bắt đầu tìm hiểu việc học tập Tập làm văn
của học sinh, tơi thấy đa số học sinh rất thụ động, ít phát biểu, khi cần

3


hỏi điều gì các em chậm đứng lên, dẫn đến việc thực hành làm văn chưa đạt
yêu cầu, trình bày bài văn thì chưa rõ bố cục, câu văn thiếu mạch lạc, viết
thiếu ý, diễn đạt ý chưa phù hợp, bài văn không có tính sáng tạo, lệ thuộc rất
nhiều vào bài văn mẫu. Bên cạnh đó, còn tồn tại các em có hoàn cảnh gia
đình khó khăn, ít quan tâm đến việc học tập của con em mình đã gây ảnh
hưởng không nhỏ đến kết quả học tập Tập làm văn của các em. Trong khi đó
thì giáo viên chỉ dành ít thời gian để sửa chữa những sai sót cho các em học
sinh yếu vì sợ mất thời gian chung cho cả lớp.
Qua khảo sát chất lượng học tập Tập làm văn vào đầu năm, tôi nhận thấy:
Năm học
Giỏi
2010 - 2011 5 em = 13,2%

Khá
12em=31,6%


2011 -2012

11em= 28,9% 16em = 42,2% 4 em = 10,5%

7 em = 18,4%

Trung bình
Yếu
15em = 39,6% 6 em =15,6 %

2012 - 2013 10em = 26,3% 14em= 36,8% 12 em =31,6 % 2 em =5,3%
* Lớp 4 chương trình phân môn Tập làm văn gồm có các nội dung mà
học sinh phải học như: viết thư, kể chuyện, miêu tả (đồ vật, cây cối, con vật,
điền vào giấy tờ in sẵn …).
Xuất phát từ vấn đề đó, tôi đã tiến hành một số biện pháp như sau:
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
a) Đối với loại bài dạy học sinh thực hiện viết thư:
Cần phân biệt rằng, một bức thư của học sinh tiểu học không như một
bức thư của người lớn, nghĩa là học sinh tiểu học viết thư ở mức độ đơn giản,
đầy đủ yêu cầu cơ bản của một bức thư. Ở nội dung bài dạy này, giáo viên
cần hình thành chắc cho học sinh mục đích viết thư và viết thư cho ai ?. Giáo
viên giải thích cho học sinh hiểu rõ, có thể viết thư cho bạn bè, cho người
thân để thăm hỏi, động viên, chúc mừng, chia sẻ, thông báo tình hình học

4


tập, bày tỏ ước mơ … Để học sinh viết thư đúng theo yêu cầu, tôi đã tiến
hành một số cách sau đây:
- Chuẩn bị bài viết thư mẫu các loại của năm học trước đã thu thập

được để đọc mẫu cho học sinh tham khảo.
- Nhận xét bài viết mẫu về việc sử dụng các từ ngữ, diễn đạt nội dung,
cách trình bày một bức thư.
- Giáo viên hướng dẫn, gợi ý cho học sinh có thêm vốn từ phong phú, đa
dạng để kết hợp vào việc viết thư.
- Cho học sinh trao đổi, thảo luận nhóm, thông tin cho nhau những sự
việc có liên quan đến viết thư.
- Giáo viên có thể dùng bảng phụ trình bày một bức thư mẫu, đủ để học
sinh cả lớp quan sát học tập.
b) Đối với loại bài kể chuyện:
- Để học sinh thực hiện tốt được kỹ năng kể chuyện ở lớp 4, giáo viên
tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với đối tượng kể. Yêu cầu học
sinh về nhà tìm các câu chuyện khác sách giáo khoa để kể hay nhớ lại câu
chuyện do chính học sinh tham gia tìm ra. Giáo viên cần phát huy có hiệu
quả đồ dùng dạy học (tranh ảnh, mô hình, vật thật …) để học sinh tri giác, từ
đó kể được dễ dàng, chính xác, nhớ lâu câu chuyện đã kể.
Chẳng hạn: Kể chuyện bài: “Ba lưỡi rìu”.
- Giáo viên chuẩn bị 06 tranh minh họa đẹp, tương ứng 06 sự việc của
truyện.
- Yêu cầu học sinh xác định các nhân vật ở từng đoạn văn:
+ Đoạn văn thứ nhất chỉ có một nhân vật là chàng tiều phu.
+ Các đoạn còn lại đều có hai nhân vật là chàng tiều phu và ông cụ
già.

