LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn đến Trường
Đại học Quảng Bình, nơi em đã gắn bó trong bốn năm đại học qua và
cũng là nơi hun đúc tài năng và trí tuệ cho bản thân em. Em chân thành
cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Âm nhạc - Mĩ thuật và khoa Sư phạm
Tiểu học - Mần non đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em
học tập. Cảm ơn thầy ThS.Trần Công Thoan, đã tận tình hướng dẫn
trong suốt quá trình viết báo cáo khóa luận. Với vốn kiến thức được tiếp
thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu
khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách
vững chắc và tự tin.
Khóa luận đã hoàn thành và có những đóng góp nhất định vào việc
đổi mới dạy học mĩ thuật nói chung, đưa ra được các biện pháp tổ chức
sự tương tác nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn mĩ thuật ở tiểu
học hiện nay. Một số nội dung có thể còn hạn chế nhất định và không
tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý tận tình của
quý thầy, cô giáo để đề tài được hoàn thành.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính bản thân tôi thực hiện
dưới sự hướng dẫn của ThS.Trần Công Thoan. Các số liệu, thông tin và
hình ảnh có trong bài báo cáo khóa luận này là khách quan, khoa học,
trung thực.
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Thu Trang
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC VIẾT TẮT
PHẦN A ..................................................................................................... 1
MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài:................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu. ............................................................................. 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu. ...................................................... 3
3.1.Khách thể nghiên cứu........................................................................... 3
3.2. Đối tượng nghiên cứu. ........................................................................ 3
4. Giả thuyết khoa học. .............................................................................. 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu. ............................................................................ 3
6. Phạm vi nghiên cứu. ............................................................................... 3
7. Phương pháp nghiên cứu........................................................................ 4
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết ..................................................... 4
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn. .................................................... 4
7.3. Phương pháp thống kê toán học. ......................................................... 4
8. Thời gian nghiên cứu: ............................................................................ 4
9. Đóng góp của đề tài................................................................................ 5
10. Cấu trúc của đề tài. ............................................................................... 5
PHẦN B ..................................................................................................... 6
NỘI DUNG ................................................................................................ 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI..................................... 6
1.1. Cơ sở lý luận: ...................................................................................... 6
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu. .......................................................................... 7
1.1.2. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học .................................... 9
1.1.3. Những năng lực được hình thành và phát triển thông qua quá trình
học Mĩ thuật . ........................................................................................... 10
1.1.4. Môn mĩ thuật ở Tiểu học theo chương trình hiện hành. ................ 12
1.2. Cơ sở thực tiễn. ................................................................................. 14
CHƯƠNG II: CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC SỰ TƯƠNG TÁC NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN MĨ THUẬT Ở
TIỂU HỌC ............................................................................................... 16
2.1. Thực trạng của việc dạy và học môn mĩ thuật ở trường Tiểu học Lộc
Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình................................................................ 16
2.2. Điều tra cơ bản ................................................................................. 18
2.3. Các biện pháp tổ chức sự tương tác nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học môn mĩ thuật ở Tiểu học............................................................... 19
2.3.1. Thay đổi hình thức khởi động vào bài học gây hứng thú cho học
sinh. .......................................................................................................... 21
2.3.2. Xây dựng các tiêu chí nhận xét, đánh giá bài học ......................... 23
2.3.3. Nâng cao tính chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ học. ...... 26
2.3.4. Vận dụng dạy học mĩ thuật theo phương pháp dạy học Đan Mạch.29
2.3.5. Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học mĩ thuật. ...................... 32
CHƯƠNG III: TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM .......................................... 37
3.1. Mục đích thực nghiệm. ..................................................................... 37
3.2. Nội dung thực nghiệm....................................................................... 37
3.3. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm. .................................. 37
3.4. Quy trình thực nghiệm. ..................................................................... 38
3.4.1.Các tiêu chí đánh giá mức độ tương tác của học sinh trong giờ mĩ
thuật. ......................................................................................................... 38
3.4.2.Các bước tiến hành thực nghiệm. ................................................... 39
3.4.3.Chọn bài soạn thực nghiệm. ............................................................ 39
3.4.4. Giáo án thực nghiệm ...................................................................... 39
3.5. Kết quả sau khi dạy thực nghiệm. ..................................................... 40
PHẦN C ................................................................................................... 43
KẾT LUẬN .............................................................................................. 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................ 46
PHỤ LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
GD & ĐT
Giáo dục và đào tạo
GDTH
Giáo dục Tiểu học
VD
Ví dụ
HS
Học sinh
GV
Giáo viên
ƯDCNTT
Ứng dụng công nghệ thông tin
ĐDDH
Đồ dùng dạy học
NXB
Nhà xuất bản
PHẦN A
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Trong giai đoạn xã hội hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, nguồn lực
con người Việt Nam trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành
công của công cuộc phát triển đất nước. Chính vì thế giáo dục ngày càng
có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng thế hệ người Việt
Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đảng và nhà nước
luôn quan tâm và chú trọng đến giáo dục. Với chủ đề của năm học là
“Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục” [8] đối với
giáo dục phổ thông. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, thì bậc tiểu học
là bậc nền tảng, nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng là bước đầu hình
thành nhân cách con người cũng là bậc học nền tảng nhằm giúp học sinh
hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp
tục học Trung học cơ sở. Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người dạy
học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định về nội dung chương
trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu được về tâm sinh lí của trẻ, về
nhu cầu và khả năng của trẻ. Đồng thời người dạy phải có khả năng sử
dụng một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
phù hợp với đối tượng học sinh. Trong chương trình ở tiểu học, mĩ thuật
là một móc xích quan trọng trong quá trình dạy học. Thông qua bộ môn
mĩ thuật học sinh có thể lĩnh hội được khái niệm về tự nhiên xã hội, văn
hóa, toán học, tiếng Việt…đằng sau những biểu hiện của ngôn ngữ tạo
hình. Bằng cách này giáo dục nghệ thuật được tích hợp trong chương
trình giảng dạy ở tất cả các lớp học, chúng được lồng ghép trong các bài
học để nâng cao khả năng quan sát, liên tưởng, kết nối kiến thức của học
1
sinh.Thông qua các bài học mĩ thuật, học sinh hiểu biết sâu sắc hơn về
các khái niệm, từ đó giáo dục cho các em về tình yêu thiên nhiên, ý thức
bảo vệ những giá trị tốt đẹp như môi trường,văn hóa, tình yêu, sự chia
sẻ…Qua các hoạt động dạy học các em được thực hành, được khám phá
từ đó mà việc lĩnh hội cũng trở nên sâu sắc hơn.
