Tải bản đầy đủ (.pdf) (55 trang)

ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ ẤU TRÙNG ARTEMIA LÊN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG ẤU TRÙNG VÀ CHẤT LƯỢNG HẬU ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (538.84 KB, 55 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM
KHOA THỦY SẢN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ ẤU TRÙNG ARTEMIA
LÊN TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG ẤU TRÙNG
VÀ CHẤT LƯNG HẬU ẤU TRÙNG
TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879)

NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA: 2002 – 2006
SINH VIÊN THỰC HIỆN: CAO VĂN THỐN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2006


ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ ẤU TRÙNG ARTEMIA LÊN TỐC
ĐỘ TĂNG TRƯỞNG ẤU TRÙNG VÀ CHẤT LƯNG HẬU
ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879)

thực hiện bởi

Cao Văn Thốn

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản



Giáo viên hướng dẫn: Đinh Thế Nhân

Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 09/2006


TÓM TẮT
Đề tài “Ảnh hưởng của mật độ ấu trùng Artemia lên tốc độ tăng trưởng và
chất lượng hậu ấu trùng tôm càng xanh” được thưc hiện từ 03/2006 đến 07/2006 tại
Trại Thực Nghiệm Khoa Thủy Sản, trường Đại học Nông Lâm TP.HCM. Thí nghiệm
được bố trí gồm bốn nghiệm thức với mật độ Artemia tăng dần theo thứ tự từ I – IV.
Kết quả sau thời gian ương cho thấy có sự khác biệt về giai đoạn ấu trùng
(LSI) sau 10 ngày và 15 ngày, thời gian xuất hiện hậu ấu trùng đầu tiên (Tp) và 10%
hậu ấu trùng (T10). Nhưng tỉ lệ sống và chất lượng hậu ấu trùng thì không khác biệt
qua các nghiệm thức khác nhau.


ABSTRACT
The reseach on “ Effecting of the Artemia density on development of larvae
and postlarval quality of fresh giant fresh water prawn (Macrobrachium rosenbergii,
de Man, 1879). Trial with four treatments, triplicates. Artemia density was increased
from treatment I to IV.
The result showed that there were significant differences of larval stage
development (LSI) on day 10 and 15 of rearing period, postlarva appearance, 10%
larval metamorphosis time. However, no significant differences of survival rate,
postlarval quality among treatments were observed.


CẢM TẠ

Xin chân thành cảm ơn đến :
Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm và các Thầy Cô Khoa Thủy Sản đã tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt quá trình học và thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Đinh Thế Nhân đã tận tình hướng dẫn
trong suốt thời gian thực hiện đềø tài.
Do thời gian và kiến thức chuyên ngành còn hạn chế nên quá trình thực hiện
đề tài và hoàn tất luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi sự sai sót, kính mong được sự
chỉ dẫn của quý Thầy Cô và các bạn.


MỤC LỤC
ĐỀ MỤC

TRANG

TRANG ĐỀ TÀI
TÓM TẮT TIẾNG VIỆT
TÓM TẮT TIẾNG ANH
CẢM TẠ
MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC BẢNG
DANH SÁCH ĐỒ THỊ và HÌNH ẢNH

i
ii
iii
iv
v
vii

viii

I.

GIỚI THIỆU

1

1.1
1.2

Đặt Vấn Đề
Mục Tiêu Đề Tài

1
2

II.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

3

2.1
2.1.1
2.1.2
2.1.3
2.1.4
2.1.5
2.1.6

2.1.7
2.2
2.2.1
2.2.2
2.2.3
2.2.4
2.3
2.3.1
2.3.2
2.3.3
2.3.4
2.4
2.4.1
2.4.2
2.4.3
2.4.4
2.5

Đặc Điểm Sinh Học Tôm Càng Xanh
Phân loại
Phân bố
Hình thái
Vòng đời
Điều kiện môi trường sống
Đặc điểm sinh sản tôm càng xanh
Đặc điểm sinh học ấu trùng tôm càng xanh
Thành Phần Dưỡng Chất Thức Ăên
Protein
Lipid
Vitamin C

Khoáng chất
Artemia
Vai trò Artemia
Giá trò dinh dưỡng Artemia
Cách làm giàu Artemia
Khả năng tiêu thụ Artemia
Các Mô Hình Ương Nuôi u Trùng Tâm Càng Xanh
Hệ thống nước trong hở (Opened – water system)
Hệ thống nước trong kín (Closed – water system)
Hệ thống nước xanh (Green – water system)
Hệ thống nước xanh cải tiến (Modified Static green – water system)
Phương Pháp Đánh Giá Chất Lượng Hậu u Trùng (Postlarvae)

3
3
3
4
4
5
6
7
9
9
10
12
12
12
12
12
13

14
14
14
15
15
15
16


III.

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

17

3.1
3.2
3.2.1
3.2.2
3.2.3
3.2.4
3.2.5
3.3
3.3.1
3.3.2
3.4
3.4.1
3.4.2
3.4.3
3.4.4

3.4.5
3.4.6
3.4.7
3.5

Thời Gian và Đòa Điểm Thực Hiện Đề Tài
Vật Liệu và Trang Thiết Bò Nghiên Cứu
Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống thí nghiệm
Nguồn nước
Thiết bò và dụng cụ
Thức ăn
Bố Trí Thí Nghiệm
Phương pháp bố trí thí nghiệm
Quản lý và chăm sóc ấu trùng
Phương Pháp Thu Thập Số Liệu
Các chỉ tiêu môi trường nước
Chỉ số giai đoạn ấu trùng (LSI – Larval Stage Index)
Thời gian xuất hiện hậu ấu trùng (Tp)
Thời gian xuất hiện 10% (T10) và 90% (T90) hậu ấu trùng
Thời gian chuyển Postlarvae đồng loạt
Tỷ lệ sống
Đánh giá sức chòu đựng hậu ấu trùng
Phương Pháp Phân Tích Và Xử Lý Số Liệu

17
17

IV.


KẾT QUẢ và THẢO LUẬN

4.1
4.2
4.2.1
4.2.2
4.3

17

22

17
19
19
20
20
20
21
22
22
23
23
23
23
23
25
26

Các yếu tố môi trường thí nghiệm

Chỉ số giai đoạn ấu trùng (LSI)
LSI sau 10 ngày tuổi
LSI sau 15 ngày tuổi
Thời gian xuất hiện post (Tp), xuất hiện được 10% (T10) và 90%
(T90) post, thời gian chuyển post đồng loạt (UT)
4.4
Tỷ lệ sống
4.5
Đánh giá chất lượng hậu ấu trùng bằng test ammonia (LC 50)
4.5.1 Nồng độ dung dòch test
4.5.2 Kết quả thu thập sau 24 giờ

26
27
27
29
31
33
35
35
36

V.

