BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH CỦA BỘT CTMP VÀ BỘT DIP
ẢNH HƯỞNG CỦA NGUYÊN LIỆU ĐẾN
CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤY IN BÁO
Họ và tên sinh viên: TRẦN THỊ MIỀN
Ngành: Công nghệ sản xuất giấy & bột giấy
Niên khóa: 2004 - 2009
Tháng 02 năm 2009
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH CỦA BỘT CTMP VÀ BỘT DIP
ẢNH HƯỞNG CỦA NGUYÊN LIỆU ĐẾN
CHẤT LƯỢNG CỦA GIẤY IN BÁO
Tác giả
TRẦN THỊ MIỀN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư
ngành công nghệ giấy và bột giấy
Giáo viên hướng dẫn:
Th.S. ĐẶNG THỊ THANH NHÀN
Tháng 12 năm 2008
i
CẢM TẠ
Đầu tiên con xin thành kính khắc ghi:
-
Công ơn cha mẹ đã sinh thành dưỡng dục, không ngại khó khăn gian khổ để
cho con có được như ngày hôm nay.
-
Các anh chị - em trong gia đình và người thân đã ủng hộ và giúp đỡ em về tinh
thần cũng như vật chất trong thời gian qua.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
-
Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp trường Đại Học Nông Lâm
TP. HCM đã giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong
những tháng ngày em học tại trường.
-
Cô Th.S Đặng Thị Thanh Nhàn đã tận tình giảng dạy và chỉ bảo em trong suốt
thời gian học tập và thực hiện khoá luận này.
-
Ban lãnh đạo, các cô, các anh chị ở phòng thí nghiệm thuộc công ty cổ phần
giấy Tân Mai đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong thời gian em
thực tập tại công ty.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các bạn trong và ngoài lớp đã động viên tinh thần để tôi
hoàn tất luận văn tốt nghiệp này.
Chân thành cảm ơn
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2009
Trần Thị Miền
ii
TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu đặc tính của bột CTMP và bột DIP, ảnh hưởng của nguyên liệu
đến chất lượng giấy in báo”. Đề tài được tiến hành tại phòng thí nghiệm thuộc công ty
cổ phần giấy Tân Mai, thời gian thực hiện từ tháng 10/2008 đến tháng 12/2008. Đề tài
được thực hiện dựa trên cơ sở khảo sát dây chuyền thực tế, kết hợp với kết quả thí
nghiệm, xử lý và so sánh số liệu.
Hai loại bột này được đem đi xác định độ nghiền ban đầu. Sau đó xác định chiều dài
xơ sợi và nghiền ở các độ nghiền khác nhau để nghiên cứu đặc tính của bột CTMP và
bột DIP. Để nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đến tính chất của
giấy in báo, bột CTMP và bột DIP được phối trộn ở các tỷ lệ khác nhau (100 : 0; 70 :
30; 50 : 50; 30 : 70; và 0 : 100). Các chất phụ gia khác được sử dụng ở mức cố định,
theo công thức phối chế của máy giấy số 3 của công ty cổ phần giấy Tân Mai. Cuối
cùng tất cả các mẫu bột được đem đi xeo handsheet để xác định các tính chất cơ lý của
bột.
Kết quả thí nghiệm cho thấy: Bột CTMP có chiều dài xơ sợi và độ trắng cao hơn
bột DIP
- Chiều dài đứt lớn nhất của bột CTMP là 4.462m ở độ nghiền 48 oSR,
- Chiều dài đứt lớn nhất của bột DIP là 3.703m ở độ nghiền 62 oSR.
- Độ chịu xé lớn nhất của bột CTMP đạt 34,77gf ở độ nghiền 32 oSR.
- Độ chịu xé lớn nhất của bột DIP đạt 31,94gf ở độ nghiền 47 oSR.
● Phối trộn bột CTMP và bột DIP với các tỷ lệ DIP/CTMP (%) lần lượt là (100/0,
70/30, 50/50, 37/70, 100/0). Thì giấy in báo có tính chất như:
- Chiều dài đứt đạt giá trị cao nhất là 3.742m khi tỷ lệ bột là 30% bột DIP và 70% bột
CTMP tại độ nghiền tương ứng là 62oSR và 48oSR.
- Độ chịu xé của giấy tại độ nghiền (DIP 47oSR và CTMP 32oSR) và tỷ lệ phối trộn là
30% DIP và 70% CTMP thì đạt giá trị cao nhất (41,86 gf)
- Độ thấm dầu của giấy tăng lên khi tăng thành phần bột DIP vào hỗn hợp nguyên liệu.
- Độ đục của giấy cũng tăng lên khi thành phần bột DIP tăng, ngược lại độ trắng của
giấy lại giảm khi tăng thêm bột DIP.
