Khái niệm và sự hình thành đất…
Khái niệm đất:
-Ðất(soil) theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do
kết quả của nhiều yếu tố: mẫu chất, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian.
-Đất đai(land) là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản
xuất nông lâm nghiệp. Bao gồm cả phần trong lòng
đất, mặt đất và không gian .
Sự hình thành đất:
Sơ đồ quá trình hình thành đất
Quá trình hình thành đá rất phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động: sinh học, hóa học, lý học, lý –
hóa học tác động tương hổ lẫn nhau:
- Sự tổng hợp chất hữu cơ và phân giải chúng.
- Sự tập trung tích lũy chất hữu cơ, vô cơ và sự rửa trôi chúng.
- Sự phân hủy các khoáng chất và sự tổng hợp các hợp chất hóa hoc mới.
- Sự xâm nhập của nước vào đất và mất nước từ đất.
-Sự hấp thu năng lượng mặt trời của đất làm đất nóng lên và mất năng lượng từ
đất, làm cho đất lạnh đi.
Từ khi xuất hiện sự sống trên trái đất thì quá trình phong hóa xảy ra đồng thời với quá
trình hình thành đất.
Thực chất của quá trình hình thành đất là vòng tiểu tuần hoàn sinh học, thưc hiện do hoạt
động sống của sinh học (động vật, thực vật và vi sinh vật). Trong vòng tuần hoàn này sinh vật đa
hấp thu năng lượng, chất dinh dưỡng và các khí từ khí quyển để tổng hợp nên chất hữu cơ
( quang hợp ). Các chất hữu cơ này vô cơ hóa nhờ vi sinh vật và là nguồn thức ăn cho sinh vật ở
thế hệ sau.
Thưc vật của vòng đại tuần hoàn đia chất là quá trình phong hóa đá để tạo thành mẫu
chất. Còn bản chất của quá trình hình thành đất là vòng tiểu tuần hoàn sinh học, vì có tiểu tuần
hoàn sinh học đất mới được hình thành, những nhân tố cơ bản cho độ phì nhiêu của đất mới được
tạo ra.
Nhân tố
Đá mẹ
Khí hậu
Sinh vật
Địa hình
Thời
gian
-
Các nhân tố hình thành đất:
Vai trò
Nguồn cung cấp vật chất vô cơ cho đất.
Quyết định thành phần khoáng vật, thành phần cơ giới của đất .
Ảnh hưởng tới tính chất của đất.
Ảnh hưởng trực tiếp thông qua các yếu tố nhiệt, ẩm.
Ảnh hưởng gián tiếp thông qua các chuỗi tác động: khí hậu-sinh vật- đất.
Cung cấp vật chất hữu cơ cho đất, góp phần phá hủy đá.
Vi sinh vật phân giải xác sv, tổng hợp thành mùn .
Sinh vật sống trong đất góp phần làm biến đổi tính chất đất.
Tác đông gián tiếp thông qu sự thay đổi các yếu tố nhiệt, ẩm.
Độ dốc ảnh hưởng đến khả năng giữ đấ khác nhau.
Thời gian hình thành đấ là tuổi đất.
Tuổi của đất là các nhân tố biểu thị thời gian tác động của các yếu tố hình
thành đất, thể hiện cường độ của quá trình tác động.
Ngày nay các hoạt động sản xuất, đặc biệt là sx nông nghiệp, lâm nghiệp có tác động rất mạnh
đối với quá trình hình thành đất.
Đá
-Đá là một tập hợp các khoáng vật và là thành phần chủ yếu tạo nên vỏ Trái Đất.
-Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, người ta chia đá ra 3 nhóm:
◦ Đá macma,
◦ Đá trầm tích và
◦ Đá biến chất.
-Các loại đá bị phong hóa tạo ra mẫu chất, làm nguyên liệu để hình thành đất thì gọi là đá mẹ.
Đá Macma
-Đá được hình thành do sự đông nguội và kết tinh của dung thể macma nóng chảy được đưa
lên từ những phần sâu của Vỏ Trái đất do nhiệt độ hạ thấp đột ngột bị ngưng kết lại tạo thành.
-Tùy theo điều kiện đặc nguội (vị trí thành tạo của khối macma) chia làm 2 loại, magma
xâm nhập và magma phún xuất.
-Macma xâm nhập: hình thành do magma nóng chảy xâm nhập vào bên trong lòng trái đất
(cách ly khí quyển) dưới áp lực và nhiệt độ cao, nguội dần mà thành.
- Đá macma phún xuất: hình thành do sự nguội đặc và kết tinh của magma nóng chảy theo
những kẻ nứt phun ra trên bề mặt trái đất, tiếp xúc với không khí, áp suất và
nhiệt độ thấp, nguội lạnh nhanh mà sinh ra.
Dựa vào tỷ lệ SiO2 (%) có trong đá mà người ta chia
đá macma ra các loại sau:
-Macma siêu axit SiO2>75%
-Macma axit 65-755
-Macma trung tính52-65%
-Macma bazo40-52%
-Macma siêu bazo <40%
Đá trầm tích
Đá trầm tích được thành tạo chủ yếu bởi các quá
trình sau:
phong hóa các đá gốc và sau đó lắng đọng thành đá trầm tích cơ học
nước, băng gió tích tụ và gắn kết các hạt trầm tích
sự lắng đọng được hình thành bởi cá hoạt động có nguồn gốc sinh vật
mưa tuyết từ các dụng dịch hình thành nên.
Bốn giai đoạn trong quá trình hình thành nên đá trầm tích cơ học bao gồm:
(i) phong hóa hay bào mòn do tác động của sóng nước hay gió,
(ii) vận chuyển các vật liệu trầm tích theo dòng nước hay gió,
(iii) lắng đọng, hay trầm tích và
(iv) nén ép hay thành đá khi các vật liệu trầm tích được tích tụ lại và bị ép chặt vào nhau
tạo nên đá trầm tích.
Đá biến chất
Nguyên nhân hình thành đá biến chất:
-Do tác động của macma nóng chảy
-Do tác động của khí và nước thoát ra từ lò macma trong lòng đất đưa lên.
-Do áp suất lớn, nhiệt độ cao từ mọi phía.
-Do áp suất cao theo 1 hướng
-Hầu hết các loại khoáng vật tạo đá biến chất đều
giống như khoáng vật tạo đá macma và đá trầm tích.
*Dựa vào cường độ nén người ta phân ra:
+ Đá nhẹ (Khối lượng thể tích < 1800kg/m3) được phân ra làm 6 loại : 5,10,15,75,100,150
kg/m2 ; để xây tường giữ nhiệt độ trong công trình kiến trúc
+ Đá nặng ( …)được phân ra làm 7 loại:100,150, 200, 400,600,800 và 1000 kg/m2.; dùng trong
các công trình thủy công : móng, cống, đê, lớp phủ bờ đập, lát kè..