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

38

5.1
5.2


Kết Luận
Đề Nghò
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

38
38


DANH SÁCH CÁC BẢNG

BẢNG

NỘI DUNG

TRANG

Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 3.1
Bảng 4.1
Bảng 4.2
Bảng 4.3
Bảng 4.4
Bảng 4.5
Bảng 4.6


Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh
Thành phần chính của acid béo trong động vật thủy sinh
Thành phần dinh dưỡng Artemia
Cấp độ tiêu thụ Artemia
Mật độ Artemia theo giai đoạn ấu trùng ở các nghiệm thức
Một số yếu tố môi trường trong hệ thống thí nghiệm
Chỉ số giai đoạn ấu trùng sau 10 ngày tuổi của thí nghiệm
Chỉ số giai đoạn ấu trùng sau 15 ngày tuổi của thí nghiệm
Thời gian xuất hiện post, xuất hiện post 10% và 90%
Tỉ lệ sống (%) của hậu ấu trùng ở các nghiệm thức
Kết quả 24 – LC50 (TAN) của hậu ấu trùng

8
10
13
14
22
26
27
29
31
34
36


DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ HÌNH ẢNH

ĐỒ THỊ

NỘI DUNG


Đồ thò 4.1
Đồ thò 4.2
Đồ thò 4.3
Đồ thò 4.4
Đồ thò 4.5

Tỷ lệ phần trăm (%) giai đoạn ấu trùng sau 10 ngày tuổi
Tỷ lệ phần trăm (%) giai đoạn ấu trùng sau 15 ngày tuổi
Thời gian xuất hiện post, xuất hiện post 10% và 90%
Tỉ lệ sống hậu ấu trùng của các nghiệm thức
24h - LC50 của hậu ấu trùng

HÌNH

NỘI DUNG

Hình 2.1
Hình 3.1
Hình 3.2
Hình 3.3

Vòng đời của tôm càng xanh
Bể lọc sinh học
Hệ thống bình weis ương nuôi ấu trùng
Test LC50

TRANG
28
29

32
34
37
TRANG
5
18
18
24


I. GIỚI THIỆU
1.1

Đặt Vấn Đề

Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii de Man, 1879) là một trong
những đối tượng quan trọng trong nghề nuôi trồng cũng như đánh bắt thủy sản. Theo
FAO (2002), tổng sản lượng tôm càng xanh trên thế giới đạt trên 119.000 tấn, đạt giá
trò 414 triệu USD vào năm 2000. Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc được xem là nơi
sản xuất giống tôm càng xanh chủ yếu, chiếm 95% tổng sản lượng thế giới. Theo báo
cáo mới nhất năm 2003, chỉ riêng Trung Quốc sản lượng tôm càng xanh đạt trên
300.000 tấn.
Ở nước ta, Đồng Bằng Sông Cửu Long có tiềm năng rất lớn cho nghề nuôi
thủy sản nói chung và tôm càng xanh nói riêng. Theo thống kê của Bộ Thủy Sản năm
2002, cả nước đạt khoảng 100.000 tấn, nhưng chủ yếu là Đồng Bằng Sông Cửu Long,
đặc biệt là các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bến Tre, Vónh Long và Trà
Vinh với các mô hình nuôi tôm trong ruộng lúa, mương vườn, nuôi đăng quầng
(Nguyễn Thanh Phương, 2003). Tuy nhiên nghề nuôi hiện nay đang gặp trở ngại lớn
về nguồn tôm giống, phần lớn nguồn tôm giống dựa vào khai thác từ tự nhiên, nhưng
nguồn tôm này ngày càng hiếm đi và chất lượng cũng giảm dần.

Để đáp ứng nhu cầu nuôi của người dân, hiện nay có một số người làm kinh tế
nhập khẩu nguồn tôm từ Trung Quốc vào và cạnh tranh thò trường với nguồn tôm
giống nội đòa. Điều đáng chú ý là giá tôm Postlarvae sản xuất trong nội đòa và
Postlarvae nhập khẩu hiện nay còn quá đắt so với nhu cầu người nông dân. Để cạnh
tranh thò trường với nguồn tôm giống Trung Quốc và phục vụ nhu cầu người dân trước
tiên ta phải hạ giá thò trường, chính xác hơn là giảm chi phí sản xuất.
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993), với mô hình nước trong kín, nước trong hở
và nước xanh. Để sản xuất được một triệu hậu ấu trùng tôm càng xanh thì cần 32-35
kg trứng bào xác Artemia và 42,65-75 kg thức ăn chế biến, tương ứng với 32% tổng
chi phí. Để giảm được chi phí này trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về
việc thay thế thức ăn tươi sống bằng thức ăn tự tạo, điều này cũng đồng nghóa là phải
có một phương pháp sử dụng cũng như cách quản lí thức ăn tươi sống sao cho tốt hơn.
Từ thực tế trên và được sự phân công của Khoa Thuỷ Sản, trường Đại Học
Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh, cùng với sự hướng dẫn của thầy Đinh Thế Nhân chúng
tôi đã tiến hành thực hiện đề tài : “Ảnh hưởng của mật độ Artemia lên ấu trùng
tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879)”.


1.2

Mục Tiêu Đề Tài

Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá sự ảnh hưởng của của mật độ ấu trùng
Artemia lên tốc độ tăng trưởng thời gian biến thái và chất lượng hậu ấu trùng. Ngoài
ra thí nghiệm còn góp phần hoàn thiện và cách quản lí ấu trùng Artemia trong sản
xuất giống tôm càng xanh.


II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU


2.1

Đặc Điểm Sinh Học Tôm Càng Xanh

2.1.1

Phân loại
Theo Holthuis (1980) tôm càng xanh có vò trí phân loại như sau:
Ngành tiết túc: Arthropoda
Lớp giáp xác: Crustacea
Bộ phụ giáp xác bậc cao: Malacostraca
Bộ mười chân: Decapoda
Bộ phụ chân bơi: Natantia
Phân bộ: Caridea
Họ: Palaemonidae
Phân họ: Palaemoninae
Giống: Macrobrachium
Loài: M. rosenbergii (De Man, 1879)

Đây là giống có nhiều loài nhất trong các giống thuộc họ Palaemonidae,
khoảng 200 loài. Nhưng trong đó loài: M. rosenbergii, M. americanum, M. cacinus có
lẽ là loài có kích thước lớn nhất được biết đến trong họ Palaemonidae.
2.1.2

Phân bố

Trong tự nhiên tôm càng xanh phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, tập
trung nhiều nhất ở vùng nam và đông nam Châu Á, một phần của Đại Tây Dương và
một vài bán đảo ở Thái Bình Dương (Trần Thò Thanh Hiền, 2003)
Ở Việt Nam tôm càng xanh phân bố tự nhiên từ Nha Trang vào đồng bằng

