Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

Phân tích triển vọng phát triển bưởi da xanh ở đồng bằng sông cửu long

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (217.87 KB, 25 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

H’DUNG NIÊ KDĂM

TÊN ĐỀ TÀI

“Phân tích triển vọng sản xuất bưởi da xanh
tại đồng bằng sông Cửu Long”

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN HỌC HỆ THỐNG NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Minh

ư

Đắk Lắk, tháng 12 năm 2015


ii


MỤC LỤC
MỤC LỤC.................................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT........................................................................i
MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề..............................................................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài.................................................................................................................2
Muc tiêu tổng quát: ...................................................................................................................2
Mục tiêu cụ thể:.........................................................................................................................2



3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài................................................................2
3.1. Ý nghĩa khoa học..................................................................................................2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn..................................................................................................2
4. Giới hạn của đề tài...................................................................................................2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.......................................................................1
1.1. Hệ thống cây trồng và các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống cây trồng....................1
Phần II......................................................................................................................... 6
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU................................................6
2.1. Đối tượng nghiên cứu...........................................................................................6
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu........................................................................6
2.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................................6
2.4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................6
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu............................................................................................6
2.4.2. Phương pháp xử lý số liệu.................................................................................................6
2.4.3. Phương pháp phân tích......................................................................................................6

Phần III....................................................................................................................... 1
KẾT QUẢ THẢO LUẬN..........................................................................................1
3.1. Đặc điểm và vai trò của sản xuất BDX...............................................................................1
3.2. Các điều kiện để phát triển sản xuất BDX..........................................................................2
3.2.1. Điều kiện tự nhiên............................................................................................................2
3.2.2. Kỹ thuật trồng và điều kiện chăm sóc..............................................................................3
3.2.3. Đầu ra sản phẩm...............................................................................................................4
3.3. Thực trạng sản xuất BDX tại ĐBSCL..................................................................................4
3.4. Một số chính sách sản xuất BDX tại ĐBSCL......................................................................7
3.5. Phân tích năng lực cạnh tranh ngành sản xuất sản phẩm BDX (mô hình kim cương).......9

Phần IV..................................................................................................................... 11
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................11

TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................13
i


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Diễn giải

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long

BDX

Bưởi da xanh

UBND

Ủy ban Nhân dân

HSTNN

Hệ sinh thái nông nghiệp

ii


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề

ĐBSCL có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, có tiềm năng
lớn nhất để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng,
đánh bắt thủy sản, phát triển vườn cây ăn trái đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho cả
nước và mở rộng giao lưu với khu vực và thế giới.
ĐBSCL không chỉ nổi tiếng là vựa lúa hàng hóa, vựa tôm cá của cả nước
mà còn có thế mạnh về trồng cây ăn quả. Toàn vùng ĐBSCL hiện có trên
288.000 ha cây ăn quả các loại, cho sản lượng mỗi năm trên 7 triệu tấn quả phục
vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Với mức giá ổn định cũng như được thị trường vô cùng ưa chuộng, BDX là
một trong những loại trái cây được nhiều hộ nông dân lựa chọn làm mô hình làm
giàu trong thời gian qua. Trong những năm gần đây, BDX phát triển mạnh tại
nhiều nơi ở vùng ĐBSCL, đem lại nguồn thu nhập lớn cho nông dân.
Trong lúc nhiều loại nông sản chủ lực tại ĐBSCL, thậm chí lúa gạo là mặt
hàng chiến lược cứ lâm vào điệp khúc “được mùa, rớt giá” khiến thu nhập của
nông hộ sụt giảm, thì nhiều năm nay không ít nhà vườn “ăn nên làm ra”, thoát
nghèo và làm giàu bền vững từ BDX. So với một số cây ăn trái khác, cây trồng
này có những ưu điểm vượt trội: Dễ trồng, năng suất cao, thu hoạch rải vụ quanh
năm, tiêu thụ dễ dàng. Tuy nhiên, thực tế chất lượng BDX không đồng đều, sản
lượng còn thấp, làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường. Diện tích đất sản xuất
của hộ nông dân nhỏ lẻ, không tập trung. Chưa có nhiều diện tích chứng nhận an
toàn, vệ sinh thực phẩm có thể gây nguy cơ mất thị trường. Các nước trong khu
vực như Thái Lan, Philippines, Trung Quốc... sản xuất bưởi có chất lượng cao
đồng đều, giá thấp. Do phải cạnh tranh nhiều khi thu mua, nên thương lái khó
kiểm soát được sản lượng và chất lượng bưởi. Việc phân tích triển vọng sản
xuất BDX của ĐBSCL là yêu cầu khẩn thiết nhằm xác định chỗ đứng của loại
trái cây này trên thị trường thế giới, từ đó tìm ra hướng đi mới giúp nâng cao sức
trạnh tranh của sản phẩm BDX của ĐBSCL nói riêng, củaViệt Nam nói chung.
2. Mục tiêu của đề tài

1



Muc tiêu tổng quát: Xây dựng thương hiệu cho BDX có chỗ đứng vững
chắc trên thị trường thế giới, góp phần nâng cao đơi sông cho người nông dân,
hơn nữa gia tăng xuất khẩu thu ngoại tệ về cho đất nước.
Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích năng lực cạnh tranh và triển vọng sản xuất BDX tại ĐBSCL.
- Đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất BDX một cách hợp lý tại
ĐBSCL.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc bố trí và quản lý hệ thống
sản xuất BDX hợp lý, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng
ĐBSCL.
- Góp phần khẳng định vị trí, vai trò của BDX trong đời sống của người
nông dân tại các tỉnh ĐBSCL.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các cơ sở dữ liệu khoa học cho ngành sản xuất cây ăn quả,
khuyến nông vùng... và các vùng có điều kiện tương tự để xây dựng quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất có tầm dài hạn và ngắn hạn, làm cơ sở bố trí sản xuất BDX
hợp lý, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất đối với BDX của vùng
ĐBSCL, góp phần cải thiện đời sống của người dân địa phương.
- Việc phổ biến và nhân rộng nhiều mô hình liên kết hợp tác sản xuất BDX
đạt hiệu quả cao sẽ tạo tiền đề cho việc mở rộng diện tích thâm canh loại trái cây
đặc sản này.
4. Giới hạn của đề tài
- Về nội dung:
Phân tích, đánh giá một số giá trị kinh tế chủ yếu trong sản xuất BDX tại
ĐBSCL.
- Về thời gian:

Thông tin và số liệu được lấy trong khoảng thời gian từ năm 2012 - 2014.
- Về không gian:
Nghiên cứu trên phạm vi vùng ĐBSCL.
2


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Hệ thống cây trồng và các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống cây trồng
Khái niệm về hệ thống cây trồng
Trên thế giới có rất nhiều cách hiểu khác nhau: Theo Zandstra et al.
(1981) (Dẫn theo Phạm Chí Thành và cs., 1996) cho rằng, hệ thống cây trồng
(HTCTr) là thành phần các giống và loài cây được bố trí trong không gian và
thời gian của một HSTNN, nhằm tận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên,
kinh tế - xã hội.
Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới hệ thống cây trồng
Theo Phạm Chí Thành (2012) người nông dân trồng trọt loại cây gì, kỹ
thuật áp dụng, luân canh cây trồng như thế nào là tùy thuộc vào điều kiện tự
nhiên (đất đai, khí hậu...), kinh tế (giao thông, thủy lợi, nhu cầu thị trường)
và xã hội (chính sách phát triển, phong tục tập quán…). Các nhóm yếu tố này
được xếp vào nhóm yếu tố bên ngoài chi phối các quyết định của người nông
dân. Nông nghiệp Việt Nam hiện tại còn ở mức sản xuất hàng hóa nhỏ chưa
mang tính chuyên canh do các hộ nông dân chủ động sản xuất trên diện tích
canh tác của mình. Vì vậy, việc lựa chọn HTCTr còn phụ thuộc vào điều kiện
cụ thể của nông hộ như: đất đai, lao động, vốn, kỹ năng, trình độ sản xuất.
Khí hậu: Nông nghiệp có quan hệ qua lại phức tạp với các điều kiện tự
nhiên, trong đó có yếu tố khí hậu. Diễn biến khí hậu thường được thể hiện
bởi thời tiết, chúng là những nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến sản xuất nông
nghiệp, được thể hiện qua năng suất (cao hay thấp) và chất lượng nông sản (tốt
hay xấu). Vì vậy, trong nghiên cứu HTCTr, điều cần quan tâm đầu tiên là các
yếu tố thời tiết cấu thành khí hậu. Nói đến vai trò của khí hậu đối với sản xuất

nông nghiệp, viện sĩ V. I. Vavilop cho rằng: "Biết được các yếu tố khí hậu,
chúng ta sẽ xác định được năng suất, sản lượng mùa màng, chúng mạnh hơn cả
kinh tế, mạnh hơn cả kỹ thuật". Những điều kiện khí hậu được xác định cho
nông nghiệp là ánh sáng, nhiệt độ và nước. Ngoài ra, cũng phải thấy "khí hậu
nào, đất nào, cây đó", cho nên khí hậu là yếu tố quyết định sự phân bố động,
thực vật trên trái đất, ngay cả mạng lưới sông ngòi, độ màu mỡ của đất cũng là
1


hệ quả của khí hậu.
Ánh sáng: Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quá trình tổng hợp chất
hữu cơ của cây. Ánh sáng là yếu tố biến động, ảnh hưởng đến năng suất. Cần
xác định yêu cầu của cây trồng về cường độ chiếu sáng và khả năng cung cấp
ánh sáng từng thời kỳ trong năm để bố trí cây trồng hợp lý. Mỗi cây trồng có
yêu cầu ánh sáng khác nhau. Theo Lý Nhạc và cs (1987) cho rằng: loại cây
quang hợp theo chu trình C4 và chu trình CAM là những cây ưa sáng, đồng
thời cũng là cây ưa nóng. Các cây quang hợp theo chu trình C3 yêu cầu ánh
sáng thấp hơn.
Độ dài ngày: Độ dài ngày dùng để xác định thời gian sinh trưởng của
cây, muốn biết khả năng cung cấp ánh sáng cho cây, cần biết bức xạ và số giờ
nắng hàng tháng hoặc số giờ nắng bình quân ngày. Khi xem xét vai trò của
ánh sáng (độ dài ngày ngắn hay dài) đối với cây trồng phải xem xét độ dài
ngày theo mùa sinh trưởng của cây trồng. Để bố trí HTCTr phù hợp, đạt năng
suất cao và ổn định cần phải căn cứ vào nhu cầu của cây về nhiệt độ và ánh
sáng ở giai đoạn cuối và tình hình nhiệt độ, ánh sáng từng tháng trong năm.
Nhiệt độ: Theo Nguyễn Văn Viết (2009) diễn biến của nhiệt độ có ý
nghĩa quyết định đến cơ cấu thời vụ gieo trồng khi các điều kiện khác được bảo
đảm. Từng loại cây, giống cây, các bộ phận của cây, các quá trình sinh lý của
cây phát triển thích hợp và an toàn trong khoảng nhiệt độ nhất định. Tác giả Lý
Nhạc và cs (1987) cho rằng: cây ưa nóng là những cây trong 2 tháng cuối yêu

cầu nhiệt độ trên 20oC, cây ưa lạnh là những cây trong 2 tháng cuối yêu cầu
nhiệt độ dưới 20oC. Nếu không có nhiệt độ phù hợp với đặc tính ưa nhiệt của
cây dẫn đến năng suất giảm. Căn cứ vào yêu cầu nhiệt độ của từng nhóm cây:
ưa nóng, ưa lạnh hay ngày ngắn để bố trí HTCTr trong năm.
Lượng mưa: Nước là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với cây trồng. Cây
trồng đòi hỏi một lượng nước lớn gấp nhiều lần trọng lượng chất khô của
chúng. Lượng nước mà cây tiêu thụ để hình thành một đơn vị chất khô của
một số cây trồng (gọi là hệ số tiêu thụ nước) như ngô: 250-400 đơn vị nước
cho 1 đơn vị chất khô, lúa: 500-800 đơn vị nước cho 1 đơn vị chất khô, bông:
2