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang tựa........................................................................................................................i
Cảm tạ...........................................................................................................................ii
Tóm tắt........................................................................................................................ iii
Mục lục ........................................................................................................................iv
Danh sách các chữ viết tắt ..........................................................................................vii
Danh sách các hình ................................................................................................... viii
Danh sách các bảng .....................................................................................................ix
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU ..............................................................................................1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài..........................................................................................1
1.2 Mục đích đề tài .......................................................................................................2
1.3 Giới hạn đề tài ........................................................................................................2
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN ......................................................................................3
2.1 Tổng quan về công nghiệp giấy..............................................................................3
2.1.1 Tình hình công nghiệp giấy trên thế giới .........................................................3
2.1.2 Tình hình công nghiệp giấy ở Việt Nam ..........................................................5
2.1.2.1 Tình hình sản xuất ......................................................................................7
2.1.2.2 Tình hình xuất khẩu....................................................................................8
2.1.2.3 Tình hình nhập khẩu...................................................................................8
2.1.2.4 Tình hình tiêu dùng ....................................................................................9
2.1.3 Cơ hội, khó khăn của ngành giấy Việt Nam trong quá trình hội nhập...........10
2.1.3.1 Cơ hội .......................................................................................................10
2.1.3.2 Khó khăn ..................................................................................................10
2.1.3.3 Những hạn chế của ngành giấy Việt Nam hiện nay .................................11
2.1.4 Định hướng phát triển ngành giấy đến năm 2010 ..........................................11
2.1.4.1 Giải pháp đầu tư .......................................................................................11
2.1.4.2 Giải pháp nguyên liệu cho ngành giấy .....................................................12
2.1.4.3 Giải pháp ô nhiễm môi trường .................................................................12
2.1.4.4 Định hướng phát triển khoa học công nghệ ngành công nghiệp giấy đến
năm 2010 ....................................................................................................................13
iv
2.2 Tổng quan về giấy in báo ở Việt Nam .................................................................14
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ giấy in báo ở Việt Nam .....................................14
2.2.2 Nguyên liệu sản xuất giấy in báo ...................................................................15
2.2.2.1 Giới thiệu sơ lược về bột DIP...................................................................15
2.2.2.2 Giới thiệu sơ lược về bột CTMP ..............................................................19
2.2.2.3 Hóa chất sử dụng cho sản xuất giấy in báo ..............................................20
2.2.3 Tiêu chuẩn giấy in báo ...................................................................................23
2.2.4 Sơ đồ khối dây chuyền sản xuất giấy in báo ..................................................23
2.3 Tổng quan về quá trình nghiền.............................................................................25
2.3.1 Cơ sở lý thuyết quá trình nghiền ....................................................................25
2.3.2 Ảnh hưởng của quá trình nghiền lên tính chất của bột...................................26
CHƯƠNG 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................28
3.1 Nội dung nghiên cứu ............................................................................................28
3.2 Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................28
3.2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ...................................................................................29
3.2.2 Nguyên liệu sử dụng cho nghiên cứu .............................................................30
3.2.2.1 Các loại bột...............................................................................................30
3.2.2.2 Hóa chất....................................................................................................30
3.2.3 Tiến hành thí nghiệm......................................................................................30
3.2.3.1 Xác định nồng độ của mẫu bột .................................................................30
3.2.3.2 Xác định các đặc tính của bột...................................................................30
3.2.3.3 Tiến hành nghiền bột trên máy nghiền Hà Lan ........................................31
3.2.3.4 Xeo giấy để kiểm tra các chỉ tiêu cơ lý ....................................................32
3.2.4 Thiết bị sử dụng cho nghiên cứu ....................................................................32
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN...........................................................33
4.1 Đặc tính của bột.................................................................................................... 33
4.1.1 Chiều dài xơ sợi của bột ................................................................................. 33
4.1.2 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ kháng đứt của bột..................................... 33
4.1.3 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ chịu xé của bột…………………………. 34
4.1.4 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ đục của bột ............................................... 35
4.1.5 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ trắng của bột............................................. 36
v
4.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn và độ nghiền bột đến tính chất của giấy in báo... 37
4.2.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ và độ nghiền bột đến chiều dài đứt của giấy in báo ..... 37
4.2.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ và độ nghiền bột đến độ chịu xé của giấy in báo.......... 39
4.2.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ và độ nghiền bột đến độ thấm dầu của giấy in báo...... 40
4.2.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ và độ nghiền bột đến độ đục của giấy in báo................ 41
4.2.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ và độ nghiền bột đến độ trắng của giấy in báo ............. 42
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..........................................................43
5.1 Kết luận.................................................................................................................43
5.2 Kiến nghị ..............................................................................................................43
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................45