5


- Cần chú ý vừa kể, vừa tả nhằm góp phần thêm cho bài kể chuyện sinh
động, và hấp dẫn hơn.
- Kết hợp phương pháp thảo luận nhóm trong kể chuyện, tạo không khí

hợp tác học tập. Đồng thời, tạo cơ hội cho các em học yếu tham gia hoạt
động kể chuyện.
c) Đối với loại bài miêu tả:
Khi học tập làm văn miêu tả, các em gặp rất nhiều khó khăn cả về tri
thức và phương pháp, hiểu biết về cảm xúc, về đối tượng miêu tả. Các em
lấy đâu ra hiểu biết về cây đang ra hoa, ra quả nếu không được quan sát.
Những khó khăn về nội dung miêu tả càng được nhân lên do các em chưa
nắm được phương pháp quan sát, bố cục bài miêu tả,sử dụng ngôn ngữ miêu
tả.
- Dạy học sinh quan sát để tìm ý cho bài miêu tả.
* Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật. Mắt cho ta cảm
giác về màu sắc (xanh, đỏ, vàng, da cam, …) hình dạng (cây cao hay cây
thấp, cái bàn hình vuông hay hình chữ nhật, …) hoạt động (con gà khi đi cổ
thường ngẩng cao, con vịt bước đi chậm chạp, lạch bạch, …). Dạy học sinh
quan sát chính là dạy cách sử dụng các giác quan để tìm cho ra các đặc điểm
của sự vật.
* Quan sát làm bài văn miêu tả, cần tìm ra những đặc điểm riêng biệt của
từng đồ vật, con vật, cây cối.
Ví dụ : Quan sát cây bút chì của em. Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận
xét không phải chỉ màu sắc bên ngoài của bút chì mà còn cần nhận ra những
dòng chữ in trên bút chì, các đặc điểm khác mà chỉ riêng bút chì của em mới
có. Nhận xét về con gà trống nhà em, phải cố tìm ra mào của nó, lông của
nó, thân hình của nó, … có gì khác với con gà trống của hàng xóm.

6


* Khi dạy văn miêu tả giáo viên cần định hướng cách quan sát và quan sát có
phương pháp cho học sinh.
+ Lựa chọn trình tự quan sát :

- Trình tự không gian : Thường quan sát bao quát toàn bộ phận đến quan sát
từng bộ phận, quan sát từ trái sang phải hay từ trên xuống dưới, hay từ ngoài
vào trong.
- Trình tự thời gian : Quan sát cây cối, theo mùa, trong năm, …Quan sát
con vật như quan sát sinh hoạt của con gà, con lợn theo thời gian trong ngày.
- Dù quan sát theo trình tự nào cũng cần tập trung vào bộ phận chủ yếu và
trọng tâm.
+ Hướng dẫn học sinh sử dụng các giác quan để quan sát.
- Thường học sinh chỉ dùng mắt để quan sát. Giáo viên cần hướng dẫn học
sinh tập trung sử dụng các giác quan khác để quan sát như : thính giác (tai),
khứu giác (mũi), xúc giác (tay).
Ví dụ : Khi tả cây bút chì giáo viên có thể hỏi “Dùng tay sờ vào bút chì em
có cảm giác thế nào ?”.
* Hướng dẫn cách thu nhận các nhận xét do quan sát mang lại.
- Khi học sinh trình bày kết quả quan sát, nên hướng các em trả lời bằng
nhiều chi tiết cụ thể và sử dụng ngôn ngữ chính xác, gợi hình ảnh.
- Hướng dẫn học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ miêu
tả.
Vốn từ ngữ miêu tả có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm văn miêu tả.
Giúp học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả và lựa chọn từ ngữ khi miêu tả là
vấn đề quan tâm của mọi giáo viên.
*Tạo điều kiện để học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả.
- Biện pháp đầu tiên giúp các em tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả qua các bài
tập đọc. Nhiều bài tập đọc là bài văn miêu tả hay. Số lượng từ ngữ miêu tả ở

7


các bài đó phong phú, cách sử dụng chúng sáng tạo. Dạy các bài tập đọc,
giáo viên cần chỉ ra các từ ngữ miêu tả, có thể chọn trường hợp đặc sắc nhất

