BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
FFFFFFFF×GGGGGGGG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT
THÂN GỖ TRONG Ô ĐỊNH VỊ Ở KIỂU RỪNG KÍN THƯỜNG
XANH TẠI VƯỜN QUỐC GIA BÙ GIA MẬP,
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Họ và tên sinh viên: TRẦN HOÀNG LÂM
Ngành: LÂM NGHIỆP
Chuyên ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
Niên khóa: 2007 – 2011
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06 / 2011
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CỦA THỰC VẬT THÂN GỖ
TRONG Ô ĐỊNH VỊ Ở KIỂU RỪNG KÍN THƯỜNG XANH TẠI
VƯỜN QUỐC GIA BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Tác giả
TRẦN HOÀNG LÂM
Khóa luận đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
Kỹ sư ngành Lâm nghiệp – Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. MẠC VĂN CHĂM
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 06 / 2011
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gởi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô trường Đại Học
Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy cho tôi trong suốt thời
gian tôi theo học tại trường. Tôi chân thành cảm ơn thầy Th.S Mạc Văn Chăm. Nếu
không có sự tận tình chỉ bảo và hướng dẫn của thầy, tôi đã không thể hoàn thành tốt
khóa luận này.
Ngay từ đầu, khóa luận này đã không thể thực hiện nếu không có sự giúp đỡ
của Th.S Vương Đức Hòa - Phó Giám Đốc Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã không
ngần ngại giúp tôi tìm kiếm tài liệu có liên quan đến đề tài và góp ý kiến cho tôi
thực hiện đề tài này.
Tôi xin cảm ơn Ban giám đốc Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã tận tình giúp
đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập số liệu trong suốt thời gian thực tập tại
Vườn quốc gia Bù Gia Mập.
Tôi xin cảm ơn bạn Nguyễn Thị Kim Nhị và bạn Thẩm Văn Bao đã rất nhiệt
tình giúp tôi đi khảo sát và điều tra khu vực nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn anh Hoàng Anh Tuân trưởng phòng kỹ thuật Vườn quốc gia
Bù Gia Mập cùng các nhân viên tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã giúp đỡ tôi trong
quá trình thu thập số liệu và khảo sát tại vườn quốc gia Bù Gia Mập.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè của tôi
đã luôn bên cạnh, động viên tôi trong cuộc sống và học tập.
Xin chân thành cảm ơn!
Tp.HCM, Tháng 6 Năm 2011
Trần Hoàng Lâm
i
TÓM TẮT
Đề tài “Bước đầu nghiên cứu sự đa dạng của thực vật thân gỗ trong ô
định vị ở kiểu rừng kín thường xanh tại vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình
Phước” được thực hiện tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước từ tháng 2
năm 2011 đến tháng 6 năm 2011.
¾ Mục tiêu cần đạt được của đề tài là:
− Định lượng được các chỉ số đa dạng sinh học của các loài.
− Xác định được tình hình tái sinh của thực vật thân gỗ trong ô định vị.
− Xây dựng được bản đồ vị trí của những cây thực vật thân gỗ trên mặt đất
trong ô định vị.
¾ Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thực hiện tại ô định vị số II ( Ô đại
diện cho kiểu rừng kín thường xanh đặc trưng của Vườn quốc gia Bù Gia Mập) tại
Vườn Quốc gia Bù Gia Mập. Ô định vị được phân thành 25 phân ô (Diện tích mỗi
phân ô là 400 m2).
¾ Nội dung nghiên cứu của đề tài là:
- Điều tra và lập danh mục thực vật thân gỗ theo loài, họ, số lượng cá thể
trong ô định vị.
- Định lượng các chỉ số đa dạng sinh học của loài.
- Xác định tình hình tái sinh dưới tán rừng.
- Xây dựng bản đồ vị trí của những cây thực vật thân gỗ trong ô định vị.
¾ Các phương pháp thực hiện đề tài:
+ Thu thập các số liệu cũ, tiến hành khảo sát, xác định vị trí đo đếm. Tiến
hành định danh và xác định vị trí thực vật trên thực địa.
+ Tính toán và nhận xét các chỉ số đa dạng của khu vực nghiên cứu như chỉ
số IV, chỉ số phong phú loài, chỉ số đồng đều, số lượng cây tái sinh, ...
ii
¾ Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đã đạt được những kết quả sau:
× Thành phần thực vật trong ô định vị II (25 phân ô) gồm có 37 họ, 93 loài
(1 loài chưa xác định được), 656 cá thể, trong đó có 9 loài thực vật quý hiếm cần
bảo tồn theo Sách Đỏ Việt Nam, Sách Đỏ thế giới và Nghị định 32/2006/ND-CP.
× Kết quả định lượng và so sánh các chỉ số đa dạng thực vật thân gỗ trong
khu vực nghiên cứu đã xác định được 1 loài chiếm ưu thế sinh thái (với IV > 5%)
đó là loài Ràng Ràng (Ormosia cf. inflate Merr. & Chun.). Bên cạnh đó, các chỉ số
đa dạng sinh học cũng đã được phân tích như sau:
− Chỉ số phong phú loài Margalef M qua phân tích cho thấy, trong khu vực
nghiên cứu thì độ phong phú loài không đồng đều. Tuy nhiên, nếu dựa vào trung
bình của chỉ số Margalef M Base 10 thì trong khu vực nghiên cứu (ô định vị) có độ
phong phú loài cao.
− Chỉ số đa dạng Shannon H' Log Base 10 cho thấy, các phân ô trong khu
vực nghiên cứu có tính đa dạng là tương đối cao và đồng đều.
− Chỉ số đồng đều Pielou (J’) cho thấy, số lượng loài trong các phân ô là
tương đối đồng đều nhau.