*Dựa vào hệ số mềm : đá thiên nhiên được phân ra 4cấp:<0,6 ; 0,6-0,75 ; 0,75-0,9 và >0,9
*Dựa vào yêu cầu sử dụng và mức độ gia công vật liệu đá thiên nhiên được chia làm các loại
sau:
+ Đá hộc tạo ra bằng phương pháp nổ mìn, không qua gia công gọt đẻo.Viên đá phải đạt yêu
cầu : Chiều dày 10cm,dài 25cm, rộng không nhỏ hơn 2 lần bề dày, mặt đákhông được lồi lõm
quá 3cm
+ Đá hộc được dùng để xây móng, tường nhà, tường chắn, giếng của mạng lưới thoát nước,
móng cầu, trụ cầu, nền đường ôtô và xe lửa, ngoài ra còn dùng cho bê tông dá hộc.
+ Đá đẽo thô là loại đá hộc được gia công thô để cho bề mặt ngoài tương đối bằng phẳng , bề
mặt phải có cạnh dài nhỏ nhất là 15cm và không có góc nhỏ hơn 60 độ
+ Đá đẽo vừa dùng để xây tường nhà (tường trong và tường ngoài), tường ngăn.Chúng thường
được sản xuất từ các loại đá vôi vỏ sò,đá vôi mềm, tup núi lửa và các loại đá
+ Đá đẽo kĩ là loại đá hộc được gia công tinh(kĩ) mặt ngoài.Chiều dày và dài của đá nhỏ nhất là
15 và 30 cm, chiều rộng của lớp mặt thô ra ngoài ít nhất phải gấp rưỡi chiều dày và không nhỏ
hơn 25cm .Mặt đá phải vuông vắn. Đá đẽo kĩ dùng để xây tường,vòm cuốn và một số bộ phận
khác của công trình.
+ Đá kiểu được chọn lọc rất cẩn thận và phải là loại đá tốt,rất thuần chất,tuyệt đối không có nứt
nẻ,gân,hà,phong hóa. Đá phải có cấu trúc đồng nhất,có đủ các tính chất đảm bảo sau khi xẻ ra
thành sản phẩm đạt yêu cầu thẩm mỹ cao.
+ Đá phiếm dùng để ốp trang trí hoặt ốp cho các công trình đặc biệt khác.
+ Đá dăm là loại đa vụn có cơ hạt 0.5-40cm , được dúng làm cốt liệu cho bê tông
1 số loại đá dùng trong xây dựng
Tính chất và công dụng của một số loại đá mác ma thường dùng:
-Đá granit (đá hoa cương): Thường có màu tro nhạt, vàng nhạt hoặc màu hồng, các màu này xen
lẫn những chấm đen. Đây là loại đá rất đặc, khối lượng thể tích 2500 - 2600 kg/m3 , khối lượng
riêng 2700 kg/m3 , cường độ chịu nén cao 1200 - 2500 kG/cm2 , độ hút nước thấp (HP < 1%),
độ cứng 6 - 7 Morh, khả năng chống phong hóa rất cao, khả năng trang trí tốt nhưng khả năng
chịu lửa kém. Đá granit được sử dụng rộng rai trong xây dựng với các loại sản phẩm như: tấm
ốp, lát, đá khối xây móng, tường, trụ cho các công trình, đá dăm để chế tạo bê tông v.v...
-Đá gabrô : Thường có màu xanh xám hoặc xanh đen, khối lượng thể tích 2000 - 3500 kg/m3 ,
đây là loại đá đặc, có khả năng chịu nén cao 2000 - 2800 kG/cm2 . Đá gabrô được sử dụng làm
đá dăm, đá tấm để lát mặt đường và ốp các công trình.
- Đá bazan: Là loại đá nặng nhất trong các loại đá mác ma, khối lượng thể tích 2900-3500 kg/m3
cường độ nén 1000 - 5000 kG/cm2 , rất cứng, giòn, khả năng chống phong hóa cao, rất khó gia
công. Trong xây dựng đá bazan được sử dụng làm đá dăm, đá tấm lát mặt đường hoặc tấm ốp.
Ngoài các loại đá đặc ở trên, trong xây dựng còn sử dụng tro núi lửa, cát núi lửa, đá bọt, túp
dung nham, v.v...
-Tro núi lửa thường dùng ở dạng bột màu xám, những hạt lớn hơn gọi là cát núi lửa.Thành phần
của tro và cát núi lửa chứa nhiều SiO2 ở trạng thái vô định hình, chúng có khả năng hoạt động
hoá học cao. Tro núi lửa là nguyên liệu phụ gia dùng để chế tạo xi măng và một số chất kết dính
vô cơ khác.
-Đá bọt là loại đá rất rỗng được tạo thành khi dung nham nguội lạnh nhanh trong không khí. Các
viên đá bọt có kích thước 5 - 30 mm, khối lượng thể tích trung bình 800 kg/m3 , đây là loại đá
nhẹ, nhưng các lỗ rỗng lớn và kín nên độ hút nước thấp, hệ số dẫn nhiệt nhỏ (0,12 - 0,2 kcal/m.0
C.h). Cát núi lửa và đá bọt thường được dùng làm cốt liệu cho bê tông nhẹ.
Tính chất và công dụng của một số loại đá trầm tích thường dùng:
-Cát, sỏi: Là loại đá trầm tích cơ học, được khai thác trong thiên nhiên sử dụng để chế tạo vữa,
bê tông v.v...
-Đất sét: Là loại đá trầm tích có độ dẻo cao khi nhào trộn với nước, là nguyên liệu để sản xuất
gạch, ngói, xi măng.
-Thạch cao: Được sử dụng để sản xuất chất kết dính bột thạch cao xây dựng.
-Đá vôi: Bao gồm hai loại - Đá vôi rỗng và đá vôi đặc.
-Đá vôi rỗng gồm có đá vôi vỏ sò, thạch nhũ, loại này có khối lượng thể tích 800- 1800 kg/m3
cường độ nén 4 - 150 kG/cm2 . Các loại đá vôi rỗng thường dùng để sản xuất vôi hoặc làm cốt
liệu cho bê tông nhẹ.
-Đá vôi đặc bao gồm đá vôi canxit và đá vôi đôlômit.
-Đá vôi can xít có màu trắng hoặc xanh, vàng, khối lượng thể tích 2200 - 2600 kg/m3 , cường độ
nén 100-1000 KG/cm2 . Đá vôi đặc thường dùng để chế tạo đá khối xây tường, xây móng, sản
xuất đá dăm và là nguyên liệu quan trọng để sản xuất vôi, xi măng.