Với ý nghĩa quan trọng trong việc rèn luyện một con người, vì thế
môn mĩ thuật đã được Bộ giáo dục và đào tạo đưa vào khung của chương
trình giáo dục phổ thông nói chung và bậc tiểu học nói riêng thành một
môn học độc lập, có nội dung chương trình được biên soạn một cách cụ
thể, rõ ràng.
Qua thực tiễn được tiếp xúc với việc giảng dạy bộ môn mĩ thuật tại
cơ sở thực tập tôi nhận thấy rằng: Đa phần các em rất thích môn học,
nhưng các em có năng khiếu và yêu thích thật sự thì chưa nhiều, học sinh
không yêu thích thì việc tập trung khai thác nội dung, thực hành làm bài
tập...rất qua loa, hời hợt, nếu có làm thì mang tính đối phó, vì tinh thần
chưa tự nguyện dẫn đến hiệu quả môn học chưa cao: bài vẽ sơ sài, cẩu
thả. Một bộ phận các em chưa có kĩ năng thực hành vẽ, nét vẽ khô cứng,
rụt rè...dẫn đến thiếu tự tin, chán nản.
Chính vì lý do đó tôi đã chọn đề tài: “Các biện pháp tổ chức sự
tương tác nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Mĩ Thuật ở trường
Tiểu học”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Từ việc tìm hiểu về việc dạy và học tại trường Tiểu học Lộc Ninh
chúng tôi thấy được thực trạng của việc dạy học bộ môn mĩ thuật ở
trường tiểu học như thế nào, và đề xuất một số biện pháp tổ chức sự
tương tác nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn mĩ thuật ở trường
tiểu học.
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Giáo viên và học sinh tiểu học
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Các biện pháp tổ chức sự tương tác nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học môn mĩ thuật ở tiểu học.
4. Giả thuyết khoa học.
Bằng lý luận và thực tiễn về giáo dục tiểu học tôi cho rằng nếu giáo
viên biết sử dụng các biện pháp phù hợp nhằm tổ chức sự tương tác
trong việc tổ chức dạy học bộ môn mĩ thuật như: tổ chức quan sát, thảo
luận trao đổi, ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học…thì
chất lượng dạy và học môn mĩ thuật sẽ được nâng cao, trẻ sẽ phát huy
được hết tính tích cực chủ động của mình.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, khóa luận phải thực hiện các
nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu thực trạng dạy học môn mĩ thuật ở trường tiểu học. Cụ
thể trường Tiểu học Lộc Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình.
- Đưa ra các biện pháp tổ chức sự tương tác nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học môn mĩ thuật ở tiểu học.
- Tiến hành thu thập tài liệu, thực nghiệm sư phạm, đánh giá hiệu
quả của việc sử dụng các biện pháp tổ chức sự tương tác trong dạy học
bộ môn mĩ thuật.
6. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài của chúng tôi giới hạn trong phạm vi chương trình bộ môn
mĩ thuật hiện hành ở tiểu học.
3
7. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện khóa luận này chúng tôi đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học giáo dục sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Đọc và phân tích các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu để
thu thập thông tin nhằm tìm hiểu, tham khảo và có được nguồn dữ liệu
để xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề trong quá trình thực hiện đề tài.
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1. Phương pháp quan sát.
Quan sát các giờ dạy mĩ thuật lớp 5 ở trường Tiểu học Lộc Ninh Đồng Hới - Quảng Bình nhằm có những nhận xét, đánh giá và rút kinh
nghiệm cho giờ dạy thực nghiệm.