để phân tích cái hay, sự sáng tạo của nhà văn khi dùng chúng.
Ví dụ : Khi dạy bài tập đọc “Cánh diều tuổi thơ” giáo viên cần chỉ cho
học sinh thấy những câu văn tác giả miêu tả cánh diều ( tác giả đã quan sát
cánh diều bằng nhiều giác quan (mắt, tai ) để miêu tả cánh diều một cách
sinh động, hấp dẫn).
- Hướng dẫn học sinh lựa chọn từ ngữ khi miêu tả.
- Có vốn từ nhưng phải biết dùng chúng đúng lúc, đúng chỗ. Muốn vậy
phải coi trọng việc lựa chọn từ ngữ. Khi diễn đạt kết quả quan sát cũng như
khi làm bài miêu tả. Mỗi chi tiết miêu tả thường chỉ có một từ ngữ, một hình
ảnh thích hợp do đó có tác dụng gợi hình, gợi cảm nhất. Có khi ngay từ đầu
các em đã nắm bắt được từ ngữ hay hình ảnh này. Nhưng thông thường việc
xác định từ ngữ, hình ảnh cần dùng cho một chi tiết miêu tả phải trải qua một
quá trình tìm tòi chọn lọc. Quá trình này sẽ quyết định tốc độ (nhanh hay
chậm) và chất lượng (tìm được đúng từ ngữ, hình ảnh cần hay không, cách
sắp xếp các từ ngữ , hình ảnh như thế nào?)
- Đối với loại bài này, tôi dặn dò học sinh về nhà quan sát các đồ vật, con
vật gần gũi mà các em thường thấy ở xung quanh. Vào lớp, tôi cho học sinh
thi đua cá nhân, nhóm tìm nhanh các đồ vật có thể tả. Sau đó gợi ý cho các
em cách lập dàn ý một đoạn, một bài hoàn chỉnh và yêu cầu mỗi em phải tự
làm việc, tự quan sát, tự ghi chép khi quan sát một đồ vật, một con vật và có
nhiệm vụ giúp các em hệ thống lại các ý đã quan sát để lập thành dàn bài chi
tiết đạt yêu cầu, có hệ thống.
- Vào các tiết ở buổi học thứ hai, tôi dành thời gian cho học sinh làm
bài. Đối với các em học sinh yếu, tôi cho các em trình bày phần mở bài và
kết luận. Thường thì học sinh yếu tôi gọi trong lúc này là để các em có thể

8


trình bày ngắn gọn, các ý khi sai sót, ngoài những nụ cười cởi mở giáo viên

chỉ nên nhẹ nhàng sửa sai và động viên cho các em này.
- Ở phần thân bài, tôi thường phân nhóm 4 cho các em thảo luận theo dàn
ý chi tiết, các em nối tiếp, hỗ trợ nhau thực hiện:
+ Phần bao quát (01 em).
+ Phần chi tiết (02 em).
+ Hoạt động liên quan (01 em).
Ví dụ 1: Kiểu bài tả về đồ vật: “Tả chiếc cặp sách”.
Yêu cầu thảo luận phần thân bài sau đây:
+ HS1: Tả bao quát, kích thước, màu sắc, chất liệu của cặp ?
+ HS2: Tả bên ngoài cặp gồm: mặt cặp, nắp cặp, quai đeo, ổ khóa.
+ HS3: Tả bên trong cặp có mấy ngăn ? Mỗi ngăn đựng gì ?
+ HS4: Nêu ích lợi chiếc cặp ?
Sau khi thảo luận xong một nhóm học sinh trình bày:
+ HS1: Cặp hình chữ nhật, làm bằng vải giả da. Dài hơn hai gang tay
của em, rộng khoảng một gang rưỡi. Cặp có nhiều màu rất đẹp.
+ HS2: Ở phía trên cặp có quai xách thật êm tay. Sau lưng là hai quai
đeo. Hai ổ khóa bằng sắt, mỗi khi đóng hoặc mở nghe “tách, tách” rất vui tai.
Ngoài mặt cặp có in hình chú chó đốm rất đẹp.
+ HS3: Phía bên trong có ba ngăn. Ngăn lớn đựng sách, ngăn thứ hai
đựng bảng con, đồ dùng khác …, ngăn thứ ba nhỏ nhất đựng bút, thước, và
các đồ dùng như: áo đi mưa, chai nước, …
+ HS4: Chiếc cặp giúp em đựng sách vở không bị rơi rớt và không bị
mưa ướt.
Ví dụ 2: Kiểu bài tả về cây cối: “Tả cây có bóng mát” (cây phượng).
- Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát cây phượng (hình vẽ) hoặc cây

9


thật.