− Chỉ số ưu thế Simpsons Diversity (D) cho thấy, khu vực nghiên cứu có
tính đa dạng cao
− Chỉ số Caswell (V) cho thấy, tình hình bảo vệ rừng tốt, không có sự tác
động nhiều đến môi trường sống của các loài thực vật thân gỗ.
− Chỉ số hiếm IR cho thấy trong khu vực nghiên cứu thì không có loài nào
cực hiếm (MR), có 36 loài rất hiếm (RR).
× Theo kết quả điều tra cây tái sinh có được thì có 23 loài cây tái sinh dưới
tán rừng tại khu vực nghiên cứu. Cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt là chủ yếu, chiếm
88 %.
× Đề tài đã xây dựng được bản đồ vị trí của thực vật thân gỗ có trong ô
định vị số II với mục đích phục vụ cho việc tra cứu thông tin về thực vật thân gỗ
trong ô định vị II, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo tồn và nghiên cứu trong
ô định vị.
iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. i
TÓM TẮT .................................................................................................................. ii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................... vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG .................................................................................... viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ....................................................................................... ix
Chương 1. MỞ ĐẦU ...................................................................................................1
1. 1 Đặt vấn đề.............................................................................................................1
1. 2 Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................................3
1. 3 Phạm vi đề tài .......................................................................................................3
Chương 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .................................................................4
2.1. Vì sao phải bảo tồn đa dạng sinh học ...................................................................4
2.2. Những nghiên cứu về đa dạng sinh học ...............................................................4
2.2.1 . Nghiên cứu đa dạng sinh học trên thế giới .......................................................4
2.2.2 . Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở việt nam .....................................................8
2.2.3. Những nghiên cứu ở vườn quốc gia Bù Gia Mập ...........................................10
2.3. Phân loại tổ dạng sống .......................................................................................11
2.4. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................13
2.5. Đặc điểm khu vực nghiên cứu ..........................................................................13
2.5.1. Lịch sử hình thành và chức năng của Vườn quốc gia Bù Gia Mập ................13
2.5.2. Vị trí địa lý ......................................................................................................14
2.5.3 . Điều kiện tự nhiên...........................................................................................15
iv
Chương 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............................19
3.1. Nội dung nghiên cứu của đề tài.........................................................................19
3.2. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................19
3.2.1. Phương pháp thống kê, kế thừa số liệu ...........................................................19
3.2.2. Phương pháp và vật liệu nghiên cứu ngoài thực địa .......................................20
3.2.3. Nội nghiệp ......................................................................................................21
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ......................................25
4.1. Kết quả nghiên cứu trên thực địa từ ô định vị II ................................................25
4.1.1. Vị trí ô định vị II trên Google Earth................................................................25
4.1.2. Thành phần loài thực vật thân gỗ trong ô định vị II .......................................26
4.2. Tình hình tái sinh của thực vật thân gỗ trong ô định vị .....................................26
4.3.1. Phân tích đa dạng các loài thực vật trong ô định vị II ....................................28
4.3.2. Phân tích thành phần họ thực vật trong ô định vị ...........................................35
4.4. Đa dạng và phân bố các loài thực vật quý hiếm trong ô định vị II ....................37
4.4.1. Đa dạng của các loài thực vật quý hiếm trong ô định vị II .............................37
4.4.2. Phân bố các loại thực vật quý hiếm trong ô định vị II ....................................39
4.5. Những nguyên nhân làm suy giảm đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Bù Gia
Mập ...........................................................................................................................39
4.6. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn .......................................................................41
4.6.1. Nhóm giải pháp về mặt kinh tế - xã hội ..........................................................41
4.6.2. Nhóm giải pháp về khoa học kỹ thuật.............................................................41
4.7. Tra cứu thông tin về thực vật thân gỗ dựa trên bản đồ vị trí các cây thực vật
thân gỗ trong ô định vị ..............................................................................................42
Chương 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................46
5.1. Kết luận ..............................................................................................................46
v
5.2. Kiến nghị ............................................................................................................47
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................49
vi
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ctv
Cộng tác viên.
D1,3
Đường kính cây ở độ cao 1,3 mét.
G1,3
Tiết diện ngang than cây ở độ cao 1,3 mét.
GPS
(Global Posititioning System) Máy định vị toàn cầu.
HS
Hệ số.
IUCN
(International Union for Conservation of Nature). Hiệp hội bảo
tồn thiên nhiên quốc tế.
IV
(Importance Value Index) chỉ số giá trị quan trọng
LK
Loài khác.
LN
Giá trị lớn nhất.
NN
Giá trị nhỏ nhất.
RBA
Tổng tiết diện ngang.
RD
Mật độ tương đối.
RF
Tần suất xuất hiện tương đối.
TB
Giá trị trung bình.
UTM
(Universal Transverse Mercator) Hệ tọa độ địa lý.
XH
Xếp hạng.
vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1. Phân bố % cây tái sinh theo cấp chiều cao...............................................27
Bảng 4.2. Loài ưu thế và công thức tổ thành loài .....................................................29
Bảng 4.3. Các chỉ số đa dạng thực vật khu vực nghiên cứu. ....................................33
Bảng 4.4. Các loài cây quý hiếm cần bảo tồn trong ô định vị II ..............................38
viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bản đồ hiện trạng Vườn quốc gia Bù Gia Mập. .......................................14
Hình 4.1. Vị trí ô định vị (ĐV) II trên Google Earth. ..............................................25
Hình 4.2. Sơ đồ nhánh các loài trong khu vực nghiên cứu (ô định vị). ..................32
Hình 4.3. Đồ thị phần trăm số cá thể của họ tham gia trong khu vực nghiên cứu ...35
Hình 4.4. Phần trăm số loài trong các họ tham gia trong khu vực nghiên cứu .......36
Hình 4.5.1. Hướng dẫn tra cứu thông tin ô định vị trên phần mềm Biomon (1) ......43
Hình 4.5.2. Hướng dẫn tra cứu thông tin ô định vị trên phần mềm Biomon (2) ......44
Hình 4.5.3. Hướng dẫn tra cứu thông tin ô định vị trên phần mềm Biomon (3) ......45
ix
Chương 1
MỞ ĐẦU
1. 1 Đặt vấn đề
Rừng là một thành phần quan trọng tạo nên sinh quyển, là nơi chứa đựng
nguồn tài nguyên động - thực vật phong phú, trong đó có nhiều loài có giá trị và ý
nghĩa đặc biệt về kinh tế, môi trường như: cung cấp vật liệu xây dựng, năng lượng,
nguyên liệu y dược, nguyên liệu chế biến lương thực, là nhà che chở cho các loài
động vật, rừng được mệnh danh là “lá phổi” của sự sống. Rừng điều hòa khí hậu,
chắn gió, làm sạch không khí, cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, giảm tiếng ồn,
bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn. Tuy nhiên, rừng đang đứng trước nhiều nguy
cơ bị tàn phá để phục vụ cho các mục đích của con người với nhu cầu ngày càng
cao.