PHỤ LỤC ..................................................................................................................46
vi
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA …………..ASEAN Free Trade Area
APEC…………...Asia – Pacific Economic Co – operation
ASEAN……..… Association of South – East Asia Nations
CTMP…………. Chemo – Thermo – Mechanical
DAF…………… Dissolved Air Flotation
DIP……………. Deinking Pulp
C ……………….Nồng độ
IB 58………….. .Giấy in báo độ trắng 58 %ISO
IB 62 ……………Giấy in báo độ trắng 62 %ISO
IB 67……………Giấy in báo độ trắng 67 %ISO
ISO……………..International Standards Organization
KTĐ ……………Khô tuyệt đối
QTMĐ …………Quy trình máy đo
STT ……………Số thứ tự
VPPA ………….Vietnam Pulp and Paper Association
WTO………….. World Trade Organization
Mn ……………..Mẫu thứ n
Sn ………………Độ nghiền thứ n
CDĐ …………..Chiều dài đứt
ĐCX…………... Độ chịu xé
vii
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Sản xuất – tiêu dùng và nhập khẩu giấy in báo ở Việt Nam................. 2
Hình 2.1 Sản lượng giấy và bột giấy Châu Á từ năm 2004 – 2010 ..................... 6
Hình 2.2 Dự báo tình hình giấy ở Việt Nam từ năm 2007 – 2015....................... 8
Hình 2.3 Dự báo tình hình bột giấy ở Việt Nam từ năm 2007 – 2015 .............. 10
Hình 2.4 Xơ sợi bột trước và sau nghiền ........................................................... 26
Hình 2.5 Ảnh hưởng của quá trình nghiền đến lực liên kết giữa các xơ sợi...... 27
Hình 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm........................................................................ 29
Hình 4.1 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ kháng đứt của bột ......................... 33
Hình 4.2 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ chịu xé của bột.............................. 34
Hình 4.3 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ đục của bột.................................... 35
Hình 4.4 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ trắng của bột ................................. 36
Hình 4.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến chiều dài đứt của giấy in báo................ 38
Hình 4.6 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ chịu xé của giấy in báo .................... 39
Hình 4.7 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ thấm dầu của giấy in báo................. 40
Hình 4.8 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ đục của giấy in báo.......................... 41
Hình 4.9 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ trắng của giấy in báo ....................... 42
viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Công nghiệp giấy Châu Á từ năm 2004 – 2010.......................................... ..4
Bảng 2.2 Dự báo tình hình giấy ở Việt Nam.............................................................. ...7
Bảng 2.3 Dự báo tình hình bột giấy ở Việt Nam từ năm 2007 – 2015 ...................... ...9
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất - tiêu dùng, xuất nhập khẩu giấy in báo tại Việt Nam . .15
Bảng 2.5 Thành phần hoá học nguyên liệu gỗ keo lai .............................................. .19
Bảng 3.1 Hoá chất sử dụng cho sản xuất giấy in báo ................................................ .35
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ kháng đứt của bột………………………33
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ chịu xé của bột…………………………34
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ đục của bột……………………………..35
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của độ nghiền đến độ trắng của bột…………………………....36
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến chiều dài đứt của giấy in báo………………...37
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ chịu xé của giấy in báo…………………...39
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ thấm dầu của giấy in báo…………………40
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột đến độ đục của giấy in báo…………………….....41
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của tỷ lệ bột và độ nghiền đến độ trắng của giấy in báo……….42
ix
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo nguồn tin từ tổng công ty giấy Việt Nam, giấy in báo là tâm điểm xôn xao dư
luận trong những tháng đầu năm 2008. Giấy in báo có mức tăng trưởng nhập khẩu cao,
tăng tới 51% so với cùng kỳ năm 2007. Vì cả nước ta hiện nay chỉ có duy nhất nhà
máy giấy Tân Mai là sản xuất giấy in báo. Ở thời điểm này, có thể dự báo lượng tiêu
dùng giấy in báo ở Việt Nam năm 2008 ở con số khoảng 130.000 tấn/năm. Với việc
huy động thêm máy để sản xuất giấy in báo của công ty giấy Tân Mai, thì sản xuất
trong nước cũng chỉ mới đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu dùng (Hình 1.1). Hàng năm,
Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 65.000 tấn giấy in báo từ các nước lân cận như:
Indonesia, Malaysia, Nhật Bản, Trung Quốc,…Dự kiến đến năm 2020, nhu cầu giấy in
báo của Việt Nam vào khoảng 300.000 tấn/ năm.
200.000
180.000
Tổng sản lượng
(tấn)
160.000
140.000
120.000
Tiêu dùng
100.000
Sản xuất
80.000
Nhập khẩu
60.000
40.000
20.000
0
2007
2008
2009
Năm
2010
2015
Hình 1.1 Sản xuất – tiêu dùng và nhập khẩu giấy in báo ở Việt Nam
1
Hiện nay, các công ty giấy trong nước đang có một số dự án đầu tư mở rộng thêm
dây chuyền sản xuất giấy in báo, để đáp ứng cho thị trường trong nước và hướng tới
xuất khẩu. Nhưng để có thể cạnh tranh được với thị trường giấy trên thế giới, thì chất
lượng của sản phẩm giấy là một trong những vấn đề rất quan trọng. Muốn sản xuất
được một loại giấy có chất lượng tốt, cần phải xem xét rất nhiều yếu tố. Trong đó, các
loại bột dùng làm nguyên liệu là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng của giấy. Vì vậy, các nhà công nghệ giấy cần phải nắm bắt được các đặc tính
của từng loại bột dùng trong sản xuất, như vậy mới nâng cao được chất lượng của sản
phẩm giấy.
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự phân công của giáo viên hướng dẫn, tôi thực
hiện đề tài “Nghiên cứu đặc tính của bột CTMP và bột DIP, ảnh hưởng của nguyên
liệu đến chất lượng giấy in báo”.
1.2 Mục đích đề tài
- Nghiên cứu đặc tính của nguyên liệu chính dùng cho sản xuất giấy in báo, đó là
bột CTMP và bột DIP. Đồng thời khảo sát ảnh hưởng của độ nghiền đến tính chất của
hai loại bột trên.
- Đề tài cũng tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn và độ nghiền trong
công đoạn chuẩn bị bột đến chất lượng giấy in báo. Từ đó, đưa ra tỷ lệ phối chế
nguyên liệu hợp lý và độ nghiền thích hợp cho dây chuyền sản xuất giấy in báo.
1.3 Giới hạn đề tài
Để có được sản phẩm giấy in báo tốt, cần phải xem xét rất nhiều các yếu tố ảnh
hưởng đến chất lượng giấy như: quá trình nghiền, chất độn, gia keo chống thấm, quá
trình ép, quá trình sấy… nhưng vì thời gian có hạn nên đề tài chỉ tập trung vào việc
nghiên cứu theo những yêu cầu đã đề cập ở trên với công thức phối chế hoá chất và
phụ gia không đổi theo máy giấy số 3 của công ty cổ phần giấy Tân Mai.
2
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan về công nghiệp giấy
2.1.1 Tình hình công nghiệp giấy trên thế giới
Theo RISI Annual Review of Global Pulp & Paper Statistics 2008, sản xuất giấy và
bìa trên toàn cầu tiếp tục tăng trong năm 2007 và đạt trên 400 triệu tấn (năm 2006 là
382 triệu tấn). Sản xuất bột năm 2007 đạt 215 triệu tấn, tăng 1,9% so với 2006 (gần
190 triệu tấn). Tổng sản lượng bột giấy trên thế giới năm 2006 là 186.616 ngàn tấn và
năm 2007 là 190.465 ngàn tấn. Tổng sản lượng giấy các loại trên thế giới năm 2006 là
382.035 ngàn tấn và năm 2007 là 401.542 ngàn tấn.
Năm 2007, Mỹ vẫn là nước đứng đầu trong sản xuất giấy, sau đó vị trí thứ hai và
thứ ba là Trung Quốc và Nhật Bản. Trung Quốc tiếp tục củng cố vị trí là một quyền
lực trong công nghiệp giấy và bột giấy với chỉ số tăng trưởng cao nhất (18%). Trong
khi đó, ở Phần Lan và Canada sản lượng sản xuất lại giảm xuống do bãi công và đóng
cửa các cơ sở sản xuất. Riêng tại châu Á, sản lượng giấy năm 2007 đã tăng thêm 15
triệu tấn so với năm 2006.
