PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
TẠI TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM (VNPT).
Trong xu thế hội nhập quốc tế, cuộc cạnh tranh của các công ty Việt ngày càng
khốc liệt và khó khăn hơn. Các doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh với các công ty
trong nước, mà khó khăn hơn là phải cạnh tranh với nhiều công ty nước ngoài có kinh
nghiệm hơn trong kinh tế thị trường. Để có thể cạnh tranh thành công, việc đầu tư vào
công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là điều tất yếu.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đầu tư này, nhiều công ty nhà nước đã chú
trọng vào công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên phương pháp thực
hiện công tác này còn có nhiều bất cập do nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên
nhân cơ bản nhất là nhiều công ty chưa có phương pháp làm công việc này một cách bài
bản, hệ thống như thiếu một tầm nhìn dài hạn xuyên suốt các hoạt động khác nhau, thiếu
hoạch định kế hoạch, thiếu sự đồng bộ giữa các hoạt đông khác nhau...Những vấn đề này
được đưa ra bàn luận nhằm góp phần tìm ra nguyên nhân làm các công ty đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực của mình chưa chuyên nghiệp và hiệu quả.
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, cuộc cạnh tranh giữa các
nước và các công ty ngày càng khốc liệt. Cuộc cạnh tranh đó thể hiện trên tất cả các mặt:
công nghệ, quản lý, tài chính, chất lượng, giá cả, v.v... Nhưng trên hết, yếu tố đứng đằng
sau mọi cuộc cạnh tranh là con người. Thực tế đã chỉ ra rằng đối thủ cạnh tranh đều có
thể copy mọi bí quyết của công ty về sản phẩm, công nghệ, v.v... Duy chỉ có đầu tư vào
yếu tố con người là ngăn chặn được đối thủ cạnh tranh sao chép bí quyết của mình. Do
có tính thực tiễn, nên vấn đề nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân
lực là đề tài luôn nóng hổi trên diễn đàn thông tin và nghiên cứu quốc tế.
Ở Việt nam, nghị quyết của Đảng cũng chỉ ra rằng Việt nam chỉ có thể đi tắt đón
đầu sự phát triển trên thế giới bằng cách đầu tư vào yếu tố con người. Điều này cũng
đuợc thể hiện rất rõ trong luật giáo dục của nước ta. Nhà nước đã chú trọng vào việc
phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Do vậy, vấn đề phát triển nguồn nhân lực là một
trong những vấn đề mấu chốt của nước nhà.
So với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, các công ty Việt nam chưa có
nhiều kinh nghiệm trong quản lý và kinh doanh, lại càng ít kinh nghiệm trong việc phát
triển nguồn nhân lực. Trong nhiều năm, chúng ta hoạt động trong nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung, vai trò của thị trường chịu ảnh hưởng nặng nề của các chính sách và biện
pháp điều tiết của nhà nước. Các doanh nghiệp Việt nam, nhất là các doanh nghiệp nhà
nước đã quen với sự áp đặt và kế hoạch của nhà nước, hoạt động thiếu chủ động. Thói
quen đó đã trở thành nét văn hoá của các công ty nhà nước, và vẫn in đậm dấu ấn kể cả
ngày nay, khi các doanh nghiệp nhà nước đã phải cạnh tranh hơn trước rất nhiều, cả
trong nước và ngoài nước.
Do vậy, việc đào tạo và phát triển đội ngũ lao động nói chung, và đội ngũ lao động
trong các doanh nghiệp nhà nước của Việt nam nói riêng lại càng được đặt ra cấp thiết
hơn lúc nào hết, nhất là trong điều kiện Việt nam đang hội nhập ASEAN, BAT và WTO.
Muốn nhanh chóng đào tạo và phát triển được nguồn nhân lực tốt thì phải hiểu rõ những
vấn để chúng ta đang gặp phải trong công tác này.