-Đá vôi đôlômit là loại đá đặc, màu đẹp, được dùng để sản xuất tấm lát, ốp hoặc để chế tạo vật
liệu chịu lửa, sản xuất đá dăm.
-Tính chất và công dụng của một số loại đá biến chất thường dùng Đá gơnai (đá phiến ma) :
Được tạo thành do đá granit tái kết tinh và biến chất dưới tác dụng của áp lực cao. Loại đá này có
cấu tạo phân lớp nên cường độ theo các phương cũng khác nhau, dễ bị phong hóa và tách lớp,
được dùng chủ yếu làm tấm ốp lòng hồ, bờ kênh, lát vỉa hè. Đá hoa: Được tạo thành do đá vôi
hoặc đá đôlômít tái kết tinh và biến chất dưới tác dụng của nhiệt độ cao và áp suất lớn. Loại đá
này có nhiều màu sắc như trắng, vàng, hồng, đỏ, đen xen kẽ những mạch nhỏ và vân hoa, cường
độ nén 27 1200 - 3000 kG/cm2 , dễ gia công cơ học, được dùng để sản xuất đá ốp lát hoặc sản
xuất đá dăm làm cốt liệu cho bê tông, đá xay nhỏ để chế tạo vữa granitô. Diệp thạch sét: Được
tạo thành do đất sét bị biến chất dưới tác dụng của áp lực cao. Đá màu xanh sẫm, ổn định đối với
không khí, không bị nước phá hoại và dễ tách thành lớp mỏng. Được dùng để sản xuất tấm lợp.
Tính chất và công dụng của một số loại đá biến chất thường dùng:
-Đá gơnai (đá phiến ma) : Được tạo thành do đá granit tái kết tinh và biến chất dưới tác dụng
của áp lực cao. Loại đá này có cấu tạo phân lớp nên cường độ theo các phương cũng khác nhau,
dễ bị phong hóa và tách lớp, được dùng chủ yếu làm tấm ốp lòng hồ, bờ kênh, lát vỉa hè.
-Đá hoa: Được tạo thành do đá vôi hoặc đá đôlômít tái kết tinh và biến chất dưới tác dụng của
nhiệt độ cao và áp suất lớn. Loại đá này có nhiều màu sắc như trắng, vàng, hồng, đỏ, đen xen kẽ
những mạch nhỏ và vân hoa, cường độ nén 27 1200 - 3000 kG/cm2 , dễ gia công cơ học, được
dùng để sản xuất đá ốp lát hoặc sản xuất đá dăm làm cốt liệu cho bê tông, đá xay nhỏ để chế tạo
vữa granitô.
-Diệp thạch sét: Được tạo thành do đất sét bị biến chất dưới tác dụng của áp lực cao. Đá màu
xanh sẫm, ổn định đối với không khí, không bị nước phá hoại và dễ tách thành lớp mỏng. Được
dùng để sản xuất tấm lợp.
Khoáng nguyên sinh, thứ sinh
TT
Tên khoáng
1
2
Quactz
Muscovil
Khoáng nguyên sinh
3
4
Biotit
Fenspat
a- Octolaz
b- Microlin
c- anbit
5
Amphibol
Tremolit
6
Pyroxen
a- Enstatit
b- Diopsit
c- Rhodouit
7
8
9
10
11
Olivin
Epidot
Turmalin
Ziricon
Rutin
12
Khoáng sét
a- Kaolinit
b- Montmorilonit
c- vecmieulit
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
Allophan
Imogolit
Gotit
Hematit
Manhetit
Gibxit
Pyrolusit
Dolomit
Canxi
Gyp
Khoáng thứ sinh
Các quá trình phong hóa
1-Khái niệm: Dưới tác động của những nhân tố bên ngoài ( nhiệt độ, nước, hoạt động của
vi sinh vật… ) mà trạng tháivật lý và hoá học của đá và khoáng trên bề mặt đất bị biến
đổi. Quá trình này gọi là quá trình phong hoá.
-Dựa vào từng đặc trưng của từng nhân tố tác động, phong hoá được chia thành 3 loại: Phong
hoá lý hoc, phong hoá hoá học và phong hoá sinh vật học. Các quá trình này xảy ra đồng thời và
liên quan khăng khít nhau.
Phong hoá lý học:
Quá trình làm vỡ vụn các đá có tính chất lý học (cơ học) đơn thuần.
Nguyên nhân:
- Sự thay đổi nhiệt độ
- Sự thay đổi áp suất (mao quản)
- Sự đóng băng của nước trong kẽ nứt
- Sự kết tinh của muối.
Phong hóa hóa học:
Quá trình phá hủy đá và khoáng chất do tác động hóa học của nước và dung dịch nước.
Phong hóa hóa học làm cho thành phần khoáng học và thành phần hóa học của đá thay đổi. Kết
quả:
- Làm đá vụn xốp
- Xuất hiện khoáng thứ sinh ( khoáng mới )
- Quá trình hòa tan
Các loại muối clorua và sunfat của các cation kim loại kiềm và kiềm thổ của các khoáng
dễ hòa tan.
- Quá trình hydrat hóa ( quá trình ngậm nước)
Nước là phân tử có cực, nên nếu khoáng chất có các cation và anion có hóa trị tự do sẽ
hút phân tử nước và trở thành ngậm nước.
2Fe2O3 + 3H2O 2Fe2O3. 3H2O
CaSO4 + 2H2O CaSO4. 2H2O
Na2SO4 + 10H2O Na2SO4. 3H2O
Hydat hóa làm độ cứng của khoáng giảm, thể tích tăng làm đá bị vỡ vụn và hòa tan. Như
vậy phong hóa hóa học không chỉ phá vỡ đá về mặt hóa học, mà còn thúc đẩy quá trình phong
hóa lý học.
- Quá trình oxy hóa
Trong các khoáng chất cấu tạo đá, chứa nhiều ion hóa trị thấp như (Fe 2+ , Mn2+ ), những
ion này bị oxy hóa thành hóa trị cao hơn làm cho khoáng bị phá hủy và thay đổi thành phần.
2FeS2 + 2H2O + 7O2 2FeSO4 + 2H2SO4
4FeSO4 + 2H2SO4 + O2 2Fe2(SO4)3 + H2O
- Quá trình thủy phân
Nước bi phân ly thành H+ + OH– . Trong vỏ quả đất chứa nhiều khoáng silicat – đó là
muối của axit yếu (axit silic: H2SiO3, axit amulosilic: H2[Al2Si6O16]). Trong các khoáng này chứa
các ion kim loại kiềm và kiềm thổ, trong quá trình thủy phân, những ion H + do nước điện ly sẽ
thay thế cation này.
K[AlSi3O8] + H+ + OH– HalSi3O8 + KOH
Quá trình phong hóa hóa học làm đá vỡ vụn và thay đổi thành phần của khoáng và đá.