300-600, rau: 300-500, cây gỗ: 400- 500,.... Hầu hết lượng nước được sử
dụng cho nông nghiệp là nước mặt, các nguồn này được cung cấp chủ yếu từ
lượng mưa hàng năm. Tuỳ theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp và
khai thác nước đối với một vùng cụ thể được xem xét để lựa chọn hệ thống cây
trồng thích hợp.
Đất đai: Đất đai là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất.
Bảo vệ, duy trì và cải tiến nguồn tài nguyên này là tiêu chuẩn để tiếp tục duy
trì chất lượng cuộc sống trên trái đất Điều kiện đất đai và khí hậu mang tính
chất quyết định để bố trí cây trồng hợp lý. Nó tuỳ thuộc vào điều kiện địa hình,
độ dốc, chế độ nước ngầm, thành phần cơ giới đất để bố trí một hoặc một số
cây trồng phù hợp. Hiểu được mối quan hệ giữa cây trồng với đất sẽ dễ dàng
xác định được HTCTr hợp lý ở một vùng cụ thể.
Cây trồng: Trong hệ sinh thái đồng ruộng, cây trồng là thành phần trung
tâm của hệ. Mỗi loại cây có những yêu cầu về điều kiện sống như đất đai,
khí hậu khác nhau. Các loại cây trồng có tập đoàn vi sinh vật đất, vi sinh vật
cộng sinh và cả các loại sinh vật hại riêng. Hơn nữa, mỗi loại cây trồng lại có
biện pháp canh tác, kỹ thuật chăm sóc cụ thể. Vì vậy, mỗi vườn cây có thể xem
là một HSTNN. Nhiệm vụ của khoa học cây trồng là sử dụng những nguồn lợi

đó một cách tốt nhất. Khí hậu và đất đai là các yếu tố mà con người ít có khả
năng thay đổi, còn với cây trồng thì con người có thể thay đổi các yếu tố
đầu vào, chọn lựa, di thực. Với tiến bộ công nghệ sinh học ngày nay, con
người có thể thay đổi bản chất của cây trồng theo ý muốn thông qua các biện
pháp như lai tạo, chọn lọc, gây đột biến, nuôi cấy vô tính.
Hệ sinh thái: HSTNN hiện diện như là một hướng có tính khoa học được
sử dụng trong nghiên cứu, đối thoại và lựa chọn mục đích để quản lý giảm chi
phí đầu vào của hệ sinh thái. Làm sáng tỏ những vấn đề tính bền vững
trong nông nghiệp là mục tiêu chủ yếu của HSTNN. Xây dựng HTCTr là
xây dựng hệ sinh thái nhân tạo, đó là HSTNN mà trong đó cây trồng là thành
phần chủ yếu. Do đó, cần duy trì yếu tố cần thiết của HTCTr như đất nông
nghiệp, đất rừng và bảo tồn duy trì đa dạng gien. Vì vậy, việc xác định chủng
loại và từng giống cây trồng phù hợp trong hệ sinh thái ở từng nơi là rất quan
3


trọng. Điều kiện để xác định, quyết định tính phù hợp của chúng tại một địa
phương cụ thể là các yếu tố sinh thái. Ngoài thành phần chính là cây trồng, hệ
sinh thái còn có các thành phần sống khác như cỏ dại, sâu, bệnh, vi sinh vật,
những động vật, côn trùng và những sinh vật có ích khác. Các thành phần
sống ấy cùng với cây trồng tạo nên một quần thể sinh vật, chúng chi phối lẫn
nhau, tạo nên các mối quan hệ rất phức tạp, tạo dựng và duy trì cân bằng sinh
học trong hệ sinh thái theo hướng hạn chế các mặt có hại, phát huy mặt có lợi
đối với con người là vấn đề cần được quan tâm trong HSTNN.
Tiến bộ Khoa học công nghệ: Bao gồm các quy trình, công nghệ, biện
pháp kỹ thuật cụ thể và quản lý sử dụng đất, sản xuất, thu hoạch, chăm sóc, bảo
vệ các loại sản phẩm nông nghiệp.
Hiệu quả kinh tế: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất
lượng của các hoạt động kinh tế. Nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế nghĩa
là tăng cường trình độ lợi dụng các nguồn lực sẵn có trong một hoạt động kinh

tế. Đây là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất cuộc
sống của con người ngày một tăng. Do yêu cầu của công tác quản lý kinh tế
cần thiết phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng các hoạt động
kinh tế, do đó đã xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế. Vận dụng vào việc phát
triển hệ thống cây trồng bền vững cho thấy cần phải tận dụng triệt để điều kiện
tự nhiên để bố trí cơ cấu cây trồng, chủng loại cây trồng sao cho hợp lý trên một
đơn vị diện tích.
Thị trường: Thị trường không phải chỉ do cạnh tranh điều khiển mà còn do
sự hợp tác và tương trợ lẫn nhau. Tiếp tục nghiên cứu về thị trường, các nhà
xã hội học và chính trị học cho rằng thị trường còn do các điều kiện xã hội
và chính trị quyết định mà kinh tế học trước đó thường quên không đề cập.
Nông hộ: Tác giả Đặng Kim Sơn (2006)c h o r ằ n g : nước ta trong
thời kỳ đổi mới, các chính sách mới một lần nữa xác lập vị trí số một của kinh
tế hộ nông dân ở nông thôn. Trong nông thôn có 3 nhóm hộ chính là: (i) Nhóm
hộ sản xuất hàng hoá (chiếm khoảng 30%); (ii) nhóm hộ bước đầu đi vào sản
xuất hàng hoá nhưng còn ít, quy mô nhỏ (chiếm gần 55%); (iii) nhóm hộ
nghèo (chiếm dưới 15%).
4


Chính sách:
Tóm lại, hệ thống cây trồng chịu chi phối bởi cả yếu tố tự nhiên và
xã hội. Các yếu tố này vừa là môi trường, vừa là điều kiện để cải tiến phát triển
HTCTr. Để đáp ứng tốt nhất mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững phải
sử dụng và khai thác một cách hài hòa các lợi thế của môi trường chi phối.
1.2. Những việc cần thực hiện trong chuyên đề
- Xác định tiến độ thực hiện chuyên đề.
- Đo lường, điều tra, thu thập dữ liệu liên quan đến chuyên đề.
- Phân tích số liệu.
- Giải thích, làm sáng tỏ số liệu.

- Viết báo cáo kết quả, kiến nghị, khuyến nghị.
- Hoàn thiện chuyên đề.

5


Phần II
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các cơ chế, chính sách, chủ trương có liên quan đến sản xuất BDX tại
ĐBSCL.
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội có liên quan đến sản xuất
BDX tại ĐBSCL.
- Một số sản phẩm trong sản xuất BDX tại ĐBSCL có thế mạnh so với sản
phẩm BDX trên thế giới.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu trên phạm vi vùng ĐBSCL.
- Thời gian nghiên cứu: Thông tin và số liệu được lấy trong khoảng thời
gian từ năm 2012 - 2014.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Phân tích đánh giá một số giá trị kinh tế chủ yếu trong sản xuất BDX tại
ĐBSCL.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp, bao gồm:
- Niên giám thống kê các năm 2012 - 2014 (Tổng cục Thống kê).
- Các tài liệu, chính sách, bài báo có liên quan đến sản xuất cây BDX của
ĐBSCL.
- Sách tham khảo, đề tài nghiên cứu, tạp chí có liên quan đến vấn đề nghiên
cứu....