Ở các doanh nghiệp nhà nước, nhận định chung nhất là mặc dù tất cả các doanh
nghiệp đó đều nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực (NNL), nhưng công tác tổ chức tiến hành hoạt động này mới chỉ dừng lại ở cấp
độ thứ hai hoặc dưới thứ 3 theo mô hình của Ashridge, trong đó cấp độ 1 là tổ chức đào
tạo manh mún, tự phát, cấp độ 2 là có tổ chức chính thức, nhưng nhu cầu của cá nhân
vẫn đóng vai trò quan trọng, cấp độ 3 là tổ chức có trọng điểm, nơi nhu cầu của tổ chức
có vai trò quyết định nhưng chưa đóng vai trò chiến lược, và cấp độ 4 là tổ chức kết hợp
đầy đủ, nơi công tác đào tạo và bồi dưỡng nhân viên đóng vai trò chiến lược. Trong khi
ở nhiều nước phát triển, có nhiều công ty và tổ chức đã ở cấp độ 3 hoặc 4.
Nhân lực là yếu tố then chốt đối với sự phát triển của mỗi tổ chức và mỗi doanh
nghiệp. Vì vậy, các tổ chức, doanh nghiệp không tiếc công sức đầu tư cho công tác đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực với mong muốn xây dựng được đội ngũ nhân sự trình
độ cao. Trong quá trình hội nhập và phát triển của nền kinh tế, công tác quản lý nguồn
nhân lực và đảm bảo các chế độ đối với người lao động ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong quá trình hình thành và phát triển tổ chức, doanh nghiệp. Quản trị nhân sự và
thực hiện tốt pháp luật lao động được xem là giải pháp hữu dụng có khả năng giải quyết
hiệu quả phần lớn những vấn đề liên quan tới công tác quản lý nguồn nhân lực trong
doanh nghiệp, đào tạo quản trị nhân sự tốt sẽ giúp đưa mục tiêu và lợi ích của người lao
động trùng với mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp, từ đó khích lệ người lao động gắn
bó với doanh nghiệp hơn.
Việc phát triển nguồn nhân lực rất đựơc rất nhiều giới, ngành, các nhà chính trị,
kinh doanh, nghiên cứu, và giáo dục quan tâm trong thời gian gần đây. Điểm trung tâm
của những nỗ lực phát triển nguồn nhân lực được mọi người nhất trí và chú trọng tập
trung vào 2 chủ đề chính là “ Học tập, nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm
vụ” (Weinberger 1998). Bằng việc chú trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả
thực hiện nhiệm vụ, tiếp cận dựa trên năng lực là rất phổ biến trên toàn thế giới. Tiếp cận
năng lực được hình thành và phát triển rộng khắp tại Mỹ vào những năm 1970 trong
phong trào đào tạo và giáo dục, các tiếp cận về năng lực đã phát triển một cách mạnh mẽ
trên một nấc thang mới trong những năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm cỡ quốc
gia ở Mỹ, Anh, Úc, NewZealand…
Trong nội dung bài viết này, Học viên xin được giới thiệu và phân tích hoạt
động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt
Nam (VNPT).
I. Sơ lược về Tập đoàn VNPT.
- Tập đoàn VNPT được hình thành từ năm 1995 (trước đây là Tổng Công ty Bưu
chính Viễn thông Việt Nam) trên cơ sở tách ra khỏi chức năng quản lý nhà nước từ Tổng
cục Bưu điện. Trên thực tế Tập đoàn VNPT kế thừa, phát triển lĩnh vực bưu chính, viễn
thông bắt đầu từ năm 1945. Cho đến năm 1995 mô hình kinh doanh của Tập đoàn được
tách độc lập ra để tập trung vào hoạt động sản xuất, kinh doanh phát triển bưu chính,
viễn thông và CNTT.
- Tháng 3/2006, VNPT chính thức công bố Quyết định của Thủ tướng chính phủ
về việc thành lập Tập đoàn BCVTVN. Ngày 17/11/1006 Thủ tướng chính phủ ký Quyết
định số 265/2006/QĐ-TTg phê duyệt điều lệ tổ chức và và hoạt động của Tập đoàn
BCVTVN. Tập đoàn VNPT, nhà khai thác đồng thời là nhà sản xuất thiết bị lớn nhất,
doanh nghiệp chủ lực của Nhà nước trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông và CNTT.
VNPT hoạt động kinh doanh đa nghành nghề cả trong nước và quốc tế, trong đó nòng
cốt là bưu chính, viễn thông và CNTT - bên cạnh lĩnh vực kinh doanh nòng cốt này,
VNPT còn kinh doanh các lĩnh vực khác như tài chính, tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm,
du lịch, dịch vụ quảng cáo, kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng…
- Tổ chức các đơn vị của Tập đoàn có: 108 công ty thành viên thành viên trực
thuộc Tập đoàn, 36 công ty cổ phần Tập đoàn chi phối, 30 công ty Tập đoàn liên doanh
với nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, ngoài ra còn có các chi nhánh đang hoạt động
kinh doanh và tiếp tục triển khai tại Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, châu Phi, Nam Mỹ và
Đông Nam Á.