Theo FAO, từ năm 1950 rừng nhiệt đới mất khoảng 50%, nhiều nhất là ở
Trung Mỹ (60%), Trung Phi (52%), Nam Phi và Đông Nam Á tương ứng là 37 và
38%. Đến những năm đầu của thế kỷ 80 rừng nhiệt đới bị mất theo tốc độ 113000
km2/năm, trong đó có khoảng 3/4 rừng kín. Tốc độ mất rừng trong những năm gần
đây càng ngày càng gia tăng mạnh, dự đoán đến năm 2020 khoảng 40% rừng còn
lại bị phá huỷ nghiêm trọng.
Ở nước ta, tốc độ kinh tế tăng nhanh tương ứng với tốc độ phá rừng, mỗi
năm rừng Việt Nam mất đi 13-15 nghìn ha, chủ yếu do nạn du canh du cư, lấy gỗ,
đốt rừng lấy đất trồng cây công nghiệp xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu giao thông, khai
thác mỏ, xây dựng đô thị,… Rừng bị tàn phá, bị khai thác quá mức đã trở nên nghèo
kiệt, các hệ sinh thái rừng bị phá hủy, nhiều loài thực vật rừng quý đang bị chặt hạ,
thu hái không có kế hoạch nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Diện tích
rừng ngày một giảm sút, năm 1943 diện tích rừng cả nước là 14.3 triệu ha, tương
ứng độ che phủ là 43%. Song, đến năm 2009 diện tích rừng chỉ còn gần 13.259 triệu
1
ha rừng (hơn 10.339 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 2.919 triệu ha rừng trồng), tương
ứng độ che phủ là 39.1%, thấp hơn chỉ số mức báo động che phủ tối thiểu để duy trì
cân bằng hệ sinh thái cho một quốc gia. Sự suy giảm về diện tích và chất lượng của
rừng gây ra những hậu quả vô cùng lớn đối với đa dạng sinh học quốc gia[17]. Vì
vậy, việc quản lý và bảo vệ rừng không còn là một vấn đề mới mẻ mà đang là một
vấn đề hết sức cấp bách. Dự đoán trong tương lai, nếu không có chính sách bảo vệ
hữu hiệu của Nhà nước thì rừng Việt Nam ngày càng bị ảnh hưởng nghiêm trọng:
gây lũ lụt, xói mòn đất, diện tích đất trống đồi trọc ngày càng tăng,…
Bảo tồn cả hệ sinh thái rừng là một đòi hỏi cấp bách, nhất là đối với hệ sinh
thái rừng nhiệt đới. Biện pháp bảo tồn duy nhất và hữu hiệu nhất trong việc bảo tồn
hệ sinh thái rừng là bảo tồn tại chỗ. Biện pháp bảo tồn này cho phép điều tra, nghiên
cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái và các điều kiện môi trường, các quy luật hình
thành hệ sinh thái cũng như để phát hiện ra các biến dị di truyền của các loài trong
đó. Năm 1991, Viện điều tra quy hoạch rừng thực hiện chương trình điều tra đánh
giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trên phạm vi toàn quốc với chu kỳ 5 năm.
Nhiệm vụ chính của chương trình này là thành lập các hệ thống ô định vị. Hệ thống
ô định vị có vai trò quan trọng trong việc thu thập những thông tin về tài nguyên
rừng trên phạm vi cả nước. Ô định vị để đo đếm số loài cây, xác định chiều cao, khả
năng tái sinh, nghiên cứu thổ nhưỡng, cây bụi, đưa vào tính toán khả năng tăng
trưởng của rừng ở khu vực có các loài cây đó, khả năng tái sinh, diễn thế, tính toán
chỉ số đa dạng sinh học, chỉ số sinh thái,... Từ những số liệu đó đưa ra những căn cứ
khoa học xác đáng phục vụ cho các kế hoạch sử dụng lâu bên tài nguyên rừng.
Vườn quốc gia Bù Gia Mập vừa là nơi bảo tồn hệ động vật, thực vật hoang
dã, và nguồn dược liệu quý hiếm, vừa là nơi phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục
môi trường và phát triển dịch vụ du lịch sinh thái. Đây là nơi bảo tồn các nguồn gen
quý hiếm của hệ động, thực vật phong phú đặc trưng cho miền Đông Nam Bộ. Việc
xây dựng ô định vị tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã được thực hiện, tuy nhiên
việc quản lý ô định vị để nghiên cứu về sinh thái chỉ mới bước đầu xây dựng nên
còn nhiều cản trở trong việc áp dụng các phương pháp điều tra, nghiên cứu tình
hình sinh trưởng, phát triển và đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu.