7.2.2. Phương pháp thực nghiệm dạy học.
Sử dụng pương pháp thực nghiệm để kiểm tra khả năng ứng dụng
các biện pháp tổ chức sự tương tác nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
môn mĩ thuật ở tiểu học. Kết quả thực nghiệm là cơ sở để đánh giá
hướng nghiên cứu và tính khả thi của đề tài.
7.3. Phương pháp thống kê toán học.
Với đề tài này tôi đã sử dụng phương pháp thống kê toán học để
phân tích kết quả điều tra thực trạng của việc dạy và học môn mĩ thuật ở
tiểu học. Và sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm làm tăng độ
tin cậy của các kết quả nghiên cứu.
8. Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018.
Đề tài đi vào nghiên cứu tổng kết các biện pháp tổ chức sự tương
tác nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn mĩ thuật ở tiểu học từ tháng
11 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018. Trong đó:
4
Từ tháng 11/2017 đến tháng 4/2018, cụ thể:
Tháng 11/2017: Chuẩn bị đối tượng, nội dung nghiên cứu.
Tháng 12/2017: Nghiên cứu lí luận.
Tháng 1/2018: Khảo sát thực trạng của việc việc dạy học mĩ thuật ở
trường tiểu học.
Tháng 2, 3/2018: Đề xuất một số biện pháp biện pháp tổ chức sự
tương tác trong dạy học mĩ thuật.
Tháng 4, 5/2018: Hoàn thành đề tài nghiên cứu.
9. Đóng góp của đề tài.
Góp phần hệ thống các vấn đề lý luận về các biện pháp phát huy
tính tích cực, sự tương tác của học sinh trong giờ học mĩ thuật.
Làm rõ thực trạng của việc dạy học môn mĩ thuật ở trường tiểu học.
Đề xuất các biện pháp tổ chức sự tương tác nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học môn mĩ thuật ở tiểu học.
Với đề tài tôi chọn nghiên cứu hy vọng được đóng góp một phần
nhỏ của mình vào việc dạy và học môn mĩ thuật ở tiểu học đạt kết quả
cao. Mặt khác sẽ là cơ sở cho các giáo viên tiểu học vận dụng vào từng
bài để nâng cao chất lượng bộ môn mĩ thuật.
10. Cấu trúc của đề tài.
Với đề tài này, ngoài các phần mở đầu và phần kết luận thì phần nội
dung chính gồm 3 chương, đó là:
Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài.
Chương 2: Các biện pháp tổ chức sự tương tác nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học môn mĩ thuật ở tiểu học.
Chương 3: Tổ chức thực nghiệm.
5
PHẦN B
NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận:
Để đạt được mục tiêu giáo dục, nhà trường tiểu học đã duy trì đủ
chín môn học, mĩ thuật là một trong những môn học đó. Đặc trưng của
môn học là không nhằm đào tạo hoạ sĩ tương lai hay tạo ra những người
chuyên làm về công tác mĩ thuật mà nhằm trang bị cho học sinh những
kiến thức cơ bản của cái đẹp để các em tiếp xúc và làm quen với cái đẹp,
cảm thụ cái đẹp, biết vận dụng vào trong cuộc sống hàng ngày. Hỗ trợ
các em ở các môn học khác giúp các em phát triển toàn diện, lâu dài về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản góp phần hình
thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trong xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thẩm mĩ ngày càng
cao, do vậy việc đào tạo con người biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp ngày
càng quan trọng. Những năm qua giáo dục thẩm mĩ đã trở thành môn
học trong chương trình giáo dục phổ thông, là một môn học độc lập, môn
mĩ thuật có mục tiêu chương trình sách giáo khoa, sách hướng dẫn, thiết
bị riêng cho dạy và học, giáo viên được đào tạo, kết quả học tập của học
sinh được theo dõi và kiểm tra, đánh giá một cách nghiêm túc. Việc
giảng dạy môn mĩ thuật đảm bảo cho các em có thể giải quyết được các
bài tập hàng ngày và hiểu về vẻ đẹp, về nền mĩ thuật truyền thống, ngoài
ra nó còn tạo điều kiện cho học sinh học có hiệu quả cao hơn các môn
học khác.
6
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu.
Vấn đề tìm hiểu về các biện pháp tổ chức sự tương tác nhằm nâng
cao chất lượng dạy và học tất cả các phân môn ở tiểu học nói chung và
phân môn mĩ thuật nói riêng luôn được nhiều nhà khoa học quan tâm. Và
để giúp các em có được những kiến thức cơ bản cần thiết về các biện
pháp, phương pháp giảng dạy để vận dụng tốt trong học tập và trong quá
trình giảng dạy có rất nhiều nhà khoa học đã tìm hiểu và đưa ra được
những biện pháp, giải pháp hiệu quả. Với bài khóa luận này, chúng tôi
đã tham khảo một số công trình nghiên cứu sau:
Theo V.I.Lênin “Quá trình nhận thức của loài người được diễn ra từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực
tiễn, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến cái sâu sắc
hơn” (23,tr87).
Con người với tư cách là một thực thể tự nhiên hoạt động. Nói đến
hoạt động nhận thức của con người là nói đến hoạt động tích cực tương
tác của họ nhằm cải tạo, cải biến thế giới tự nhiên - xã hội và cải tạo
chính bản thân mình.