- Với tổng số lao động: 95.000 người;
- Năm 2008, doanh thu phát sinh đạt 60.600 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách 7.668
tỷ, năng suất lao động/người đạt 637 triệu đồng.
- Năm 2009, doanh thu phát sinh đạt 78.600 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách 8.350
tỷ, năng suất lao động/người đạt 818 triệu đồng.
- Năm 2010, doanh thu phát sinh đạt 101.569 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách 8.390
tỷ.
- Tổng số thuê bao trên mạng hiện có: 83.828.437
- VNPT có gần 35.000 điểm giao dịch cung cấp các dịch vụ bưu chính, viễn thông
, CNTT đã đáp ứng với nhu cầu phát triển của thị trường; VNPT đã tăng cường năng lực
theo định hướng đẩy mạnh ứng dụng mạng thế hệ mới NGN trên tất cả các lĩnh vực viễn
thông quốc tế, nội tỉnh, liên tỉnh, thông tin di động để tạo nên một mạng lưới tổng thể có
khả năng cung cấp đa loại hình dịch vụ. nghiên cứu phát triển mạng thế hệ sau (NGN),
mạng thông tin di động thế hệ mới (3G), nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ,
dịch vụ mạng IP, nghiên cứu phát triển các sản phẩm phần mềm cho dịch vụ và quản lý,
nghiên cứu phát triển các sản phẩm công nghiệp BCVT với hàm lượng công nghệ cao,
nâng cao chất lượng mạng lưới và phát triển dịch vụ Bưu chính, Viễn thông, nghiên cứu
các vấn đề về quản lý và kinh tế, nâng cao chất lượng đào tạo, tiêu chuẩn hoá và hiện đại
hoá mạng ngoại vi.
- Hiện nay VNPT có 01 vệ tinh riêng, và đang chuẩn bị sản xuất phóng vệ tinh thứ 2.
II. Hoạt động Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại VNPT.
Là một lĩnh vực hoạt động kinh doanh đa nghành nghề cả trong nước và quốc tế,
trong đó nòng cốt là bưu chính, viễn thông và CNTT và luôn phải đón đầu xu thế tích
hợp công nghệ, do vậy VNPT luôn chú trọng và đẩy mạnh hoạt động Đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực tại Tập đoàn, trên cơ sở đó nhằm nâng cao năng lực và sức cạnh
tranh trong môi trương hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể:
1. Đào tạo:
- Việc đào tạo kỹ năng quản lý Lãnh đạo, với VNPT luôn xác định mối khi công
nghệ có xu hướng tích hợp, hoặc công nghệ mới, công nghệ phục vụ cho các hoạt động
giá trị gia tăng trong tất cả các lĩnh vực được Chính phủ cho phép, thì VNPT đã luôn
nhạy bén để đón đầu, nhằm đưa hoạt động sản xuất kinh doanh đáp ứng được yêu cầu
đòi hỏi của xã hội, khách hàng... Một trong các ưu tiên hiện nay của Tập đoàn tập trung
vào lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo chuyên môn để
phát triển nguồn nhân lực, như sau:
a. Đối tượng đào tạo để phát triển nguồn nhân lực.
- Đào tạo cán bộ thuộc Ban Lãnh đạo Tập đoàn Hội đồng Quản trị, Ban Tổng
Giám đốc (BOD, CEO).
- Đào tạo Lãnh đạo và chuyên viên thuộc các Ban có chức năng quản lý thuộc Tập
đoàn (cán bộ cấp trung).
- Đào tạo người đứng đầu (giám đốc) các đơn vị thành viên.
- Đào tạo cán bộ cấp trung, người tham gia lao động trực tiếp thuộc đơn vị thành
viên.