Phong hóa sinh học:
Là quá trình biến đổi cơ học, hóa học các loại khoáng chất và đá dưới tác dụng
của sinh vật và những sản phẩm của chúng.
Sinh vật hút những nguyên tố dinh dưỡng do các quá trình phong hóa trên giải
phóng ra để tồn tại.
Sinh vật tiết ra các axit hữu cơ ( axit axetic, malic, oxalit,…) và CO 2 dưới dạng
H2CO3 . Các axit này phá vỡ và phân giải đá và khoáng chất.
Những vi sinh vật hoạt động do phân giải cũng sẽ giải phóng ra các axit vô cơ
( axit nitric, sunfuric…) làm tăng quá trình phá hủy đá.
Tảo và địa y có khả năng phá hủy đá thông qua bài tiết và hệ rễ len lỏi vào khe đá.
Tác dụng phong hóa cơ học do hệ rễ len lỏi và gây áp suất trên đá.
a- Sản phẩm và vỏ phong hoá
+ Sản phẩm phong hoá: Các sản phẩm phong hoá là kết quả của quá trình phá huỷ các
khoáng vật và đá, do vậy chúng rất phong phú và đa dạng. Phong hoá vật lý tạo thành các hạt vô
cơ có kích thước khác nhau. Phong hoá hoá học tạo thành các hợp chất dễ tan, oxyt, Hydrôxit và
các loại keo sét. Phong hoá sinh vật ngoài sự tạo thành các sản phẩm trên còn tạo sự tích luỹ chất
hữu cơ trong mẫu chất.
+ Vỏ phong hoá: các loại sản phẩm phong hoá tích đọng lại tạo thành vỏ phong hoá. Vỏ phong hoá
là lớp vật chất nằm ở phía ngoài cùng của vỏ Trái Ðất. Sản phẩm phong hoá biến đổi tạo thành
mẫu chất, mẫu chất chịu tác động sâu sắc của sinh vật dần dần trở thành đất.
b. Các loại vỏ phong hoá
Căn cứ vào quá trình tích luỹ, thành phần và tính chất, vỏ phong hoá được chia thành vỏ
phong hoá tại chỗ và vỏ phong hoá trầm tích.
+ Vỏ phong hoá tại chỗ:
Các sản phẩm phong hoá tích luỹ ngay trên đá gốc (đá mẹ) tạo thành vỏ phong hoá tại
chỗ. Vỏ phong hoá tại chỗ có các loại sau:
- Vỏ phong hoá vụn thô: các mảnh vụn cơ học có kích thước lớn tích luỹ ngay trên đá
gốc, gặp ở vùng xói mòn mạch.
- Vỏ phong hoá Feralit: phổ biến ở vùng ôn đới có khí hậu ôn hoà. Hầu hết khoáng vật
silicát, nhôm silicát đều hoá sét, các muối dễ tan của các chất kiềm và kiềm đất có rất ít do bị rửa
trôi mạnh. Các khoáng vật nguyên sinh còn lại đều là khoáng vật bền vững như thạch anh - SiO 2.
- Vỏ phong hoá alít: Phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, phong hoá diễn ra mạnh,
khoáng vật nguyên sinh gặp phổ biến là thạch anh, thành phần chính là các hợp chất của nhôm.
+ Vỏ phong hoá trầm tích
Sản phẩm phong hoá di chuyển theo dòng nước chảy hay cuốn theo gió thổi, được tích
luỹ lại khi gặp các điều kiện thuận lợi tạo thành vỏ phong hoá trầm tích. Vỏ phong hoá trầm tích
có các loại sau:
- Vỏ phong hoá trầm tích Sialit: chủ yếu là sét, các keo sét, ngoài ra còn có limon cát.
Khoáng vật nguyên sinh có thạch anh, Fenspat.
- Vỏ phong hoá cacbonat - Sialit: Thành phần giống vỏ phong hoá trầm tích Sialit nhưng
có chứa một lượng CaCO3 nhất định.
- Vỏ phong hoá Clorua, Sunphát, Cacbonát - Sialit: Thành phần giống 2 loại vỏ phong
hoá trầm tích Sialít, Cacbonat - Sialít và có chứa thêm các muối Clorua Sunphát của các chất
kiềm và kiềm đất.
Theo viện sĩ Pôlưnốp có 3 loại mẫu chất là tàn tích (êluvi), sườn tích (đêluvi) và phù sa
(aluvia). Tàn tích là sản phẩm phong hoá tích đọng tại chỗ ngay trên đá gốc, thường bị rửa trôi và
xói mòn mạnh. Sườn tích là sản phẩm phong hoá bị cuốn trôi từ trên đỉnh đồi, đỉnh núi xuống
tích tụ ở sườn hay chân đồi, núi. Do vậy sườn tích còn gọi là sản phẩm dốc tụ. Phù sa là sản
phẩm tích đọng từ các sản phẩm được cuốn trôi do dòng nước chảy, thành phần phù sa phức tạp
và khác xa so với đá gốc.
+ Vỏ phong hoá ở Việt Nam
Theo V.M.Fritland, Việt Nam có các loại vỏ phong hoá sau:
- Vỏ phong hoá Feralit: Phổ biến ở vùng trung du và núi thấp, các khoáng vật thứ sinh
chủ yếu là Kaolinit, gipxit, gơtit. Trên vỏ phong hoá này hình thành nên nhóm đất Feralit - đất đỏ
vàng ở nước ta.
- Vỏ phong hoá alit: gặp ở vùng núi cao từ 1700m trở lên, điển hình nhất là ở độ cao >
2000m. Khí hậu ẩm ướt, sắt bị rửa trôi mạnh nhưng nhôm được tích luỹ do không bị rửa trôi như
sắt.
- Vỏ phong hoá Macgalit - Feralit: Gặp ở Phủ Quỳ Nghệ An trên đá bọt bazan
- Vỏ phong hoá trầm tích Sialit: Gặp ở các vùng đồng bằng tạo bởi quá trình lắng đọng
phù sa của hệ thống sông ngòi nước ta. Thành phần là các loại keo sét, ngoài ra còn gặp các
khoáng vật nguyên sinh như Thạch anh, Fenspat, Mica.
Vùng ven biển còn gặp vỏ phong hoá Clorua, Sunphát - Sialit.
Phẫu diện đất
Khái niệm: Phẫu diện đất là mặt cắt thẳng đứng từ bề mặt đất xuống tầng đá mẹ.