Ngay cả Nhật Bản, một cường quốc sản xuất giấy của thế giới với tổng công suất
trên 30 triệu tấn/năm, do kinh tế suy thoái dẫn đến tiêu dùng giấy trong nước giảm liên
tục qua các năm 2000, 2001 và 2002. Mặc dù phải giảm sản lượng trên 3% mỗi năm,
kèm theo giảm giá các mặt hàng giấy, song ngành giấy Nhật Bản vẫn gặp rất nhiều
khó khăn. Vì vậy, các công ty giấy nước này một mặt phải hạn chế nhập khẩu bột giấy,
đồng thời tăng hệ số sản xuất giấy tái chế lên mức 62%. Mặt khác, họ đẩy mạnh xuất
khẩu giấy vào thị trường Đông Nam Á. Nhờ ưu thế công nghệ, chất lượng giá cả, năm
2001 nước này xuất khẩu 1,1 triệu tấn giấy và bìa sang các nước ASEAN, năm 2002
lên trên 1,5 triệu tấn (tăng 39%).
3
Tương tự là Đài Loan và Hàn Quốc. Một mặt Đài Loan tăng hệ số sử dụng giấy loại
trên mức 60%, mặt khác đẩy mạnh xuất khẩu giấy và bìa (tăng 18,8%). Song, các nhà
máy giấy của nước này vẫn phải cắt giảm sản lượng xuống tới 10,5% đối với giấy và
4,2% đối với bìa. Còn Hàn Quốc, có năng lực sản xuất 11,4 triệu tấn/năm, mặc dù tình
hình kinh tế khả quan hơn, tuy nhiên cũng chỉ huy động được 82% công suất các nhà
máy giấy.
Một số quốc gia Đông Nam Á đã nhanh chóng điều chỉnh chiến lược phát triển
ngành công nghiệp này. Philippines tăng sản lượng giấy lên 1,69 triệu tấn/năm và vượt
nhu cầu tiêu dùng trong nước khoảng 300.000 tấn (số dư thừa hướng vào xuất khẩu).
Indonesia là nước có sản lượng bột và giấy lớn nhất trong khu vực, đã chủ động thu
hút thêm 8 dự án đầu tư nước ngoài vào ngành giấy để vươn lên là một cường quốc
xuất khẩu mặt hàng này.
Bảng 2.1: Sản lượng giấy và bột giấy châu Á từ năm 2004 - 2010
Đơn vị: triệu tấn
Sản lượng
2004
2005
2006
2007
Giấy
111.055
115.970
117.940
Bột giấy
41.200
42.465
42.656
2008
2009
2010
123.220
130.800 136.480
138.770
44.145
46.070
47.750
47.490
(Nguồn VPPA, báo công nghiệp giấy, số 5/2008)
4
160.000
Tổng sản lượng
(tấn)
140.000
120.000
100.000
80.000
Giấy
60.000
Bột
40.000
20.000
0
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Năm
Hình 2.1: Sản lượng giấy và bột giấy Châu Á từ năm 2004 - 2005
2.1.2 Tình hình công nghiệp giấy ở Việt Nam
Ngành Công nghiệp Giấy Việt Nam là một ngành kinh tế khá quan trọng, phục vụ
trực tiếp cho sự phát triển văn hoá, giáo dục, công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nước.
Hiện nay, ngành giấy Việt Nam đang tập trung đầu tư phát triển về sản lượng và
chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm, từng bước vươn lên chiếm lĩnh thị trường, thay thế
dần hàng nhập khẩu bằng con đường ứng dụng công nghệ mới, đẩy mạnh sản xuất
kinh doanh, để từng bước hội nhập với thị trường AFTA, APEC và WTO, đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu, để ngày càng đóng góp có hiệu
quả cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì
nhu cầu sử dụng giấy ngày càng tăng cao. Theo nguồn tin từ hiệp hội giấy và bột giấy
Việt Nam cho biết, dự báo đến năm 2010 tiêu dùng giấy ở Việt Nam lên đến 2,9 triệu
tấn giấy và đến năm 2015 tiêu dùng tới 6 triệu tấn giấy, tăng so với năm 2008 (2,2
triệu tấn) lần lượt là 1,7 lần và 3,5 lần. Tuy nhiên, ngay từ cuối năm 2007, các nhà sản
xuất bao bì đã cho biết là thiếu giấy. Các tháng giữa năm 2008, các nhà in, sản xuất,
báo chí cũng thông báo thiếu giấy. Qua đó cho thấy việc tăng năng suất sản xuất giấy
trong nước đang là vấn đề cấp bách, đặc biệt là giấy in báo được liệt kê vào một trong
những mặt hàng nhạy cảm.
5
Tuy vậy, những tháng đầu năm 2008, kinh tế Việt Nam đã trải qua những khó khăn
gay gắt, nhất là ở thời điểm cuối quý II. Hiện tại, khó khăn còn nhiều nhưng mức độ
gay gắt đã giảm dần. Với nỗ lực không ngừng, vượt qua những thử thách dồn dập, các
doanh nghiệp giấy đã định hình được các biện pháp để duy trì, phát triển sản xuất.
Tổng quát, chúng ta nhận thấy những điểm nổi bật sau: Những đơn vị có sức cạnh
tranh cao, chất lượng sản phẩm tốt đều không đủ để cung cấp cho thị trường, ngược lại
các đơn vị có quy mô nhỏ, chất lượng sản phẩm thấp đều gặp khó khăn trong tiêu thụ.