Quan hệ tương tác giữa các yếu tố của hoạt động dạy và học đã
được đề cập từ rất sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại. Khổng Tử
(551- 479 TCN) hay Socrate (469 - TCN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng
đối với người thầy giáo và đề cao vai trò tích cực, chủ động trong học
tập của người học khi mô tả hoạt động dạy học.
Tư tưởng tổ chức sự tương tác trong quá trình dạy học đã được
nhiều nhà nghiên cứu .Trong các tài liệu sư phạm của Liên Xô, Đức
trước đây, người ta đã nói nhiều đến tương tác Dạy - Học. Các nhà giáo
dục Liên Xô như: N.V.Savin, T.A.Ilina, B.P.Êsipốp… đã đánh giá tính
chất nhiều nhân tố trong quá trình dạy học (ba nhân tố: Dạy - Nội dung Học), khẳng định mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố Dạy và Học [9].
7
Vào những năm 90 của thế kỷ XX nhóm tác giả người Pháp là Guy
Brousseau, Claude Margolinas… cũng đã nghiên cứu sự tương tác giữa
các yếu tố của hoạt động dạy học.Trong những công trình nghiên cứu
các tác giả đã phân tích kỹ các vấn đề cơ bản của việc tổ chức sự tương
tác trong quá trình dạy học hay nói cách khác là Sư phạm tương tác như:
Xác nhận cấu trúc hoạt động dạy học bao gồm bốn nhân tố: Học
(người học); Dạy (người dạy); Kiến thức (khái niệm khoa học); Môi
trường (điều kiện dạy học cụ thể).
Phân tích hai vai trò khác nhau của thầy giáo trong tình huống dạy
học và tổ chức cho học sinh thực hiện, giải quyết tình huống để tìm thấy
kiến thức và tạo điều kiện để học sinh chính xác hóa kiến thức thành tri
thức khoa học.
Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng mối quan hệ tích cực giữa người dạy
- người học - môi trường được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Mỗi tác
giả, mỗi bài viết đề cập đến những khía cạnh khác nhau của việc thiết lập
mối quan hệ của bộ ba: Người dạy - Người học - Môi trường trong quá
trình dạy học mĩ thuật. Người thì thông qua hệ thống bài tập tình huống,
thông qua việc hình thành phương pháp dạy học, sử dụng phương pháp
nêu vấn đề… Các quan niệm đó được thể hiện trong các bài báo, trên
Tạp chí giáo dục như: “Cải tiến tổ chức hoạt động giáo dục theo phương
pháp hợp tác” của Nguyễn Thanh Bình [2]. “Việc sử dụng phương pháp
sư phạm tương tác là một biện pháp nâng cao tính tích cực học tập của
học sinh” của Vũ Lê Hoa - Tạp chí Giáo dục số 21 tháng 4/1998.[3]
Với khóa luận này chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu kỹ hơn về
các biện pháp tổ chức sự tương tác nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
môn mĩ thuật ở tiểu học.
8
1.1.2. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học
Tính cách trẻ được hình thành từ rất sớm tuy nhiên nét tính cách
chưa ổn định, có thể thay đổi dưới tác động của môi trường bên ngoài.
Phần lớn học sinh Tiểu học có nhiều nét tính cách tốt như: hồn nhiên,
trung thực, lòng vị tha,... và đặc biệt là tính bắt chước. Đời sống tình cảm
các em dễ xúc động và khó kìm nén cảm xúc của mình song tình cảm
còn mong manh, chưa sâu sắc và dễ thay đổi. Đối tượng gây cảm xúc
cho các em thường là những sự vật, hiện tượng cụ thể, sinh động. Trong
quá trình dạy học, nếu giáo viên khơi gợi được những cảm xúc ở các em
thì sẽ giúp các em có hứng thú với môn học và chăm chỉ học hơn.
Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học phát triển rất rõ nét đặc
biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết.
Tri giác của học sinh TH mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết.
Trong quá trình học, tri giác giúp các em phát hiện những dấu hiệu, bản
chất của sự vật hiện tượng. Ở các lớp đầu TH, tri giác của các em thường
gắn với hành động trưc quan, hoạt động thực tiễn. Các lớp cuối cấp, tri
giác của các em mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng hơn,
thích quan sát các sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn.
Tư duy cụ thể mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc
điểm trực quan của những đối tượng và hình tượng cụ thể.
Tưởng tượng của học sinh TH phát triển và phong phú hơn nhiều so
với trẻ mầm non. Lớp đầu cấp hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa
bền vững và dễ thay đổi. Những lớp cuối cấp tưởng tượng tái tạo đã bắt
đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ tái tạo ra những hình ảnh mới
trẻ bắt đầu phát triển khả năng vẽ tranh, làm văn, làm thơ,…Đặc biệt
hình tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các
xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự vật, sự việc, hiện tượng đều gắn
liền với các rung động tình cảm của các em.
9
Trí nhớ trực quan hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ lôgic. Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt
và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa. Giai đoạn các lớp 4, 5
ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường, ghi nhớ có chủ
định đã phát triển.