- Đào tạo đội ngũ cộng tác viên để phát triển sản phẩm, dịch vụ và dịch vụ sau
bán hàng.
b. Hình thức đào tạo: tập trung một thời gian nhất định (ngắn hạn, dài hạn), trong
nước hoặc nước ngoài, trong đó xác định đào tạo từ đầu và đào tạo nâng cao, từ xa (Hội
nghị truyền hình), tổ chức các hội thảo, hội nghị tập huấn để triển khai kế hoạch hành
động; hoặc bằng hình thức tham quan, trao đổi kinh nghiệm với các Tập đoàn quốc gia
của những nơi, mà ở đó nền công nghệ BCVT-CNTT phát triển gồm trong nước và nước
ngoài... hoặc đào tạo thông qua các dự án.
2. Nội dung lĩnh vực ưu tiên cần đào tạo:
- Những nội dung lĩnh vực ưu tiên cần đào tạo, VNPT đã ban hành một bộ các
quy định của hoạt động đào tạo, nhằm xác định được được yêu cầu đào tạo cái gì, cho ai,
nhiệm vụ sau khi được đào tạo... Bộ các quy định này là hành lang pháp lý giúp cho việc
phân quyền cấp cử lãnh đạo,chuyên viên đi đào tạo và quyền lợi cũng như là nghĩa vụ
được đào tạo.
- Tính trung bình từng cấp thuộc Tập đoàn đi đào tao, về kinh phí: (nguồn: Tập
đoàn, dự án BCC, các gói đào tạo do nước ngoài giúp đỡ..) lãnh đạo cấp cao theo nhu
cầu thực tế để đào tạo; còn các chuyên viên khác, chi phí trung bình 550 usd/người/năm
- phụ thuộc vào nhu cầu thực tế của từng công ty thành viên, nếu vượt quá quy định
chung thì báo cáo Tập đoàn xem xét, quyết định.
2.1. Đào tạo về kỹ năng quản lý Lãnh đạo.
- Đối với việc phát triển công nghệ trong các lĩnh vực hoạt động của VNPT có xu
thế thay đổi có tính chất ảnh hưởng toàn diện của Tập đoàn, thì Hội đồng Quản trị, Ban
Tổng Giám đốc được đào tạo cập nhật thông tin đầu tiên để xem xét và duy trì định
hướng Tập đoàn trong tương lai. Việc đào tạo này có thể là ngắn hạn, hoặc bằng hình
thức tham quan, trao đổi kinh nghiệm với các Tập đoàn quốc gia của những nước có nền
công nghệ BCVT - CNTT phát triển tại nước ngoài hoặc mời đối tác đến thăm quan tìm
hiểu và có những nhận xét đóng góp cho hoạt động quản lý của Tập đoàn. Hoặc đào tạo
tại Việt Nam, trên cơ sở thuê các chuyên gia tư vấn trên từng lĩnh vực cụ thể và có thuê
cơ quan giám sát, phản biện về chất lượng, khả năng thực tiến của hoạt động tư vấn. Bên
cạnh, một vấn đề VNPT luôn quan tâm và chú trọng và rất cần thiết có sự tham gia của
các chuyên gia trong nước - họ hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau - họ là những chuyên
gia đầu đàn, chuyên gia nhiều kinh nghiệm, chuyên gia đã được đào tạo nâng cao tại
nước ngoài, họ đến từ các học viện, nhà trường, cơ sở nghiên cứu, các cơ quan quản lý
nhà nước, các Tập đoàn...
- Sau mỗi lần nghiên cứu và được đạo tạo lĩnh hội được chuyên môn kinh nghiệm,
kỹ năng trong quản lý, Ban Lãnh đạo lại họp và thông báo về những kiến thức chuyên
môn với nhau có thể đưa ra giải pháp quản lý mới cho phù hợp với thực trạng hiện tại
của Tập đoàn - mỗi khi một giải pháp đưa ra là áp dụng thực hiện trong toàn Tập đoàn.
2.2. Đào tạo về quản trị kinh doanh chuyên sâu.
- Trước đổi mới của Việt Nam, VNPT hoạt động sản xuất kinh doanh mang nhiều
tính phục vụ hơn (phục vụ cơ quan, tổ chức của Nhà nước...) và không đậm chất kinh
doanh; sau chuyển đổi theo kinh tế thị trường đòi hỏi các kỹ năng phục vụ, bán hàng và
tiếp thị đã đẩy mạnh và trở thành hoạt động trọng tâm trong quá trình đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực và là sự tồn tại của Tập đoàn.