Trong 20 năm qua, ngành giấy Việt Nam có tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng
15%, đưa công suất của toàn ngành lên 800.000 tấn/năm. Tuy nhiên, với cùng điểm
xuất phát ấy thì Indonesia đã đưa sản lượng lên gấp 10 lần Việt Nam, còn chỉ riêng đối
với mặt hàng giấy in báo thì công suất của Trung Quốc là 2,5 triệu tấn/năm (gấp 50 lần
Việt Nam). Với quy mô quá nhỏ bé này thì máy móc thiết bị lạc hậu, chi phí giá thành
cao, ô nhiễm môi trường rất nặng nề, hiệu quả thấp cùng với trình độ quản lý và điều
hành doanh nghiệp trong ngành còn nhiều hạn chế, bất cập thì khoảng cách về quy mô
sản xuất và trình độ công nghệ của Việt Nam đã xa dần so với các nước trong khu vực.
Sự tụt hậu này đã đặt ngành giấy Việt Nam vào vị thế cạnh tranh quá thấp khi bước
vào giai đoạn hội nhập.
Theo Hiệp hội giấy và bột giấy Việt Nam, định suất tiêu thụ giấy trên đầu người của
người Việt Nam hiện nay bình quân khoảng 21,08 kg/người/năm, dự kiến đến năm
2010 là 31 kg/người/năm. Tuy nhiên, mức tiêu thụ giấy bình quân của Thái Lan là
31kg/người/năm, Indonesia là 19,4kg/người/năm và Malaysia là 80,9 kg/người/năm.
Khả năng đáp ứng tiêu dùng trong nước của toàn ngành giấy là 61,92% và bột giấy là
37% nhu cầu, còn lại vẫn phải nhập khẩu.
Hiện nay, ngành Giấy Việt Nam có hơn 300 doanh nghiệp lớn nhỏ với quy mô bình
quân khoảng 3.000 tấn/năm/nhà máy. Trong đó có 46,4% doanh nghiệp có công suất
dưới 1.000 tấn, 42% doanh nghiệp có công suất từ 1.000 tấn đến 10.000 tấn/năm và
chỉ có 4 doanh nghiệp có công suất trên 50.000 tấn/năm.
6
Bảng 2.2: Dự báo tình hình giấy ở Việt Nam từ năm 2007 - 2015
Đơn vị: tấn
Năm
2007
2008
2009
2010
2015
Công suất
1.341.000
1.498.000
2.350.000
2.618.000
5.400.000
Sản lượng
1.120.000
1.311.600
1.988.000
2.415.000
5.000.000
Nhập khẩu
951.092
962.579
705.986
725.343
1.300.000
Xuất khẩu
191.500
Tiêu dùng
1.879.592
Tiêu dùng
22
(kg/người)
219.700
269.850
258.100
248.000
2.054.479
2.424.136
2.882.243
6.052.000
24
28
32
61
(Nguồn VPPA, báo công nghiệp giấy, số 9/2008)
6.000.000
Tổng sản lượng
(tấn)
5.000.000
4.000.000
Sản xuất
3.000.000
Nhập khẩu
Xuất khẩu
2.000.000
1.000.000
0
2007
2008
2009
2010
2015
Năm
Hình 2.2: Dự báo tình hình giấy ở Việt Nam năm 2007 - 2015
2.1.2.1 Tình hình sản xuất
Dù chi phí sản xuất không ngừng tăng và gặp nhiều khó khăn, sản xuất giấy vẫn
tăng trưởng với mức cao nhất trong 20 năm qua. So với năm ngoái, dự kiến sản xuất
7
đạt 1.328.000 tấn giấy, tăng 18% (mức tăng năm 2007 là 16,84%), trong đó giấy in
báo tăng 31%, giấy in - viết tăng 16% (năm 2007 là 9%) và giấy làm bao bì tăng
25,57% (năm 2007 là 27,45%).
Tuy nhiên, chủng loại giấy sản xuất trong nước vẫn rất nghèo nàn, chỉ có giấy in
báo, giấy in và giấy viết, giấy bao gói (không tráng), giấy lụa. Dù đã đầu tư tới
112.000 tấn/năm cho sản xuất giấy tráng, nhưng đến nay hầu như chỉ sản xuất giấy
không tráng. Năng lực sản xuất nội địa hiện nay đối với mặt hàng giấy carton, chỉ đáp
ứng được 51 % nhu cầu trong nước của mặt hàng này và đối với mặt hàng giấy vệ
sinh, thì sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 28% nhu cầu, riêng giấy tráng có sản
lượng rất thấp, chỉ đáp ứng được khoảng 8% nhu cầu.
2.1.2.2 Tình hình xuất khẩu
Cho dù sản xuất chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, nhưng Việt Nam
vẫn có một số loại giấy để xuất khẩu ra các nước khác. Dự báo xuất khẩu giấy năm
nay chỉ bằng 88% năm 2007, đạt 169.000 tấn do nhu cầu giấy trong nước tăng cao.
Năm 2008, Việt Nam chỉ xuất khẩu giấy vàng mã (chiếm 57%), giấy tissue 28%, còn
lại là giấy in - giấy viết. Năm 2008, xuất khẩu giấy in - giấy viết (văn phòng phẩm) chỉ
bằng 83% so với năm 2007. Hiện tại, ngành giấy đang cố gắng nâng cao hiệu quả sản
xuất để ngày càng có nhiều mặt hàng xuất khẩu hơn.
2.1.2.3 Tình hình nhập khẩu
Hiện nay, ngành giấy nước ta sản xuất chưa đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong
nước. Vì vậy, nước ta phải nhập khẩu một lượng lớn cả về bột giấy và giấy. Dự kiến
cả năm 2008 nước ta nhập 160.000 tấn bột, tăng 45% so với năm 2007 (110.000 tấn).
Dự kiến nhập khẩu giấy năm 2008 tăng 27% so với năm 2007 đạt 1.093.300 tấn, trong
đó nhập khẩu giấy in báo là 42.000 tấn (bằng 93% so với năm 2007), chiếm gần 4%
trong tổng lượng giấy nhập khẩu, giấy in - giấy viết là 110.000 tấn (10% trong tổng
lượng giấy nhập khẩu) và giấy làm bao bì công nghiệp là 797.364 tấn (bằng 73% tổng
lượng giấy nhập khẩu).