Đất địa thành
Đất thủy thành
Tầng A0: tầng thảm mục
AC: tầng canh tác, tầng này càng dày đất càng tốt
Tầng A1: tầng tích lũy mùn
P: tầng đế cày, nằm ngay dưới tầng canh tác
Tầng A2: tầng rửa trôi
B: tầng tích tụ có màu loang lổ đỏ vàng, tầng này tích tụ các chất
Tầng B: tầng tích tụ
rửa trôi từ trên xuống, ngoài ra còn tích tụ một số chất từ nước
Tầng C: tầng mẫu chất
ngầm đem lên, nên tầng B đất đông bằng có tích tụ 2 chiều
Tầng D: tầng đá mẹ
G: tầng glây có màu xanh xám hoặc xám xanh
Màu sắc đất
-Màu sắc đất thay đổi rất phức tạp, trong một phẫu diện các tầng thường có các
màu khác nhau
-Các loại đất cũng có màu sắc khác nhau. Màu sắc đất thay đổi theo độ ẩm.
màu sắc đất được tạo ra bởi 3 nền màu chính là đen, đỏ và trắng.
-Thành phần và tính chất đất quyết định tính chất đất.
Các nhân tố tạo -Chất hữu cơ: là chất tạo màu mạnh trong đất làm cho có màu tối hoặc đen.
màu trong đất
-Các hộp chất khác hoặc nguyên tố: sắt khi oxy hóa tạo màu từ nâu vàng đến
đỏ thẩm. Oxit magie tạo màu tía đen.
-Thành phần cơ giới đất(sa cấu đất): là tp % các nguyên tố cơ học có kích thước khác nhau ở
những tỉ lệ khác nhau.
-Sa cấu đất= % cát, thịt và sét trong đất.
-Sa cấu là một đặc tính quan trọng trong đất.
-Sự khác nhau về % cát, thịt, sét là căn cứ phân loại đất theo sa cấu.
-Có 12 loại khác nhau thể hiện trong tam giác sa cấu.
-Sa cấu không phải là đối tượng để thay đổi trên cánh đồng, tuy nhiên có thể thay đổi trong phạm
vi chậu trồng.
Sỏi, dăm, Rh>2mm: không được xem là tp quy định sa cấu( sa cấu đất chỉ giới hạn trong tp
đá tảng
của cát, thịt, sét)
-Kích thước: 0,05-2mm
-Có thể nhìn thấy không cần kính hiển vi.Hình dạng tròn hay góc cạnh
-Hạt cát thường có màu trắng ( chứa thạch anh) và màu nâu ( chứa nhiều
khoáng).Một só loại cát có màu nâu, vàng hoặc đỏ vì lớp phủ bên ngoài có chứa
Cát
Oxit Fe ỏ oxit Al
-Không kết dính lại với nhau trong 1 khối trừ trường hợp ẩm ướt, cảm giác thô ráp.
-Phân bố ở lớp gần bề mặt. Chứa ít chất dinh dưỡng hơn thịt và sét.
-Cấu trúc có nhiều phần rỗng giữa các hạt đều này làm gia tăng khả năng thoát
nước và xâm nhập của không khí, giữ nước kém và đất dễ bị khô do bốc hơi nhanh
Thịt
-Kích thước 0,05-0,002mm. Nhỏ hơn cát giúp quá trình phong hóa đối với khoáng
Sét
thứ sinh xảy ra nhanh. Kích thước nhỏ giữ nước tốt hơn nhưng thoát nước kém hơn
cát.
-Dễ bị rửa trôi bởi dòng chảy có tính xói mòn cao
-Chỉ nhìn thấy được bằng kính hiển vi điện tử
-Thạch anh là khoáng chiếm ưu thế vì khoáng khác đa bị phong hóa. Chứa nhiều
dinh dưỡng hơn cát
-Không có cảm giác thô, cảm giác như bột và trơn
-Thịt ẩm ướt có tính dính, dẻo và dễ nặn có thể dát mỏng
-Kích thước <0,002mm
-Dạng phiến, lớp, dĩa phẳng hay bông nhỏ
-Các hạt cát nhỏ gọi là chất keo, nếu lơ lửng trong nước nó sẽ không lắng xuống
-Đất sét ẩm ướt có tính rất dính và dẻo nên rất dễ nặn thành những hình dạng khác
nhau
-Sét có tính trương co mạnh do các khe hở giữa các tầng co gian tốt. Không gian
giữa các lỗ hổng rất nhỏ có dạng xoắn. Sự vận chuyển nước và không khí rất chậm
chạp. Khả năng giữ nước cao, khả năng hút bảm nươc rất lớn- điều này không thực
sự tốt cho cây
-Độ bền của đất ảnh hưởng lên các tòa nhà, đường xá, công trình.
-Hấp thụ hóa học cao
Phương pháp xác định sa cấu đất
PP cảm giác
PP tỷ trọng kế
Xác định sa cấu đất
ngoài đồng ruộng
(bằng cách vê đất)
-Cầm một mẫu đất ẩm trên tay, bóp tạo thành một dải mảnh
-Chiều dài của dải đất cho biết tp sét
-Cảm giác như có hạt sạn cho biết có cát, cảm giác có bột cho biết có
thịt
-Cảm giác dính cho biết có sét
-Tốc độ lắng(V) tỉ lệ với bình phương đk hạt (d) nhân với hệ số K. Hạt
có kích thước càng lớn thì tốc độ lắng càng nhanh. V=K.d2
-Tỉ trọng của nước dduocj duy trì bên trong ống đong (bởi tp sét và thịt)
-Khuấy trộn huyền trọc bằng đũa thủy tinh có đầu gắn cao su
-TP thịt và sét được đo sau 40s
-Lần đọc thứ nhất: tính được % cát vì khi đó cát đa lắng xuống hết, chỉ
còn thịt và sét lơ lửng trong huyền phù
% cát = [100-(chỉ số đọc đầu tiên x 100/tổng số gam đất)]
-Sau 2 giờ đo lần thứ hai xác định được tp sét lơ lững hay phần còn lại
sau khi thịt đa lắng xuống.