2
Việc xây dựng chính xác các số liệu sẽ tạo nên một cơ sở dữ liệu có giá trị
rất lớn trong công tác xác định, đánh giá tình hình sinh trưởng và tính đa dạng sinh
học trong ô định vị đại diện cho cả trạng thái rừng tương ứng.
Từ những lý do đó, nhằm nâng cao công tác quản lý cũng như công tác bảo
tồn và xây dựng cơ sở dữ liệu làm cơ sở cho việc đánh giá và theo dõi đa dạng sinh
học tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập theo không gian và thời gian, với sự giúp đỡ của
thầy ThS. Mạc Văn Chăm, tôi đã thực hiện đề tài: “Bước đầu nghiên cứu sự đa
dạng của thực vật thân gỗ trong ô định vị ở kiểu rừng kín thường xanh tại vườn
quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước” nhằm nâng cao hiệu quả cho công tác
quản lý cũng như công tác bảo tồn và xây dựng cơ sở dữ liệu làm cơ sở cho việc
đánh giá đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
1. 2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở các thông tin, dữ liệu liên quan đến đa dạng sinh học thu thập
được tại khu vực nghiên cứu cùng với các số liệu điều tra được tại Vườn quốc gia
Bù Gia Mập, đề tài sẽ:
¾ Định lượng được các chỉ số đa dạng sinh học của các loài.
¾ Xác định được tình hình tái sinh của thực vật thân gỗ trong ô định vị.
¾ Xây dựng được bản đồ vị trí của những cây thực vật thân gỗ trên mặt đất
trong ô định vị.
1. 3 Phạm vi đề tài
Do giới hạn về kinh phí cũng như thời gian, trong khuôn khổ của khóa luận
tốt nghiệp, đề tài chỉ nghiên cứu các chỉ số đa dạng loài và quần xã thực vật thân gỗ
mà chưa nghiên cứu về đa dạng gen của rừng, chỉ phân tích định lượng đa dạng
thực vật thân gỗ trong ô định vị của kiểu rừng kín thường xanh trên núi thấp được
lập tại vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
3
Chương 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Vì sao phải bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn đa dạng sinh học là điều được đưa ra từ nhiều góc độ khác nhau tùy
thuộc vào các yếu tố văn hóa, xã hội và kinh tế. Một trong những lý do rất được
quan tâm hiện nay trên toàn thế giới là sự suy thoái đa dạng sinh học mà nguyên
nhân chính là hiểm họa từ thiên nhiên và con người. Do đó, để bảo tồn tài nguyên
động thực vật nói riêng và đa dạng sinh học nói chung, hiện nay có ba giải pháp
chính sau[12]:
− Các công ước quốc tế: Các nước trên thế giới ký kết các công ước quốc tế
nhằm góp phần bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu như: công ước bảo vệ các vùng
đất ngập nước RAMSAR, công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật
hoang dã nguy cấp CITES, công ước đa dạng sinh học…
− Bảo tồn nội vi (In-situ) là giải pháp bảo tồn các loài ngay tại nơi chúng
đang tồn tại. Bảo tồn tại chỗ được nhiều quốc gia áp dụng, trong đó có Việt Nam,
thông qua các hoạt động xây dựng khu bảo tồn.
− Bảo tồn ngoại vi (Ex-situ) là phương pháp bảo tồn qua việc gây nuôi trồng
các loài có nguy cơ bị tiêu diệt thông qua các hoạt động xây dựng vườn thực vật,
vườn cây gỗ, ngân hàng hạt giống, vườn thú, trung tâm cứu hộ, bể nuôi,…
2.2. Những nghiên cứu về đa dạng sinh học
2.2.1. Nghiên cứu đa dạng sinh học trên thế giới
Curtis và McIntosh (1951), đã đề nghị so sánh vai trò của các loài trong quần
xã thông qua chỉ số quan trọng IV. Chỉ số quan trọng IV được tính bình quân của ba
đại lượng, đó là độ thường gặp tương đối (F%), mật độ tương đối (N%) và độ ưu
thế tương đối (G%): Theo công thức IV
4
Độ thường gặp tương đối (F%) của một loài là tỷ lệ phần trăm độ thường gặp
của loài so với tổng độ thường gặp của tất cả các loài trong ô định vị.
Mật độ tương đối (N%) của một loài là tỷ lệ phần trăm số cá thể của loài này
so với tổng số cá thể của các loài trong ô định vị.
Độ ưu thế tương đối (G%) của một loài là tỷ lệ phần trăm tổng tiết diện
ngang thân cây của loài so với tổng tiết diện ngang thân cây của tất cả các loài trong
ô định vị.
Khi tổng (F%+N%+G%) = 300% thì quần xã thực vật chỉ có một loài cây gỗ
duy nhất.
− Nghiên cứu về đa dạng sinh học với chuyên đề về những chỉ số thăm dò
và ưu thế trong công tác bảo tồn đã được tác giả Perman và Adelson (1991) nhấn
mạnh rằng: đa dạng sinh học dần hết sức trở nên phổ biến trong các chương trình
giáo dục đại học.
− Theo Udvardi (Walters và Hamilton, 1993) thì trên thế giới bao gồm nhiều
chỉnh thể sinh vật. Sự phân chia đó tùy thuộc vào điều kiện khí hậu và các sinh vật
sống trên đó. Mỗi một chỉnh thể được xem là một sinh thái lớn, bao gồm nhiều hệ
sinh thái nhỏ tập hợp lại. Sự phân bố đó phù hợp vào nhiều hệ sinh thái khác bao
gồm: 1. Rừng mưa nhiệt đới; 2. Rừng mưa Á nhiệt đới – ôn đới; 3. Rừng lá kim ôn
đới; 4. Rừng khô nhiệt đới; 5. Rừng lá rộng ôn đới; 6. Thảm thực vật Địa trung hải;
7. Sa mạc và bán sa mạc ẩm; 8. Đầm rêu và sa mạc ; 9. Sa mạc và bán sa mạc lạnh;
10. Trảng cỏ và đồng cỏ nhiệt đới; 11. Đồng cỏ ôn đới; 12. Thảm thực vật vùng núi
cao; 13. Thảm thực vật vùng đảo; 14. Thảm thực vật vùng hồ [3].