Ở giai đoạn đầu tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả
năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế, chú ý không chủ định
chiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định. Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đến
những môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có
nhiều tranh ảnh, trò chơi ...Sự tập trung chú ý của trẻ còn yếu và thiếu
tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tán trong quá
trình học tập. Giai đoạn cuối tiểu học trẻ dần hình thành kĩ năng tổ chức,
điều chỉnh chú ý của mình. Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu
thế, ở trẻ đã có sự nỗ lực học tập như học thuộc một bài thơ, một công
thức toán hay một bài hát dài,...Trong sự chú ý của trẻ đã bắt đầu xuất
hiện giới hạn của yếu tố thời gian, trẻ đã định lượng được khoảng thời
gian cho phép để làm một việc nào đó và cố gắng hoàn thành công việc
trong khoảng thời gian quy định.
1.1.3. Những năng lực được hình thành và phát triển thông qua
quá trình học mĩ thuật .
Giáo viên có trách nhiệm đặc biệt là tổ chức các quy trình dạy - học
mĩ thuật nhằm phát triển trí tuệ thị giác không gian và ngôn ngữ thẩm
mỹ. Giáo dục mĩ thuật khuyến khích học sinh phát triển các năng lực:
Trải nghiệm và trình bày kinh nghiệm của mình thông qua tác phẩm
mĩ thuật. Tạo ra những sản phẩm mĩ thuật, hợp tác và chia sẻ kinh
nghiệm trên kênh thông tin đã được lựa chọn. Biểu đạt ý kiến, ấn tượng
và cảm giác của các em. Phân tích và diễn giải sự lựa chọn của mình
trong suốt quy trình. Giao tiếp và đánh giá quy trình, kết quả, tác phẩm
mĩ thuật đạt được từ nghệ thuật thị giác.
10
1.1.3.1. Năng lực trải nghiệm
Giáo dục mĩ thuật giúp cho học sinh có được những trải nghiệm để
gợi mở cách nhìn nhận, cảm giác, sự tò mò, trí nhớ, trí tưởng tượng và
phát triển sức sáng tạo và biểu đạt, vì vậy học sinh sẽ có được những
hình ảnh và động lực mang tính tinh thần. Một môi trường học tập thân
thiện, tạo cảm hứng sẽ hỗ trợ việc dạy và học mĩ thuật một cách hiệu
quả. Giáo viên có thể đưa vào các quy trình dạy - học mĩ thuật những
hoạt động giúp học sinh tư duy, tổ chức tham quan, kể chuyện, khách
mời đến chia sẻ những trải nghiệm của bản thân họ về chủ đề liên quan,
xem tranh ảnh, hoặc tổ chức các trò chơi phù hợp với từng lớp học.
1.1.3.2. Năng lực thực hành và kỹ thuật
Giáo dục mĩ thuật giúp cho học sinh phát triển ngôn ngữ không
gian - thị giác, học sinh học các ngôn ngữ mĩ thuật khi các em thực hành
và hiểu cách sử dụng đường nét, hình khối, kích cỡ, bố cục, màu sắc.
Thực hành hiệu quả các hình thức:
2D: Hình ảnh phẳng: Bức phác họa, ảnh, bức tranh, cắt dán, đồ họa.
3D: Hình ảnh không gian 3 chiều: Điêu khắc, sắp đặt và kiến trúc.
4D: Hình ảnh không gian 4 chiều: Video, kịch và hoạt cảnh GV lựa
chọn và giới thiệu các chất liệu, công cụ, kỹ thuật, dụng cụ phù hợp với
hoạt động thực hành của học sinh. Giáo viên sử dụng kỹ năng và kiến
thức của mình nhằm hỗ trợ và trang bị cho mỗi học sinh tìm ra cách giải
quyết tốt nhất của các em trong suốt quy trình.
1.1.3.3. Năng lực biểu đạt
Giáo dục mĩ thuật giúp học sinh có khả năng khám phá ra năng lực
của mình thông qua các phương tiện khác nhau cũng như trải nghiệm
những niềm vui thích khi tạo ra những sản phẩm, những biểu đạt mang
tính độc lập và đặc sắc của mình. Điều này giúp học sinh có thể sử dụng
11
và ứng dụng ngôn ngữ mĩ thuật để có thể biểu đạt kinh nghiệm và thái độ
của các em bằng nhiều cách khác nhau. Trong các quy trình dạy - học mĩ
thuật sáng tạo, giáo viên phải luôn chỉ ra cho học sinh thấy rằng sẽ có vô
vàn cách thức biểu đạt khác nhau chứ không phải chỉ có một cách duy
nhất.
1.1.3.4. Năng lực phân tích và diễn giải
Giáo dục mĩ thuật mang lại cho học sinh “con mắt” tò mò để tìm
hiểu và phân tích văn hoá thị giác cũng như quá trình sáng tạo. Qua đó
các em phát triển tính sáng tạo và khám phá những ý tưởng mới khi tìm
hiểu các bức tranh, các tác phẩm điêu khắc, bài thuyết trình hoặc các
buổi triển lãm.