% sét = chỉ số đọc lần 2 x (100/số gam đất)
% thịt = 100 – [(% cát) + (% sét)]
-Nếu không vê được thành thỏi, rời rạc. Đất cát
-Vê thành từng đoạn, viên rời rạc. Đất cát pha
-Vê thành thỏi nhưng bị đứt gay. Đất thịt nhẹ
-Vê thành thỏi nhưng khi khoanh tròn bị đứt quang. Đất thịt trung bình
-Vê thành thỏi, bị rạn nẻ khi khoanh tròn. Đất thịt nặng
-Vê thành thỏi không bị đứt khi khoanh tròn. Đất sét
Cấu trúc đất
-Các hạt cát, thịt và sét riêng lẻ kết hợp lại với nhau tạo thành các hình dạng đặc biệt(cấu trúc
đoàn lạp)
-Các cấu trúc này được đặt tên dựa vào hình thái xuất hiện của chúng
-Đoàn lạp (ped) được tạo thành từ quá trình thẩm ướt, làm khô, giá lạnh và tan chảy. Chúng được
giữ và nén lại bởi những hạt sét và chất hữu cơ
-Hình khối (cấu trúc cục, hạt ,viên)
-Hình tấm, phiến, dẹt
Các loại cấu trúc đất
-Hình lăng trụ(cấu trúc cột trụ)
Trong nông học cấu trúc đất lý tưởng làm cho đất càng tốt
-Dạng hình cầu không bằng phẳng,hay dạng hột nhỏ có d=1Cấu trúc dạng hạt
10mm
-Ddienr hình ở tầng A đất có hàm lượng chất hữu cơ cao
-Tương đối mỏng, tập trung ở lớp mặt
Cấu trúc dẹt
-Có thể kết quả tự nhiên trong quá trình hình thành đất hay
bởi tác động lực nén của các phương tiện máy móc
-Hình lập phương gồ ghề, không đồng đều d từ 5mm
Cấu trúc dạng khối tảng
-Góc cạnh sắc, hiện diện ở tầng B
-Các cột hướngt hẳng đứng với chiều cao khác nhau, và d>=
Cấu trúc hình lăng trụ
150mm
-Hiện diện ở lớp dưới bề mặt ở các vùng đất bị khô hạn
Dung trọng
-Là tỉ lệ giữa khối lượng đất trong một đơn vị diện tích
-Dung trọng(BD)=khối lượng đất/thể tích (g/cm3)
-Dung trọng được đo trên phàn đất đa sấy khô ( không kể khối lượng nướcv à phần rỗng trong
các lỗ hổng)
-BD phụ thuộc sa cấu đất, các lỗ hổng trong đất, số lượng CHC
-Dung trọng của lớp đất mặt thông thường nằm trong khoảng 1,1-1,4 g/cm3
-Dung trọng của các tâng đất sâu hơn thông thường nằm trong khoảng 1,3-1,7 g/cm3
Tỉ trọng
-Là tỉ số giữa trọng lượng khô kiệt của đất trên một đơn vị thể tích phần rắn của đất (không tính
đến thể tích phần rỗng)
-Tỉ trọng của 1 loại đất thông thường khoảng 2,65 g/cm3
-Tỉ trọng(PD)=trọng lượng của đất/ thể tích phần rắn (g/cm3)
Độ xốp
-Giữa các hạt đất và chất hữu cơ thường là các lỗ hổng
-Nước làm đầy toàn bộ lỗ hổng gl nước trong đất
-Độ rỗng ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận chuyển của nước trong đất
Độ xốp (P)=thể tích lỗ hổng/thể tích đất
Độ nén
-Độ nén của đất thay đổi khi có một lực nào đó tác động là thay đổi và phá hủy kết cấu của đất,
làm gia tăng dung trọng của đất và làm giảm độ xốp của đất. Các phương tiện máy móc hay vật
nuôi là nguyên nhân gây ra hiện tượng trên
-Tải trọng càng lớn thì tác động của lực ép càng cao
Tính chất hóa học đất
Nguyên tố đa lượng
Các nguyên tố đa lượng cần thiết cho cây trồng là H, C, O, N, P, K, Ca,
Mg, S. Gọi là các nguyên tố đa lượng vì nhu cầu của cây cần lớn. C, H, O
cây hấp thu từ CO2, H2O. Các nguyên tố khác, cây hấp thu từ đất do quá
trình dinh dưỡng rễ.
Nguyên tố vi lượng
-Các nghuyên tố vi lượng do cây trồng đòi hỏi với lượng nhỏ, hàm lượng
của chúng trong tự nhiên cũng rất nhỏ. Đó là các nguyên tố: Fe, Mn, Zn,
Cu, Mo, B, Cl.
-Các nguyên tố vi lượng được giải phóng do quá trình phong hoá phụ
thuộc trước hết vào phản ứng của môi trường và điện thế oxy hoá khử
(Eh).
-Các dinh dưỡng khoáng đa và vi lượng cho cây trồng phải phải được hữu
dụng trong đất vào thời điểm mà cây cần đến. Điều này có nghĩa là các
dinh dưỡng khoáng phải hiện diện ở dạng hữu dụng và với số lượng phong
phú, đồng thời cũng phải có một sự cân bằng đúng đắn giữa nồng độ các
dinh dưỡng khoáng. Lượng, sự hữu dụng và sự cân bằng của nhiều nguyên
tố dinh dưỡng khác nhau bị tác động bởi các đặc tính hoá học của đất như
là pH và khả năng trao đổi cation.
Vai trò của đạm (N): Cây hút đạm chủ yếu ở dạng NH 4+ và NO3-. Các dạng đạm này phần lớn có
trong phân đạm hóa học, một số rất ít từ phân hữu cơ. Vai trò của đạm đối với cây là:
Đạm là thành phần quan trọng trong các chất hữu cơ rất cơ bản và cần thiết cho sự sinh
trưởng phát triển của cây như các chất diệp lục, nguyên sinh chất, axit nucleic (AND và
ARN), các loại men, các chất điều hòa sinh trưởng.
Đạm là yếu tố chính, quyết định sự phát triển của các mô tế bào sống của cây. Bón đủ
đạm cây sinh trưởng nhanh, ra nhiều chồi, lá và cành, hoa quả nhiều và lớn, tích lũy được
nhiều chất nên cho năng suất cao và chất lượng tốt. Người ta đa tính cứ 1 kg đạm trong cây có
thể cho 15 kg hạt, 10 kg đường, 70 kg khoai tây hoặc 25 kg rơm rạ.
Do có vai trò quan trọng như trên nên đạm là yếu tố dinh dưỡng được cây hút và tích lũy
nhiều nhất, là yếu tố chính quyết định năng suất cây.
Thiếu đạm cây sẽ sinh trưởng kém, còi cọc, lá vàng, ít hoa và quả, năng suất thấp.
Tuy vậy, nếu thừa đạm cũng không tốt, cây có thể phát triển mạnh nhưng mềm yếu, dễ đổ
nga, dễ nhiễm sâu bệnh, hạt và quả có thể nhiều nhưng chất lượng kém.
Vai trò của Lân (P): Cây hút lân chủ yếu dưới dạng khoáng của photphat hóa trị 1 (H 2PO4-) và
hóa trị 2 (HPO42-). Ngoài ra cây cũng có thể hút được một số hợp chất lân hữu cơ đơn giản. Vai
trò của lân (P) đối với cây là:
Lân có vai trò cung cấp trong quá trình trao đổi năng lượng và tổng hợp chất protein. Lân
là thành phần chủ yếu của các chất ADP và ATP là những chất dự trữ năng lượng cho các quá
trình sinh hóa trong cây, đặc biệt là cho quá trình quang hợp, sự tạo thành phần chất béo và
protein.