- Thảo luận nhóm 4, nêu lên kết quả quan sát.
+ HS1: Tả bao quát cây: hình dáng, cao hay thấp, màu sắc.
+ HS2: Tả cụ thể: thân cây, lá cây, hoa quả, vỏ cây xù xì, rễ cây ngoằn
ngoèo nổi cả trên mặt đất.
+ HS3: Chim chóc, ong bướm bay vòng quanh.
+ HS4: Nêu ích lợi của cây phượng.
- Đến tiết trả bài viết, tôi cho học sinh tự do phát biểu ý kiến sửa sai về
câu, từ, ý diễn đạt. Qua việc đọc bài hay, các em nêu lên được chỗ nào hay
cần học hỏi ở bạn, ý nào còn thiếu sót được các bạn bổ sung và hoàn thiện
ngay tại lớp. Từ đó, các em sẽ có vốn từ để vận dụng vào bài viết phong phú
hơn.
d) Đối với loại bài điền vào giấy tờ in sẵn:
- Điền vào giấy tờ in sẵn: tôi yêu cầu học sinh đọc trước từng mục
trong bài cần điền, chỗ nào không rõ phải hỏi ý kiến người lớn và phải điền
thông tin chính xác, rõ ràng. Mỗi học sinh chuẩn bị cho mình một mẫu
“Phiếu khai báo tạm trú, tạm vắng” để thực hành điền vào các thông tin.
- Sau một thời gian thảo luận nhóm, học sinh từng nhóm phát biểu và
nhận xét lẫn nhau, giáo viên chốt lại ý các câu trả lời của học sinh.
- Từng học sinh làm bài của mình.
- Giáo viên chấm 05 – 07 bài và nhận xét.
- Giáo viên đọc bài hay.
* Song song đó là việc giảng dạy kỹ các phân môn như: Tập đọc, Kể

10


chuyện, Tập viết (luyện thêm), Chính tả, Luyện từ và câu cũng giúp học sinh
thực hành tốt cho phân mơn Tập làm văn. Đây là cả một q trình đòi hỏi sự
kiên trì giảng dạy của giáo viên cho tồn bộ mơn Tiếng Việt.
* Thầy, cơ giáo là tấm gương sáng cho các em. Do đó, bản thân giáo viên

trước hết cần chuẩn bị kỹ tiết dạy và cách trình bày cũng phải chuẩn mực để
học sinh học tập.
* Tăng cường hình thức thi đua, khen thưởng, hạn chế phê bình, có nội
dung bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
* Kết quả:
Qua 02 năm học, 2010 – 2011, 2011 – 2012 và cuối kỳ I năm
học 2012 – 2013 tơi thấy kết quả đạt được như sau:
- Học sinh chủ động hơn trong tiết Tập làm văn.
- Biết lập dàn ý chi tiết khi miêu tả.
- Học sinh diễn đạt được rõ ràng ý mình muốn nói.
- Khơng còn lệ thuộc vào bài văn mẫu.
- Kỹ năng làm văn đã được nâng lên, từ đó bài viết của các em đạt kết
quả cao.
- Học sinh hứng thú học tập, u thích mơn Tiếng Việt và đặc biệt là
phân mơn Tập làm văn, thích được trình bày bài viết của mình và nhận xét
bài của bạn.
Năm học
Giỏi
Khá
Trung bình
Cuối năm : 2010 - 10em = 25,6% 18em = 46,2 % 11em = 28,2%
2011

11em = 28,2%

19em = 48,8%

9em = 23,0 %


Cuối năm : 2011 – 2012

14em = 35,8%

21em =52,7%

4em = 10.2%

Cuối kỳ I : 2012 –
2013

11


KẾT LUẬN
1. Kết luận
*Phạm vi tác dụng của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng sáng kiến này có thể áp dụng
rộng rãi vào thực tiễn. Tuy nhiên, phạm vi thực hiện chưa rộng, chỉ dừng lại
ở các lớp dạy 02 buổi/ngày. Thực hiện theo phương pháp mới như trên đã
góp phần rất lớn về việc học tập của các em, giúp các em học tập ngày một
tiến bộ.
* Nguyên nhân thành công và tồn tại:
- Giáo viên xác định được mục tiêu dạy học theo phương pháp mới, phát
huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học. Giáo
viên đóng đúng vai trò người tổ chức, hướng dẫn cho học sinh hoạt động.
- Xác định đúng đặc trưng bộ môn, vị trí, mục tiêu theo chuẩn kiến thức
kỹ năng.
- Hình thành phương pháp và kỹ năng quan sát gắn với từng kiểu bài để
học sinh có đủ ý. Sau đó giúp các em hình thành dàn ý chi tiết, mạch lạc, hợp