1.1.3.5. Năng lực giao tiếp và đánh giá
Giáo dục mĩ thuật giúp học sinh có thể truyền bá cho nhau và giao
tiếp với nhau cũng như giải mã những thông tin mang tính hình ảnh như:
tin tức, quảng cáo hoặc hoạt động giải trí. Học sinh sẽ thảo luận và đánh
giá các hoạt động tại lớp học. Trong suốt quy trình, giáo viên và học sinh
có thể thảo luận mục đích và kết quả qua từng bước sáng tạo từ đầu cho
đến khi có sản phẩm cuối cùng. Sau mỗi quy trình, giáo viên và học sinh
sẽ đánh giá chất lượng của mỗi sản phẩm được tạo ra cũng như hiệu quả
xuyên suốt quá trình học tập. Cùng lúc với việc phát triển những kỹ năng
nói trên, học sinh cũng có thể phát triển các giác quan, các kỹ năng sống,
các năng lực hợp tác, kinh nghiệm và khả năng giải quyết vấn đề, năng
lực tự học và tự đánh giá.
1.1.4. Môn mĩ thuật ở Tiểu học theo chương trình hiện hành.
Môn mĩ thuật là một môn học nghệ thuật do đó nó có nhiều điểm
khác môn học khác. Việc nắm vững và phân tích một cách khoa học
những đặc điểm môn học là cơ sở cho việc xây dựng và lựa chọn các
biện pháp dạy học thích hợp trong quá trình dạy học. Môn học mĩ thuật
có những đặc điểm sau:
12
Tính cụ thể và trừu tượng của môn học. Mĩ thuật là môn học mà
kiến thức của nó vừa cụ thể, vừa trừu tượng. Ví dụ: vẽ theo mẫu - vẽ cái
bình hoa là cụ thể, nhưng vẽ tranh đề tài lịch sử lại là trừu tượng. Và là
loại kiến thức ở xung quanh ta. Mĩ thuật là môn học đòi hỏi sự sáng tạo
và luôn luôn sáng tạo, là một môn học tạo ra cái đẹp. Rèn luyện, bồi
dưỡng và phát triển khả năng cảm thụ, là môn học thực hành, lấy thực
hành làm hoạt động chủ yếu.
Mục tiêu:
“Giáo dục thẩm mĩ, tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc làm quen,
cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, của đời sống và của các sản
phẩm mĩ thuật. Cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu về môn
mĩ thuật, hình thành và củng cố các kĩ năng cần thiết để học sinh hoàn
thành bài tập trong chương trình. Bồi dưỡng năng lực quan sát, phân
tích, phát triển trí tuệ, phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo, góp phần hình
thành nhân cách người lao động mới. Phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu
mĩ thuật của học sinh.
Nhiệm vụ dạy - học mĩ thuật ở trường tiểu học: giáo dục thẩm mĩ là
chính, giúp học sinh tiếp xúc, làm quen, cảm nhận, thưởng thức và bằng
kiến thức, kinh nghiệm của bản thân thể hiện cái hay, cái đẹp trong thiên
nhiên, trong cuộc sống, đồng thời vận dụng những hiểu biết về cái đẹp
vào sinh hoạt, học tập hàng ngày. Góp phần tạo dựng môi trường thẩm
mĩ cho xã hội.
Chương trình mĩ thuật ở tiểu học có các phân môn sau:
- Vẽ theo mẫu
- Vẽ trang trí
- Vẽ tranh
- Tập nặn tạo dáng
- Thường thức mĩ thuật
13
1.2. Cơ sở thực tiễn.
Mĩ thuật là một trong những môn học rất cần thiết cho sự phát triển
của học sinh. Môn mĩ thuật là môn học độc lập có mục tiêu, chương
trình, SGK, sách hướng dẫn, thiết bị riêng cho dạy và học, giáo viên
được đào tạo cơ bản, kết quả học tập của học sinh được đánh giá một
cách nghiêm túc.
Bên cạnh những thế mạnh đã có, việc dạy - học nhằm phát huy sự
tương tác của học sinh trong dạy học mĩ thuật là vấn đề cần suy nghĩ:
Môn mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu hút rất nhiều học sinh.
Cho đến nay các trường đã có giáo viên dạy mĩ thuật, phong trào học mĩ
thuật ngày càng sôi nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn học
và môn học đã được chú ý. Vì vậy không ít giáo viên và học sinh, các
bậc phụ huynh luôn coi trọng và đầu tư cho môn học. Qua đó, các em
thấy rằng mĩ thuật là môn học bổ ích, lý thú và tươi vui, có tính giáo dục
đạo đức, thẩm mĩ cao, là môn học bổ trợ tích cực cho các môn học khác.
Khi thực hiện dạy học và đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng, giáo
viên xác định được những nội dung cơ bản, cần thiết của mỗi bài học,
mức độ càn đạt cho tất cả các đối tượng học sinh để cho bài học không
khó, không dài. Chú trọng dạy sự cảm nhận về cái đẹp trong mĩ thuật và
trong cuộc sống, tiết học nhẹ nhàng, hấp dẫn lôi cuốn nhiều học sinh tích
cực tham gia vào quá trình học tập.