2.4.2. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý theo các bảng biểu trên phần mềm microsoft
excel.
2.4.3. Phương pháp phân tích
Sử dụng chủ yếu mô hình kim cương để đánh giá năng lực cạnh tranh của
đối tượng nghiên cứu theo các tiêu thức đã được lựa chọn, phân tích, đánh giá
thực trạng sản xuất BDX qua các năm.
6


Phần III
KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1. Đặc điểm và vai trò của sản xuất BDX
Bưởi thuộc họ cây the có múi (cam, chanh, bưởi, quýt), được trồng phổ biến
ở vùng ĐBSCL. Nhưng trong số đó, BDX được mệnh danh là “vua” của các loại
bưởi, điều này được đúc kết bởi rất nhiều yếu tố: lịch sử xuất thân cây bưởi, giá
trị ẩm thực của trái bưởi, giá trị xuất khẩu…
BDX là một trong những giống bưởi có chất lượng ngon và nhiều đặc tính
ưu việt so với các giống bưởi khác như: tỷ lệ thịt quả cao, tép bưởi màu hồng đỏ,
mọng nước, dễ tách khỏi vách múi, vị rất ngon, ngọt và có mùi thơm. Dòng
giống BDX có nguồn gốc đầu tiên ở xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
BDX rất dễ được nhân giống theo phương pháp chiết cành (bó nhánh), cành
chiếc ra vẫn giữ y đặc tính cây mẹ, rất dễ trồng và phát triển nhanh nên dòng
bưởi này được di chuyển đến nhiều địa phương trong tỉnh bằng cách cho, biếu
lẫn nhau thông qua quan hệ thân tộc, bạn bè. Dần dần, BDX đã có mặt ở nhiều
địa phương trong và ngoài tỉnh.
Để bưởi cho năng suất cao, mang lại nguồn lợi kinh tế lớn giúp làm giàu,
cần chú ý hái bỏ tất cả trái non trong năm đầu tiên. Đến năm thứ hai chỉ giữ lại 1
trái và tăng dần lên trong những năm sau đó. Điều này sẽ giúp bưởi cho trái to,
ngon nhất.

Vào khoảng 2 tháng đầu tiên sau khi trồng bưởi, lúc này bộ rễ đã bắt đầu
phát triển nên có thể sử dụng DAP 18-46-0, pha cùng 8 – 10 lít nước để tưới cho
cây. Khi bưởi được một năm tuổi, hãy ủ thêm cỏ, rơm rác mục, xơ dừa, phân
chuồng, giúp rễ phát trển nhanh. Khi bưởi được 3 năm tuổi, không nên bón phân
hóa học cho cây. Thay vào đó, hãy sử dụng phân chuồng và phân vi sinh bón lá
để bổ sung đầy đủ chất vi lượng cho bưởi, giúp bưởi cho sản lượng cao nhất,
giúp đạt được mong muốn làm giàu từ BDX của mình.
Trong những năm qua, nhằm tiết kiệm thời gian, tiền bạc trong trồng trọt,
nhiều hộ gia đình đã sử dụng chế phẩm sinh học vườn sinh thái cho cây bưởi và
đã nhận được những kết quả vô cùng tích cực. Phương pháp này không chỉ giúp
1


cây sinh trưởng phát triển tốt, tăng sức đề kháng cho cây, giảm được một số loại
sâu, bệnh mà còn nâng cao năng suất lên từ 20% trở lên.
BDX cho chất lượng tốt nhất là khi vừa chín tới, da bưởi căng mọng. nên
thu hoạch đúng thời điểm, hạn chế tối đa việc thu hoạch khi chưa chín tới hoặc
hái quá trễ, chất lượng không tốt. Khi hái bưởi, hãy sử dụng một chiếc kéo sắc
cắt cuống, xếp vào thùng nhựa rồi mang vào để chỗ mát trước khi cho vào túi
lưới.
Khi áp dụng đúng quy trình, 1 cây bưởi có thể cho 50 - 60 trái. Đặc biệt,
những tốt có tán lá rộng mang tới 80 trái, giúp có được một vụ trồng bội thu.
BDX là cây ăn trái đặc sản có lợi thế cạnh tranh cần phát huy để giúp nhà
vườn tăng thu nhập, ổn định cuộc sống. Việc phát huy tiềm năng cây BDX trên
những vùng đất “khó” đang thiết thực tháo gỡ ách tắc trong sản xuất, vừa mở
hướng làm giàu cho nhà vườn vừa thúc đẩy tiến trình xây dựng nông thôn mới
giàu đẹp như chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới giai đoạn
2011 - 2015 đã đề ra. Nhờ cây BDX nên diện mạo nông thôn miền quê nghèo
khó ngày nào đã thay đổi hẳn. Đường sá giao thông được kiện toàn. Nhà cửa
khang trang. Nông hộ có của ăn, của để. Nhiều nghèo khó một thời đã dựng nên

cơ nghiệp từ cây BDX, thu nhập hàng năm vài trăm triệu đồng. Mỗi năm hàng
ngàn tấn bưởi đã xuất đi các nước mang lại nguồn ngoại tệ quan trọng cho đất
nước.
3.2. Các điều kiện để phát triển sản xuất BDX
Để trồng thành công BDX đòi hỏi bạn phải đảm bảo được những yếu tố sau
đây: điều kiện đất đai phù hợp, trình độ canh tác cao và phải biết ứng dụng tiến
bộ khoa học trong sản xuất, khả năng về tài chính và thị trường tiêu thụ.
3.2.1. Điều kiện tự nhiên
Để có thể biến ước mơ làm giàu từ BDX trở thành hiện thực, cần chú ý
ngay từ khâu làm đất. Tốt nhất vị trí trồng bưởi cần có điều kiện thoát nước tốt
và mùa mưa, hấp thụ nước tốt trong mùa nắng. Với ưu thế khí hậu nhiệt đới ven
biển và nhiều cửa sông cuối nguồn bồi đắp phù sa cho ba dải cù lao, ĐBSCL
hình thành nên một vùng BDX tốt, giúp cho các nhà vườn nâng cao hiệu quả.
2