Nam Bộ, tập trung nhiều nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Phạm vi phân bố, mật
độ quần đàn tự nhiên của tôm càng xanh phụ thuộc vào một số yếu tố môi trường như
là: nhiệt độ, độ mặn và độ pH (Nguyễn Việt Thắng, 1995)
2.1.3

Hình thái

Tôm càng xanh là loài có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt, có thể
phân biệt với các nhóm tôm khác ở hình dạnh và màu sắc của chúng. Tôm càng xanh


có cơ thể thon dài, đối xứng hai bên, màu xanh nhạt và đặc biệt là có đôi càng khá
lớn màu xanh dương và có nhiều gai trên đó (Nguyễn Thanh Phương, 2003). Theo
FAO (1985), cơ thể tôm càng xanh có thể được chia làm hai phần: phần đầu ngực
(carapace) và phần bụng.
Phần đầu ngực: phía trước phần đầu ngực có chủy nhọn và có nhiều gai, phía
trên chủy có từ 12 - 15 gai, phía dưới chủy có từ 10 - 13 gai. Phía dưới phần đầu ngực
là năm đôi chân ngực, trong đó có hai đôi chân mang kẹp và chân ngực mang kẹp thứ
hai là lớn nhất.
Phần bụng: Phần bụng tôm càng xanh có 6 đốt có thể cử động và một và đốt
cuối cùng nhọn và cứng được gọi là telson. Mỗi đốt bụng mang một đôi phụ bộ gọi là
chân bơi, mỗi đốt bụng điều có tấm vỏ bao và tấm vỏ phía trước xếp trồng lên tấm vỏ
phía sau. Tuy nhiên tấm vỏ củ đốt bụng thứ hai phủ lên cả tấm vỏ trước và sau nó.
Điều này giúp dể dàng phân biệt tôm càng xanh với tôm biển.
2.1.4 Vòng đời
Vòng đời của tôm càng xanh gồm bốn giai đoạn: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng
và tôm trưởng thành (FAO, 1985). Từ giai đoạn hậu ấu trùng đến khi trưởng thành
chúng sống ở vùng nước ngọt, khi thành thục tôm bắt cặp, đẻ trứng và trứng dính vào
chân bơi tôm mẹ. Tôm mang trứng di cư đến vùng nước lợ có độ mặn từ 5-20 ppt
(George, 1969) để nở. Ởû đó ấu trùng sống phù du (Ling, 1969; Uno và Kwon, 1969)

và trải qua 11 lần biến thái phát triển thành hậu ấu trùng. Lúc này tôm có xu hướng
tiến vào vùng kênh, gạch, ao hồ... Ở đó, chúng sống và lớn lên đến khi thành thục.
Tôm có khả năng di cư rất xa, hơn 200 km từ vùng nước lợ vào vùng nước ngọt. Khi
trưởng thành và đến thời kỳ sinh sản chúng có xu hướng di cư vào vùng nước lợ để
tiếp tục vòng đời tiếp theo.
Theo Ling (1969), nhiệt độ môi trường quyết đònh đến thời gian mang trứng
của tôm mẹ. Ởû nhiệt độ 25 – 310C thời gian mang trứng là 19-23 ngày và thời gian
biến thái ấu trùng là 20 - 40 ngày. Ấu trùng sẽ chết sau vài ngày nếu chúng không
được sống trong môi trường nước lợ.


Hình 2.1 Vòng đời của tôm càng xanh (Nguồn: Shinghohka,1985)
2.1.5

Điều kiện môi trường sống

2.1.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ thích hợp hầu hết các giai đoạn của tôm dao động trong khoảng 26 –
31 C, tốt nhất 28 – 300C. Nhiệt độ thấp dưới 130C hay trên 380C gây chết ấu trùng,
khi nhiệt độ ngoài khoảng 22 – 33oC hoạt động sinh trưởng và sinh sản của tôm sẽ bò
giảm mạnh. Do đó trong sản xuất giống cần phải chú ý đến vấn đề này, nếu nhiệt độ
cao ấu trùng tăng trưởng nhanh, thời gian giữa các lần lột xác ngắn và kích cở nhỏ.
Kết quả là chúng phát triển cơ thể không cân đối trong từng giai đoạn và hay bò chết
ở giai đoạn VI hoặc XI (Nguyễn Thanh Phương, 2003).
0

2.1.5.2 Độ mặn
Theo nghiên cứu của Ling (1969) thì ấu trùng tôm càng xanh cần có nước lợ
mới phát triển được, chúng sẽ chết trong vòng vài ngày sau khi nở nếu sống trong
nước ngọt hoặc nước có độ mặn cao. Ấu trùng cần có độ mặn tốt nhất là 10 – 12 ppt,

có thể hạ dần độ mặn khi chúng sắp chuyển postlarvae và độ mặn thấp hơn 6 ppt ở
giai đoạn hậu ấu trùng.
2.1.5.3 Hàm lượng oxy
Theo Nguyễn Thanh Phương (2003), nhu cầu oxy cho hô hấp của tôm tùy
thuộc vào nhiều yếu tố như: giai đoạn của tôm, nhiệt độ, độ mặn... Đối với tôm con,
oxy tối thiểu phải trên 2,1 ppm ở 230C, trên 2,9 ppm ở 280C và trên 4,7 ppm ở 330C.
Trong sản xuất giống, hàm lượng oxy nên được duy trì trên 5 ppm.
2.1.5.4 Hợp chất Nitơ


Ammonia là sản phẩm bài tiết của động vật thủy sản (Klinne, 1976). Trong
nước ammonia tồn tại ở hai dạng ion ammonium (NH4+) và dạng không phân ly
(NH3). Thông qua quá trình chuyển hoá của vi khuẩn, ammonia sẽ chuyển thành
nitrite và sau đó chuyển thành nitrate không độc. Tùy theo pH và nhiệt độ, ammonia
sẽ tồn tại nhiều hay ít dưới dạng khí NH3. Nồng độ NH3 càng tăng khi pH và nhiệt đôï
càng tăng (Emerson và ctv., 1975). Theo Nguyễn Thanh Phương (2003), chỉ tiêu
nitrite tốt nhất cho ương ấu trùng là dưới 0,01 ppm và 1 ppm đối với nitrate.
2.1.5.5 pH
Độ pH thích hợp nhất cho sự sinh trưởng của tôm trong các giai đoạn là 7,0 –
8.5. pH dưới 6,5 hay trên 9,5 kéo dài sẽ không tốt cho tôm trong tất cả các giai đoạn.
2.1.5.6 Độ cứng
Theo Nguyễn Thanh Phương (2003), tôm cần các loại chất khoáng như Canxi,
Magiê cho quá trình hình thành vỏ mới và lột xác. Tuy nhiên khi độ cứng cao hơn
300 ppm sẽ làm cho tôm chậm lớn, dễ bệnh do các nguyên sinh động vật bám. Độ
cứng thích hợp nhất cho ương nuôi ấu trùng trong khoảng 50 – 150ppm. Đối với ấu
trùng, độ cứng thấp dưới 50 ppm có thể gây ra hiện tượng mềm vỏ
2.1.6 Đặc điểm sinh sản tôm càng xanh
2.1.6.1 Phân biệt tôm đực – cái
Dựa vào hình dạng bên ngoài ta có thể phân biệt được tôm đực và tôm cái.
Tôm đực có kích cỡ lớn hơn tôm cái. Đầu ngực tôm đực to hơn và khoang bụng hẹp