Trong quá trình Hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, VNPT
nhận thấy bên cạnh việc áp dụng công nghệ kỹ thuật cao, việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ
chất lượng cao là rất quan trọng, và câu hỏi đặt ra là sản phẩm, dịch vụ đó bán cho ai và
như thế nào... Nhận thức được điều đó VNPT đã tập không ngừng tập trung vào việc đào
tạo tiếp thị và bán hàng nhằm đáp ứng yếu cầu của khách hàng. Viêc đào tạo này bao
gồm cán bộ thuộc diện cấp trung, Giám đốc công ty thành viên (đối với chủ trương lớn
trong tiếp thị và bán hàng), công tác triển khai rộng rãi cho đội ngũ tiếp thị và bán hàng
thì áp dụng rộng rãi tại mỗi một địa bàn kinh doanh: vùng, miền... trong nước - Việc này
được đẩy mạnh vì VNPT luôn đánh giá cáo vai trò tiêu thụ sản phẩm dịch vụ được tạo ra
từ Tập đoàn. Đối với hoạt động kinh doanh ra ngoài lãnh thổ Việt Nam, VNPT cũng
tuyển dụng để đào tạo nhân viên của nước sở tại hoặc những chuyên viên được đạo tạo
sâu về lĩnh vực chuyên môn tại Việt Nam sang nước có sơ kinh doanh của VNPT để đạo
tạo với nhân viên của nước sở tại.
- Đối với lĩnh vực kinh doanh mới mẻ đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của nhiều người,
tổ chức, hoặc đối tượng khách hàng yêu cầu cao như dịch vụ kinh doanh vệ tinh
(Vinasat), vì là sản phẩm dịch vụ mới, nguồn đầu tư lên đến hàng trăm triệu đô la, nên
đối tượng đào tạo này lại đòi hỏi chuyên môn đào tạo đặc biệt hơn, do khách hàng là các
tổ chức, công ty và cũng một phần liên quan đến không gian quốc tế, do vậy lĩnh vực
kinh doanh này là phải tính từ đầu: như, thuê chuyên gia tư vấn, mời đối tác nước ngoài,
tìm hiểu và thuê trực tiếp người lao động nước ngoài (Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Đức và các
nước trong khu vực đã có bán các kênh thông tin được sử dụng qua vệ tinh) đến làm việc
và đào tạo trực tiếp cho người bán hàng của VNPT.
Như vậy: đối tượng đào tạo (2.2) được rộng rãi và phổ biến hơn tuỳ thuộc vào nhu
cầu cụ thể của mỗi Lãnh đạo, chuyên viên Ban chức năng (tổ chức, cán bộ cấp trung)
hoặc giám đốc thành viên (Giám đốc sẽ có quyền quyết định và trên cơ sở quy định
chung của Tập đoàn).
2.3. Đào tạo về chuyên môn kỹ thuật.
- Như đã nêu ở phần trên, VNPT hoạt động đa ngành nghề nòng cốt là bưu chính,
viễn thông và CNTT - bên cạnh lĩnh vực kinh doanh nòng cốt này, VNPT còn kinh
doanh các lĩnh vực khác như tài chính, tín dụng, ngân hàng, dịch vụ quảng cáo, kinh
doanh bất động sản, cho thuê văn phòng…Vì thế hoạt động thương mại và sản xuất nổi
trội hơn, từ hoạt động này nó cũng có tác động và ảnh hưởng đến đào tạo về kỹ thuật.
- Trước đây khi sản xuất kinh doanh mang nhiều tính phục vụ công nhiều hơn thì
hoạt động đào tạo về kỹ thuật chiếm ưu thế, nay vấn đề đào tạo về chuyên môn kỹ thuật
chỉ ngang bằng so đào tạo về kinh doanh thương mại, Vì:
* Xuất phát từ một tập đoàn đa ngành nghề sản xuất kinh doanh đa lĩnh vực.
* Nhiều hoạt động về công nghệ, VNPT đã làm chủ, nhu cầu về cán bộ kỹ thuật
làm nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển (R&D) đã đáp ứng được yêu cầu của Tập đoàn.
* Tạo ra sản phẩm, dịch vụ nhiều và chất lượng thì việc tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi
là rất cần thiết.
* Bên cạnh việc phát triển thị trường trong nước, thì thị trường nước ngoài đang
được VNPT đưa dịch vụ bán hàng ra ngoài lãnh thổ Việt Nam (kể cả thị trường Mỹ,
châu Âu và Nhật Bản).