Từ điều kiện thời tiết, khí hậu không cực đoan, nông dân có thể điều chỉnh
cho cây ra hoa và cho trái rải vụ quanh năm phục vụ cho thị trường tiêu dùng.
Đây là lợi thế vượt trội mà không phải nơi nào cũng làm được. Một ưu điểm
khác của loại trái này là bảo quản được lâu, ít hao hụt trong vận chuyển.
- Nhiệt độ:
Cây bưởi thuộc nhóm cây có múi có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới,
nhiệt độ thích hợp nhất để cây bưởi sinh trưởng và phát triển từ 23-29 o C, bưởi sẽ
ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ xuống dưới 13 0 C và chết –50C. Nhiệt độ không
những ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây mà còn ảnh hưởng đến phẩm chất của
trái. Do điều kiện tự nhiên vùng nhiệt đới, điều hạn chế của bưởi nói riêng và
cây có múi nói chung ở miền Nam là màu sắc vỏ trái khi chín từ xanh đến vàng
lợt.
- Ánh sáng:
Cường độ ánh sáng thích hợp là 10.000 - 15.000 lux (tương đương nắng

sáng lúc 8 giờ hoặc nắng chiều lúc 16 giờ). Mùa hè cường độ ánh sàng lên đến
100.000lux, đều này dễ làm trái bưởi bị nám nắng, ảnh hưởng đến phẩm chất và
giá trị thương phẩm của trái bưởi. Vì vậy, Khi thành lập vườn trồng bưởi nên bố
trí mật độ trồng và khoảng cách trồng hợp lý để hạn chế trái bị nám nắng.
- Nước:
Cây bưởi cần nhiều nước, nhất là trong thời kỳ ra hoa và kết quả nhưng
cũng rất sợ ngập úng, ẩm độ đất thích hợp nhất là 70- 80%. Lượng mưa cần
khoảng 1000-2000mm/năm.
- Đất trồng:
Đất phải có tầng canh tác dầy ít nhất là 0,6 m và thành phần cơ giới nhẹ
hoặc trung bình. Đất tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, pH nước từ 5,5 - 7,
có hàm lượng hữu cơ cao > 3%, không bị nhiễm mặn, mực nước ngầm thấp dưới
0,8m.
3.2.2. Kỹ thuật trồng và điều kiện chăm sóc
Nếu muốn làm giàu từ BDX, vấn đề chú ý đến việc chăm sóc là điều vô
cùng quan trọng. Với kỹ thuật trồng và chăm sóc khoa học, BDX chỉ sau 2 năm
cho trái “bói” và 3 năm bắt đầu cho thu hoạch, rút ngắn hơn rất nhiều so với
3


cách trồng truyền thống. Trình độ canh tác của nông dân ngày càng tiến bộ góp
phần nâng cao vị thế BDX so với nhiều cây trồng khác.
Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học nhằm tạo ra sản
phẩm có năng suất và chất lượng cao, có sức cạnh tranh đáp ứng nhu cầu thị
trường để nâng cao hiệu quả kinh tế vườn, thu nhập cho người làm vườn.
3.2.3. Đầu ra sản phẩm
Nhu cầu thị trường về BDX tăng cao trong những năm gần đây cả trong và
ngoài nước do những đặc tính và công dụng tốt của trái bưởi lên sức khỏe con
người. Thị trường xuất khẩu BDX ngày càng rộng thông qua việc quảng bá
thương hiệu BDX ở các hội chợ trong nước và quốc tế. Các thị trường có thể

xuất khẩu EU, Singapore, Nhật, Nga... Tuy nhiên, thực tế chất lượng BDX của
ĐBSCL không đồng đều, sản lượng còn thấp làm giảm tính cạnh tranh trên thị
trường. Diện tích đất sản xuất của hộ nông dân nhỏ lẻ, không tập trung. Chưa có
nhiều diện tích chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm có thể nguy cơ mất thị
trường. Các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines, Trung Quốc... sản
xuất bưởi có chất lượng cao đồng đều, giá thấp. Để bảo đảm đầu ra của sản
phẩm luôn sẵn sàng, cần hướng cho người nông nhân tham gia vào mô hình sản
xuất BDX theo tiêu chuẩn VietGAP để khi xuất khẩu sang các thị trường các
nước trên thế giới thì dễ dàng được tiếp nhận.
3.3. Thực trạng sản xuất BDX tại ĐBSCL
BDX được thị trường trong nước và quốc tế rất ưa chuộng. Hiện sản
lượng BDX ở ĐBSCL (ĐBSCL) không đủ cung cấp thị trường nội địa và xuất
khẩu, còn giá luôn ổn định ở mức cao. Từ tháng 5/2012 trở về trước, giá BDX
dao động khoảng 30.000 đồng/kg, những ngày gần đây tăng lên 36.000 - 40.000
đồng/kg, đây là mức giá rất cao đảm bảo nhà vườn lãi từ 450 - 500 triệu
đồng/ha. Nguyên nhân làm giá BDX tăng mạnh là nhờ nhà vườn các tỉnh
ĐBSCL trồng BDX theo tiêu chuẩn GlobalGAP và VietGAP, đảm bảo chất
lượng cao để xuất khẩu sang các thị trường châu Âu, châu Á, Canada… Thời
gian qua, Viện Cây ăn quả miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
phối hợp với tỉnh Bến Tre đã triển khai dự án “Xây dựng mô hình sản xuất thâm
canh và tổ chức tiêu thụ BDX theo hướng an toàn và chất lượng cao trên địa bàn
4


huyện Chợ Lách”, sau đó mở rộng mô hình ra toàn tỉnh. Trong năm 2011, có
thêm 20 hộ trồng BDX ở ấp 3, xã Phú Nhuận và HTX nông nghiệp BDX Mỹ
Thạnh An, thành phố Bến Tre được Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất
lượng 3 chứng nhận phù hợp quy trình VietGAP, bộ tiêu chuẩn về chất lượng và
vệ sinh an toàn thực phẩm của Việt Nam, là bước chạy đà để tiến đến hòa nhập
vào GlobalGAP trong vài năm tới. Đạt được tiêu chuẩn này là cơ hội để trái cây