hơn tôm cái. Đôi càng thứ hai to dài và thô. Các gốc chân ngực của tôm đực cũng xếp
khít với nhau hơn so với tôm cái. Cạnh đốt gốc của chân ngực thứ năm có lỗ mở sinh
dục đực được che phủ bởi tấm giáp. Ngoài ra, con đực còn có nhánh phụ đực ở chân
bơi thứ hai và ở giữa mặt bụng của đốt bụng thứ nhất có mấu cứng.
Cơ quan sinh dục con đực gồm có: một đôi tinh sào, một đôi ống dẫn tinh và
đầu mút. Đôi tinh sào ngoằn ngoèo nằm giữa mặt lưng của giáp đầu ngực được nối
với ống dẫn tinh chạy từ trước tim dọc sang hai bên viền sau của giáp đầu ngực và đổ
vào đầu mút nằm ở đốt gốc của chân ngực thứ năm. Túi tinh dược hình thành trong
quá trình phóng tinh, túi tinh chứa khối tinh trùng không di động.
Tôm cái thường có kích cỡ nhỏ hơn tôm đực, phần đầu ngực nhỏ và đôi càng
thon nhỏ. Tôm có ba tấm bụng đầu tiên rộng tạo thành buồng ấp. Lỗ sinh dục của con
cái nằm ở gốc chân ngực thứ ba, có dạng tam giác. Xuất hiện nhiều lông tơ trên chân
ngực và chân bụng.


Ởû con cái buồng trứng nằm tên mặt lưng của phan đầu ngực, giữa dạ dày và
gan tụy. Khi buồng trứng thành thục có màu vàng, có thể nhìn thấy qua giáp đầu
ngực. Ống dẫn trứng nối từ ở giữa tim chạy dọc hai bên về phía bụng đổ về túi chứa
tinh ở gốc chân ngực thứ ba.
2.1.6.2 Thành thục, giao vó, đẻ trứng và ấp trứng của tôm
Trong tự nhiên cũng như trong môi trường nuôi nhân tạo, tôm càng xanh có
thể thành thục sau 3 - 3,5 tháng tuổi kể từ hậu ấu trùng 10-15 ngày tuổi, ứng với kích
thước 10-13 cm hay với trọng lượng nhỏ nhất bắt gặp ngoài tự nhiên là 7,5g. Tuy
nhiên, tuổi thành thục và kích cở thành thục còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi
trường và thức ăn. Theo Ang và Law (1991), dinh dưỡng của tôm bố mẹ quyết đònh
đến số lượng trứng và chất lượng ấu trùng sau này.
Quá trình giao vó được tiến hành khi con cái hoàn tất việc lột xác (khoảng 3 6 giờ). Từ 2 - 5 giờ sau khi giao vó con cái bắt đầu đẻ trứng, những con cái không
được giao vó cũng đẻ trứng nhưng trứng sẽ bò rụng sau vài ngày (FAO, 1985).
2.1.7 Đặc điểm sinh học ấu trùng tôm càng xanh
2.1.7.1 Hình thái

Ấu trùng mới nở sống phù du, có tính hướng quang rất mạnh. Chúng tồn tại và
phát triển trong nước lợ có độ mặn 5 - 20 ppt (George, 1969). Ấu trùng sẽ chết sau 3 4 ngày nếu không được sống trong nước lợ. Ấu trùng bơi lội chủ động theo kiểu giật
lùi, bụng ngửa và đuôi hướng về phía trước. Chúng ăn liên tục, thức ăn là các loại
động vật phù du, giun nhỏ, ấu trùng côn trùng giáp xác.
Sự phát triển của ấu trùng tôm càng xanh trải qua 11 lần lột xác và biến thái
thành hậu ấu trùng. Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh được trình bày
như bảng 2.1, theo Uno và Soo (1969); trích bởi Nguyễn Thanh Phương (2003).


Bảng 2.1 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh
Giai đoạn
I
II
III
IV

Ngày tuổi
(ngày)
1
1-2
3-4
4-6

Chiều dài ấu trùng
(mm)
1,92
1,99
2,14
2,50


V
VI
VII
VIII
IX

5-8
7 - 10
11 - 17
14 - 19
15 - 22

2,80
3,75
4,06
4,68
6,07

X
XI
Postlarvae

17 - 24
19 - 26
23 - 27

7,05
7,73
7,69


Đặc điểm
Mắt chưa có cuống
Mắt có cuống
Xuất hiện chân đuôi
Có 2 răng trên chủy, chân đuôi có
hai nhánh, có lông tơ
Telson hẹp và kéo dài ra
Mầm chân bụng xuất hiện
Chân bụng có hai, chưa có lông tơ
Chân bụng có lông tơ
Nhánh trong của chân bụng có
nhánh phụ trong
Có 3-4 răng trên chủy
Răng xuất hiện hết nửa trên chủy
Răng xuất hiện cả trên và dưới
chủy, có tập tính như tôm lớn

2.1.7.2 Tập tính dinh dưỡng ấu trùng tôm càng xanh
Đối với ấu trùng giáp xác, thức ăn tự nhiên ban đầu của chúng chủ yếu là thực
vật phiêu sinh hoặc thực vật phiêu sinh kết hợp với động vật phiêu sinh. Do đó, các
nghiên cứu về thức ăn tôm thường tập trung chủ yếu vào các loại thức ăn tươi sống
này. Để chủ động trong việc ương nuôi ấu trùng giáp xác, các nhà nghiên cứu đã
nghiên cứu nuôi thành công một số loại thức ăn tự nhiên làm thức ăn cho ấu trùng
như tảo, Artemia, luân trùng, giáp xác râu ngành, giáp xác chân chèo… Hầu hết các
loài nêu trên đều có giá trò dinh dưỡng cao phù hợp với nhu cầu phát triển của ấu
trùng tôm. Ưu điểm của chúng là có kích thước nhỏ, sống mọi tầng nước, phù hợp cho
tập tính bắt mồi thụ động của ấu trùng và không làm ô nhiễm môi trường nước
(Nguyễn Việt Thắng, 1993). Tuy nhiên, muốn chủ động sản xuất và sản xuất với quy
mô lớn thì việc nghiên cứu, sử dụng thức ăn tươi sống vẫn còn là chiến lược quan
trọng. Hiện nay, khả năng thay thế thức ăn tươi sống bằng thức ăn nhân tạo cũng