8
2.1.2.4 Tình hình tiêu dùng
Dự kiến cả năm 2008 lượng giấy tiêu dùng ở Việt Nam là 2.232.900 tấn, tăng 24%
so với năm 2007. Tiêu dùng giấy in báo đạt 114.000 tấn, tăng 15% so với năm 2007.
Tiêu dùng giấy in - giấy viết là 405.000 tấn, tăng 49% so với năm 2007. Tiêu dùng
giấy bao bì đạt 797.300 tấn, tăng 35% so với năm 2007. Bước sang năm 2008, ngành
giấy đã nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của thủ tướng chính phủ về việc không tăng giá
để chống lạm phát đến hết tháng 6 năm 2008. Làm giá giấy sản xuất trong nước thấp
hơn giá giấy nhập khẩu, gây ra cơn sốt giá nội, gây áp lực đối với ngành giấy về việc
đảm bảo cung cấp cho thị trường và về việc điều chỉnh giá bán trong nước. Nhất là đối
với giấy in báo, giấy in - giấy viết là những mặt hàng nhạy cảm.
Nhiều năm qua, tình hình cung cầu giấy ở Việt Nam ổn định. Tuy nhiên, đầu tư mới
hàng năm chỉ đáp ứng được phần gia tăng về nhu cầu, nên tỷ lệ đáp ứng nhu cầu của
thị trường vẫn không được cải thiện (60%). Dự đoán tới năm 2010, tiêu dùng giấy ở
Việt Nam lên đến 2,9 triệu tấn giấy và năm 2015 tiêu dùng tới 6 triệu tấn giấy, tăng so
với năm 2007 (1,8 triệu tấn) lần lượt là 1,6 lần và 3,35 lần. Tiêu dùng tính theo đầu
người (kg/người/năm) là 32kg và 60 kg.
Bảng 2.3: Dự báo tình hình bột giấy ở Việt Nam năm 2007 – 2015
Đơn vị: tấn
Bột
2007
2008
2009
2010
2015
Công suất
365.000
965.000
1.065.000
2.030.000
3.150.000
Sản xuất
299.100
465.000
875.000
1.867.000
2.975.000
Nhập khẩu
110.039
68.000
31.000
54.000
36.000
Xuất khẩu
-
20.000
137.000
1.042.000
1.359.000
Tiêu dùng
402.290
498.000
769.000
879.000
1.652.000
(Nguồn tin: VPPA, báo công nghiệp giấy, số 10/2008)
9
Tổng sản lượng
(tấn)
3.500.000
3.000.000
2.500.000
2.000.000
Sản xuất
Nhập khẩu
1.500.000
1.000.000
500.000
0
Xuất khẩu
2007 2008 2009 2010 2015
Năm
Hình 2.3: Dự báo tình hình bột giấy ở Việt Nam năm 2007 - 2015
2.1.3 Cơ hội - khó khăn của ngành giấy Việt Nam trong quá trình hội nhập
2.1.3.1 Cơ hội
Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng với lực lượng lao động dồi dào (hơn 80
triệu dân) và chi phí lao động thấp. Theo dự báo, mức tiêu thụ giấy bình quân đầu
người/năm của Việt Nam năm 2010 và 2015 ước đạt 32 kg và 61 kg. Đây cũng là cơ
hội để thu hút nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp ngoài nước.
Ngoài ra, các doanh nghiệp giấy của Việt Nam có thể thâm nhập và mở rộng thị
trường ở các nước láng giềng như Lào và Campuchia,…
2.1.3.2 Khó khăn
Ngành giấy Việt Nam là một trong những ngành được bảo hộ đầu tiên chịu áp lực
cạnh tranh lớn khi bước vào hội nhập. Thực tế cho thấy, hơn một tuần sau khi áp dụng
mức thuế mới theo AFTA, khoảng cách về giá giữa giấy nội và giấy ngoại đã kéo dài
hơn.
Cụ thể là trong các mặt hàng giấy đang được sản xuất trong nước hiện nay, hai loại
giấy in và giấy viết từ nhiều năm nay luôn được bảo hộ với mức thuế nhập khẩu khá
cao (50%) làm cho giấy ngoại có chất lượng khá cao cũng khó có thể cạnh tranh. Tuy
nhiên, về sau mức thuế nhập khẩu sẽ giảm xuống dần và đến giá trị bằng 0% thì cuộc
cạnh tranh giữa giấy nhập khẩu và giấy sản xuất trong nước sẽ càng trở nên khốc liệt.
10
Bất lợi trong cạnh tranh của các nhà máy giấy hiện nay là lâm vào tình trạng thiếu
bột giấy nghiêm trọng. Các nhà máy giấy phụ thuộc quá nhiều vào nguồn bột giấy
nhập khẩu. Mỗi năm, Việt Nam phải nhập khẩu bình quân 130.000 - 150.000 tấn bột
giấy, trong khi đó, giá nguyên liệu bột giấy tăng liên tục.
2.1.3.3 Những hạn chế của ngành giấy Việt Nam hiện nay
Công nghệ sản xuất giấy của Việt Nam thuộc loại lạc hậu. Công ty giấy Bãi Bằng
và Tân Mai có công nghệ hiện đại và quy mô lớn nhất Việt Nam nhưng cũng là thiết bị
thuộc thế hệ những năm 1970 – 1980.
Chất lượng sản phẩm thấp, chỉ có một vài nhà máy lớn đảm bảo các chỉ tiêu chất
lượng tương đương giấy ngoại. Tổng Công ty Giấy Việt Nam chỉ có Công ty Giấy Bãi
Bằng và Công ty Giấy Tân Mai là đạt chứng chỉ ISO 9002.