Việt Nam nói chung, BDX nói riêng tăng sức cạnh tranh, tạo thị trường tiêu thụ
trong và ngoài nước. Sau 3 năm thực hiện Chương trình phát triển 4.000 ha
BDX, diện tích BDX tỉnh Bến Tre nay đã đạt trên 3.961 ha và trở thành vùng
nguyên liệu tập trung lớn tại ĐBSCL. Chương trình đã tuyển chọn được một cá
thể BDX ở Mỹ Thạnh An-thành phố Bến Tre, năng suất khá cao, bình quân
khoảng 200kg/cây/năm, chất lượng ngon, vỏ mỏng, rất ít hay không có hạt và
chưa bị nhiễm các loại sâu bệnh như: vàng lá Greening, vàng lá thối rễ. Bên
cạnh đó, chương trình cũng đã đào tạo, tập huấn chuyển giao công nghệ cho gần
6.800 cán bộ kỹ thuật và nông dân; xây dựng 5 mô hình sản xuất BDX theo
hướng an toàn, chất lượng trên địa bàn các huyện Chợ Lách, Châu Thành, Giồng
Trôm, Mỏ Cày và thành phố Bến Tre; tổ chức nghiên cứu chuyển giao thành
công 5 quy trình công nghệ về thu hoạch, xử lý, bảo quản, chế biến trà bưởi và
mứt BDX; xây dựng website về BDX để quảng bá thương hiệu.
BDX được trồng ở vùng ĐBSCL từ hơn 5 năm nay với diện tích hơn
6.500 ha; trong đó tập trung nhiều ở các tỉnh: Bến Tre, Tiền Giang và Vĩnh
Long. Hiện nay, BDX là loại trái cây có múi cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với
nhiều loại trái cây khác ở khu vực ĐBSCL. Các hộ chuyên trồng BDX cho biết,
thương lái ở hai tỉnh Bến Tre và Tiền Giang đến tận vườn thu mua với giá
35.000-37.000 đồng/kg, tăng 5.000-7.000 đồng/kg so với tháng trước và tăng
hơn 2 đến 3 lần so với các loại bưởi khác. Với mức giá này, nhà vườn trồng
BDX thu lãi hơn 200 triệu đồng/ha/năm. Nguyên nhân BDX tăng giá là do bưởi
được thị trường các tỉnh miền Bắc, miền Đông Nam Bộ và miền Trung tiêu thụ
mạnh. Ngoài ra, gần đây, do nhà vườn các tỉnh ĐBSCL áp dụng quy trình trồng
BDX theo tiêu chuẩn GAP nên đảm bảo chất lượng xuất khẩu sang các thị
trường các nước trên thế giới.
5


Trong khi nhiều loại trái cây thường rơi vào tình cảnh “được mùa rớt giá”
thì BDX ở ĐBSCL luôn hút hàng và được giá cao. Nhiều năm liên tục, BDX dao

động ở mức 35.000 - 50.000 đồng/kg, nhưng cũng không đủ cung cấp cho thị
trường trong nước và xuất khẩu. Hiện BDX đang giúp nông dân thu về tiền tỷ.
Nhờ BDX có giá cao, ổn định nên rất nhiều nông dân ở Bến Tre mỗi năm
có thu nhập từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng. Ông Đào Văn Minh, tổ phó tổ hợp
tác BDX Phú Thành, huyện Châu Thành cho biết: hiện nay tổ của ông có 94
nông dân chuyên canh bưởi theo tiêu chuẩn VietGAP, diện tích 50 ha.
Nếu như năm 2013 giá bưởi trung bình chỉ 29.000 đồng/kg, năm 2014
tăng lên 35 ngàn đồng/kg thì năm nay có giá từ 40 - 45 ngàn đồng/kg nên đời
sống kinh tế của các tổ viên đều khá giả. Đặc biệt đối với vườn bưởi từ sáu năm
tuổi trở lên, cho năng suất trung bình 20 tấn/ha, nhà vườn thu về gần tỷ đồng.
Theo ông Đàm Văn Hưng, chủ doanh nghiệp Hương Miền Tây - một
doanh nghiệp đi đầu trong việc tìm thị trường và xuất khẩu BDX, và hiện đang
ký hợp đồng với 27 tổ hợp tác và Hợp tác xã chuyên canh BDX trên địa bàn Bến
Tre khẳn định: tiềm năng của trái cây này rất lớn, ngày càng có nhiều đối tác
nước ngoài liên hệ đặt hàng. Song, cũng yêu cầu nông dân phải tuân thủ các quy
trình canh tác đảm bảo an toàn, tuyệt đối không sử dụng thuốc kích thích để thúc
trái lớn nhanh. Riêng đối với mô hình sản xuất theo quy trình VietGAP hoặc
GlobalGAP thì cơ sở ông sẵn sàng mua hết số lượng, với giá cao hơn thị trường.
Trong thời gian vừa qua sản xuất rất mánh mún, nhỏ lẻ, do đó ngành nông
nghiệp tổ chức sản xuất lại, tổ chức hình thành liên kết ngang, tức hình thành tổ
hợp tác, hợp tác xã buổi da xanh. Trước mắt tiếp nhận khoa học kỹ thuật để họ
thực hiện đúng một quy trình, để nâng cao được chất lượng sản phẩm.
Toàn tỉnh Bến Tre hiện có hơn 5.500 ha BDX, trong đó có 4.200ha đang cho trái,
sản lượng ước đạt gần 48.000 tấn. BDX Bến Tre hiện không chỉ tiêu thụ mạnh ở
thị trường trong nước mà còn xuất ra các nước như Đức, Canada, Hà Lan, Nga,
Trung Quốc… Và hiện đã có thêm nhiều đơn đặt hàng từ Pháp và Nhật.
Tuy nhiên, các doanh nghiệp đầu mối thường e ngại không dám nhận đơn
đặt hàng với lượng lớn, vì sợ chất lượng, kích cỡ trái bưởi không đồng đều khi
phải thu gom trong thời gian ngắn. Nhằm giải quyết vấn đề này, bên cạnh việc
6