*
Nghiên cứu và phát triển (R&D), hiện nay VNPT đã làm rất tốt do luôn cập nhật
và đón đầu công nghệ làm chủ được việc đào tạo thường xuyên, chuyên đề nội dung cụ
thể.
...
VNPT đã chú trọng vào đào tạo trong lĩnh vực kỹ thuật, chủ yếu phát triển mạng
lưới, đa dạng hoá dịch vụ, phát triển mạnh các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng, điện
thoại di động, cố định và Internet...và dịch vụ viễn thông hiện đại tiện ích, chất lượng
cao như: MMS, VSAT-IP, GPRS, Wimax, Ìnogate, FoneVNN, MegaVNN, WIFI, NGN...
và hiện nay đang tập trung phát triển dịch vụ IPTV, 3G.
Xu hướng đào tạo kỹ thuật này có xu hướng thay đổi theo từng thời điểm, từng
loại hình công nghệ cho mỗi dịch vụ, tránh đào tạo tập trung quá nhiều cho kỹ thuật của
một dịch vụ, nếu khi chuyển đổi lại có chỗ thừa và thiếu hụt.
Người được đi đào tạo về kỹ thuật tuy ít, nhưng đối tượng tham gia gồm nhiều
thành phần từ cấp cao đến người lao động trực tiếp.
2.4. Đánh giá chung: Công tác đào tạo, bồi dưỡng phục vụ phát triển nguồn nhân
lực của VNPT luôn không ngừng đổi mới, một phần cũng là Tập đoàn quốc gia và ngành
nghề kinh doanh cũng thiên nhiều về công nghệ, một phần cũng có sự ảnh hưởng giao
lưu thường xuyên với quốc tế nên việc đánh giá, cập nhật thông tin được thường xuyên
hơn. Hơn thế nữa VNPT nói riêng và Việt Nam nói chung, là một trong những tập đoàn,
quốc gia có tốc độ tăng trưởng trong TopTen của thế giới trong lĩnh vực viễn thông và
internet, do vậy để duy trì các hoạt động nghiên cứu và phát triển của VNPT không
ngừng đổi mới, vì thế đòi hỏi sự đầu tư trong đào tạo để phát triển nguồn nhân lực là một
yâu cầu tất yếu.
Hàng năm trong toàn Tập đoàn VNPT cho đi đào tạo, bồi dưỡng (các hình thức
đào đào): 7.500 lượt người; bao gồm trong nước và nước ngoài; chủ yếu là đào tạo trong
nước, hoặc thuê chuyên gia nước ngoài đến Việt Nam để hướng dẫn, hoặc thuyết trình.
III. Hoạt động Đào tạo phục vụ cho việc phát triển nguồn nhân lực tại VNPT.
- Trước đây hoạt động dưới mô hình Tổng Công ty VNPT, bộ phận đào tào và
phát triển nguồn nhân lực là một chức năng thuộc Ban Tổ chức – cán bộ - lao động. Sau
khi, năm 2006 Tổng Công ty VNPT được Thủ tướng quyết định chuyển đổi mô hình
hoạt động và thành lập Tập đoàn VNPT, VNPT đã đánh giá cao và nhận thức được vai
trò đặc biệt quan trọng của công tác đào tào và phát triển nguồn nhân lực, do vậy Hội
đồng Quản trị Tập đoàn đã thành lập một Ban chức năng tham mưu riêng là Ban Đào tào
và Phát triển nguồn nhân lực - Đơn vị tham mưu trực thuộc Tập đoàn. Việc đơn vị này
được thành lập là một đơn vị tham mưu độc lập, điều này đã nói lên công tác chuẩn bị và
lập kế hoạch rất chu đáo của VNPT khi đưa ra thành lập một đơn vị tham mưu tổng hợp
về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực - nhằm mục đích đào tạo về xây dựng nguồn
nhân lực ngày càng chính quy và hoàn thiện đáp ứng được đòi hỏi xây dựng phát triển
sản phẩm dịch vụ trong điều kiện có nhiều yếu tố cạnh tranh từ trong nước và nước
ngoài.