Được trải nghiệm với việc giảng dạy tại cơ sở thực tập và có tham
gia giảng dạy môn mĩ thuật tại trường, quan sát tinh thần học tập và kĩ
năng của học sinh tôi nhận thấy có nhiều em chưa yêu thích môn học
thật sự, cảm hứng mang tính nhất thời, có nhiều bài nét vẽ còn khô khan,
hình vẽ ngoằn ngoèo, vô cảm...thấy rõ nét hơn nữa là phần đánh giá sản
phẩm các em có khi chỉ nói được một câu: "Bức tranh đó xấu !”
14
Qua tìm hiểu thực trạng trên có nhiều nguyên nhân khách quan có,
chủ quan cũng có. Có thể do đặc điểm bộ môn cần tính kiên nhẫn nên
học sinh không yêu thích. Cũng có thể do phụ huynh đã định hướng cho
con em mình chạy theo các môn học chính nên trong giờ học thì hững hờ
thiếu tích cực, phần bài tập thực hành thì mang tính đối phó.Thực tiễn
trong nhiều năm qua, vai trò của bộ môn mĩ thuật chưa thực sự được
quan tâm như các môn học khác, còn xem nhẹ. Mặt khác do sự phát triển
của các loại hình giải trí hiện đại như phim ảnh, di động, game... đã có
chỗ đứng trong tâm hồn của học sinh cá biệt. Và một số em có thái độ
thụ động, hững hờ, nên trong giờ học rất khó hòa đồng và vô cảm trước
cái hay, cái đẹp đang diễn ra... tất cả đã làm cho nhiều học sinh thiếu tích
cực và chưa yêu thích thật sự môn mĩ thuật.
Bên cạnh đó còn một số học sinh tỏ thái độ thờ ơ với môn học vì
thực tế đời sống dân trí còn thấp, hầu hết là con em thuần nông nên điều
kiện để học sinh tập trung đầu tư cho học tập của các em còn hạn chế,
điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần học tập của các em. Ngoài ra
điều kiện nhà trường còn thiếu thốn như: phòng học chức năng, vật mẫu,
phương tiện, đồ dùng trực quan,… vì thế ảnh hưởng đến kết quả giảng
dạy - học tập của giáo viên và học sinh.
Các nguyên nhân, các yếu tố tác động đến chất lượng dạy - học mĩ
thuật là:
Học sinh chưa vận dụng tốt kỹ năng thực hành của mình, không có
ý tưởng cụ thể, lúng túng. Chưa đổi mới trong phương pháp học của bản
thân. Với bậc phụ huynh chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho con em có
được dụng cụ học đầy đủ đáp ứng cho những môn học năng khiếu.
Nguyên nhân chính là do chưa nhận thức đúng đắn mục đích, vai trò, vị
trí của môn mĩ thuật.
15
CHƯƠNG II
CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC SỰ TƯƠNG TÁC NHẰM
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN MĨ
THUẬT Ở TIỂU HỌC
2.1. Thực trạng của việc dạy và học môn mĩ thuật ở trường Tiểu
học Lộc Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình.
Học kỳ 2 Năm học 2017 - 2018 tôi được phân công thực tập tại
trường Tiểu học Lộc Ninh - Đồng Hới - Quảng Bình, chủ nhiệm lớp 5B
và đã tham gia giảng dạy một số tiết trong chương trình học của khối 5,
đây cũng là nơi tôi thực hiện nghiên cứu để viết đề tài này.
Từ thực tiễn được tiếp xúc với việc giảng dạy môn mĩ thuật tôi
thấy: Các em rất yêu thích mĩ thuật, vì qua môn học các em được tiếp
xúc, làm quen với một số tác phẩm hội hoạ nổi tiếng của thiếu nhi không
những ở trong nước mà cả của quốc tế. Các em được vẽ tranh, vẽ những
gì mình mơ ước, mình yêu thích, tập trung trang trí góc học tập của
mình,... Song, bên cạnh việc giảng dạy cho học sinh tiếp thu tốt những
kiến thức cơ bản đó thì tôi thấy còn gặp nhiều hạn chế như: nhận thức
của phụ huynh học sinh, chưa coi trọng môn học, còn cho rằng đó là
môn phụ, cho nên đồ dùng học sinh còn thiếu thốn, ít đầu tư. Mặt khác
một số giáo viên chưa có phương pháp dạy thích hợp để giúp học sinh
thấy hết cái hay, cái đẹp của môn học. Cơ sở vật chất của nhà trường còn
thiếu thốn. Phòng học chưa có đủ đồ dùng cần thiết để phục vụ môn học,
tư liệu có liên quan còn hạn chế.
Quan điểm nhận thức về môn mĩ thuật là môn học nghệ thuật, thu
hút rất nhiều học sinh, nhất là học sinh tiểu học, trước kia không có giáo
viên chuyên môn, môn học này là môn học phụ, ít được đầu tư quan tâm.
16
Vì vậy, dẫn đến học sinh còn thờ ơ hiệu quả chưa đạt mục tiêu đề ra.