Lân thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ cây, kích thích sự hình thành nốt sần ở các cây họ
đậu.
Lân thúc đẩy sự ra hoa và hình thành quả ở cây, là yếu tố chủ yếu quyết định chất lượng
hạt giống.
Lân giúp cây tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất thuận như rét, hạn, sâu
bệnh.
Lân còn có tác dụng hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm. Bón đủ lân, cây không những
sinh trưởng tốt, cho năng suất cao mà chất lượng nông sản cũng cao.
Thiếu lân bộ rễ cây phát triển kém, toàn cây còi cọc, thân cây có vết tím, hạt và quả ít,
chất lượng kém. Ngược lại nếu thừa lân các lá non mất màu xanh, đầu lá đen, lá già bị nứt
gay, ảnh hưởng sinh trưởng của cây.
Vai trò của kali (K): Cây hút kali dưới dạng K+, các tế bào cây rất dễ để dung dịch kali thấm
qua nên kali được cây hút dễ dàng hơn các nguyên tố khác, đôi khi hút quá nhiều là hạn chế sự
hút đạm và một số nguyên tố khác như Ca, Mg và một số vi lượng. Vai trò của kali đối với cây
là:
Kali tham gia tích cực vào quá trình quang hợp, tổng hợp nên các chất gluxit của cây.
Kali làm tăng khả năng thẩm thấu nước ở tế bào khí khổng, giúp khí khổng đóng mở thuận lợi
nên điều chình sự khuyếch tán CO2 của quá trình quang hợp, đồng thời tăng khả năng sử
dụng ánh sáng cho cây trong điều kiện thời tiết ít nắng.
Kali có trong thành phần của 60 loại men thực vật điều tiết các hoạt động sống của cây
với tác dụng như một số chất xúc tác.
Kali thúc đẩy quá trình tổng hợp đạm trong cây, làm giảm tác hại của việc bón quá nhiều
đạm, phòng chống lốp đổ cho cây hòa thảo, thúc đẩy sự ra hoa.
Kali tăng cường khả năng chống chịu các điều kiện bất lợi cho cây như rét, hạn, úng, sâu
bệnh.
Kali làm tăng hàm lượng chất bột, đường nên làm tăng chất lượng hạt và quả.
Thiếu kali trước hết các lá già chuyển màu nâu, chóp và rìa lá khô dần, sau lan dần đến
các lá non, cây phát triển chậm, mềm yếu, dễ đổ nga. Nếu thừa kali sẽ dẫn tới thiếu Mg, đôi
khi ảnh hưởng đến sự hút Mn, Zn và Fe.
Vai trò của chất hữu cơ, mùn trong đất
Quá trình mùn hóa
-Mùn được cấu tạo từ crotit,linhin, tanin và những tp khác nhau của vsv
-ĐĐ cơ bản qt mùn hóa: là những phản ứng sinh hóa, oxi hóa dần dần những hợp chất các phân
tử có mạch vòng khác nhau, liên kết lại với nhau, rồi trùng hợp, dẫn tới hình thành hợp chất cao
phân tử mùn bền vững
Keo đất
-Là những hạt rất ít tan trong nước, có đường kính rất nhỏ
Phân loại keo đất -Keo hữu cơ
-Keo vô cơ
-Keo phức hữu cơ-vô cơ
Hấp phụ
-Là đặc tính của các hạt đất có thể hút được chất rắn, chất lỏng, chất khí hoặc làm tăng nồng độ
các chất đó trên bề mặt.
-Các dạng hấp phụ của đất: Hấp phụ cơ học, hấp phụ lý học(hấp phụ phân tử), hấp phụ hóa học,
hấp phụ lý hóa học(hấp phụ trao đổi), hấp phụ sinh học.
Hấp phụ cơ học
-Là đặc tính của đất có thể giữ lại những vật chất nhỏ ở trong khe hở của đất.
- Nguyên nhân của hấp phụ cơ học:
+ Kích thước khe hở trong đất bé hơn kích thước các vật chất
+ Bờ khe hở gồ ghề làm cản trở sự di chuyển các hạt
+ Các vật chất mang điện trái dấu với bờ khe hở nên bị hút giữ lại
• - Tác dụng:
+ Làm xuất hiện trong đất những lớp quá nhiều keo sét, đất trở nên chặt do
đó lý tính xấu
+ Giúp các phần tử đất không bị rửa trôi xuống sâu.
Hấp phụ lý học - Năng lượng bề mặt phụ thuộc sức căng bề mặt và diện tích bề mặt.
(hấp phụ phân
• - Vật chất nào làm giảm sức căng mặt ngoài của dung dịch đất sẽ tập trung
tử)
trên mặt hạt keo, đây là sự hấp phụ dương. Ví dụ: axit axetic
• Vật chất nào làm tăng sức căng mặt ngoài của dung dịch đất thì bị đẩy ra
khỏi keo đất để đi vào dung dịch, sự hấp phụ này gọi là hấp phụ âm.
Hấp phụ hoá
-Là sự tạo thành trong đất những muối không tan từ những muối dễ tan.
học
• Na2SO4 + CaCl2 CaSO4 + 2NaCl
• Fe3+ + PO43- FePO4
• - Hấp phụ hoá học là nguyên nhân tích luỹ P và S trong đất
Hấp phụ lý hoá -Là đặc tính của đất có thể trao đổi ion trong phức hệ hấp phụ với ion của
học
dung dịch đất tiếp xúc.
(hấp phụ trao
- Trong đất có keo âm và keo dương nên đất có khả năng hấp phụ cả
đổi)
cation và anion.
Hấp phụ sinh
-Là khả năng sinh vật (thực vật và vi sinh vật) hút được cation và anion trong
học
đất.
• Những ion dễ di chuyển trong đất được rễ cây và vi sinh vật hút biến
thành những chất hữu cơ không bị nước cuốn trôi. Rễ cây, thân cây sau lúc
chết đi sẽ tích luỹ xác hữu cơ trong đất.
Dung dịch đất
-Nước trong đất được gọi là dung dịch đất
-Nước, các chất khí, các chất hòa tandung dịch đất
Thành phần
- Chất vô cơ: Ca2+, Mg2+, NH4+, HCO3-, ..
- Chất hữu cơ: axit hữu cơ, đường, rượu...
- Chất hữu cơ–vô cơ : axit mùn, poliphenol
- Chất khí hoà tan như CO2, O2, N2, NH3,
- Chất không hoà tan: các phân tử keo
Nguồn gốc của dung dịch đất
- Quá trình phong hoá đá và quá trình phân giải các chất hữu cơ.