- Công tác nghiên cứu, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn là một trong
những lĩnh vực được VNPT quan tâm hàng đầu. VNPT đã xây dựng chiến lược và triển
khai một hệ thống đào tạo chính quy, đa dạng từ công nhân lành nghề đến trình độ đại
học và trên đại học. Hệ thống này bao gồm: Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
và CNTT, với 02 Viện nghiên cứu, 02 Trung tâm đào tạo, 01 Trung tâm nghiên cứu và
phát triển, 01 Trung tâm đào tạo quốc tế (chủ yếu hỗ trợ cho các nước trong khu vực), 04
trường đang nâng cấp thành trường cao đẳng. Hệ thống nghiên cứu và đào tạo này đã và
đang đáp ứng một cách có hiệu quả các nhu cầu mạng lưới cũng như việc phát triển
nguồn nhân lực của VNPT và của xã hội.
- VNPT hiện có quan hệ hợp tác với khoảng 130 Tập đoàn hàng đầu trong các lĩnh
vực: bưu chính, viễn thông, CNTT, tài chính, đào tạo, tư vấn, quảng cáo, bảo hiểm, ngân
hàng... các hoạt động hợp tác song phương và đa phương thường xuyên được tăng cường
và mở rộng.
- Hiện nay VNPT đang chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ nhiệm
vụ bán hàng, dịch vụ của Tập đoàn ngày một chuyên nghiệp và bài bản. Riêng đội ngũ
bán hàng thuê kênh riêng vệ tinh là còn mới với Tập đoàn, nhưng do có sự chuẩn bị
trước khi vệ tinh của Việt Nam được phóng lên quỹ đạo, nên việc bán hàng dành cho các
kênh thuê riêng đã khai thác gần hết. Do vậy, VNPT đang khẩn trương nghiên cứu, xem
xét báo cáo Chính phủ về lập dự án phóng vệ tinh thứ 2 của Việt Nam vào quỹ đạo.
- Do công nghệ NGN, 3G là đang mới nhất trên thế giới, trước đó VNPT đã cử
chuyên viên sang nước ngoài học tập, đồng thời thuê chuyên gia nước ngoài và thành lập
một Ban tư vấn gồm các chuyên gia nước ngoài và một Tổ tư vấn giám sát đánh giá về
chất lượng tư vấn 3G tại Việt Nam. Chính vì thế tháng 9/2009 dịch vụ 3G đã chính thức
hoạt động tại Việt Nam thông qua mạng lưới hoạt động của VNPT, góp phần vào một
trong quốc gia có tốc độ phát triển công nghệ thông tin và internet nhất thế giới. Làm
được điều này, chính là VNPT đã chủ động nghiên cứu được xu hướng công nghệ tương
lai của thế giới trong lĩnh vực này để chủ động xây dựng và đào tạo khi công nghệ mới
ra đời là có nguồn nhân lực đáp ứng được ngay.
- VNPT xây dựng Bộ qui chế từ Tập đoàn đến các đơn vị thành viên để có kế
hoạch xây dựng và lập kế hoạch đào tạo, nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực chuyên môn cụ
thể để chuẩn bị xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng cho từng loại hình dịch
vụ cụ thể.
- Bên cạnh đó VNPT thường xuyên tuyển dụng đối tượng lao động có chuyên
môn trình độ, kinh nghiệm cao từ nguồn ngoài xã hội để góp chung vào nguồn nhân lực
của Tập đoàn. Vì, Quá trình tiếp cận với CNTT cho thấy, nhân lực con người vẫn là yếu
tố đóng vai trò quyết định cần phải được dành nhiều ưu tiên tập trung đào tạo, nâng cao
trình độ.
- VNPT luôn đánh giá cao việc đầu tư vào công tác đào tạo nguồn nhân lực hiện
có sẽ đem lại hiệu quả trong việc nâng cấp nhân viên dưới quyền, khẳng định vai trò và
năng lực của nhà quản lý, thiết lập mối quan hệ tốt đẹp trong nội bộ và phát triển hình
ảnh của Tập đoàn trong mắt khách hàng và đối tác.
IV. Một số những hạn chế và đề xuất 1 số giải pháp để khắc phục.
1. Một số hạn chế:
- Thị trường viễn thông, CNTT tại Việt Nam được đánh giá có tốc độ phát triển
nhanh thứ hai thế giới chỉ sau Trung Quốc, vấn đề khó khăn về cơ sở hạ tầng đang được
từng bước giải quyết, tháo gỡ, do vậy đào tạo để có được một nguồn lực đáp ứng yêu
cầu thì lại còn có những hạn chế .
- Hệ thống quản lý bảng miêu tả công việc còn chưa đồng bộ và thống nhất.