đẩy mạnh mở rộng diện tích, ngành nông nghiệp địa phương đang tập trung nâng
cao chất lượng trái bưởi bằng cách khuyến khích nhà vườn sản xuất theo hướng
liên kết, áp dụng cùng quy trình sản xuất, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho sản
phẩm.
Với mức giá hấp dẫn và ổn định trong thời gian dài, BDX không chỉ được
trồng ở tỉnh Bến Tre mà hiện đang mở rộng sang các tỉnh ĐBSCL, miền Đông
Nam bộ, ĐBSCL…với tiềm năng xuất khẩu rất lớn. Nếu sắp tới đây, việc xây
dựng tiêu chuẩn sản xuất theo mô hình tập thể và chú trọng chất lượng xuất khẩu
thì giá trị của trái BDX chắc chắn sẽ tiếp tục được nâng lên.
Tiền Giang hiện có 5.500 ha bưởi với các loại bưởi đặc sản đã khẳng định
được thương hiệu trên thị trường trong nước và xuất khẩu như: BDX, bưởi lông
Cổ Cò...Với việc ứng dụng đồng bộ các kỹ thuật thâm canh tiên tiến, nhà vườn
đạt năng suất bình quân từ 12 - 14 tấn/ ha và sản lượng bưởi hàng năm của tỉnh
đạt 70.000 tấn trái.
3.4. Một số chính sách sản xuất BDX tại ĐBSCL
Tập trung phát triển chương trình phát triển BDX ĐBSCL giai đoạn 2015
- 2020 nhằm mục tiêu: xây dựng vùng nguyên liệu BDX tập trung nâng cao năng
suất, chất lượng, mở rộng thị trường; đa dạng hóa sản phẩm từ bưởi và tăng hiệu
quả kinh tế cho người trồng bưởi với các giải pháp cụ thể.
Giải pháp liên kết sản xuất: triển khai xây dựng mô hình liên kết sản xuất
giữa người trồng với các doanh nghiệp. Xây dựng liên kết ngang giữa nông dân
trồng BDX hình thành chi hội nông dân trồng BDX trên địa bàn từng ấp, xã. Xây
dựng liên kết dọc giữa nông dân trồng BDX và thương lái. Liên kết “4 nhà” cần
đa dạng liên kết trong từng khâu hay liên kết nhiều khâu trong quá trình sản xuất
và tiêu thụ, liên kết nhiều thành phần trong chuỗi sản phẩm từ cung cấp vật tư
đầu vào đến cung ứng sản phẩm cho người tiêu dùng. Tuy nhiên, để bảo đảm sự
bền vững của liên kết thì chữ “tín” phải được các bên coi trọng và nông dân phải
xác định đây là việc làm vì lợi ích lâu dài cho chính mình.

Giải pháp khoa học công nghệ: ứng dụng kỹ thuật canh tác tiên tiến để đạt
chất lượng trái cao, đồng đều theo hướng an toàn thực phẩm, đáp ứng nhu cầu
thị trường nội địa và xuất khẩu. Mở rộng diện tích áp dụng quy trình sản xuất vì
7


đây là điều cốt lõi để nâng cao chất lượng sản phẩm và khẳng định vị thế của sản
phẩm không chỉ phục vụ thị trường xuất khẩu mà cả thị trường trong nước. Tăng
cường công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh, quản lý dịch hại
tổng hợp theo hướng hạn chế sử dụng thuốc hóa học độc hại. Ứng dụng công
nghệ mới nhằm giảm thất thoát sau thu hoạch, bảo quản và chế biến. Bảo tồn các
giống BDX chất lượng cao và thuần chủng.
Giải pháp thị trường: tăng cường công tác quảng bá thương hiệu để thu
hút khách hàng qua các kênh: tham dự Hội thi trái ngon, Hội chợ quốc tế,
internet. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, công ty, hợp tác xã tham gia hội
chợ triển lãm nông sản trong và ngoài nước nhằm giới thiệu và quảng bá sản
phẩm. Xây dựng chương trình phát triển thị trường, thu hút đầu tư và hỗ trợ
doanh nghiệp hình thành kênh phân phối đến thị trường tiêu thụ. Xây dựng tên
và thương hiệu cho sản phẩm BDX ĐBSCL nhằm tăng sức cạnh tranh của bưởi
ĐBSCL nói riêng và trái cây Việt Nam nói chung trên thị trường khu vực. Hỗ trợ
đăng ký thương hiệu, nhãn hiệu cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh BDX có
hiệu quả. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với chỉ dẫn địa lý “ĐBSCL” cho sản
phẩm BDX của tỉnh.
Giải pháp chính sách: tập trung triển khai thực hiện tốt hệ thống chính
sách hỗ trợ mô hình liên kết sản xuất của Chính phủ, bộ, ngành Trung ương. Các
vùng sản xuất BDX tập trung quy mô lớn có chính sách khuyến khích, kêu gọi
các doanh nghiệp tham gia đầu tư xây dựng nhà kho, cơ sở chế biến, tiêu thụ sản
phẩm. Tạo điều kiện cho người trồng, tổ hợp tác, doanh nghiệp tiếp cận vốn vay
lãi suất ưu đãi, vốn hỗ trợ đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất và mở rộng quy mô
đầu tư thông qua việc thực hiện lồng ghép các chính sách hỗ trợ trong nông

nghiệp của Trung ương và của tỉnh để tác động tích cực đến liên kết sản xuất.
Hiện BDX không chỉ tiêu thụ trong nước mà còn được các doanh nghiệp
xuất khẩu qua một số nước như Hà Lan, Đức… BDX loại trái từ 1,3 - 1,8kg
được nhiều người ưa chuộng. Tuy nhiên, do diện tích nhỏ lẻ, manh mún, vấn đề
giống trồng và quy trình chăm sóc không đồng nhất đang là điểm yếu đối với trái
BDX (chất lượng không đồng đều). Giá bưởi cao nhất từ tháng 1 đến tháng 4;
8


giá bưởi thấp nhất từ tháng 6 đến tháng 8. Hiện nay, trái BDX được tiêu thụ chủ
yếu dưới dạng ăn tươi, chưa có sản phẩm được chế biến.
Về liên kết tiêu thụ sản phẩm, đa phần sản lượng BDX của tỉnh được tiêu
thụ qua hệ thống thương lái, còn một phần sản lượng được nông dân ký hợp
đồng bán cho cơ sở thu mua thông qua tổ hợp tác.
3.5. Phân tích năng lực cạnh tranh ngành sản xuất sản phẩm BDX (mô hình
kim cương)
- Điều kiện yếu tố sản xuất:
ĐBSCL hội đủ các điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, nguồn nước, khí
hậu...để trồng cây BDX nhằm tạo nguồn nông sản tiêu dùng và xuất khẩu
ổn định, góp phần nâng cao mức sống của người dân. BDX có chất lượng
vượt trội hơn các giống bưởi khác, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người
trồng bưởi và đang có tiềm năng phát triển ở ĐBSCL. Mùa vụ thu hoạch trái cây
ở ĐBSCL hiện nay gần như quanh năm nhờ sự ưu đãi về mọi mặt của thiên
nhiên và sự sáng tạo trong ứng dụng kỹ thuật xử lý cho trái mùa nghịch của nhà
vườn.
- Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa:
ĐBSCL với những lợi thế về đất đai, lao động và điều kiện thuận lợi phát
triển tiềm năng kinh tế vườn đang chứng minh vai trò vựa trái cây quan trọng
của cả nước. Những năm qua tình hình xuất khẩu trái cây cả nước nói chung và
ĐBSCL nói riêng, đã phát triển tốt với sự thâm nhập và mở rộng thị trường xuất