Khó khăn lớn của ngành giấy Việt Nam là thiếu vốn. Tổng tài sản lưu động của
Tổng công ty giấy Việt Nam ước đạt 1.600 tỷ đồng, trong khi đó, riêng nhu cầu về vốn
cho các dự án đầu tư mới đã lên đến 37.500 tỷ đồng. Thiếu vốn dẫn đến khó khăn
trong việc đầu tư các thiết bị, công nghệ hiện đại. Điều này dẫn đến chất lượng sản
phẩm và năng suất lao động thấp, hao phí nguyên nhiên vật liệu ở mức cao.
Hầu hết, hệ thống thiết bị và công nghệ của các cơ sở sản xuất giấy của Việt Nam
không đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường, thậm chí có một số cơ sở sản xuất
nhỏ không có hệ thống xử lý nước thải.
2.1.4 Định hướng phát triển ngành giấy đến năm 2010
2.1.4.1 Giải pháp đầu tư
Sản lượng giấy năm 2010 tăng lên 1,32 lần so với quy hoạch theo quyết định số
160/1998 là 1.050.000 tấn/năm, sẽ đạt ở mức 1.380.000 tấn/năm.
Đổi mới thiết bị, hiện đại hóa công nghiệp, đầu tư chiều sâu và mở rộng hài hòa với
đầu tư xây dựng mới.
Tổng công suất thiết kế các nhà máy bột giấy đến 2010 đã được hoạch định tăng lên
13,5% từ 1.015.000 tấn/năm lên 1.192.830 tấn/năm.
11
Tổng công suất các nhà máy giấy cũng tăng lên khá cao từ 1.050.000 tấn/năm tăng
lên 1.976.550 tấn/năm.
2.1.4.2 Giải pháp nguyên liệu cho ngành giấy
Đối với các nhà máy đã có sẵn vùng nguyên liệu thì việc quy hoạch lại đất, nâng
cấp nhằm đảm bảo đủ nguyên liệu cho nhà máy hoạt động.
Những nhà máy mới xây dựng cần quy hoạch vùng nguyên liệu tại chỗ cho nhà máy
như: nhà máy bột giấy Kon Tum có quy hoạch trồng rừng 120.000 ha bạch đàn, keo tai
tượng, thông, keo lai,…và rừng tự nhiên hỗ trợ (lồ ô, tre, nứa). Nhà máy giấy Thanh
Hóa 60.000 tấn giấy và 50.000 tấn bột giấy có quy hoạch 65 – 70 ngàn ha rừng trồng
(luồng, tre, nứa).
Xây dựng một số nhà máy bột giấy ở khu vực khác như miền Trung, miền Đông
Nam bộ, gắn liền với vùng nguyên liệu giấy trong chương trình 5 triệu ha rừng của
chính phủ để cung cấp bột cho các nhà máy trong toàn quốc không có điều kiện phát
triển bột giấy (vì ô nhiễm môi trường).
Để đảm bảo cân bằng sinh thái, giảm bớt rừng bị khai thác. Ngành công nghiệp giấy
cũng có phương án nhập giấy phế liệu về, tái chế lại bột giấy đưa vào sản xuất (công ty
giấy Tân Mai, công ty giấy Việt Trì). Ngoài ra, khối công nghiệp giấy địa phương tận
dụng giấy phế liệu, phế liệu trong nông nghiệp như bã mía, rơm rạ tại địa phương.
Hầu hết nguyên nhiên vật liệu khác đều được sử dụng từ nguồn cung cấp trong
nước là chính.
2.1.4.3 Giải pháp ô nhiễm môi trường
Theo đánh giá của ban chỉ đạo quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường, Bộ Tài
nguyên và Môi trường cho biết: ngành giấy là một trong những lĩnh vực gây nhiều ô
nhiễm nhất trong quá trình phát triển.
Công nghệ sản xuất giấy ở Việt Nam còn rất lạc hậu. Để sản xuất ra một tấn giấy
thành phẩm, các nhà máy phải sử dụng từ 30 - 100 m3 nước, trong khi các nhà máy
giấy hiện đại của thế giới chỉ sử dụng 7 - 15 m3/tấn giấy. Sự lạc hậu này không chỉ gây
lãng phí nguồn nước ngọt, tăng chi phí xử lý nước thải mà còn đưa ra sông, rạch lượng
nước thải khổng lồ. Theo thống kê, cả nước có gần 500 doanh nghiệp sản xuất giấy,
12
trong đó chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép, còn
hầu hết các nhà máy đều không có hệ thống xử lý nước thải hoặc có nhưng chưa đạt
yêu cầu, vì thế tình trạng gây ô nhiễm môi trường do sản xuất giấy cũng đang là vấn
đề được nhiều người quan tâm.
Vì thế, phát triển công nghiệp giấy phải luôn gắn liền với việc chống ô nhiễm môi
trường. Các dự án mới đầu tư đều phải có thiết bị công nghệ xử lý môi trường. Các
nhà máy cũ cần tìm biện pháp giảm thiểu ô nhiễm bằng cách đầu tư hệ thống xử lý
nước thải, khí thải, chất thải rắn,…Trường hợp đầu tư không hiệu quả thì ngừng sản
xuất bộ phận gây ô nhiễm nặng (Việt Trì bỏ nấu bột giấy, Đồng Nai đã lắp hệ thống
thu hồi kiềm và xử lý nước thải).
2.1.4.4 Định hướng phát triển khoa học công nghệ ngành công nghiệp giấy đến
năm 2010
Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thích hợp, đầu tư vùng nguyên liệu phục vụ quy
hoạch xây dựng nhà máy giấy và bột giấy.
Ứng dụng và phát triển công nghệ sunphát mới, công nghệ nấu polysunphat, nấu
liên tục cải tiến, nấu gián đoạn superbatch, giảm tải quá trình tẩy trắng, giảm thiểu chất
thải.
Hoàn thiện và phát triển công nghệ bột hóa nhiệt cơ (CTMP), đa dạng hóa nguyên
liệu sử dụng, giảm thiểu ô nhiễm.
Loại bỏ dần công nghệ tẩy trắng có sử dụng clo, tiến tới công nghệ tẩy trắng hoàn
toàn không sử dụng clo, giảm ô nhiễm môi trường.