- Công nghệ thuộc lĩnh vực bưu chính, viễn thông và CNTT là luôn thay đổi, nhu
cầu đầu tư lớn, do vậy mỗi khi chuyển đổi một loại hình công nghệ nếu không có kế
hoạch chuẩn bị kỹ càng thì ảnh hưởng rất nhiều trong việc chuyên môn đào tạo cũng như
là phát triển nguồn nhân lực. Trong thời gian qua, VNPT đã chú trọng tới việc đào tạo
nhân lực nhưng vẫn chưa hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu thực tế.
- Sản phẩm dịch vụ công nghệ, thuộc lĩnh vực bưu chính, viễn thông và CNTT
nhiều khi là còn là vô hình do vậy điều kiện triển khai chăm sóc khách hàng, nếu thiếu
trang bị kỹ thuật hiện đại đặc biệt là ở những vùng sâu, xa còn gặp khó khăn; do vậy
việc đạo tạo và phân bổ nguồn nhân lực này còn hạn chế; kỹ sư hiện nay vẫn hạn chế là
vốn tiếng Anh trong khi đây lại là ngôn ngữ không thể thiếu trong kinh doanh.
- Duy trì lực lượng lao động và đảm bảo công ăn việc làm, duy trì thu nhập ổn
định cho toàn bộ 95.000 lao động của Tập đoàn, đòi hỏi mỗi chính sách, chủ trương
lớn của Tập đoàn là đều tác động đến nguồn nhân lực.
- Phương tiện công nghệ đầu tư cho đào tạo là rất lớn không những chỉ về
phương tiện và đòi hỏi chuyên gia, người hướng dẫn cong luôn phải tìm hiểu và
nghiên cứu cập nhật thông tin ưu việt của thế giới.
2. Để phát triển nguồn nhân lực như:
- Xây dựng cơ sở dữ liệu đào tạo, nhân sự dựa trên hệ thống công nghệ thông tin
- nhằm hiện đại hoá việc quản lý cơ sở dữ liệu.
- Nâng cao năng lực trình độ, chất lượng đội ngũ lao động làm công tác quản lý,
công tác, quản trị kinh doanh, kỹ thuật …
- Đào tạo theo hướng nhấn mạnh về nguồn nhân lực được trang bị kỹ năng tiếp
thị, bán hàng và phát triển dịch vụ.
- Vận dụng và khai thác cơ hội làm việc nhóm, xây dựng phương pháp và cách
thức để giải quyết vấn đề và ra quyết định trên từng vấn đề cụ thể.
- Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng lực lượng lao động có kỹ thuật, thợ lành nghề
của Tập đoàn, đây là lực lượng khá đông đảo, đa dạng bao gồm lao động trong lĩnh vực
BCVT, CNTT. Chú trọng đào tạo ngắn hạn với tạo nguồn phát triển lâu dài, cân đối
nguồn nhân lực chung.
- Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh khoa học công
nghệ phát triển rất nhanh, từ đòi hỏi của thực tiễn, cần thiết xây dựng, phát triển nguồn
nhân lực có trình độ cao.
- Giữ vững và thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao, như có chính sách thu hút
nguồn nhân lực có trình độ cao, có những chính sách, biện pháp thiết thực, thỏa đáng
hơn, hấp dẫn hơn nữa, tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, trọng dụng phát huy
năng lực của người giỏi, người tài; điều động, luân chuyển cán bộ, chuyên gia giỏi.
- Xây dựng tầm nhìn chiến lược, tạo mối liên kết đa chiều trong đào tạo, bồi
dưỡng phát triển nguồn nhân lực, trên cơ sở có tầm nhìn chiến lược phát triển nguồn
nhân lực cho từng lĩnh vực hoạt động để vạch ra những định hướng phát triển mang tính
bền vững.
- Nên có các khoá học ngắn hạn để có thể bổ sung, cập nhật những kiến thức, tiêu
chuẩn về ICT còn thiếu nhưng lại bắt buộc phải có.
VNPT rất cần có những chuyên gia giỏi từ nước ngoài có thể cùng đi sâu, nghiên
cứu để tìm ra cấu trúc cơ sở dữ liệu cho BCVT-CNTT. Cũng từ những nhóm nghiên cứu
này, tuỳ vào mục đích mà có thể đào tạo thêm cho nguồn nhân lực của mình.