đang từng bước tiến triển và thành công trên một số loài giáp xác.
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993), giai đoạn đầu của ấu trùng tôm càng xanh
không sử dụng thực vật phiêu sinh mà sử dụng động vật phiêu sinh là chủ yếu. Đến
giai đoạn VII, tôm chuyển sang ăn tạp. Từ giai đoạn này ta có thể bổ sung thức ăn
công nghiệp hoặc thức ăn tự chế do sự bắt mồi của tôm không có sự chọn lọc nhưng
trong quá trình tiêu hóa thì có sự chọn lọc.
Ở giai đoạn đầu, ấu trùng tôm không bắt mồi chủ động mặc dù thò giác của
chúng tốt (Daniel, D’ Abramo, và Paseval, 1992 ) mà chúng hầu như bắt mồi do sự


ngẫu nhiên. Thức ăn tươi sống di chuyển liên tục trong cột nước nên tạo cơ hội tốt
cho ấu trùng bắt gặp thức ăn. Kích thước thức ăn tươi sống cũng là vấn đề rất quan
trọng. Từ giai đoạn I – III ấu trùng chỉ có thể ăn được ấu trùng Artemia mới nở có
kích thước khoảng 500 µm. Moina cũng có thể bổ sung vào nhưng phải sau giai đoạn
IV (Ang và Alam, 1995). Sau giai đoạn VII, ấu trùng có khả năng sử dụng thức ăn
ngoài. Do đó, ngoài Artemia cần cung cấp thêm những nhân tố vi lượng cần thiết cho
ấu trùng (Ling, 1969) thông qua con đường thức ăn thay thế. Tuy nhiên, thành phần
thức ăn chế biến rất khác nhau tùy tác giả, đa số các thức ăn chế biến gồm có : trứng,
mực tươi, cá, thòt nhuyễn thể, dầu mực, vitamin C... Thức ăn chế biến thường được sử
dụng vào ban ngày nhằm dễ quản lý.
Tóm lại, việc sử dụng thức ăn cho ấu trùng tôm càng xanh rất khác nhau, tùy
thuộc vào điều kiện kỹ thuật, khả năng quản lý và áp dụng. Hiện nay, trên thò trường
có bán một số loại thức ăn công nghiệp sử dụng cho việc ương ấu trùng tôm càng
xanh. Tuy nhiên, qua thời gian thí nghiệm kết quả đạt được chưa cao. Đó là do tôm
không bắt được mồi và môi trường không ổn đònh. Vì vậy, nghiên cứu chế biến thức
ăn cho ấu trùng tôm càng xanh là điều rất cần thiết (Trần Thò Thanh Hiền, 2004).
2.2

Thành Phần Dưỡng Chất Thức Ăn


2.2.1

Protein

Chất đạm có vai trò quan trọng trong thành phần thức ăn tôm cá. Chất đạm là
thành phần cơ bản để tạo thành cơ và các cơ quan nội tạng, nó chiếm khoảng 65 –
75% trong thành phần sinh hoá của tôm. Mức đạm tối ưu trong thức ăn của tôm là từ
27 – 35% (Nguyễn Thanh Phương, 2003). Đối với ấu trùng thì nhu cầu này tăng cao
hơn. Thiếu đạm sẽ làm cho tôm cá chậm phát triển, giảm khả năng chống chòu bệnh
tật và các điều kiện môi trường. Ngược lại, nếu thừa đạm thì đạm này chuyển sang
dạng năng lượng dự trữ hoặc thải ra ngoài. Điều đó làm ảnh hưởng đến hiệu quả sản
xuất. Nhu cầu đạm của tôm thay đổi rất lớn theo giai đoạn phát triển. Ngoài hàm
lượng đạm, các thành phần trong chất đạm cũng được quan tâm nghiên cứu, đặc biệt
là các acid amin thiết yếu như : Arginine, Histidine, Lysine, Valine, Isoeusine,
Methionine, Phenylalanine, Threonine và Trytophan. Do đó, sự tăng trưởng, tỉ lệ
sống và hệ số chuyển hoá thức ăn còn tuỳ thuộc nhiều vào nguồn đạm chế biến thức
ăn. Nguồn đạm từ bột cá, bột đậu nành ly trích dầu giúp tôm tăng trưởng tốt. Đối với
ấu trùng và Poslarvae, nguồn đạm sử dụng chủ yếu là đạm động vật, tỉ lệ giữa đạm
động vật và thực vật tốt nhất là 3 :1 (Nguyễn Thanh Phương, 2003). Để có thể chủ
động được thức ăn, trong sản xuất giống tôm càng xanh người ta thường sử dụng
nauplius Artemia. Chúng là loại thức ăn tươi sống có hàm lượng protein cao và trong
thành phần dưỡng chất của ấu trùng Artemia có chứa đầy đủ các thành phần acid
amin thiết yếu nêu trên.
2.2.2

Lipid


2.2.2.1 Thành phần lipid của tôm
Thành phần chính của lipid trong cơ thể giáp xác chủ yếu gồm triglyceride và

phospholipid. Những thành phần khác như : sterol, ester và acid béo tự do chiếm
không quá 10%. Đối với tôm biển, hàm lượng n-3 HUFA thường cao hơn nhóm tôm
nước ngọt. Hàm lượng n-3 HUFA trong lipid tôm biển là 41,5%, trong khi đó hàm
lượng này trong tôm nước ngọt là 20,4%. Trái lại, n-6 PUFA trong tôm nước ngọt là
20,4%, trong khi ở tôm biển 13%. Đối với tôm càng xanh, hàm lượng 18 :1n-9, 16 :0
và 18 :2n-6 cao hơn tôm biển rất nhiều. Sự khác nhau này có thể là do thức ăn của
nhóm tôm nước ngọt chủ yếu là nhóm sống ở khu vực nước ngọt, đặt biệt là nhóm
thực vật, mà thành phần lipid của thực vật nước ngọt chủ yếu là n-6 HUFA,
(Chammugam, Donovan và Hwang, 1983).
Bảng 2.2 Thành phần chính của acid béo trong động vật thủy sinh
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Tên gọi nhanh
14 :0
16 :0
18 :0
18 :1n-9
18 :2n-6
18 :3n-3
20 :4n-6
20 :5n-3

22 :6n-3

Tên thôngthường
Myristic
Palmitic
Stearic
Oleic
Linoleic
Linolenic
Arachidonic (AA)
Eicosapentaenoic (EPA)
Docosahexenoic (DHA)