Phát triển công nghệ sản xuất từ giấy phế thải, giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm
nguồn lực tài nguyên, giảm thiểu chất thải, bảo vệ môi trường.
Đa dạng hóa các loại sản phẩm giấy, nghiên cứu ứng dụng công nghệ sản xuất các
mặt hàng mới thay thế cho các mặt hàng nhập khẩu như các loại giấy lọc, giấy cách
nhiệt, các loại giấy in đặc biệt.
Ứng dụng và phát triển công nghệ sinh học bảo quản nguyên liệu sản xuất bột giấy
và xử lý nước thải nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.
13
Ứng dụng công nghệ xử lý chất thải, xác lập giải pháp giảm thiểu và loại trừ ô
nhiễm môi trường sinh thái, kiểm soát và quản lý ô nhiễm trong quá trình sản xuất.
Phát triển ứng dụng công nghiệp chất độn, phụ gia, tiết kiệm năng lượng, nâng cao
chất lượng và sản lượng.
Ứng dụng công nghệ xeo hiện đại, tăng tốc độ, nâng cao hiệu suất vật tư thiết bị.
Thiết lập và nâng cao chất lượng hệ thống phòng thí nghiệm, đảm nhiệm việc thử
nghiệm, kiểm định tính chất của bột và giấy theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO 9002).
Tự động hóa quá trình công nghệ và vận hành, kiểm soát chất lượng và môi trường,
điều hành và quản lý sản xuất.
Phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu triển
khai công nghệ, xây dựng đội ngũ chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học chuyên
ngành, ứng dụng công nghệ mới và tư vấn đầu tư phát triển.
2.2 Tổng quan về giấy in báo ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ giấy in báo ở Việt Nam
Theo tổng công ty giấy Việt Nam, giấy in báo có mức tăng trưởng nhập khẩu cao,
tăng tới 51% so với cùng kỳ năm 2007. Vì cả nước ta hiện nay chỉ có duy nhất nhà
máy giấy Tân Mai là sản xuất giấy in báo. Ở thời điểm này, có thể dự báo lượng tiêu
dùng giấy in báo ở Việt Nam năm 2008 ở con số khoảng 130.000 tấn/năm. Với việc
huy động thêm máy để sản xuất giấy in báo của công ty giấy Tân Mai, thì sản xuất
trong nước sẽ đáp ứng 50% nhu cầu tiêu dùng, và lượng nhập khẩu cả năm sẽ dừng ở
quanh con số 65.000 tấn/năm. Công ty giấy Tân Mai, công ty cung cấp giấy in báo lớn
nhất nước hiện nay đã thông báo tăng giá giấy từ ngày 28 tháng 6 năm 2008 và các
công ty giấy đồng loạt tăng giá thêm từ 6 - 21% kể từ ngày 30/6/2008. Hiện tại, giá
giấy in báo nhập về Việt Nam đạt mức 800 USD/tấn và sẽ tiếp tục tăng do nguồn cung
tại Châu Á bị hạn chế. Giá giấy in báo nhập về Việt Nam có thể đạt mức 820 - 850
USD/tấn trong những tháng cuối năm 2008, mức giá cao nhất từ trước đến nay.
Năm 2009, nước ta sẽ có thêm 50.000 tấn công suất giấy in báo mới của công ty cổ
phần giấy Bãi Bằng và đến năm 2010 lại có thêm 150.000 tấn công suất giấy in báo
14
mới của công ty cổ phần giấy Tân Mai. Lúc đó, tổng công suất giấy in báo của Việt
Nam sẽ là 250.000 tấn/năm.
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất - tiêu dùng, xuất - nhập khẩu giấy in báo tại Việt Nam.
Đơn vị: tấn
Năm
2007
2008
2009
2010
2015
Năng lực
58.000
58.000
58.000
58000
200.000
Tiêu dùng
99.468
106.462
114.136
122.883
180.000
Sản xuất
55.000
55.000
55.000
55.000
190.000
Nhập khẩu
44.968
52.162
59.986
68.983
20.000
Xuất khẩu
500
700
850
1.100
30.000
(Vũ Ngọc Bảo, báo công nghiệp giấy, số 7/2008)
2.2.2. Nguyên liệu sản xuất giấy in báo
Trong công nghệ sản xuất giấy, có nhiều loại bột giấy khác nhau để ứng dụng sản
xuất các loại giấy khác nhau. Tính chất của giấy phụ thuộc nhiều vào bản chất của vật
liệu xơ sợi dùng làm ra nó. Có nhiều cách chọn sự phối trộn các loại xơ sợi khác nhau
để sản xuất ra cùng một loại giấy. Để sản xuất giấy in báo có thể sử dụng thành phần
chính là bột gỗ mài có bổ sung thêm một tỷ lệ nhỏ bột hóa để làm tăng độ bền cho giấy
khi xeo và khi in, hoặc có thể sử dụng thành phần chính là bột giấy tái sinh (DIP) từ
các loại giấy báo, tạp chí…có bổ sung thêm một lượng nhỏ bột hoá nhiệt cơ (CTMP).
2.2.2.1 Giới thiệu sơ lược về bột DIP
Bột DIP là loại bột giấy được sản xuất từ nguyên liệu giấy thu hồi như: giấy báo cũ,
tạp chí, sách vở học sinh, giấy văn phòng... Mục đích là chế biến giấy đã qua sử dụng
để có thể sử dụng nó như một nguyên liệu chính làm giấy. Tức là tách thành phần xơ
sợi và phi xơ sợi riêng biệt nhau bằng tác nhân cơ học và hoá học. Ví dụ như loại rác khử mực ra khỏi hỗn hợp bột. Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp khử mực đó
là phương pháp rửa và phương pháp tuyển nổi. Giấy thu hồi giữ một vai trò rất quan
trọng, nó được xem như là nguồn nguyên liệu thay thế cho ngành giấy. Việc sử dụng
15