lý làm cơ sở cho học sinh viết đoạn, viết bài tốt.
- Chấm, chữa bài thường xuyên, kịp thời để phát hiện những gì còn sai sót
của các em và có hướng sửa chữa, nhất là học sinh yếu.
- Có tinh thần trách nhiệm cao “Vì sự nghiệp giáo dục toàn diện trẻ”,
có lòng tận tụy, yêu thương học sinh. Nghiên cứu bài dạy, chuẩn bị chu đáo
các hoạt động dạy học cũng như các dụng cụ trực quan hỗ trợ cho tiết học
đạt hiệu quả cao.
- Luôn động viên, khen ngợi kịp thời các em học sinh yếu dù là tiến bộ
nhỏ nhất. Không áp đặt, không chê bai khi học sinh viết sai, viết thiếu ý hoặc
diễn đạt câu chưa đúng.
Bên cạnh đó, còn một vài phụ huynh học sinh chưa thực sự quan tâm đến

12


việc học tập của con mình, còn trông chờ, ỷ lại toàn bộ cho giáo viên chủ
nhiệm làm ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động giảng dạy của giáo viên.
* Bài học kinh nghiệm:
- Vận dụng linh hoạt các phương hướng dạy học giúp học sinh hứng
thú, tranh luận sôi nổi trong giờ học.
- Tạo điều kiện cho học sinh trao đổi, học hỏi nhau qua các bài học.
- Giáo viên có sự đầu tư suy nghĩ trong từng kiểu bài Tập làm văn cụ
thể, điều chỉnh, bổ sung hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt hợp lý giúp học
sinh đều có thể làm bài được và làm bài tốt.
- Hoạt động tổ chuyên môn đều đặn, đi sâu vào các vấn đề khó, bàn bạc
thảo luận nội dung dạy học từng kiểu bài, nhất là đối với các em yếu.
- Thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo viên chủ nhiệm với phụ huynh
học sinh, họp phụ huynh hàng tháng để thông báo, trao đổi tình hình học tập
của học sinh.
- Tổ chức học sinh ở cùng lớp, gần nhà để hợp nhóm học tập, phân công

đôi bạn học tập.
Tập làm văn là môn học thực hành, là sản phẩm tổng hợp của các phân
môn Tiếng Việt. Qua luyện tập, thực hành học sinh được rèn luyện kỹ năng
thực hành tập làm văn, viết đoạn, bài mạch lạc, diễn đạt ý hay và ngày một
nâng cao. Vì thế, bản thân từng giáo viên phải đầu tư hơn nữa cho từng giờ
dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng, để các em có
điều kiện tham gia vào hoạt động học tập đều đặn, có hứng thú khi vào học
tiết Tập làm văn.
Do vậy, trong giờ học giáo viên phải uốn nắn, hướng dẫn các em nhận
xét, chuẩn bị ứng phó với các tình huống sư phạm. Giờ tập làm văn đảm bảo
theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm, các
em được học tập tích cực, chủ động và sáng tạo suy nghĩ độc lập, tự nhiên,

13


khụng gũ bú, rp khuụn mỏy múc. Tuy nhiờn, hc sinh vn cũn mt s khú
khn khi quan sỏt, tỡm ý vit bi. Chớnh vỡ vy, ũi hi giỏo viờn phi linh
hot, sỏng to trong vic hng dn cho hc sinh, ng viờn v khuyn khớch
cỏc em mnh dn, tớch cc hn. Cú nh th thỡ cht lng hc tp Tp lm
vn ca hc sinh c nõng cao v cụng vic ging dy ca ngi giỏo viờn
mi t hiu qu.
Trờn õy l mt s suy ngh tỡm tũi ca tụi trong quỏ trỡnh dy hc sinh
thc hnh Tp lm vn. Do khụng cú nhiu thi gian nghiờn cu, v trỡnh ,
kinh nghim cú hn nờn nhng vn nờu trờn khụng khi nhng sai sút.
Tụi mong nhn c nhng ý kin úng gúp ca cỏc bn ng nghip
tụi rỳt kinh nghim cho bn thõn trong quỏ trỡnh dy hc ngy mt tt hn.
2. Nhng ý kin xut, kin ngh
Để chất lợng hc mụn Ting Vit của học sinh tiếp tục đợc
nâng cao, tôi mạn phép đa ra một vài ý kiến đề xuất với

các cấp chỉ đạo nh sau:
Cần quan tâm hơn nữa đối với giáo viên tiểu học, thờng xuyên bồi dỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên ở
môn Ting Vit, nhất là phõn môn tp lm vn.
Có thờm nhiu đồ dùng dạy học mụn Ting Vit cho giáo
viên.

14


15



×