2.2.2.2 Nhu cầu acid béo đối với tôm
Yếu tố thứ hai được quan tâm nghiên cứu về dinh dưỡng là chất béo. Lipid giữ
vai trò quan trọng như là nguồn cung cấp năng lượng (8 – 9 Kcal/g) và các acid béo
thiết yếu cho quá trình sinh trưởng và phát triển của động vật thủy sản. Lipid trong
thức ăn cũng đóng vai trò là chất vận chuyển các vitamin tan trong dầu và sterol.
Ngoài ra trong thành phần lipid có phospholipid và sterol ester tham gia vào quá
trình sinh tổng hợp màng tế bào.
Thành phần acid béo trong sinh vật thủy sinh là các acid béo mạch dài từ 4 –
24 carbon và một nhóm carbonxyl. Đối với động vật thủy sinh hầu hết các acid béo
chứa đựng từ 12 – 22 carbon dạng mạch thẳng. Những acid béo có mạch carbon từ 18
carbon trở lên và ít nhất có hai nối đôi được gọi là PUFA (polyunsaturated fatty acid)
và những acid béo có chuỗi carbon dài từ 20 carbon trở lên, có ít nhất ba nối đôi như:
20:3n-3; 22:4n-3; 20:4n-6; 22:3n-6 được gọi tên là HUFA (highly unsaturated fatty
acid). Những acid béo không no hiện diện rất phổ biến và phong phú trong chuỗi thức
ăn thủy vực, trong đó người ta quan tâm đến hai nhóm acid béo: nhóm n-3 (các acid



béo không no có nối đôi đầu tiên bắt đầu từ carbon thứ 3) và nhóm n-6 (các acid béo
không no có nối đôi đầu tiên bắt đầu từ carbon thứ 6) (D’ Abramo, 1997).
2.2.2.3 Nhu cầu acid béo của ấu trùng
Đối với giai đoạn ấu trùng, lipid đóng vai trò quan trọng bởi nó cung cấp các
acid béo cần thiết. Các acid béo thiết yếu rất quan trọng trong quá trình phát triển,
trao đổi chất, sinh lý và xây dựng cơ thể cua giáp xác. Hàm lượng acid béo cần thiết
ở giai đoạn ấu trùng cao hơn ở giai đoạn trưởng thành. Ở giai đoạn ấu trùng, mức độ
của C16 và C18 giảm trong khi gia tăng của n-3 PUFA. Điều này cho thấy tầm quan
trọng của n-3 PUFA trong thành phần thức ăn (Millamena và Quinitio, 1984). Theo
Nassens và ctv. (1995) cho biết tỉ lệ sống của ấu trùng tôm Penaeus vananmei khi cho
ăn luân trùng và Artemia được làm giàu hoá n-3 HUFA với tỉ lệ DHA/EPA từ 0,5 –
1,5 là tốt nhất cho ấu trùng. Sinh trưởng và tỉ lệ sống cũng như chất lượng ấu trùng
tôm càng xanh cao khi sử dụng ấu trùng Artemia được làm giàu HUFA. Tỷ lệ sống,
sinh trưởng và khả năng chòu đựng của tôm sú cũng được cải thiện khi cho ăn Artemia
giàu hoá HUFA.
Theo FAO (1996), các yêu cầu về n-3 HUFA của tôm càng xanh giai đoạn
trưởng thành được tiên đoán là không quan trọng lắm vì trong thực tế những động vật
này sống gần hết cuôïc đời trong nước ngọt. Tuy nhiên, những giả đònh này còn rất
mâu thuẫn với nghiên cứu có sử dụng Artemia được làm giàu bằng các nhũ tương n-3
HUFA khác nhau để ương nuôi ấu trùng ở các trại sản xuất giống. Kết quả cho thất
tốc độ tăng trưởng được cải thiện, sự biến thái của ấu trùng sớm và hậu ấu trùng chòu
stress cao.
2.2.2.4 Vai trò phospholipid đối với tôm
Phospholipid có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng động vật thủy sản, đặc
biệt là giáp xác. Nó tham gia vào cấu trúc của tất cả các màng tế bào cơ bản, giữ vai
trò quan trọng trong sự vận chuyển và hấp thu lipid, tham gia vào quá trình biến
dưỡng trung gian trong cơ thể sinh vật. Đối với động vật thủy sản, nguồn cung cấp
phospholipid chủ yếu là lecithin từ dầu đậu nành. Theo Harrison (1990), hầu như tất
cả các loài giáp xác điều cần lecithin trong suốt quá trình phát triển, đặïc biệt là giai
đoạn ấu trùng. Theo Teshima và Kavazawa(1986), ấu trùng tôm biển sẽ chết 100% ở

giai đoạn Mysis nếu cho thức ăn không có lecithin. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng và
hiệu quả sử dụng thức ăn sẽ giảm trên tôm he Nhật Bản nếu hàm lượng bổ xung
lecithin dưới 3%.
2.2.3

Vitamin C

Hầu hết các loài động vật thủy sản phụ thuộc vào nguồn vitamin C cung cấp
từ thức ăn bởi chúng không thể tự tổng hợp vitamin C được do chúng không có


enzyme gluconolatone oxidase, một enzyme cần thiết cho sự chyển hóa glucose
thành ascorbic acid (Burns và ctv., 1996). Trên giáp xác, thiếu vitamin C dẫn đến sự
giảm tăng trưởng, giảm tần số lột xác cũng như sức chòu đựng đối với stress
(Deshimaru và Kurok, 1976). Đối với ấu trùng tôm, bổ sung vitamin C góp phần quan
trọng vào quá trình tổng hợp collagen, làm ngăn chặn được bệnh chết đen (Black
Death) (Heinen, 1984). Theo FAO (1996), hàm lượng acid ascorbic ở các nauplius
Artemia biến đổi từ 300 – 500 µg/g trọng lượng khô và có thể đủ để cung cấp lượng
vitamin cho ấu trùng. Tuy nhiên, các yêu cầu về vitamin cho ấu trùng vẫn còn chưa
được biết nhiều và có thể còn cao hơn do tốc độ sinh trưởng và chuyển hoá của các
ấu trùng cao.
2.2.4

Khoáng chất

Nhu cầu về khoáng cho giáp xác dao động từ 2 – 19,5% tính theo trọng lượng
khô, trong đó tỉ lệ hàm lượng C:P là 0,76:1 đến 4:1 (Biddle, 1977). Tuy nhiên, nhu
cầu về khoáng trên ấu trùng còn ít được biết đến và chỉ thoả mãn bằng con đường sử
dụng nước biển. Đối với ấu trùng tôm càng xanh, vấn đề được quan tâm ở đây là liệu
ấu trùng Artemia có thể đáp ứng được nhu cầu về khoáng trong môi trường nước lợ

hay không.
2.3

Artemia

2.3.1

Vai trò Artemia

Artemia là loại thức ăn tươi sống rất quan trọng trong nuôi trồng thủy sản.
Theo Alam và Ang (1995), Artemia được xem là nguồn thức ăn duy nhất trong những
ngày đầu của ấu trùng tôm càng xanh (từ giai đoạn I – III). Ngoài việc sử dụng
Artemia mới nở cho ấu trùng tôm càng xanh, trong giai đoạn đầu, người ta còn dùng
Artemia trưởng thành từ nuôi sinh khối làm thức ăn chế biến cho ấu trùng hay cho hậu
ấu trùng ăn trực tiếp.
2.3.2