Gần đây, các trường đã có giáo viên dạy mĩ thuật, phong trào học mĩ
thuật ngày càng một sôi nổi, hầu hết các em học sinh hào hứng với môn
học và môn học đã được chú ý. Bởi vì đặc thù của môn học đã được
nhận thức khác so với những năm trước. Tất cả mọi người đã hiểu được
đây là một môn học nghệ thuật, môn học có đóng góp rất lớn đến việc
giáo dục trẻ. Vì trong mỗi giờ học, học sinh có thể tự do suy nghĩ, tự nói
lên những ý kiến của mình, dựa trên sự hướng dẫn của giáo viên bộ môn.
Qua đó các em thấy rằng mĩ thuật là môn học bổ ích, lý thú, có tính giáo
dục đạo đức, thẩm mĩ cao và là môn học bổ trợ tích cực cho các môn học
khác. Vì thế các em đón nhận tiết học một cách nhiệt tình và hào hứng.
Tuy nhiên do quan niệm của một số giáo viên, một số bậc phụ
huynh về môn học còn hạn chế cho rằng đó là môn học phụ, chưa coi
trọng kết quả của giáo viên chuyên môn, sự thiếu quan tâm mua sắm đồ
dùng học tập cho học sinh, ... Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng học tập của giáo viên và học sinh gây cho học sinh cảm giác chán
nản, không tự tin làm bài. Trên thực tế điều tra tôi còn thấy có giáo viên
giảng dạy bộ môn về phương pháp sư phạm còn hạn chế, lời nói còn
chưa hấp dẫn, lôi cuốn học sinh, trình bày bảng còn vụng về, lúng
túng,... dẫn đến học sinh không lắng nghe, không tập trung tìm hiểu bài
còn mơ hồ, không nắm được mục tiêu của bài học. Điều đó khiến cho
các em không thích thú với bài học, thể hiện tác phẩm của mình qua loa,
đại khái, vì thế không thấy được cái hay, cái đẹp và vận dụng vào cuộc
sống hàng ngày.
+ Cơ sở vật chất:
Hiện nay, nhà trường quan tâm đầu tư công nghệ thông tin cho dạy
học. Vì thế góp phần thuận tiện cho việc dạy và học của giáo viên, học
sinh. Học sinh lúc nào cũng có đủ đồ dùng, không bị quên ở nhà.
17
+ Trang thiết bị dạy học:
- Để giảng dạy môn mĩ thuật trong chương trình đào tạo được thành
công, điều này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như: tài liệu, phương
tiện, đồ dùng trực quan.
- Có một số đồ dùng cần thiết cho việc giảng dạy mĩ thuật cho học
sinh như : bộ đồ dùng dạy học các phân môn từ lớp 1 đến lớp 5, sách
tham khảo, một số tranh ảnh về tượng, phù điêu, ...
- Điều kiện nhà trường còn thiếu thốn như: phòng học chức năng,
vật mẫu cho giáo viên và học sinh, phương tiện, đồ dùng trực quan, ... vì
thế ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập và giảng dạy của giáo viên và học
sinh.
2.2. Điều tra cơ bản
Qua khoảng thời gian được tiếp xúc trực tiếp với việc giảng dạy
môn mĩ thuật và qua quá trình tìm hiểu của bản thân trước đây chúng tôi
thấy hầu hết các em đều thích học vẽ, các em học tập với tinh thần hăng
say, cảm nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện từ nội dung và hình
thức mỗi khi các em vẽ một bức tranh hay một bài tập thực hành. Bên
cạnh đó còn một số học sinh nhút nhát, rụt rè chưa mạnh dạn nói lên
những suy nghĩ của mình, một số em còn chán nản không thích học vẽ.
Tất cả những vấn đề trên rất đáng lo ngại, ảnh hưởng đến việc học mĩ
thuật của học sinh cho nên tôi đã tiến hành điều tra ở một số lớp xem có
bao nhiêu em thích học vẽ và không thích học vẽ để từ đó tìm ra biện
pháp khắc phục.
18
Kết quả điều tra ban đầu:
Nhận thức
Số học sinh thích
Lớp
Sĩ số
học môn Mĩ thuật
Số học sinh không
thích học môn Mĩ
thuật
TS
%
TS
%
5A
34
30
88,2
4
11,8
5B
36
30
83,3
6
16,7
Ghi chú
Chất lượng
Mức
Lớp
Sĩ số
Chưa hoàn
thành
Hoàn thành
Hoàn thành
Ghi
tốt
chú
TS
%
TS
%
TS
%
5A
34
2
5,8
22
64,7
10
29,5
5B
36
3
8,3
15
41,6
18
50,1
2.3. Các biện pháp tổ chức sự tương tác nhằm nâng cao chất
lượng dạy và học môn mĩ thuật ở Tiểu học.
Căn cứ vào mục tiêu giáo dục đã đề ra cho bậc tiểu học, xác định rõ
vai trò và mục tiêu giáo dục của bộ môn và qua thực tế giảng dạy áp
dụng các phương pháp mới giúp học sinh thực hiện tốt bộ môn mĩ thuật
tôi nhận thấy:
Môn mĩ thuật là môn dành thời gian chủ yếu để học sinh thực hành,
do vậy giáo viên cần thiết kế bài dạy như một kế hoạch tổ chức các hoạt
động, để học sinh chủ động, tích cực tham gia và phát huy hết khả năng
19