− Heywood (1995), trong công trình đánh giá đa dạng toàn cầu đã nghiên
cứu về đặc điểm và sự phân bố của đa dạng sinh học, chức năng của các hệ sinh thái
và loài đối với môi trường, giá trị kinh tế đối với đa dạng sinh học và phát triển bền
vững.
− Blanc (1996) và các tác giả đã nghiên cứu cấu trúc, kết cấu thành phần
thực vật của 3 kiểu rừng tại Vườn quốc gia Cát Tiên ở Việt Nam, một khu rừng rất
gần với Vườn quốc gia Bù Gia Mập về mặt địa lý. Nghiên cứu đã thiết lập 5 ô định
vị, mỗi ô có diện tích là 1 ha trên vùng đất thấp, trong đó 2 ô được thết lập trên kiểu
5
rừng rụng lá với loài cây Bằng Lăng chiếm ưu thế, một ô được thiết lập trên kiểu
rừng nửa rụng lá với loài cây họ Dầu chiếm ưu thế, hai ô được thiết lập trên kiểu
rừng thường xanh nửa rụng lá. Tiến hành thu thập dữ liệu của các cây gỗ có đường
kính ngang ngực (D1,3), đo chiều cao cây và phân ra tầng trội với chiều cao cây > 25
m, và tầng dưới có chiều cao < 25 m. Tiến hành thống kê số lượng cá thể và xác
định vị trí các ô tiêu chuẩn trên bản đồ, định danh tên các loài cây. Tác giả đã tính
toán, xử lý số liệu bằng các chỉ tiêu định lượng như chỉ số tương đồng Jaccard bằng
công thức:
Trong đó C là số loài chung được tìm thấy chung trong cả 2 ô x và ô y, Ux
và Uy là số loài được tìm thấy chỉ có ở ô x hoặc ô y. Sau khi tính toán, tác giả đã
cho thấy mối quan hệ giữa các loài thực vật trong ô nghiên cứu. Tác giả đã tính toán
được một số chỉ tiêu đa dạng sinh học như chỉ số đa dạng sinh học Shanon-Weine,
chỉ số phong phú loài, chỉ số quan trọng IV.
− Mcintosh và ctv (2001) đã nghiên cứu phục hồi rừng ngập mặn, đa dạng
sinh học rừng ngập mặn và đa dạng sinh học vùng cửa biển ở Ranong, Thái Lan
bằng phương pháp thu thập số liệu trên thực địa với ô đo đếm là 100 m2 và xử lý số
liệu bằng phần mềm PRIMER 5 (Clarke và Wawick, 2001) để xác định các chỉ số
đa dạng sinh học, sử dụng SIMPER (Similarity Percent) để mô tả sự đóng góp của
các loài trong quần xã, tính ma trận tương đồng (Similarity matrices) trên cơ sở
tương đồng của Bray-Curtis, vẽ sơ đồ nhánh Cluster và NMDS (Non Metric MultiDimensional Scaling) để mô tả mối quan hệ giữa các ô đo đếm. Nghiên cứu đa dạng
sinh học theo phương pháp này đã phân tích, đánh giá, so sánh đa dạng sinh học
dựa trên các chỉ số, các biểu đồ cụ thể, từ đó các kết luận của nghiên cứu mang tính
khoa học cao.
− Tery (2001) cùng một số tác giả khác đã nhiên cứu đánh giá thực vật ở
rừng Takamada của Cameroon. Để nghiên cứu đánh giá thực vật các tác giả đã thiết
lập hơn 300 ô mẫu có kích thước 100x100 m (1 ha) ở 23 quốc gia, kí hiệu ô mẫu là
BDP, xung quanh các ô mẫu này thiết lập hơn 38 ô mẫu có kích thước 10x10 m
6
(100 m2) được kí hiệu là MWP. Trong các ô mẫu đo đếm các cây có D1,3 (đường
kính ngang ngực) ≥ 10 cm, các ô mẫu được thiết lập ở các đai độ cao khác nhau.
Sau khi thu thập được các số liệu trên ô mẫu nghiên cứu, đã tính được chỉ số
quan trọng IV dựa trên các nhân tố tần suất xuất hiện tương đối, mật độ tương đối,
đặc biệt là nghiên cứu tính chỉ số che phủ vùng dựa trên mật độ tương đối và tiết
diện ngang tương đối.
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã thống kê được số lượng cá thể, loài, chi, họ
trong vùng nghiên cứu, tính được chỉ số giá trị quan trọng IV dựa trên hai chỉ số, đó
là chỉ số bao phủ vùng và tần suất xuất hiện tương đối. Phân tích thành phần cấu
trúc, kết cấu rừng theo các kiểu rừng trên các đai độ cao khác nhau.
− Slik và ctv (2003) đã phân tích hệ thực vật cây họ Dầu trên vùng đất thấp
dưới 500 m so với mặt nước biển ở Borneo, xác định được các taxa trong vùng.
Nghiên cứu đa dạng thực vật trong vùng nghiên cứu, mối quan hệ đa dạng sinh học
giữa các nhân tố, điều kiện như lượng mưa hằng năm, điều kiện địa hình giữa các ô
mẫu. Tác giả đã thiết kế 28 ô mẫu nghiên cứu ở 6 vùng khác nhau và rút ngẫu nhiên
640 cá thể, đo đếm đường kính ngang ngực (D1,3) của các cây có D1,3 > 9,8 cm. Sử
dụng phương pháp phân tích ma trận tương đồng, sơ đồ nhánh UPMGA của
Sorensen và Steinhaus (1997) để phân tích mối qua hệ giữa các vùng nghiên cứu, sự
ảnh hưởng của nhân tố lượng mưa hằng năm, điều kiện địa hình đến cấu trúc hệ
thực vật giữa các ô nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu đã xác định được số họ, chi thực vật trong vùng nghiên
cứu. Xác định được đa dạng thực vật cao nhất trong 6 vùng nghiên cứu. công trình
đã đưa ra kết luận đa dạng thực vật phụ thuộc rất lớn vào yếu tố địa hình và lượng
mưa hằng năm.
