tóm lược:
• Phần 1: Cơ chế quản lý kinh tế việt nam trước thời kỳ đổi mới.
• Phần 2: Sự hình thành tư duy của đảng về kinh tế thị trường thời kì đổi mới.
1. Tư duy của đảng về kinh tế thị trường từ đại hội VI – đại hội VIII.
2. Tư duy của đảng về kinh tế thị trường từ đại hội IX đến đại hội XI.
Phần 1:
cơ chế quản lý kinh tế Việt Nam trước thời kỳ đổi mới.
Đặc điểm của chế độ
quan liêu, bao cấp:
• Tư liệu sản xuất được công hữu hóa.
• Kế hoạch hóa toàn bộ nền kinh tế quốc dân
về phía nhà nước.
• Các cơ quan hành chính can thiệp vào hoạt
động nội bộ của doanh nghiệp nhưng
không chịu trách nhiệm về thiệt hại do các
quyết định của mình gây ra.
(Tiếp)
• Bộ máy quản lý cồng kềnh,
không hiệu quả.
• Không thừa nhận quan hệ thị
trường, quan hệ hàng hóa.
Các hình thức của
chế độ bao cấp:
•
Bao cấp qua giá đối với các yếu tố đầu vào
sản xuất.
•
Bao cấp giá đối với hàng hóa tiêu dùng cho
nhân dân qua chế độ tem phiếu.
•
Bao cấp qua chế độ cấp phát vốn của ngân
sách với các đơn vị kinh tế.
Ưu/khuyết điểm của
cơ chế bao cấp:
Ưu điểm:
- Tập trung tối đa nguồn lực kinh tế vào mục đích
trong từng giai đoạn.
Khuyết điểm
- Kìm hãm phát triển KH-CN, không kích thích
tính năng động, sáng tạo của doanh nghiệp, triệt
tiêu động lực kinh tế.
=> Kinh tế nước ta lâm vào tình trạng suy thoái.
Nguyên nhân tồn tại
của cơ chế bao cấp:
•
Chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ
chế thị trường.
•
Không thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế
nhiều thành phần.
=> Kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ khủng
hoảng.
Nhu cầu đổi mới
cơ chế quản lý kinh tế
•
Do những thành công ban đầu và những hạn
chế của quá trình đổi mới từng phân.
•
Do đảng nhận thức được sự cần thiết của việc
đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
=> Việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là nhu cầu
cần thiết và cấp bách.
Phần 2:
Sự hình thành tư duy của Đảng về kinh tế thị trường thời kì
đổi mới.
1. Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội VI
Đến Đại hội VIII.
Thứ nhất: Trong từng kỳ đại hội, đảng đã xác định rõ cơ chế quản lý kinh tế ở
việt nam không giống với cơ chế kinh tế cũ trước 1986.
Thứ hai: Đảng nhận định kinh tế thị trường không phải là cái riêng của chủ
nghĩa tư bản mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại
Thứ ba: Đảng nhận thấy kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thứ tư: Đảng cho rằng có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây
dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta .
2. Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường từ Đại hội IX
đến Đại hội XI.
Đại hội IX của đảng xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô
hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN khác với KTTT TBCN ở những
nội dung sau:
•
Mục đích của nền kinh tế.
•
•
•
Chế độ sở hữu và chủ thể của kinh tế.
Chế độ quản lý.
Chế độ phân phối.
Kế thừa từ đại hội IX, đại hội X chủ trương “hoàn thiện thể chế kinh tế thị
trường
định hướng XHCN”:
Cụ thể như sau:
•
Xác định các khái niệm: thể chế kinh tế, thể
chế KTTT, thể chế KTTT định hướng
XHCN.
•
Xác định mục tiêu của việc hoàn thiện thể
chế.
•
Đưa ra hệ thống quan điểm khi tiến hành
hoàn thiện thể chế.
•
Đề ra một số phương pháp để hoàn thiện
thể chế KTTT định hướng XHCN.
Tiếp đó, đại hội XI của đảng nhấn mạnh việc “tiếp tục hoàn thiện thể chế
KTTT định hướng XHCN”.
Các việc cần làm:
•
Phát triển các hình thức sở hữu, các thành
phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp.
•
Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và
các loại thị trường.
•
Nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng, hiệu lực
quản lý của nhà nước đối với nền KTTT định
hướng XHCN.
Phần 3:
Hỏi Vui có Thưởng