Giá trò dinh dưỡng Artemia

Ấu trùng Artemia có hàm lượng protein cao (45% trọng lương khô), thành
phần các acid amin khá cân đối cho giáp xác cũng như có hàm lượng lipid cao. Tuy
nhiên, thành phần các acid béo lại thiếu cân đối, với hàm lượng DHA chỉ chiếm 0,1%
trong khi EPA chiếm đến 10,5% trọng lượng khô của ấu trùng Artemia (Nguyễn Thò
Thanh Hiền, 2004). Điều này gợi ý cho việc ta nên giàu hóa ấu trùng Artemia với
DHA cũng như vitamin C trước khi cho ấu trùng tôm ăn.


Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng Artemia
Thành phần
Protein

Lipid
Carbonhydrat
Tro

Nauplii
52.2 ± 8.8
18.9 ± 4.5
14.8 ± 4.8
9.7 ± 4.6

Con trưởng thành
56.4 ± 5.6
11.8 ± 5.0
12.1 ± 4.4
17.4 ± 6.3

(Nguồn: Leger và ctv., 1986)
Giá trò dinh dưỡng của nauplius Artemia sẽ bò giảm dần theo thời gian. Thời
điểm giàu dinh dưỡng nhất là lúc mới nở (giai đoan intar I). Lúc này chúng có màu
cam, kích thước nhỏ (khoảng 500 µm), kém bơi lội, năng lượng dự trữ nhiều nên sử
dụng rất thích hợp cho tính bắt mồi của ấu trùng tôm trong những ngày đầu. Bắt đầu
từ giai đoạn intar II, chúng tăng dần kích thước, tăng khả năng bơi lội và màu nhạt
dần, làm giảm khả năng bắt mồi của ấu trùng tôm. Vì vậy, trong sản xuất giống, khi
có một lượng dư thừa Artemia thu được cần được làm giàu dinh dưỡng để tái sử dụng,
trữ lạnh hoặc sử dụng cho ấu trùng tôm có kích lớn hơn.
Theo Lager và ctv. (1986), Artemia có thể tồn trữ ở nhiệt độ lạnh (0 - 40C) với
sục khí nhẹ nhàng ở mật độ 15,000 nauplii/ml và có thể chòu dựng trong 48 giờ, ngoại
trừ dòng Chaplin (Canada) và Bueos (Argentina). Trong điều kiện trữ lạnh, tỉ lệ sống
có thể trên 90% sau khi đưa vào nước ở nhiệt độ thường trong 24 giờ và sự mất dinh
dưỡng được xem là không đáng kể.

Kích thước nauplius Artemia mới nở là chỉ tiêu rất quan trọng khi sử dụng
chúng trong các trại sản xuất giống. Trong thực tế, nhiều loài giáp xác và cá biển đòi
hỏi yêu cầu loại thức ăn sống có kích thước nhỏ. Những giai đoạn phát triển đầu tiên
của các loài này đòi hỏi thức ăn là tảo, sau đó là các loài phù du động vật có kích
thước nhỏ khoảng 100 – 200 µm (như Rotifer), rồi đến Artemia. Vì vậy, kích thước
Artemia mới nở sẽ quyết đònh đến thời điểm ấu trùng có khả năng sử dụng chúng.
Tuy nhiên, trong sản xuất giống tôm càng xanh, các giai đoạn ấu trùng đều có khả
năng sử dụng Artemia mới nở (instar I) một cách trực tiếp và không bò ảnh hưởng bởi
các dòng Artemia khác nhau. Bên cạnh đó, do cơ thể Artemia được bao bọc bởi một
lớp vỏ rất mỏng nên kích thước của chúng không làm ảnh hưởng đến sự tiêu hoá cơ
học của ấu trùng tôm.
2.3.3

Cách làm giàu Artemia

Hiện nay, người ta thường dùng phương pháp bao màng sinh học đêå nâng cao
giá trò dinh dưỡng của Artemia, với những thành phần cần thiết như : acid béo chưa
bão hoà, vitamin... Nguyên tắc chung được áp dụng là khi Atermia lột xác sang giai
đoạn ấu trùng thứ hai (khoảng 8 giờ sau khi nở) chúng có tính ăn không chọn lọc khi


nhặt những chất có dạng hạt (FAO, 1996). Trong thời gian thực hiện cần chú ý đến
nhiệt độ, sự sục khí, độ ổn đònh của môi trường... Theo Lager và ctv. (1986) Các nhà
nghiên cứu Anh, Pháp, Nhật và Bỉ đã phát triển các sản phẩm làm giàu khác gồm có
các tảo đơn bào, nấm men và các chất nhũ tương.
Ưu điểm của Artemia được làm giàu dinh dưỡng là thành phần chất dinh
dưỡng trong cơ thể chúng được cải thiện. Chẳng hạn, sau khi làm giàu dinh dưỡng
trong môi trường thức ăn dầu cá, Artemia không những chứa cao hơn về acid béo cần
thiết 20:5n-3 mà còn cả 22:6n-3. Các loại này thường không thấy trong nauplius
Artemia.

2.3.4 Khả năng tiêu thụ Artemia
Barros và Valenti (2003) có nghiên cứu về sự tiêu thụ Artemia của ấu trùng
tôm ở các giai đoạn khác nhau. Kết quả cho thấy ấu trùng tôm càng xanh có mức tiêu
thụ Artemia với bốn mức độ khác nhau tùy thuộc vào giai đoạn phát triển của ấu
trùng như Bảng 2.4 sau đây.
Bảng 2.4 Cấp độ tiêu thụ Artemia
Cấp độ

Giai đoạn ấu trùng

1
2
3
4

II – IV
V – VI
VII – VIII
IX - XI

Khả năng tiêu thụ
(con/ngày)ï
40
55
80
100

Mật độ artemia tối thiểu
(con/ml)
2-3

4-6
8
12

2.4 Các Mô Hình Ương Nuôi u Trùng Tôm Càng Xanh
Trên thế giới, sản xuất giống tôm càng xanh có ba mô hình thường được áp
dụng: hệ thống nước trong hở, hệ thống nước trong kín và hệ thống nước xanh (Trần
Thò Thanh Hiền, 2004). Hệ thống nước xanh cải tiến còn tương đối mới nhưng cũng
cho thấy rất triển vọng. Mỗi mô hình đều có ưu điểm và khuyết điểm khác nhau.
2.4.1