− Boris (2004), khi nghiên cứu chức năng và đánh giá hoạt động nông
nghiệp trong một vùng, tác giả đã chú ý đến việc đánh giá tác động của con người
đến đa dạng sinh học vùng nông nghiệp và các biện pháp bảo tồn. Đa dạng sinh học
rất phức tạp và nó được chia ra thành các mức độ đó là đa dạng gen, loài, hệ sinh
thái và các quá trình hệ sinh thái. Kết quả cho thấy giữa chúng có mối quan hệ với
nhau. Khi đánh giá đa dạng sinh học, tác giả đã sử dụng công cụ đánh giá định
7
lượng, từ việc đo đếm trực tiếp đã đưa ra được các taxa như là số họ, chi, loài, thứ,
kiểu sinh thái của mỗi vùng và sử dụng một số chỉ số định lượng khác như độ
phong phú loài S (S được tính bởi công thức S = ni, với ni là loài thứ i), chỉ số đa
dạng Alpha (
) (được tính bởi công thức: (
) = pilog2pi, trong đó pi là tần suất
xuất hiện loài thứ i), chỉ số đồng đều J (được tính bởi công thức J = H’/Log2S), chỉ
số ưu thế D (được tính bởi công thức D = ∑
), Chỉ số hiếm IR (được tính bằng
công thức IR = ∑Ci/S, trong đó Ci là hệ số hiếm của loài nghiên cứu, Ci biến động
từ 1-13).
− Khi nghiên cứu các quần xã thực vật và đa dạng sinh học ở vùng TaburnoCamposauro, Gaurino và Napolitano (2006) đã nghiên cứu với diện tích vùng
nghiên cứu là 137.8 km2 và ở độ cao trên 1.300m so với mực nước biển, với ô nhiên
cứu (1 km x 1 km) bằng việc điều tra thống kê các loài thực vật, Nghiên cứu đã chỉ
ra được các loài quý hiếm và mức độ quý hiếm. Căn cứ kết quả tính toán chỉ số
hiếm IR để đánh giá mức độ hiếm của từng loài và quần xã thực vật trong khu vực
nghiên cứu theo các thang bậc sau đây: IR từ 78,08% - 95% là loài hiếm R (rare
species), khi chỉ số IR từ 95%-97% là loài rất hiếm RR (very rare species), chỉ số
IR lớn hơn 97% là loài cực kỳ hiếm MR (extremely rare species). Từ các kết quả
đánh giá mức độ hiếm của từng loài và quần xã, tác giả đưa ra các biện pháp bảo
tồn các loài thực vật trong khu vực nghiên cứu.
2.2.2. Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở việt nam
Việt Nam là một trong những nước trên thế giới có đa dạng sinh học cao.
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1977), nước ta có khoảng 11.373 loài thực vật thuộc
2.524 chi và 378 họ[8].
Các hệ sinh thái ở Việt Nam cũng rất đa dạng. Theo Thái Văn Trừng (1978),
trên quan điểm sinh thái tác giả đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14
kiểu: (1) Kiểu rừng kín thường xanh mưa nhiệt đới (Rkn), (2) Kiểu rừng kín nửa
thường xanh ẩm nhiệt đới (Rkn), (3) Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới (Rkr),
(4) Kiểu rừng kín lá cứng hơi ẩm nhiệt đới (Rkc), (5) Kiểu rừng thưa, cây lá rộng
hơi khô nhiệt đới (Rtr), (6) Kiểu rừng thưa, cây lá kim hơi khô nhiệt đới (Rtk), (7)
8
Kiểu rừng thưa, cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp (Rta), (8) Kiểu trảng cây to,
cây bụi, cỏ cao, khô nhiệt đới (Rct,Tcb, Tcc), (9) Kiểu rừng bụi gai, hạn nhiệt đới
(Tbg), (10) Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp (Rka), (11)
Kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng và lá kim, ẩm nhiệt đới núi thấp (Rkh), (12) Kiểu
rừng kín cây lá kim ẩm ôn đới, núi vừa (Rkk), (13) Kiểu quần hệ khô vùng cao
(Qkc), (14) Kiểu quần hệ lạnh vùng cao (Qlc).
Phan Kế Lộc (1983) đã vận dụng thảm phân loại thực vật của UNESCO
(1973) để xây dựng khung phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam. Tác giả đã chia
thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 kiểu chính, đó là: Rừng rậm, rừng thưa, trảng
cây bụi, trảng cây bụi lùn, trảng cỏ.
Về mặt thực vật trên phạm vi toàn quốc phải kể đến bộ “ Cây cỏ Việt Nam”
của Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) xuất bản tại Canada và được tái bản có bổ sung
tại Việt Nam trong 2 năm 1999 và 2000. Đây là bộ sách đầy đủ nhất, dễ sử dụng
nhất, đã góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam.
Phạm Nhật (2003) đã nghiên cứu và đề xuất những kiến thức, kỹ năng cơ
bản về điều tra giám sát đa dạng sinh học, đưa ra các phương pháp rất chi tiết về
điều tra giám sát đa dạng sinh học thực vật, thảm thực vật và động vật ngoài thực
địa.