khẩu trên khắp các châu lục.
Trong số những trái cây chủ lực có lượng xuất khẩu lớn, thu về nhiều ngoại
tệ có sự góp mặt của BDX (chiếm 1,6%) và luôn giữ giá ổn định ở mức kỷ lục:
44.000 đ - 50.000 đồng/kg.
- Điều kiện cầu:
Nhu cầu thị trường đối với BDX rất lớn, đặc biệt là được thị trường các tỉnh
miền Bắc, miền Đông Nam Bộ và miền Trung tiêu thụ mạnh. Cung không đủ
cầu. Những khi thị trường hút hàng, thương lái không thu gom đủ lượng BDX để
cung cấp trong nước và xuất khẩu.
- Các ngành hỗ trợ và liên quan:
9


Những năm qua, nhờ sự chỉ đạo sâu sát của UBND các tỉnh ĐBSCL, ngành
Nông nghiệp các cấp, năng lực của đội ngũ quản lý, cán bộ khoa học - kỹ thuật,
sự nỗ lực của nông dân đã góp phần vào việc nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả sản xuất BDX. Mô hình liên kết “4 nhà” bước đầu đã kích thích nhiều
tổ chức, doanh nghiệp và nông dân tham gia.
Để hướng đến xuất khẩu và tăng giá trị của các loại cây đặc sản, thời gian
qua, thông qua sự hợp tác giữa SOFRI và các địa phương đã tổ chức khoảng 32
mô hình sản xuất trái cây theo tiêu chí VietGAP, GlobalGAP (thực hành nông
nghiệp tốt). Đặc biệt, sự hình thành quan hệ sản xuất mới trên lĩnh vực trồng cây
ăn trái bằng cách tổ chức các tổ hợp tác và hợp tác xã chuyên canh theo hướng
GAP đã góp phần giúp trái cây đặc sản ĐBSCL khẳng định được thương hiệu,
mạnh bước thâm nhập các thị trường xuất khẩu lâu nay vốn rất khó tính, giúp
giải quyết đầu ra cho trái cây Việt Nam nói chung và trái cây ĐBSCL nói riêng,
trong đó có BDX.
Tuy nhiên, tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân còn yếu, chưa đủ sức làm
cầu nối liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, do vậy tính chủ thể của nông
dân trong sản xuất còn hạn chế. Khâu tổ chức và quản lý sản xuất tiêu thụ chưa

có người đứng đầu để điều phối các hoạt động nên chuỗi giá trị còn rời rạc.

10


Phần IV
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1. Kết luận
Từ năm 2000 trở lại đây, tiềm năng kinh tế vườn của ĐBSCL được phát huy
với nhiều cách tân quan trọng trong phương pháp trồng và chăm sóc, tuyển chọn
cây giống chất lượng, hình thành các vùng chuyên canh hàng hóa lớn, ứng dụng
các tiến bộ kỹ thuật mới trong quá trình thâm canh mà nổi bật là trồng cây ăn trái
theo hướng VietGAP và GlobalGAP...Các tỉnh trong khu vực đã hình thành được
một số vùng sản xuất trái cây đặc sản hàng hóa tập trung, điển hình là BDX. Việc
áp dụng đồng bộ và rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật, quy trình canh tác, công nghệ sau
thu hoạch... trong trồng BDX tại ĐBSCL đã mang lại hiệu quả cao hơn hẳn lối
canh tác truyền thống, thiết thực đặt nền tảng cho nền nông nghiệp hàng hóa hội
nhập, trong đó BDX được xem là cây ăn trái có thế mạnh hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, tình hình sản xuất cũng gặp không ít khó khăn do dịch hại cây
trồng ngày càng diễn biến phức tạp; Chi phí đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật tăng cao. Ảnh hưởng biến đổi khí hậu đến sinh trưởng và phát triển BDX,
những thay đổi bất thường của thời tiết khiến quá trình chăm sóc gặp nhiều khó
khăn. Thị trường luôn biến động, các mô hình liên kết sản xuất tiêu thụ và sự gắn
kết chuỗi giá trị sản phẩm chưa thật sự chặt chẽ. Vì không có vùng nguyên liệu tập
trung nên bưởi có chất lượng tốt thường không nhiều, khó thu mua với số lượng
lớn. Sản lượng bưởi đạt chuẩn chất lượng VietGAP và GlobalGAP chưa nhiều.
Khâu tổ chức và quản lý sản xuất tiêu thụ chưa có người đứng đầu trong “bốn nhà”
(nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà doanh nghiệp) để điều phối các hoạt
động nên chuỗi giá trị còn rời rạc….
4.2. Kiến nghị

Cần đẩy mạnh hình thành quan hệ sản xuất mới trên lĩnh vực trồng cây ăn trái
nói chung, trồng bưởi da xanh nói riêng bằng cách tổ chức các tổ hợp tác và hợp
tác xã chuyên canh theo hướng GAP đã góp phần giúp trái cây đặc sản Đồng bằng
sông Cửu Long khẳng định được thương hiệu, mạnh bước thâm nhập các thị
trường xuất khẩu lâu nay vốn rất khó tính vừa củng cố được mối liên kết 4 nhà,
11


giúp giải quyết đầu ra cho trái cây nói chung và bưởi da xanh của ĐBSCL nói
riêng.
Cần tổ chức nhiều hơn các chương trình chuyển giao kỹ thuật và tiến bộ khoa
học nghề vườn, phòng trừ sâu bệnh gây hại, ứng phó với biến đổi khí hậu, nhân
rộng các mô hình canh tác bền vững...

12


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Niên giám thống kê các năm 2012 - 2014 (Tổng cục Thống kê).
2. Sách tham khảo, đề tài nghiên cứu, tạp chí có liên quan đến vấn đề nghiên cứu...
3. Các tài liệu, chính sách, bài báo có liên quan đến sản xuất BDX của ĐBSCL.
4. Nguồn tin từ mạng internet.

13


×