Hệ thống nước trong hở (Opened – water system)

Quy trình được khởi xướng đầu tiên bởi Ling (1969) và được hoàn thiện bởi
Aquacop từ năm 1977. Nguyên tắc của quy trình này là đảm bảo môi trường nước
được trong sạch bằng cách thay nước hàng ngày. Ưu điểm của qui trinh này là có thể
ương ấu trùng ở mật độ cao. Tuy nhiên, quy trình này cần sử dụng nhiều nước biển,
do đó trại cần phải đặt gần biển để giảm chi phí sản xuất. Hơn nữa, quy trình cần
nhiều công lao động và nhiều chi phí khác.
2.4.2

Hệ thống nước trong kín (Closed – water system)


Quy trình này do Sandfier (1977), Menasveta (1980) và Singholka (1980)
nghiên cứu và được căn bản hoá để đưa vào sản xuất từ năm 1984. Nguyên tắc hoạt
động của quy trình là ổn đònh môi trường nước nhờ hệ thống lọc sinh học. Đây là quy
trình ít sử dụng nước biển nhất, ít tốn công lao độâng nhất. Tuy nhiên, quy trình đòi
hỏi phải có kỹ thuật cao, trang thiết bò đồng bộ và phức tạp khi xảy ra sự cố khó xử
lý.

2.4.3 Hệ thống nước xanh (Green - water system)
Quy trình nước xanh được nghiên cứu từ năm 1966 do Fujumura khởi xướng
và được hoàn thiện vào năm 1974. Quy trình đã được ứng dụng rộng rãi cho nhiều
quốc gia. Nguyên tắc của quy trình này là dùng tảo để ổn đònh môi trường nước ương.
Đặc điểm chính của quy trình này là thường xuyên bổ sung tảo Chlorella thuần vào
hệ thống ương để duy trì màu nước xanh liên tục. Quy trình có ưu điểm là hạn chế
thay nước so với quy trình nước trong hở và môi trường ổn đònh hơn. Tuy nhiên, quy
trình chỉ có thể ương nuôi ở mật độ thấp. Bên cạnh đó còn có một số trở ngại nữa như
tảo khó phát triển trong môi trường nước lợ, vì vậy cần bổ sung tảo thuần liên tục; kỹ
thuật ương nuôi tảo thuần rất phức tạp và chi phí tốn kém.
2.4.4

Hệ thống nước xanh cải tiến (Modified Static green water system)

Quy trình nước xanh cải tiến được Ang khởi xướng năm 1986 trên cơ sở cải
tiến mô hình nước xanh trước đó. Nguyên tắc của quy trình này là cho phép vi sinh
vật và tảo phát triển tự nhiên trong bể ương để tự ổn đònh môi trường nước. Vỏ
Artemia đïc cho trực tiếp vào bể để làm giá thể. Hệ thống này có nhiều ưu điểm là
cơ bản không phải thay nước, không siphon, không bổ sung thêm tảo trong quá trình
ương (tảo chỉ bổ sung lần đầu khi chuẩn bò bố trí ấu trùng). Hệ thống đơn giản, chi
phí thấp, dễ áp dụng rộng rãi cho nhiều đối tượng, nhiều nơi khác nhau.
Ở Việt Nam, cả ba quy trình nước xanh, nước trong hở và nước trong kín đã
được thí nghiệm bởi Nguyễn Việt Thắng (1993). Qua kết quả nghiên cứu, các tác giả
đã kết luận quy trình nước trong hở là quy trình sản xuất thích hợp nhất cho điều kiện
và khả năng áp dụng của Việt Nam. Quy trình này đã được áp dụng cho các trại sản
xuất giống ở Nam bộ. Kết quả cho thấy: tỷ lệ sống đạt khoảng 40% với quy trình
nước xanh, 35% với quy trình nước trong hở và 38,8% đối với quy trình nước trong
kín. Các tác giả còn chỉ ra rằng, để sản xuất được một triệu ấu trùng tôm càng xanh
thì cần từ 32,5 – 55 kg trứng Artemia khô và 42,65 – 75 kg thức ăn chế biến. Trong
nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng một số thức ăn tự chế từ tôm, mực, trứng và sữa.

Năm 1998, Khoa Thủy sản trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành nghiên cứu sản
xuất giống tôm càng xanh dựa theo quy trình nước xanh cải tiến. Để phát triển hơn
mô hình này cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu về mật độ ương, môi trường và đặc
biệt là về dinh dưỡng.
2.5

Phương Pháp Đánh Giá Chất Lượng Hậu Ấu Trùng (Postlarvae)


Để đánh giá chất lượng hậu ấu trùng, người ta thường áp dụng một số phương
pháp đơn giản như: cho chúng tiếp xúc với điều kiện khắc nghiệt (độ mặn, nhiệt độ,
pH hoặc formalin), quan sát đánh giá chủ quan các chỉ tiêu như hình thái, khả năng
hoạt và cả phương pháp cho điểm bao gồm nhiều chỉ tiêu như : màu sắc, sự dò hình,
kí sinh, sự đục cơ … (Fegan, 1992). Mặc dù tất cả các phương pháp đánh giá đều có
giá trò, thế nhưng không có phương pháp nào trong số trên có thể coi là đầy đủ hoặc
tiêu chuẩn hóa để đánh giá điều kiện sinh lí của Postlarvae.
Phương pháp đánh giá chất lượng hậu ấu trùng tôm càng xanh thông qua việc
thử khả năng chòu đựng của ấu trùng với ammonia (Cavalli, 2000; Sandifer, 1985).
Ammonia là sản phẩm bài tiết chủ yếu của động vật thủy sản (Klinne, 1976) và cơ
chế gây độc cũng như nồng độ gây chết của nó trên nhiều loại cá và giáp xác quan
trọng được thu thập khá phong phú (Tomasso, 1994). Trong nước, ammonia được tìm
thấy ở dạng nguyên thủy là ion ammonium (NH4+) và dạng phân tử không phân li
(NH3), cả hai cùng tồn tại bởi một phản ứng cân bằng thuận nghòch được điều tiết chủ
yếu bởi pH (Emerson và ctv., 1975). Ở pH cao thì nồng độ NH3 sẽ tăng lên so với
NH4+. Dạng ammonia không phân ly khuếch tán một cách tự do trực tiếp qua màng tế
bào dưới dạng hơi do sự chênh lệch áp suất riêng phần (Fromm và Gilelette, 1968).
Nếu nồng độ ammonia trong nước tăng, sự bài tiết ammonia của động vật thủy sản sẽ
giảm, dẫn đến hàm lượng ammonia trong máu và mô tăng. Kết quả có thể làm tăng
pH máu, làm phá vỡ sự ổn đònh của màng tế bào và các phản ứng được xúc tác bởi
enzyme (Tomasso, 1994) và sẽ làm chết cá, tôm.



×