Lê Quốc Huy (2005) đã trình bày một số phương pháp nghiên cứu phân tích
định lượng các chỉ số đa dạng sinh học thực vật thông qua việc nghiên cứu, đánh
giá thảm thực vật với chỉ số giá trị quan trọng IV, chỉ số đa dạng sinh học loài H’e
Shanon và Weiner’s Index, chỉ số ưu thế, chỉ số tương đồng (Index of similality),
phương pháp phân tích đường cong đa dạng ưu thế. Khi đánh giá về mô hình thử
nghiệm trồng cây bản địa thuộc dự án trồng rừng KFW2 tại Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị bằng phương pháp phân tích định lượng thảm thực vật, tác giả đã tính
toán, phân tích định lượng các chỉ số đa dạng sinh học, phân tích đường cong đa
dạng ưu thế, dùng chỉ số giá trị quan trọng IV để biểu thị cấu trúc không gian, mối
tương quan và trật tự ưu thế giữa các loài trong một quần thể thực vật.
9
Phùng Ngọc Lan và ctv (2006) đã có công trình nghiên cứu về hệ sinh thái
rừng Việt Nam. Kết quả của công trình nghiên cứu này đã thống kê và đánh giá
được đa dạng hệ sinh thái rừng nhiệt đới và đa dạng loài sinh vật tại Việt Nam.
Để bảo tồn các cây gỗ quý, hiếm tại Việt Nam theo hình thức ngoại vi,
Nguyễn Văn Trương và ctv (2006) đã đúc kết các kinh nghiệm trong quá trình
nghiên cứu và đề xuất phương pháp bảo tồn đối với từng loài cá thể.
Cao Thị Lý (2008) đã nghiên cứu đa dạng sinh học trên khía cạnh những vấn
đề liên quan đến tổng hợp tài nguyên rừng ở một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng
Tây Nguyên, từ đó đề xuất giải pháp bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học.
Viên Ngọc Nam và ctv (2008) đã nghiên cứu đa dạng sinh học về thực vật
trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ, thành phố
Hồ Chí Minh bằng phương pháp khảo sát thực địa để thu thập số liệu và xử lý số
liệu bằng phần mềm PRIMER 5.0 để phân tích các chỉ số đa dạng sinh học. Tác giả
sử dụng SIMPER (Similarity Rercent) để mô tả mức độ đóng góp của các loài trong
quần xã, chỉ số Cacwell (V) để so sánh mức độ xáo trộn của môi trường, chỉ số đa
dạng Shannon (H’e) thực tế đo và Shannon (H’e) lý thuyết để xem xét sự thay đổi
tác động của môi trường. Tác giả cũng tính ma trận tương đồng (Similarity
Matrices) trên cơ sở tương đồng Bray - Curtis, vẽ các sơ đồ nhánh Cluster và sử
dụng NMDS (Non-Metric multi-Dimensional Scaling), PCA (Principal Component
Analysis) để mô tả mối quan hệ giữa các loài, các ô đo đếm từ ma trận tương đồng
với các yếu tố lập địa, ngập triều, đất.
2.2.3 Những nghiên cứu ở vườn quốc gia Bù Gia Mập
Ở Vườn Quốc gia Bù Gia Mập đã có một số nghiên cứu như: Viện Sinh Học
Nhiệt Đới thành phố Hồ Chí Minh (1997) đã tiến hành điều tra, đánh giá về sinh
thái, tài nguyên và môi trường Khu Bảo tồn thiên nhiên Bù Gia Mập; phân viện
Điều tra quy hoạch rừng Nam Bộ (2004) đã thực hiện dự án đầu tư xây dựng và
phát triển Vườn Quốc gia Bù Gia Mập giai đoạn 2005 – 2009, Vương Đức Hòa
(2009) đã tiến hành điều tra nghiên cứu đa dạng thực vật thân gỗ của kiểu rừng kín
thường xanh trên núi thấp ở ba đai độ cao khác nhau. Nhưng nhìn chung, phần lớn
các công trình nghiên cứu đa dạng ở Vườn Quốc gia Bù Gia Mập trước đây là
10
những nghiên cứu định tính, do vậy các kết quả chỉ mang tính định tính, liệt kê nên
không tạo được sự tin cậy trong công tác nghiên cứu và quản lý, bảo tồn tại vườn
quốc gia Bù Gia Mập.
2.3. Phân loại tổ dạng sống
Một trong những nội dung chính khi phân tích đa dạng một hệ thực vật là
phân tích phổ dạng sống của hệ thực vật đó. Bởi dạng sống là quá trình thích nghi
lâu dài của thực vật với môi trường sống. Các dạng sống đều có liên quan mật thiết
với môi trường sống của từng vùng, cũng như mức độ tác động của nhân tố sinh
thái. Để phân chia dạng sống, người ta dựa vào sự khác nhau và khả năng thích nghi
của thực vật trong thời gian bất lợi về thời tiết trong năm.
Mặc dù có nhiều kiểu phân loại dạng sống khác nhau, nhưng thông thường
người ta vẫn dùng phương pháp phân loại của Raukiaer (1934)[2] vì dễ sử dụng và
có tính khoa học cao. Theo cách này vị trí của chồi so với mặt đất được dùng làm
nguyên tắc chính để phân loại các dạng sống. Tác giả đã phân thành 5 nhóm dạng
sống cơ bản sau:
+ Phanerophytes (Ph):
Cây chồi trên mặt đất.
+ Chamaephytes (Ch):
Cây chồi sát đất .
+ Cryptophytes (Cr):
Cây chồi ẩn.
+ Therophytes (Th):
Cây chồi một năm.
+ Hemicryptophytes (Hm): Cây chồi nửa ẩn.
Trong đó cây chồi trên mặt đất (Ph), đã được Raukiaer chia thành 7 dạng nhỏ
cho phù hợp với vùng nhiệt đới ẩm, đó là:
+ Magaphanerophytes (Mg):
Cây gỗ lớn cao trên 25 m.