- Bón phân hữu cơ và vô cơ vào đất
- Nước mưa hoặc nước ngầm mang tới
- Quá trình trao đổi ion giữa keo đất và dung dịch đất
-Phản ứng của đất còn gọi là phản ứng của dung dịch đất.
-Phản ứng của dung dịch đất chính là các quá trình hoá học hay lý -hoá học diễn ra trong đất
Phản ứng chua
-Ðất có phản ứng chua khi trong đất có
chứa nhiều cation H+ và Al3+
-Mức độ chua phụ thuộc vào nồng độ
của các cation H+ và Al3+
-Nồng độ các cation này trong đất càng
cao thì đất càng chua.
Phản ứng kiềm
- Ðộ kiềm của đất do ion hyđroxyl quyết định.
• - Ðất có phản ứng kiềm khi nồng độ ion OH- trong dung
dịch lớn hơn nồng độ ion H+.
• Nguyên nhân gây kiềm:
• Do trong đất có chứa nhiều các muối kiềm cacbonat hoặc
bicacbonat được hình thành từ nhiều con đường khác nhau.
Phản ứng đệm
-Là khả năng của đất có thể chống lại sự thay đổi pH khi
có một lượng axit hay bazơ nhất định tác động vào đất.
• Nguyên nhân tạo nên tính đệm của đất :
+Đất có chứa các muối cacbonat, muối phosphat Fe, Al,
Ca, ... có khả năng trung hoà axit
+ Đất có các các axit hữu cơ (axit mùn và các axit amin) có
thể đệm được cả axit và bazơ.
+ Do hoạt động trao đổi cation trong đất
Phản ứng oxh-khử
+Tác dụng của Al3+ di động trong đất
-Oxy hoá khử là quá trình diễn ra phổ biến trong đất, đặc
biệt là đất lúa nước.
• Oxy hoá là kết hợp với oxy hay mất hydro. Trái lại khử
oxy là mất oxy hay kết hợp với hyđro
• Ví dụ: Fe3+ + e Fe2+ hoặc Fe2+ - e Fe3+
PHẢN ỨNG CHUA
- Ðất có phản ứng chua khi trong đất có chứa nhiều cation H+ và Al3+
- Mức độ chua phụ thuộc vào nồng độ của các cation H+ và Al3+
- Nồng độ các cation này trong đất càng cao thì đất càng chua.
• Nguyên nhân gây chua cho đất:
• Yếu tố khí hậu: Mưa lớn+Nhiệt cao→Phong hóa+rửa trôi
• Yếu tố Sinh vật:
• Rễ cây→CO2+H2O→H2CO3
• Xác Sú, Vẹt bị phân hủy yếm khí, biến đổi →H2S →H2SO4
• Yếu tố con người tác động đến việc hóa chua của đất
pH là logarit đổi dấu của ion H+
Nước cất H+ phân ly [H+] = 10 -7
pH = 7 (Trong 10.000.000 gr nước cất có 1 gr H+ bị phân ly)
Thang đánh giá pH :
pH < 4.0 Rất chua
4.1 - 4.5 chua
4.6 – 5.0 chua vừa
5.1 – 5.5 chua ít
5.6 – 6.5 gần trung tính
6.6 – 7.0 trung tính
7.1 – 7.5 kiềm yếu
7.6 – 8.0 kiềm
> 8 kiềm mạnh
*Các dạng độ chua của đất:
Ðộ chua hoạt tính: do các ion H+ có trong dung dịch đất tạo nên,nồng độ ion H+ càng cao thì
đất càng chua.
• Độ chua tiềm tàng :của đất là độ chua xuất hiện khi cho đất tác độngvới các muối kiềm trung
tính hoặc thuỷ phân.
• Độ chua tiềm tàng bao gồm:
• độ chua trao đổi biểu hiện bằng hàm lượng các ion Al3+ và H+ trao đổi trong đất;
• độ chua thuỷ phân là khả năng đất liên kết với các bazơ từ dung dịch các muối kiềm thuỷ phân.
Các dạng độ chua :
*Độ chua hiện tại : ( pH H2O )
Ðể xác định độ chua này ta chiết rút các ion H+ bằng nước cất rồi xác định nồng độ ion H+ bằng
pH meter. Ðộ chua hoạt tính được biểu thị bằng pHH2O
Đo lượng H+ tự do trong dung dịch đất:
+ Sử dụng nước cất hòa tan với đất
+ Tỷ lệ đất / nước cất : 1:1 , 1:2,5 , 1:5
+ Phương pháp đo pH :
Giấy đo pH
Dung dịch đo pH
Máy đo pH
Các dạng độ chua của đất
*Độ chua hoạt tính: Được sử dụng trong việc bố trí cơ cấu cây trồng phù hợp trên vùng đất
canh tác; Xác định sự cần thiết phải bón vôi cải tạo độ chua của đất
Nguyên nhân đất hóa chua : -S giam, H tăng BS < 50%
-Lượng mưa lớn gây xói mòn rửa trôi
-Thực vật hút dinh dưỡng
-Quá trình phân giải chất hữu cơ
-Bón phân hóa học đơn thuần
-Mưa acid
Tên Phân loại tiếng Việt, PAO của nhóm đất chính theo từng vùng?
Việt Nam
Fao Unesco
Đất cát biển ......................................................................arenosols
Đất mặn ....................................................................Salic fluvisols
Đất phèn ................................................................thionic fluvisols
Đất phù sa ..........................................................................fluvisols
Đất glây ..............................................................................gleysols
Đất than bùn .....................................................................Histosols
Đất đá bọt .........................................................................Andosols
Đất đen ..............................................................................Luvisols
Đất nâu vùng khô hạn ........................................................Lixisols
Đất tích vôi .......................................................................Calcisols
Đất xám ..............................................................................Acrisols
Đất đỏ ..............................................................................Ferralsols
Đất mùn alit núi cao .............................................................Alisols
Đất mòn xói mạnh trơ sỏi đá ...........................................Leptosols
"Độ phì nhiêu của đất hay còn gọi là khả năng sản xuất của đất là tổng hợp các điều kiện, các
yếu tố để đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt".
Những điều kiện đó là:
Đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết ở dạng dễ tiêu đối với cây trồng.
Độ ẩm thích hợp.
Nhiệt độ thích hợp.
Chế độ không khí thích hợp cho hô hấp của thực vật và hoạt động của vi sinh vật.
Không có độc chất.
Không có cỏ dại, đất tơi xốp đảm bảo cho hệ rễ phát triển.
Do đó, muốn tăng độ phì nhiêu của đất và thu được năng suất cao, ổn định, cần phải tác động
đồng thời các yếu tố đối với đời sống cây trồng. Có thể dùng các biện pháp như thuỷ lợi, kỹ thuật
làm đất, phân bón, chế độ canh tác,... để cải tạo đất.