+ Méophanerophytes (Me):
Cây gỗ lớn cao từ 8 – 25 m.
+ Microphanerophytes (Mi):
Cây gỗ nhỏ cao 2 – 8 m.
+ Nanophanerophytes (Na):
Cây trồi cao 0.25 – 2 m.
+ Lianesphanerophytes (Lp) :
Cây trồi trên đất leo quấn.
+ Epiphytesphannerophytes (Ep): Cây chồi trên mặt đất sống nhờ và sống
bám.
11
+ Phanerophytes herbaces (Phh): Cây chồi trên đất thân thảo.
Tác giả đã tính toán cho hơn 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên trái
đất và lập thành phổ dạng sống tiêu chuẩn, kí hiệu là SN.
Bảng 2.1. Phổ dạng sống cơ bản của Raukiaer
Ph
Ch
Hm
Cr
Th
46
9
26
6
13
Hay SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th.
Đây là phổ dạng sống tiêu chuẩn của hệ thực vật ở các vùng khác nhau trên
thế giới.
Nhận xét chung:
Hiện nay, việc nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học đã
trở thành vấn đề cấp bách không những chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới. Khi
số lượng các sinh vật trên thế giới ngày càng suy giảm nghiêm trọng thì việc nghiên
cứu đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học không còn chỉ là vấn đề của một
quốc gia, một khu vực mà trở thành vấn đề của toàn cầu. Một số nước trên thế giới
như Anh, Thái Lan, Philippin,… đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng
phương pháp nghiên cứu định lượng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin để xử
lý số liệu nhanh chóng và có độ tin cậy cao. Ở nước ta, công tác nghiên cứu đa dạng
sinh học đã thực hiện từ lâu. Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu mang tính
mô tả, điều tra truyền thống, đơn giản và việc ứng dụng công nghệ thông tin và hệ
thống định vị toàn cầu (GPS) trong nghiên cứu đa dạng còn rất ít. Phương pháp
nghiên cứu đa dạng sinh học theo hướng định lượng kết hợp với công nghệ GIS đã
được một số tác giả áp dụng cho kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
nhưng còn rất ít.
Tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập đã xây dựng các hệ thống ô định vị gồm hai
ô cho kiểu rừng kín thường xanh và một ô cho kiểu rừng kín nửa rụng lá nhưng
phương pháp chủ yếu là điều tra, thống kê mô tả các loài động - thực vật có được
qua quá trình điều tra, chưa ứng dụng công nghệ GIS để theo dõi, lưu trữ, cập nhật
và bảo tồn đa dạng sinh học của đơn vị trong tương lai. Chính sự phát hiện trên,
12
việc thực hiện đề tài nghiên cứu đa dạng thực vật thân gỗ trong ô định vị tại vườn
quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh bình phước bằng phương pháp định lượng có sự trợ giúp
của công nghệ thông tin để xử lý số liệu sẽ bổ sung cơ sở dữ liệu cho công tác điều
tra, nghiên cứu và bảo vệ được hiệu quả hơn. Đề tài góp phần khẳng định ưu điểm
của phương pháp định lượng trong nghiên cứu đa dạng sinh học và biện pháp bảo
tồn các loài thực vật quí hiếm theo không gian và thời gian.
2.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là các thực vật thân gỗ (cây gỗ lớn) của kiểu rừng kín thường
xanh trên núi thấp tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, nhưng do giới hạn về thời gian
thực hiện đề tài, nên tôi đã thực hiện đề tài tại ô định vị II (đây là ô đại diện cho
kiểu rừng kín thường xanh trên núi thấp tại vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình
Phước).
2.5 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.5.1 Lịch sử hình thành và chức năng của Vườn quốc gia Bù Gia Mập
Vườn quốc gia Bù Gia Mập được chuyển hạng từ Khu Bảo tồn thiên nhiên
Bù Gia Mập thành Vườn quốc gia Bù Gia Mập theo Quyết định số 170/2002/QĐTTg ngày 27/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ. Vườn có tổng diện tích là 25.926
ha: trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có 18.163 ha, phân khu phục hồi sinh
thái có 7.663 ha và phân khu hành chính, dịch vụ có 100 ha. Diện tích vùng đệm là
15.200 ha. Trong đó, diện tích thuộc tỉnh Bình Phước là 7.200 ha, diện tích thuộc
tỉnh Đắk Nông là 8.000 ha.
Vườn quốc gia Bù Gia Mập có bốn chức năng chính[13], đó là:
(1). Duy trì và bảo tồn mẫu chuẩn hệ sinh thái đồi núi thấp chuyển tiếp từ
Cao Nguyên xuống đồng bằng Nam Bộ, có độ cao dưới 1.000m, được coi là rất đặc
trưng.
(2). Bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm.
(3). Rừng phòng hộ cho các thủy điện Sóc Phu Miên, Cần Đơn, Thác mơ.
(4). Xây dựng cơ sở vật chất, phục vụ nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch
sinh thái.
13
2.5.2. Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm ở phía Bắc của tỉnh Bình Phước, thuộc địa
phận hành chính xã Đắk Ơ và xã Bù Gia Mập huyện Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước,
cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km, và tỉnh lỵ của tỉnh Bình phước - Đồng Xoài
100 km.
Vườn quốc gia Bù Gia Mập có tọa độ địa lý: Từ 12o8'30" đến 12o7'3" vĩ độ
Bắc. Từ 107o3'30" đến 107o4'30" kinh độ Đông.
- Phía Tây và Tây Bắc giáp sông Đăk Huýt và là biên giới giữa Việt Nam và
Vương quốc Campuchia.
- Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đăk Nông.
- Phía Nam giáp Ban quản lý rừng phòng hộ Đăk Mai và Ban quản lý rừng
phòng hộ Đăk Ơ.
Hình 2.1. Bản đồ hiện trạng Vườn quốc gia Bù Gia Mập.
14